PHẦN
DUYÊN KHỞI
Trong
nhóm phát tụ trước phẩm luận Phật-Bảo cụ-túc thứ I
Đấng
đáng lễ lễ trước,
Bậc
Chánh-trí tự-nhiên,
Nhất-Thiết
Trí nên cúng.
Đại-Sư
lợi thế-gian
Cũng
lễ Pháp chơn tịnh,
Và
chúng Đệ tử Phật.
Nay
muốn giải lời Phật,
Lợi
ích cho người đời.
Luận
phải theo Khế-kinh,
Chẳng
tría tướng thật-pháp.
Cũng
vào trong thiện-tịch,
Thế
là luận Chính-trí.
Ví
như mặt trời trăng,
Tính
nó vẫn trong sáng,
Mây,
bụi, mù các thứ,
Che
mù trời chẳng hiện,
Tà-luận
che chính kinh,
Nghĩa
kinh chẳng soi sáng,
Vì
nghĩa kinh chẳng sáng,
Cửa
tà-trí mở khai,
Bị
tội tiếng ác đồn,
Lòng
ăn-năn mệt mỏi…
Các
suy-não loạn tâm,
Đều
bởi tà-trí sinh.
Nếu
ai muốn trừ dứt,
Tội
ác và suy não,
Phải
tìm học Chính-luận
Nên
gần kẻ thâm trí:
Gần
gũi kẻ thâm trí,
Là
cội gốc chính-luận,
Vì
nhờ chính-luận nầy,
Năng
sinh các phước tốt.
Dù
người có trí lanh,
Tụng
trăm ngàn tà luận,
Giữa
chúng chẳng được gì ;
Muốn
tiếng đồn biện-tài,
Hiểu
Phật-Pháp đệ nhất,
Nói
ra được quả vui.
Muốn
chánh-pháp lâu còn,
Chẳng
vì tiếng đồn khen,
Rộng
học các dị-luận,
Hiểu
hết ý kẻ-trí
Muốn
tạo Thật-luận nầy,
Duy
Nhất-Thiết-Trí biết.
Các
Tỳ-kheo dị-luận,
Nhiều
thứ Phật đều cho.
Nên
tôi muốn chánh-luận,
Thật
nghĩa trong Tam-tạng,
Là
giờ đây thuyết minh:
Hỏi:
Tôi nay muốn biết Ngài sẽ thuyết minh Thành-thật luận. Trước
Ngài đã nói “Đấng đáng lễ lễ trước” có phải là
Đức Phật không? Vì cớ gì gọi là Phật? Và đã thành tựu
những công đức chi mà đáng lễ?
Đáp:
Đức Phật gọi là bực người tự nhiên, đem Nhất-Thiết-Chủng-Trí
biết tất cả tự-tướng của các pháp sai khác; lìa tất
cả điều chẳng lành; nhóm tất cả đìều lành; thường
cầu lợi-ích cho tất cả chúng sinh, nên gọi là Phật. Nói
ra giáo pháp để giáo hoá, thời gọi là Pháp. Ai tu hành Pháp
ấy thì gọi đó là Tăng, Tam-bảo có công đức như thế là
lý do đáng lễ. Tôi nay sẽ nói Đức Phật có năm phẩm công
đức đầy đủ, nên được người đời và người trời
kính trọng.
Hỏi:
Có các vị Thánh nhân khác cũng vẫn có năm phẩm công đức
ấy cùng Đức Phật có khác chi?
Đáp:
Năm phẩm pháp của Phật đầy đủ thanh-tịnh. Tại vì sao?
Vì thân khẩu các nghiệp không còn lầm lộn vậy.
1.-
Giới phẩm đầy đủ: Lại Đức Phật chẳng còn lầm phạm
cấm giới, huống là cố phạm. Lại Đức Phật đã lâu đời
chứa nhóm lòng từ bi nên ác tâm chẳng phát sinh được. Như
trong kinh nói Đức Phật bảo A-Nan rằng: “Nếu có người
tu lòng Từ, từ thuở nhỏ thì lòng ác có thể sinh khởi được
không? Dạ thưa Thế-Tôn không thể khởi được. “Đức Phật
đã lâu đời chứa nhóm thiện tính, chẳng vì e sợ tiếng
đồn phải tự giữ gìn cấm giới. Lại Phật ở trong vô
lượng chỗ các Đức Phật lâu tu giới hạnh, đã nhổ trốc
gốc ba món độc, hẳn không còn mầm rễ. Bởi các lý do ấy
nên giới phẩm đầy đủ.
2.-
Định phẩm đầy đủ: Là Đức Phật y theo Định nầy nên
được Nhất-Thiết-Trí. Bởi lẽ đó nên biết định phẩm
đầy đủ. Như dầu mỡ nhiều, tim đèn lớn thì ánh sáng
cũng lớn. Lại Định của Đức Phật bền chắc như dấu
sơn, sơn vào cây; thiền định của người khác như hoa nổi
trên nước chẳng dừng được lâu. Lại thiền-định của
Phật trong vô lượng kiếp thứ lớp lần thành cho nên được
đầy đủ. Lại thiền-định của Như-Lai chẳng đợi các
trợ duyên hoặc người hoặc xứ, hoặc nói pháp mới thành
tựu, còn các người khác thời chẳng phải như vậy. Lại
nữa, định của Như-Lai thường thâm tu tập như người tự
giữ hằng nhớ chẳng quên. Đức Phật khi vào thiền-định
chẳng gắng tâm, lực; lại như người ở tại bản xứ tự
nói tiếng mẹ đẻ dễ dàng không khó, Phật ở trong Định
cũng vậy. Cho nên nói Như-Lai thường ở trong Tam-muội. Lại
các pháp như mừng chẳng hạn hay phá hoại thiền-định, Phật
đều khéo dứt hết.
Lại
nữa, quả báo trong Định, đã lâu được tự tại thần thông
rất là cao tột; dùng mọi như-ý-thông với trong một niệm
năng vượt qua mười phương vô-lượng thế giới, tất cả
việc tùy ý thi hành liền xong. Với các phép biến hóa, tự
tại vô ngại Tâm năng đầy khắp tất cả các pháp. Kìa những
chúng sinh làm sao kịp được. Lại Đức Phật trọn nên Pháp
Thánh-Tự-Tại, nên với trong đáng vui mà sinh trưởng chẳng
vui, với trong chẳng vui năng sinh trưởng vui, và với trong
vui và chẳng vui năng sinh trưởng bình thường.
Hỏi:
Với trong chẳng vui có thể sinh trưởng bình thường, chớ
làm sao trong đó lại năng sinh trưởng vui?
Đáp:
Vì khéo tu tâm nên với trong pháp chẳng vui như ác khẩu chẳng
hạn, chẳng bị chướng ngại. Với trong các thần thông: thiên
nhãn, thiên nhĩ, tha-tâm-thông, túc-mạng-thông cũng không bị
ngại, vì Định-lực, vậy nên thần thông vô ngại. Với các
thiền-định thông đạt rõ ràng, kìa các chúng sanh kia chẳng
nghe được cái tên, huống là chứng đến. Duy Đức Như-Lai
ra vào thiền-định không bị ngăn ngại. Và thiền-định của
Phật gọi là Lực (như phẩm thập-lực sẽ nói nhiều), người
khác không có. Vậy nên Đức Như-Lai Định phẩm đầy đủ.
3-
Huệ phẩm đầy đủ: Cso hai thứ Vô-minh: một chướng thiền-định;
hai khởi phiền-não, Như-Lai đều dứt, vì dứt pháp trái nhau
nên huệ-phẩm đầy đủ. Lại được pháp tự-nhiên, chẳng
theo học với kẻ khác mà khéo lời lẽ, khéo biết nghĩa-thú
biện-tài bất-tuyệt, trí-huệ không cùng; còn chúng-sinh đối
với cá tài khéo ấy chẳng hay đầu đủ, duy Đức Phật biết
hết không thiếu chút nào. Vậy nên Như-Lai Huệ phẩm đầy
đủ. Lại nữa, Đức Phật thuyết ra pháp, hay nơi nghĩa-thú;
các kẻ tiểu trí có nói ra lời gì, không thể không lỗi,
duy có Như-Lai nói ra không sai. Nên biết Như-Lai Huệ phẩm
đầy đủ. Lại còn vô-lượng công-đức thành-tựu trí-huệ
nữa nên được đầy đủ. Lại nói pháp mầu-nhiệm không
sai lầm, như pháp bất-tịnh-quán để phá trừ dâm-dục chẳng
hạn. Lại trí-huệ thù-thắng nên oai-nghi cũng thù-thắng.
Bởi các duyên cớ ấy nên biết huệ-phẩm đầy đủ.
4-
Giải-thoát phẩm đầy đủ: Với hai thứ Vô minh, tâm đều
giải thoát không còn tập khí hẳn chẳng thối lui. Như thế
gọi là giải thoát đầy đủ.
5-
Giải thoát tri-kiến đầy đủ: Năng đối với trong tất cả
đạo-dứt-gút mỗi niệm đều biết, như người chặt cây,
tay cầm cán búa, bên có người trí thấy biết cán búa mòn
hết. Đức Phật cũng vậy với trí dứt-gút gút bị dứt
mòn từng niệm đều phân biệt biết. Lại biết trong thâm
tâm chúng sanh ưa nghĩ những gì, đúng như ý nó muốn, thuyết
pháp giáo hóa khiến được giải thoát. Vậy nên năng đối
chúng sinh trong đạo giải thoát, biết thấy đầy đủ. Lại
nữa, Đức Phật Thế-Tôn biết thời cơ mà nói pháp, như
đối với các ông Phạm-Chí, Nhũng-Cù-Lô vậy. Lại Đức
Như-Lai khéo biết các pháp sai khác, nên vì người nầy nói
pháp như vầy. Như Phật bảo ông A-Nan nên vì Xa-Nặc nói kinh
Ly-hữu-vô. Vậy nên Như-Lai khéo biết giải thoát. Lại khéo
đem phương tiện dứt lỗi cho chúng sinh, như vì Ngài Nan-Đà
lấy dục dứt dục. Lại Phật biết trước tín-tấn các căn
của chúng-sinh đã thuần-thục rồi sau mới nói pháp, như
trường hợp Ngài La-Hầu-La. Lại có chúng-sinh bị nghiệp
chướng chẳng được giải thoát, Phật năng khiến dứt hết,
nhiên hậu nói pháp. Lại có chúng-sinh đợi thời mới hết
tội, như trong kinh phu-phụ nói. Lại có chúng sinh đợi người
mới hết tội, như Ngài Xá-Lợi-Phất đợi ông A-Thuyết-Kỳ.
Lại có chúng sinh đợi xứ mới hết tội, như Ngài Phóng-Ngưu-Nan-Đà
đợi người thân nhân A-Da-Đà. Lại có chúng-sinh đợi gặp
chân thân của Phật; Lại có kẻ đợi gặp hóa thân mới
được hết lỗi. Đức Phật đều phân-biệt rồi vì nói
pháp, khiến được giải-thoát.
Đức
Phật nói nhiều Pháp mầu nhiệm, năng phá tất cả nghiệp
chướng, vì là pháp giải thoát nên gọi là giải thoát tri
kiến đầy đủ. Lại nữa, Phật nói pháp lành hay nơi nghĩa
thú, chẳng nói điều phi nghĩa và việc không quả-báo. Và
Phật thứ lớp nói đạo giải thoát, giống như bài học toán
pháp, vậy nên dễ hiểu. Lại nữa, Phật biết chúng sinh đời
trước đã trồng căn lành mới thứ lớp nói pháp, và Phật
hiện chứng được giải thoát mà vì người nói pháp chứ
chẳng phải theo người học hỏi. Lại nữa, Phật pháp đầy
đủ nhiều phương pháp hay ho, như người dùng nhiều món thuốc
đầy đủ chữa lành các bệnh, Phật-pháp cũng thế, lấy
các trị môn diệt trừ tất cả phiền não như người dùng
cửu tưởng, để trị các tội lỗi lớn nhỏ, mà nó không
thể phản hại lại được, cho nên hay đầy đủ phá trừ
các phiền não. Lại nữa, Đức Phật dùng phương tiện cao
tột tế độ chúng sinh, hoặc dùng lời nói êm dịu, hoặc
lời khắc khổ, hoặc có khi dùng cả lời êm dịu và khắc
khổ.Vậy nên Đức Như-Lai giải thoát tri kiến đầy đủ.
PHẨM
THẬP LỰC THỨ 2
Lại
nữa, Đức Phật trọn nên mười lực nên trí huệ đầy đủ.
Bởi nhân duyên đi về nên nói có mười lực. Trước tiên
là thị-xứ phi-xứ lực, là trí quyết định trong nhân quả
vậy: biết từ nguyên nhân nầy sinh ra quả báo như vậy: chẳng
sinh quả như kia, như làm điều chẳng lành, chắc bị khổ
báo, chẳng sinh báo vui. Gọi là xứ, là có việc như vậy;
gọi là phi xứ là không có việc như vậy; Món lực trước
tiên là gốc của các món lực sau.
Hỏi:
Người đời cũng biết nhân quả của thị-xứ phi-xứ như
do bắp sanh bắp, chẳng sanh lúa đậu?
Đáp:
Cái biết của thị-xứ phi-xứ lực nầy là biết các pháp
nghiệp nhân nên gọi món lực này là thẳm sâu thứ nhất.
Chứ cái biết của trời, người đời làm sao kịp được.
Lại rõ biết sanh pháp nhân nhau có thứ lớp giúp cho thêm
lên, vậy nên món lực nầy gọi là vi diệu nghĩa là biết
các nghiệp nhân và các quả báo của ba đời. Biết xứ, biết
sự, biết nhân, biết báo, vậy nên trí biết nầy gọi là
lực. Biết xứ-sự-nhân-báo cả ba đời nên gọi là thẳm
sâu. Tại vì sao? Hoặc có người bảo quá khứ và vị lai
không có pháp gì cả, nên Đức Phật với lối chấp àny rất
là hữu lực. Lại ở đời quá khứ vị lai tuy không hiện
tướng, Phật vẫn hiện biết.
Lại
nữa, nghiệp có hai thứ: lành và chẳng lành. Hoặc cso nghiệp
lành mà hiện bị khổ, như vì trì giưói mà bị các khổ
não; hoặc có nghiệp tội mà hiện nay được hưởng vui, như
vì phá giới mà được tự tại; Bởi đó nên có kẻ sanh
nghi cho là đời vị lai e cũng trái ngược như hiện tại.
Vậy nên Như-Lai kế nghiệp nói thọ. Thọ pháp có bốn thứ:
Có hiện khổ sau vui; đều biết rõ biết xứ-sự nhân-báo.
Xứ tức là kẻ lãnh thọ; sự tức là vật thí; nhân, tức
là tâm người thí. Như trong kinh nói: “Trước tâm hoan hỷ,
chính lúc thí tâm thanh tịnh, thí xong không ăn năn.” Nghiệp
nầy được quả, gọi đó là báo. Duy Đức Phật năng biết
nghiệp nầy nhiều ít hoặc quyết định, chẳng quyết định,
quả báo đời hiện, quả báo đời sau, quả báo sau đời
sau nên các việc đều biết hết không còn nên gọi là Lực.
Đức Phật đới với các pháp thiền-định giải thoát chánh-định
đẳng-trì; biết cấu, biết trụ, biết tăng, và biết tịnh.
Với trong các nghĩa nầy, thiền là bốn cõi thiền, bốn cõi
vô-sắc định, tức là các hành nghiệp của cõi sắc và cõi
vô-sắc, Còn giải thoát là tám món giải thoát. Năng tận
nghiệp này là thiền-định cõi vô-sắc và tám món giải thoát,
gọi là chánh-định. Được dụng của chánh-đinh nầy hiện
tại đều gọi là tam-ma-bạt-đề tức là đẳng-trì. Tam-ma-bạt-đề
phân biệt có bốn thứ: tùy cấu, tùy trụ, tùy tăng và tùy
tịnh. Biết cấu là tùy cấu định; biết trụ là tùy trụ
định; biết tăng là tùy tăng định; biết tịnh là tùy đạt
định. Tùy đạt định là hết thảy Noãn, Đảnh bốn pháp
gia-hạnh. Phật đối với các pháp nầy đều hiểu biết cùng
tột, nên gọi là Lực. Đức Phật rõ biết cá căn lanh lợi
hoặc độn căn của chúng sinh. Tín tấn các căn thù thắngthì
gọi là lanh lợi, như các Đức Phật, Bồ tát; đần độn
chẳng sánh kịp, như xà-nô chẳng hạn. Chẳng có trung-căn,
vì chẳng nhứt định được. Lợi căn chẳng có ngằn mé
như các đức Phật; độn căn cũng có ngằn mé như xà-nô;
còn trung-căn thời không ngằn mé nên chẳng nói trung-căn.
Lại
nữa, có hai chủng đạo: tín-hành và pháp-hành. Lại có hai
chủng-đạo nữa: nan-đạo và dị-đạo, khác với hai đọa
này thì gọi là trung. Quán người lợi độn tức là bực
trung. Lại nữa, tùy chổ sở thích nên căn cơ có sai khác.
Thích tín-căn nên gọi là tín. Phần nhiều người có trí
huệ các căn đều thù thắng bởi chỗ sở thích nên gọi
hòa-già-lợi là tín-căn thù thắng. Các căn như vậy, Đức
Phật thảy đều biết hết, cho nên gọi là Lực. Đức Phật
biết chúng sinh đều có chỗ sở-lạc, lạc gọi là dục,
như người sở lạc vui thù tạc thí muốn vui thù tạc. Phật
tùy theo chỗ sở lạc mà biết từng món một nghĩa là chúng
sanh ấy muốn vui muốn nơi năm món dục, hoặc vui tu đạo.
Biết như thé rồi tùy cơ nghi mà nói pháp, năng quảng độ
tất cả chúng sinh. Đức Phật biết người đời có vô lượng
chủng tính vì chúng sinh lâu tập chỗ sở lạc thời tính
quen, như Điều-Đạt chẳng hạn đời đời hủy bán Phật,
ác tâm càng sâu, gọi là ác tính. Thiện tính cũng vậy. Hoặc
có chúng sinh từ tính sinh khởi muốn, hoặc duyên lấy hiện
tại mà sinh khởi. Đức Như-Lai đều khéo biết chỗ sở lạc
và tính quen của nói, nên gọi là Lực.
Đức
Phật biết tất cả chỗ chí-xứ đạo: Biết nó đi df nầy
sẽ sanh vào cõi địa ngục, cho đến sanh lên trời; biết
nó đường nầy được đến Niết-Bàn. Những hành nghiệp
này đều từ gốc dục tính phát sinh. Nghiệp nhân hữu lậu
nên sinh trong năm đạo, nghiệp nhân vô lậu thì được đến
NIẾT-BÀN. Trước chỉ nói đạo, giờ đây mới nói đến
quả của đạo. Và trước nói tổng tướng, giờ đây nói
biệt tướng; có nghiệp như thế được đến Niết-Bàn, đến
địa ngục cũng có sai khác: nghiẹp này sẽ đọa vào hoạt-địa
ngục, nghiệp nầy sẽ đọa vào hắc-thằng địa ngục. Vậy
nên Đức Phật trong món Lực thứ bảy biết nghiệp rất nhỏ
nhiệm, còn các người khác thì dù biết cũng không thể phân
biệt được. Nên gọi đó là Lực. Đức Phật biết nghiệp
quả đời quá khứ như vậy gọi là túc-mạng trí-lực. Lại
Phật xác biết chỗ tu đạo chúng sinh đời trước, rồi mới
nói pháp, cho nên túc-mạng-thông cũng gọi là trí-lực. Lại
nữa, Đức Phật chẳng những nhớ biết chỗ sanh xứ của
mình trong đời quá khứ hoặc tại cõi sắc hoặc tại cõi
vô sắc mà còn biết cả của chúng sinh nữa, nên gọi là
Lực. Đức Phật đem thiên-nhãn trí xem thấy ba cõi nối nhau
trong đời vị lại; rồi biét ba món nghiệp nhân, bốn món
thọ pháp, rồi cũng vì đấy mà dự thuyết trước rõ biết
không ngăn ngại, nên gọi là Lực. Và Đức Phật đem trí
lực lậu tận biết chẳng nối nhau: Chúng sanh mạng chết,
hoặc có nối nhau, hoặc chẳng nối nhau. Món lực nầy đều
làm cho tất cả chúng sinh đến chỗ đạo lực, nói chung là
Niết-Bàn.
Nay
trong thập lực này rộng phân biệt nói rõ, Phật biết nhân,
cấu, tịnh nên có mười Lực. Chứng được chín món trước
thì trọn nên trí-đức. Chứng được món thứ mười thì
trọn nên đoạn-đức. Trí-đoạn đều đầy đru nên gọi
là Thế-Tôn, được trời người kính trọng.
PHẨM
TỨ VÔ ÚY THỨ 3
Đức
Phật trọn nên bốn món không khiếp sự, cho nên đáng lễ.
Bốn món không khếip sợ là đức Như-Lai chứng được Nhất-thiết-trí,
nhất thiết lậu-tận, năng nói chướng đạo và đạo hết
khổ. Trong bốn pháp nầy, nếu có người đến nạn vấn đúng
như pháp thì Ta không chỗ e sợ gì cả. Món ban đàu là Nhất-thiết-trí
mà cũng là chín món Lực trước. Món thứ hai là Đoạn, tức
là món Lực thứ mười, là Trí-Đoạn đầy đủ. Đức Như-Lai
tự mình đã đầy đủ công đức, còn hai món vô úy sau là
khiến người đầy đủ. Đức Phật nói pháp chướng ngại
là thật chướng ngại, chỗ gọi là bất thiện hoặc thiện
mà còn hữu lậu, vì bị ngăn pháp giải thoát gọi là chướng
ngại. Vì muốn lìa chưóng ngiạ nói pháp xuất-đạo.
Hỏi:
Như ông vừa nói các món Lực tức là vô úy. Vậy thì Lực
và vô úy có sai khác chi không?
Đáp:
Trí gọi là Lực. Vì nhờ Lực nầy nên mới có sức kham thọ,
thì gọi là vô úy. Có những người ngu si không biết hổ
trẽn nên cũng có nhiều kham thọ. Kham thọ của Như-Lai từ
trí huệ mà sanh. Và cũng nhờ trí huệ nên chẳng sợ kẻ
khác nên gọi là vô úy. Tại vì sao? Vì hoặc có người tuy
có trí mà còn khiếp sợ, nên gọi trí là Lực. Và vì năng
nói được, nên trí nầy gọi là vô-sở-úy. Tại vì sao? Vì
có người tuy biết mà chẳng hơn người khấc được. Lại
nữa, trí nầy vô tận, nên gọi là Lực. Biện tài vô tận,
nên gọi là vô úy. Lại nữa, nói ra có nghĩa thú, nên gọi
là Lực. Nói ra tự tại, nên gọi là vô úy. Và nhân gọi
là Lực, quả gọi là vô-úy vì từ trong trí sanh ra vô úy
vậy. Lại như có người xưa nay khiếp nhược, về sau được
chút trí huệ liền vô úy huống chi Đức Thế Tôn, từ kiếp
lâu xa đến nay tâm trí rộng lớn, và chứng được Nhất-Thiết-Trí
mà còn sợ ai? Lại nữa, có người không thể hơn người
ta được, nên phải sợ hãi; không có một người nào mà
Phật chẳng hơn, cho nên không sợ. Lại có kẻ luận giả,
khéo hay lời lẽ, cũng khéo hay nghĩa thú, thì không e sợ,
kẻ ấy tức Phật vậy. Vì chứng được Nhất-thiết-trí,
nên khéo nơi nghĩa thú; chứng được vô-ngại-biện, nên khéo
nơi lời lẽ. Lại có người gặp việc vì bất lực mà sanh
sợ hãi. Đức Như-Lai đã chứng Nhất-thiết-trí nên đối
với tất cả việc, không có bất lực. Tất cả kinh thơ luận
nghị thảy đều thông đạt vấn đáp rõ ràng, nên không chỗ
sợ. Lại nữa có người bị hèn kém về gia tộc, về họ
hàng, về sắc thân về giới đức, và về đa-văn trí-huệ
nên bị đời chê bai. Đức Như-Lai với các điều kể trên
đều không chút kém khuyết, vậy nên không sợ. Và như có
kẻ luận giả đúng như pháp mà luận thì không ai phá hoại
được, kẻ ấy tức là Đức Phật đấy. Như ông Bà-la-môn
A-Thúc-La thưa Đức Thế Tôn rằng: “Đúng như pháp mà luận,
thì khó hơn phá, thuận đạo mà luận, nghĩ lường mà luận,
hữu nhân mà luận cũng lại như vậy”. Lại nữa nếu có
người trọn nên bốn món luận pháp cũng khó hơn khó khó
phá: 1- Trụ chánh chấp; 2- Thọ nhân và phi nhân; 3- Năng thọ
thí dụ; 4- Trụ trong luận pháp. Phật đủ bốn món nầy,
nên chư thiên và người không ai hơn nổi, cho nên không sợ.
Lại nữa, kẻ chẳng học thầy giỏi mà luận nghị thời
dễ bị phá hư. Như-Lai ngày xưa từng ở chỗ Đức Phật
Định Quang và vô lượng các Đức Phật khác tu tập luận
pháp, nên không thể phá hoại được. Lại nữa, Phật nói
có hai Đế: Thế đế và đệ-nhất-nghĩa đế, cho nên kẻ
trí cũng không thể phá hoại được; kẻ phàm phu vô trí thì
Phật chẳng cải lộn với họ. Lại Phật chẳng cùng với
người đời tranh cãi nhau: người đời bảo có, Phật cũng
nói có, mà họ nói không, thì Phật cũng nói không, vậy nên
tránh được sự tranh cãi. Vì không tranh cãi, nên không phá
hoại được. Lại nữa, luận nghị có hai thứ: một là chân-thật-luận;
hai là dua dọc luận, các ngoại đạo phần nhiều là dua dọc
luân, Phật chân-thật-luận, cho nên không thể phá hoại được.
Lại trong Phật-pháp hành chánh thanh tịnh. Hành chánh thanh
tịnh là nhân hết khổ. Luận của các ngoại đạo có nhân
tương-tợ, không có chánh-nhân nên chẳng được đắc thắng.
Lại Phật kinh thanh tịnh, nói ra nghĩa thú chẳng trái thật
tướng, chẳng những tùy theo lời nói mà còn tự tâm rõ biết
nữa. Như trong kinh Phật bảo Tỳ-kheo: “Các ngươi chẳng
những tin nơi lời nói của ta mà còn phải tự biết thấy
tự thân tu chứng nữa”. Và một chỗ khác Phật nói thêm:
“Ngươi đến các kẻ không dua dọc, như Ta sớm mai vì ngươi
nói Pháp khiến chiều được Đạo; hay chiều vì nói pháp
khiến sáng sớm được Đạo! Lại nữa, nếu người đối
với pháp có chỗ chẳng thông, liền ngưng chẳng nên nói bướng,
dù có nói ra chắc bị phá hoại. Đức Phật không chỗ nào
chẳng thông đạt, nên được vô úy. Lại Như-Lai được các
trí vô ngại, với tất cả pháp, không pháp nào chẳng thông
đạt, nên không bị sợ. Còn những kẻ tiểu trí chẳng biết
chỗ biết của đại nhân; ngược lại đại nhân năng biết
tiểu trí. Phật là đấng cao cả nhất của chúng sinh, có
thể biết tiểu luận, nên không bị sợ. Lai luận của các
ngoại đạo chỉ nhân chỗ thấy mà khởi; Phật biết thấy
ấy từ các duyên mà sanh, và biết tập, biết diệt, biết
vị, biết quả và biết xuất. Các ngoại đạo không thể
biết hết được, nên mới sanh tranh luận. Phật dùng Nhất-thiết-chủng-trí
biết tất cả các pháp, năng phá hoại tất cả luận, mà
chẳng bị tất cả các luận phá lại, nên không bị sợ.
Bởi các duyên do như thế nên Lực và Vô-úy nghĩa có sai khác.
Hỏi:
Phật đối với các pháp đều không bị sợ, mà sao chỉ nói
bốn món vô úy ư?
Đáp:
Nói bốn món là đã gồm nói tất cả vô úy. Tại vì sao?
Vì hai món vô úy trước là tự nói Trí-đức và Đoạn-đức
về phần mình; hai món vô úy sau là vì người khác nói pháp
chướng đạo, nói đạo hết khổ, cũng là trí-đoạn nữa.
Thầy và trò trí đoạn đầy đủ, nên gồm nói: Nhất-thiết
vô úy.
Hỏi:
Vì sao chúng sinh nghi Phật chẳng phải Nhất-thiết-trí-nhân?
Đáp:
Lời Phật nói ra, có khi có những lời tợ như chẳng phải
Nhất-thiết-trí-nhân; Như Phật hỏi: “Người từ đâu đến
đây” Có những việc như vậy thảy. Lai như trong kinh nói:
“Có người đi vào trong thành đô, làng xóm rồi họ hỏi
tên các nơi ấy. Ta chẳng cho kẻ ấy là Nhất-thiết-trí”.
Có kẻ nghe kinh này nói thế, mới nghi Phật chẳng phải bậc
Nhất-thiết-trí-nhân. Và có khi Phật nói ra in như còn tham
lam, như trong kinh nói: “Phật nói, Hay thay! Tỳ-kheo đến đây,
ngươi với thân này là được đại lợi. Tùy thuận pháp
Ta là Ta vui mừng”. Còn có những lời in tuồng giận dữ
như Phật bảo ông Điều-Đạt rằng: “Người là thứ người
chết… là người ăn đồ khạc nhổ của người khác…”
Lại còn có những lời in tuồng kiêu ngạo: Như Phật tự
nói: “Ta là sư tử trong loài người vì ta trọn nên thập
lực, từ vô-sở úy, nên đối với đại chúng ta rống tiếng
Sư tử”. Và có lời nói in như kiến chấp, như nói: “Khéo
tu trì pháp Ta như người bưng bát dầu”. Và bảo với ông
Điều-Đạt: “Ta chẳng đem chúng Tăng giao cho Xá-Lợi-Phất,
Mục-Kiền-Liên huống chi giao cho ngươi:”. Vì thế nên có
kẻ tiểu trí nghe các lời nói ấy vội bảo Như-Lai chưa hết
lỗi.
Lại
nữa, Phật nói các món Dục là thứ chướng đạo, mà có
người thọ Dục cũng vẫn được đạo. Và trong Luật chế
ra pháp ngăn chận, mà có người hủy hoại pháp ấy cũng vẫn
được đạo. Cũng vì vậy mà kẻ tiểu trí nghi Phật chẳng
biết chướng pháp. Lại có kẻ tu đạo mà vẫn có tội lỗi,
nên kẻ tiểu trí nghi bảo tu Thánh đạo mà không thể hết
tội, tội đã chẳng hết làm sao hết khổ? Vậy Như-Lai với
bốn pháp nầy nói không bị sợ.
Hỏi:
Đã bị các nghi như trên, làm sao sẽ dứt cho được?
Đáp:
Đấy là những lời Đức Phật tùy theo lời nói thế tục,
vì người đời có việc họ đã biết mà vẫn hỏi han chẳng
cho thế là lỗi. Phật cũng như vậy, vì còn ở trong thế
gian nên tùy theo thế tục mà hỏi. Và người đời cũng có
kẻ trong lòng mình không tham lam mà nói ra lời nói in tuồng
có tham lam, có những trường hợp như vậy. Phật cũng như,
vì muốn lợi cho chúng sinh nên hiện ra có những lời nói
như thế. Hoặc nói: Dục chẳng phải chướng pháp. Như-Lai
nói dục thật là chướng pháp, nếu Dục còn ở nơi tâm thì
không tu đạo được, cần trước trừ Dục đã, nhiên hậu
mới đắc đạo, Hoặc kẻ tuy phạm pháp ngăn cũng vẫn đắc
đạo, phá pháp thật ngăn, chắc không đắc đạo. Nếu chẳng
phải thật tội vì trọng duyên nên Phật tự cho trở lại,
chứ chẳng phá hoại pháp ngăn. Hoặc nói kẻ tu đạo cũng
còn tội. Thánh đạo năng phá trừ tất cả tội lỗi, vì
chưa đầy đủ nên chẳng hay phá hết ví như tính của dầu
tô có thể chữa được bệnh nóng, mà vì uống ít nên chẳng
lành bệnh. Tu đạo cũng vậy nên không có lỗi.
Đức
Như-Lai đầy đủ trọn nênbốn món không bị e sợ, vậy nên
đáng kính lễ.
PHẨM
THẬP HIỆU THỨ 4
Lại
nữa, trong kinh nói: Như-Lai có mười đức hiệu: Như-Lai, Ứng-cúng,
Chánh-Biến Tri, Minh-Hạnh-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải,
Vô-Thượng-Sĩ, Điều-Ngự, Thiên-Nhân-Sư, và Phật Thế-Tôn.
Như Lai: Là nương đạo như Thật đến thành quả chánh giác,
nên gọi là Như Lai. Có nói ra điều gì đều đúng sự thật
chẳng luống dối, như Phật hỏi A-Nan: “Như-Lai nói ra có
hai lời chăng? Dạ thưa Thế Tôn không”. Cho nên gọi như-thuyết.
Lại nữa Như-Lai từ đêm đắc đạo cho đến đêm Niết-Bàn,
trong thời gian ấy, có nói ra lời gì đều chân thật chẳng
phá hoại được, nên gọi là như-thuyết. Lại đem Nhất-thiết-Chủng-Trí
để biết ngăn mé trước sau, rồi sau mới nói, nên nói ra
đều chân thật. Lại các Đức Phật Thế-Tôn nghĩ nhớ bền
chắc không bị quên mất. Có người hoặc đem trí so sánh
hay theo trong kinh sách mới nói năng được, hoặc có sự việc
hiện tại chẳng khéo thấy mà nói năng; Người nầy nói ra
là hoặc đắc hoặc thất; như trong kinh nói: “Kẻ tỷ-trí
nói ra hoặc đắc hoặc thất”. Phật với các pháp hiện
biết rồi mới nói vậy nên lời nói đều không phá được,
nên gọi là thật-thuyết. Lại Phật nói ra điều nói thật
nghĩa, chẳng phải như các người nói ra có thật có hư, nên
chẳng phá được. Và lời nói hợp thời như trong kinh nói:
Phật biết chúng sinh tâm nó vui chi thích gì rồi nói đạo
pháp. “Nên gọi như-thuyết”. Và với kẻ dáng vì nói, liền
nói ngay, như trong kinh Khẩn-thúc-già đã nói. Lại chỗ nên
nói pháp liền vì nói ngay, chỗ gọi hoặc hẹp, hoặc nói
rộng các môn ấm-nhập, vậy nên nói ra đều là chân-thật.
Lại
nữa, có hai món pháp ngữ: một y thế-đế, hai y đệ-nhất-
nghĩa đế. Như-Lai y hai đế nầy mà thuyết pháp, nên nói
ra đều thật. Lại Phật chẳng nói thế-đế, là đệ-nhất-nghĩa-đế,
cũng chẳng nói đệ-nhất-nghĩa-đế là thế-đế, vậy nên
lời nói của đôi bên đều chẳng trái nhau. Lại nữa, Như-Lai
nói pháp hoặc đóng, hoặc mở cũng chẳng trái khác nhau. Tùy
theo việc mà đóng tức việc nầy chẳng mở, tùy theo việc
mà mở tức việc nầy chẳng đóng, vậy nên lời nói đều
chẳng trái nhau. Lại có Ba món pháp ngữ: một từ kiến sanh,
hai từ mạn sanh, ba từ giả danh sanh. Phật không có hai món
ngữ trước, đối với món thứ ba thanh tịnh không nhiễm.
Lại có bốn món pháp ngữ: kiến, văn, giác, tri. Phật với
bốn lời nói nầy đều thanh tịnh tâm không tham đắm. Lại
có năm món pháp ngữ: quá khứ, vị lai, hiện tại, vô vi và
bất-khả-thuyết. Năm món ngữ nầy, Phật đều thông suốt
rõ ràng, biết rồi nhiên hậu mới nói, nên gọi như thuyết.
Năng như thuyết cho nên gọi là Như-Lai. Bởi vì hết phiền
não, mới được pháp nầy, các món tham, sân si là cội gốc
của vọng ngữ, diệt hết các tội nầy, vậy nên Ứng-Cúng.
Lại nữa Như-Lai nói pháp ứng-cúng là pháp diệt tội, do
chánh trí mà sinh, đem trí huệ của chánh quán các pháp vô
thường, khổ, không …nên mới diệt hết các phiền não.
Nhờ chánh trí mới sinh pháp ứng cúng. Pháp chánh trí nầy
từ minh - hành mà sinh ngằn, trước mé sau và chẳng tương
tục khéo thông suốt, nên đượã gọi là chánh tòí. Tận
ôu rốt ráo các pháp bố thí, trì 'iới nên gọi là minh-hànè-túã.
Các người khác cũng ở trong vô thầy sinh ôử tu các pháp
bố thí, t2ì giới mà không có chánh hành nên chẳng gọi là
Thiện-thệ. Phật có cèánh đạo tu âố thí, trì giới các
hạnh nên gọi là Thiện-thệ. Được năm pháp nầ9 công đức
của Nèư-Lai về phần mình đầy Ƒủ. Được chánh trí nên
năng biết tất cả tâm niệm người đời, "iết sở niệm
rồi mới vì îói pháp, nên gọi Vô Thượng Sĩ. Îhững kẻ
đáng điều p(ục chế ngự ëhônç một kẻ nào chẳng được
điều phục. Đã được điều phục hẳn không còn bại hoại
nữa. Kẻ được điều phục chính là người trời. Nên gọi
là Thiên-nhân-sư. Hoặc có kẻ sinh nghi: Đức Như-Lai sinh trong
Nhân đạo mà làm sao có thể giáo hóa trên Thiên đạo được?
Cho nên Đức Phật đã nói: “Ta là bậc Thầy của trời”.
Đức Phật khi ngồi nơi đạo tràng, trừ giấc ngủ vô minh,
chứng được Nhất-thiết-trí, lãng nhiên đại ngộ tất cả
các pháp: Quá khứ, vị lai, hiện tri, các pháp hữu vi vô vi,
hữu lậu vô tận hoặc thô hoặc tế thảy đều giác ngộ,
nên gọi là Giác giả.
Như
vậy chín món công-đức đã đầy đủ là đấng cao cả trong
ba đời mười phương thế giới nên gọi là Thế-Tôn.
Mười
Hiệu của Phật đầy đủ: là tự thân mình đầy đủ. Khiến
người khác cũng đầy đủ; lợi mình lợi người, cho nên
đáng kính lễ.
PHẨM
TAM BẤT HỘ THỨ 5
Ba
nghiệp thân khẩu ý của Đức Phật chẳng cần giữ ngìn.
Tại vì sao? Vì ba nghiệp ấy của Phật không có bất tịnh,
muốn khiến kẻ khác chẳng thấy chẳng biết,. Lại các người
khác hoặc có khi vô ký, in như ba nghiệp thân khẩu ý có bất
tịnh nên bị kẻ trí chê cười, Phật không có như vậy,
Tại vì sao? Vì tất cả ba nghiệp ấy của Như-Lai dều bởi
trí huệ và chánh nhớ nghĩ mà sanh khởi. Còn những kẻ tiểu
trí bị vọng niệm không được nghiệp như vậy. Lại người
đời hoặc vì vội vã mà bị lầm lời, Phật thì không có
các viẹc như thế. Tại Phật khéo tu Thân giới tâm-huệ,
các phép như vậy đều khéo tu nên tất cả nghiệp nhân bất
thiện và tợ bất thiện thảy đều trừ diệt. Lại nữa,
Đức Thế Tôn từ kiếp lâu xa đến nay đã từng tu hành các
thiện pháp chẳng phải mới đời này, vậy nên các nghiệp
tính thanh tịnh chẳng còn gìn giữ. Lại Phật thường vui
tu giới hạnh, chẳng phải lo sợ đọa ác đạo mà tu. Lại
tất cả ba nghiệp thân khẩu ý của Phật đều làm lợi ích
cho người nên không có bất thiện, vì không bất thiện nênko
cần gìn giữ. Vì ba nghiệp thanh tịnh chẳng cần gìn giữ
nên đáng kính lễ.
Lại
nữa, Đức Phật nên ba món niệm xứ, sửo dĩ đáng kính lễ.
Mỗi khi thuyết pháp, thính giả có chăm lòng nghe, chẳng láy
làm mừng, hay chẳng chăm lòng nghe, cũng chẳng láy làm buồn,
vì thường tu xả tâm. Tại vì sao? Vì tập khí tham sân của
Phật không còn chút mảy. Và Phật biết các pháp rốt ráo
là “không”, nên không mừng không buồn. Và Đức Phật khéo
nhóm chứa lòng Đại bi nên đối với thiện hay bất thiện,
lòngko vui buồn mà chỉ bình đẳng sinh khởi lòng Đại bi.
Và Phật am hiểu tâm tánh của mỗi chúng sanh, hoặc khéo chăm
nghe, chẳng lấy lmà mừng, mà chẳng khéo chăm nghe,cũng chẳng
láy làm buồn, vì bản tánh nó vậy, nên thường tu xả tâm,
lại tâm của Phật bền chắc in như chốn đại địa, bớt
vật nặng chẳng cao lên, hay thêm vật nặng cũng chẳng thấp
xuống; còn tâm của kẻ phàm phu như cái cân, thêm chút là
thấp xuống,mà bớt chút thì cao lên. Lạy Phật Thế Tôn gọi
là đấng Đại bi, vậy nen người tròi đều nên kính lễ.
Lại
Phật bỏ vui trong cảnh thiền-định nhiệm mầu mà vì người
nói pháp. Bi tâm của nkẻ khác không thành xong việc gì; lòng
Đại bi của Thế Tôn năng cứu chúng sinh,n ên gọi là hữu
quả. Và cũng nhờ Tâm đại bi mà thành tựu được đạo
vô thượng chớ chẳng phải trựo duyên nào khác nữa. Lại
nữa, Phật không có ngã tâm hành thiẻu dục tri túc rát là
số một. Cũng do tâm đại bi nên tự khen thân mình. Và tánh
Đức Phật nhu hòa, mà cũng vì tâm đại bi nên mới có những
lời khổ thiết khởi ra đại phương tiện, chịu các điều
cần khổ vì độ chúng sinh vậy. Và vì lòng đại bi của
Phật độ chúng sinh nên mới xuất hiện ở trong thế gian
mà lãnh lấy chiếc thân năm ấm như thỏi sắt nóng, trong
chừng giây lát chẳng khá chịu nổi. Lại Phật thế Tôn khéo
tu xả tâm, rồi bỏ xả tâm thươ2ngf tu đại bi tâm, nên được
mọi loài tôn kính.Lại Phật là Người lành trong đám người
lành. Tại vì sao? Vì mình được đại lợi rồi làm cho người
khác cũng được đại lợi, lời mình lợi người, nên gọi
người lành lại Phật là kẻ bạn lành chân thiện của chúng
sinh, như trong kinh nói: “Ta là thật bạn lành quen biết của
chúng sinh và là kẻ thương xót, kẻ lợi ích…” Lại nữa,
Đức Phật Thế Tôn là một đống nhóm các công đức như
tinh tấn bố thí… chính như ông Hòa Lợi trưởng giả dùng
mọt trăm câu kệ khen Phật là doc các công đức nầy. Vậy
nên đáng kính lễ.
Lại
nữa, Đức Phật tự nói của mình, như trong kinh Tăng nhất
A-Hàm (phẩm Như-Lai Phật tự nói: “Ta là Sư tử trong loài
người, là người đẹp như hoa, là người hùng như voi là
đệ nhất Sa-môn mà cũng là đệ nhát trong đám Bà-la-môn,
và là vua trong các vị Thánh, là vì hành vi không còn sai lầm,
là chẳng tùy theo khổ vui, chính là thân Ta, vậy,”
Hỏi:
Bởi cớ chi mà Phật tự khen thân mình? Kẻ nào tự khen thân
mình là tướng của người ngu.
Đáp:
Đức Thế Tôn chẳng cầu danh lợi mà chỉ vì kẻ khác? Khác
tự khen thân mình. Và Phật không có ngã, vì muôn lợi cho
kẻ káhc nên tự khen không lỗi. VÀ cũng bởi nhân duyên mà
tự khen ít nhiều vậy thôi, chớ với công-đức của Phật
không htể nòa khen nói hết được cho nên chẳng đọa vào
tướng người ngu, vì chẳng tự cao vậy. Lại như trong kinh
Thanh tịnh, Ngài Xá-Lợi-Phất đứng trước Phật mà ngợi
khen công đức của Phật. Vây nên đáng kính lễ.
Và
các hạnh thiểu dục tri túc và vô lượng công đức đều
tập trung nơi thân Phật, tại vì sao? Vì Phật nhóm họp các
công đức đầy đủ. Bởi các duyên do nầy nên đáng kính
lễ.
LUẬN
PHÁP BẢO - TRƯỚC PHẨM TAM THIỆN THỨ 6
Hỏi:
Trước ông có nói nên lễ Pháp bảo. Mà Pháp bảo có công-đức
gì nên đáng kính lễ.
Đáp:
Đức Phật tự khen nói: “Pháp ta nói ra trước, giữa, sau
đều thiện” nghĩa thiện, ngữ thiện, độc pháp cụ túc,
thanh tịnh điều nhu, tùy thuận phạm hạnh. Trước giữa sau
đều thiện là Phật pháp không thời nào chẳng thiện; Với
thiếu thời, tráng thời, lão thời, ba thời đều thiện; Vào
thời, hành thời, và xuất thời cũng đều thiện. Và trước
là ngăn ác, giữa là xả phước báo và sau tất cả đều
xả, vậy nên gọi là tam thiện. Lại ba thời Phật thường
thuần thuyết chánh pháp chẳng xen phi pháp như các ngoại đạo.
Và ba thời trước giữa sau Phật thường vì chỗ ưa vui kẻ
trí mà thuyết. Và trong ba thời tất cả pháp đều thẳm sâu,
chẳng như kinh khác trước to, giữa nhỏ, sau chỉ còn chút
xíu. Bởi các lẽ ấy nên gọi là Tam Thiện. Nghĩa thiện:
là nghĩa Phật pháp có lắm lợi ích: được lợi đời nầy
và đời sau, và lợi xuất thế đạo, chẳng phải như ngoại
điển nguyện cầu tăng thêm thiên nhãn. Ngữ thiện: là tùy
theo phương ngôn tục ngữ năng tỏ ra chánh nghĩa, nên gọi
là ngữ thiện. Tại vì sao? Vì kết quả lời nói chính là
nghĩa vậy. Vậy nên có bấy nhiêu lời nói ra là để năng
thành xong nghĩa lý, nên gọi là ngữ thiện. Lại nữa, cái
quý của Phật-pháp là đúng như nói mà làm, chứ chẳng phải
quí ở lời nói suông, vậy nên tùy theo phương ngôn tực ngữ,
năng khiến được đạo, thì gọi là ngữ thiện. Chẳng như
ngọai điển, chỉ quí lời nói; hoặc thất lời nói hoặc
thất âm thanh là kẻ luận chủ bị tội. Lai nữa khéo nói
chân đế gọi là nghĩa thiện, khéo nói thế đế gọi là
ngữ thiện. Độc pháp: là Phật chỉ nói chánh pháp nhờ chẳng
vì vui luận nói chuyện đời xưa và cũng xen nói pháp và phi
pháp. Và độc pháp: là Phật chỉ vì vô dư Niết-Bàn nên
nói lại độc nhất là Phật năng thuyết, cho nên gọi là
Độc pháp.
Hỏi:
Có kinh Thanh-Văn bộ, chỉ có Thanh Văn mới được nói. Còn
các kinh khác nữa do các Thiên-thần nói, sao ông nói độc
nhất Phật nói?
Đáp:
Cội gốc của các kinh ấy đều từ Phật mà ra, nghĩa là
các Thanh-văn và Thiên Thần đều là những kẻ truyền đạt
lời Đức Phật. Như trong luật tạng nói: “Phật-pháp gọi
là Phật sở thuyết.” Những lời Đệ tử Phật nói ra và
các vị biến hóa và các chư thiên nói ra, tóm tắt mà nói:
Tất cả trong thế gian có bấy nhiêu lời nói khéo hay đều
là lời Phật nói nên gọi là Độc Pháp. Cụ túc: là pháp
Đức Phật nói ra không có giảm bớt, như trong kinh Uất-đà-la-già
nói tướng cụ túc. Và Phật-pháp chẳng đợi các kinh mới
được thành tựu, như kinh Hòa-già-la-na đợi năm kinh nhiên
hậu mới được thành tựu. Phật-pháp chẳng phải như vậy,
với trong một bài kệ vẫn đầy đủ ý nghĩa, như nói: chớ
làm các ác, vâng làm các lành; tự sạch tâm ý, là các Phật
dạy. Nên gọi là Cụ túc.
Thanh
tịnh điều nhu: Có hai món thanh tịnh, nên gọi là thanh tịnh
điều nhu: lời thanh tịnh gọi là thanh tịnh, nghĩa thanh tịnh
gọi là điều nhu. Và Phật cho đối trong nghĩa để riêng
lời tùy nghĩa; đối trong chánh ngữ để riêng nghĩa tùy ngữ
chánh, chẳng phải như ngoại đạo theo kinh mà lấy. Và trong
Phật pháp, y pháp bất y nhân. Mà trong pháp cũng còn chọn
lựa nữa: y kinh liễu nghĩa; chớ chẳng y kinh bất liễu nghĩa,
ấy là tịnh pháp chẳng những cứ theo kinh. Và trong Phật-pháp
có ba pháp ấn: tất cả vô ngã, các pháp hữu vi, niệm niệm
vô thường; Tịch diệt Niết-Bàn, với ba pháp ấn này, các
Luận giả không thể phá hoại được, vì là chân thật nên
gọi là thanh-tịnh điều-nhu. Tùy-thuận phạm-hạnh: là Bát-chánh-đạo
gọi là phạm-hạnh. Phạm là đạo Niết-Bàn, vì năng đến
Niết-Bàn nên gọi là Phạm-hạnh.
Pháp-bảo
trọn nên công-đức như thế, cho nên đáng kính lễ.
PHẨM
CHÚNG PHÁP THỨ 7
Lại
nữa, Phật tự khen rằng: “Pháp ta năng diệt, năng đến
Niết-Bàn, năng sanh chánh trí năng khéo dẫn đường”. Năng-diệt:
diệt tắt các lửa tham, sân si các thứ phiền não nên gọi
là năng diệt; như tu quán bất tịnh diệt được lửa dâm
dục, như tu từ tâm, diệt được giận dữ, chẳng phải như
ngoại đạo tu pháp đoạn-thực, cho nên gọi là năng diệt.
Năng đến Niết-Bàn: đích rốt ráo Phật-pháp là chắc đến
Niết-Bàn, chẳng phải như ngoại đạo an trụ trong hữu phần,
hay say đắm các thiền-định. Và trong Phật-pháp nói tất
cả hữu vi pháp đều có tội lỗi nên không đáng khen ngợi,
chẳng phải như Bà-la-môn khen ngợi Phạm-thiên, cho nên Phật-pháp
năng đến Niết-Bàn. Năng sanh chánh trí: có bao nhiêu Phật-pháp
đều vì Niết-Bàn; Vậy nên sinh chánh trí. Và trong Phật-pháp
có quả chân trí, như từ văn huệ sanh tư huệ, từ tư huệ
sanh tu huệ, nên gọi Phật pháp năng sanh chánh trí. Năng khéo
dẫn đường: Phật-pháp, mình trước khéo thành, sau mới đem
người khác an trú trong chánh pháp, nên gọi khéo dẫn. Lại
nữa, Phật-pháp có 6 pháp: 1)Thiện thuyết, 2) Hiện báo, 3)
Vô thời, 4) năng đem, 5) Đến nếm, 6) Trí giả tự tri.
Thiện
thuyết: các pháp của Phật nói đúng như thật tướng của
các pháp: như pháp bất thiện là nói tướng bất thiện, thiện
là nói tướng thiện, gọi là thiện thuyết. Hiện báo: Phật
pháp năng được quả báo hiện đời, như trong kinh nói: “Sơm
mai thọ giáo, khiến chiều đắc đạo; chiều vì nói pháp
sáng ngày đắc đạo”. Và hiện báo: như nói hiện được
quả Sa-môn như trong kinh nói: hiện được cung kính danh tiếng,
thiền định, thần thông các việc lợi ích. Lại nữa, Phật-pháp
đều có nghĩa lý, nên gây được cung kính hiện đời, quả
báo đời sau và quả báo Niết-Bàn; các pháp ngoại đạo không
có nghĩa lý nên không được quả báo hiện tại và đời
sau huống chi Niết-Bàn, cho nên gọi là hiện báo. Vô thời:
Phật-pháp chẳng đợi ngày tháng năm nào hay tinh tú cát hung
mới được tu đạo, hay ngày tháng năm nào đó chẳng được
tu đạo. Chẳng phải như pháp của Bà-la-môn: sơ xuân Bà-la-môn
lãnh thọ pháp lửa, cuối xuân giòng vua chúa lãnh thọ pháp
lửa. Còn có hoặc đợi mặt trời mọc, hoặc chưa mọc mới
cúng dường lửa. Như có kẻ thấy năm giống lúa đợi thời
mới trồng, rồi bảo Phật pháp cũng phải như thế. Vậy
nên nói Vô-thời. Như trong kinh nói: “Phật-pháp” dễ tu,
đi đứng ngồi nằm không lúc nào chẳng tu được”. Năng
đem: vì nhờ chánh hành nên có thể đem chúng sanh đến chỗ
giải thoát, nên gọi là năng đem. Đến nếm: Phật-pháp cần
phải tự thân làm chứng, chẳng phải chỉ theo người khác
như Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Các ngươi đừng chỉ
tin lời Ta, mà phải tự suy nghĩ: pháp ấy nên tu hay pháp ấy
chẳng nên tu”.chẳng phải như ngoại đạo bảo các đệ
tử rằng: “Nên bỏ lối vấn đáp này, như người rửa sạch
chẳng ưa bụi đất, phải như đứa điếc câm chỉ theo lời
ta”. Cho nên gọi là nếm. Trí giả tự tri: Phật-pháp lợi
ích, kẻ trí huệ mới có thể tin hiểu, còn pháp đoạn thực
những đứa thô ngu tin vui, chớ kẻ trí chẳng chịu. Dùng
chánh trí huệ năng phá trừ phiền não; những pháp như thế
kẻ trí mới hiểu. Tuy dùng vật thực đầy đủ nuôi thân
mà nhất tâm tinh tấn tu trì, không nhiễm tham sân. Các việc
như thế người trí hiện biết, như người lành bịnh tự
nhiên biết được khỏi bịnh, như tướng nước lạnh chỉ
kẻ uống mới biết. Lại nữa, hoặc có quá ngữ pháp: như
nói tướng cứng của đất. Cứng lấy gì làm tướng? Không
thể lấy lời nói đáp được, mà phải rờ mới biết. Cũng
như có người mù từ trong bụng mẹ không thể bảo với họ
những màu xanh vàng đỏ trắng được. Nếu người chưa thấm
được khí vị Phật-pháp thì không thể đem thật nghĩa Phật-pháp
mà bảo với họ được, vì là pháp tịch diệt vậy. Lại
nữa, Phật-pháp khá tự chứng biết chức chẳng khá đem chỗ
đã chứng biết của mình mà trao cho người khác như vật
của được. Như trong kinh Bà-la-diên Phật nói: “Ta không
thể tự dứt nghi cho ngươi để ngươi có thể chứng pháp
của Ta; nghi của ngươi tự dứt lấy.” Lại nữa pháp ấy
khi đến thân kẻ khác thì chẳng khá thấy được, như lửa
đã truyền đi nơi khác. Lại kẻ phàm phu ngu nhân bị núi
vô minh che ngăn nên chẳng tin pháp nầy, như Phật nhân ông
A-Di-La-Việt Sa di nói thí dụ núi lớn. Cho nên gọi trí giả
tự biết. Lại nữa, Phật-pháp thẳm sâu, mở chỉ đậy vẽ
pháp nông cạn để dứt trừ hư ngụy, lưu bố khắp người
trời. Thẳm sâu: Phật-pháp thẳm sâu, vì chẳng biết nguyên
nhân nên người đời phần nhiều chỉ thấy hiện quả; không
thể biết nguyên nhân nên mới nói do Tự Tại Phạm Thiên
các món tà nhân. Mười hai pháp nhân duyên thẳm sâu nên khó
hiểu. Người đời trí cạn đối với Phật pháp chẳng thâm
tưởng được nên không thể thông suốt các pháp nhân duyên,
cho đến mảy cộng cỏ cũng do các nhân duyên. Suy nghĩ quan
sát thì tướng nó càng thẳm sâu. Như Phật đã nói: “Các
pháp nhân duyên, việc nầy thẳm sâu, ai hết lìa diệt, và
chỗ Niết-Bàn, cũng là khó thấy.”
Hỏi:
Nếu nhân duyên thẳm sâu sao Ngài A-Nan sanh lòng nghĩ nông cạn?
Đáp:
có ông Luận sư đã phê bình rằng: “Lời nói ấy không đúng;
Ngài A-Nan là bậc đại đệ tử thông đạt pháp tướng làm
sao lại nói pháp nhân duyên là nông cạn?” và hoặc đem tổng
tướng mà quán sát pháp nhân duyên nên sanh tưởng nông cạn.
Tại vì sao? Vì người ấy chẳng khéo phân biệt mà quán nghiệp
phiền não vậy. Lại nữa, như người với việc sở học
đã được rốt ráo liền sanh lòng nghĩ cạn dễ, như khi được
đại rí trở lại xem bài học ban đầu. Trái lại có người
trí huệ chưa thành tựu. Với pháp thẳm sâu sanh nghĩ dễ
dàng nông cạn. Lại nữa, vì Phật khéo thuyết pháp nên hoặc
có chúng sinh nghe liền sanh nghĩ cho là cạn dễ. Lại Phật
pháp đều “không” vì lý “không” nầy rất là thẳm sâu
nên Phật dùng nhiều món nhân duyên thí dụ tuyên nói nghĩa
thời được dễ hiểu, trẻ con cũng hiểu được, như Sa di
Tu-Đà-Da chẳng hạn. Lại nữa, Phật-pháp chắc chắn, nên
trong các lời nói rất là chân thật, chẳng phải như những
kinh Bà-la-đà-la-ma-diên chỉ có lời nói mà không có thật
nghĩa. Như ông Phạm-Chí Lô-Đề thưa với Đức Thế Tôn rằng:
“Các Tỳ-kheo đối trong pháp chân thật lợi ích tinh cần
tu học thời được hết lậu.” Lại nữa, Phật-pháp vì
làm lợi ích cho tất cả người đời nên mới nói chứ chẳng
phải như Bà-la-môn nói: “Pháp Bà-la-môn chỉ có tự mình
được đạo người khác không được.” Phật-pháp là pháp
tôn trọng các vì Thiên Vương là những kẻ lung hưởng ngũ
dục mà vẫn đến tín thọ. Vì những nhân duyên nầy, cho
nên Pháp-bảo đáng kính lễ
PHẨM
THẬP NHỊ BỘ KINH THỨ 8
Lại
nữa, Phật-pháp phân chia có mười hai bộ: 1- Tu-Đa-La, 2 Kỳ-Dạ,
3- Hòa-già-La-Na, 4- Già-Đà, 5- Ưu-Đà-Na, 6- Ni-Đà-Na, 7- A-Ba-Đà-Na,
8- Y-Đế-Việt-Đa-Già, 9- Xà-Đà-Già, 10- Bệ Phật-Lược,11-
A-Phù-Đa-Đạt-Ma, 12- Ưu-Ba-Đề-Xá.
Tu-Đa-La:
là những lời nói thẳng. Kỳ-Dạ: là dùng kệ tụng lại
Tu-Đa-La, hoặc Phật tự nói, hoặc các đệ tử nói.
Hỏi:
Tại sao phải dùng kệ tụng lại Tu-Đa-La làm chi?
Đáp:
Muốn cho nghĩa lý kiên cố, như dùng dây xâu hoa thứ lớp
kiên cố, và muốn trau dồi lời lẽ, khiến người ưa thích,
như dùng lối rải hoa, hoặc đem hoa xâu để làm trang nghiêm.
Lại nữa, nghĩa lý được vào trong kệ thời tóm tắt dễ
hiểu. Hoặc có chúng sinh ưa nói thẳng, hoặc thích kệ tụng.
Và trước nói thẳng pháp, sau dùng kệ tụng thời nghĩa lý
rõ ràng khiến lòng tin kiên cố. Và nghĩa được vào trong
kệ thời thứ lớp liên nhau rõ ràng dễ bề khen nói. Vậy
nên phải cần nói kệ. Hoặc có người bảo: “Phật pháp
chẳng nên tạo kệ vì giống lối ca vịnh.” Lời nói ấy
không đúng, vì Phật-pháp cần nên tạo kệ. Tại vì sao? Vì
Phật tự dùng kệ mà thuyết các sự nghĩa vậy. Như trong
kinh nói: “Tất cả các lời đẹp đẽ trong thế gian đều
do pháp Ta mà có.” Vậy nên dùng kệ tụng mới có lời đẹp
đẽ. Hòa-già-la-na: là các kinh có giải nghĩa thì gọi là
kinh hòa-già-la-na. Nếu có kinh không đáp không giải như Tứ
Vô Ngại chẳng hạn thì gọi là Tu-Đa-La, kinh có vấn đáp
gọi là Hòa-già-la-na như nói có bốn hạng người: từ tối
vào tối, từ tối vào sáng, từ sáng vào tối, từ sáng vào
sáng. Hạng từ tối vào tối: như những người bần tiện
mà còn gây ba ác nghiệp. Sẽ đọa vào ác đạo. Những kinh
như thế gọi là Hòa-già-la-na.
Hỏi:
Cớ sao Phật nói kinh không đáp không giải?
Đáp:
Có kinh nghĩa lý thẳm sâu, nghĩa của kinh này sẽ nói riêng
trong phần A-Tỳ-Đàm, vậy nên chẳng giải. Hoặc có người
nói: “Đức Phật nói kinh đều có giải nghĩa.” Nhưng vì
kẻ kiết tập Pháp-bảo lựa kinh nào nghĩa thẳm sâu để
vào trong a-tỳ-đàm, như bởi hai nhóm người kiết tập trong
hang và ngoài hang, trọn đêm giải nghĩa; nghĩa này nên ở
trong nhóm kiết sử Già-Đà: là đệ nhị bộ thuyết. Kỳ-dạ:
Kỳ-dạ là kệ. Kệ có hai thứ: một gọi là Già-đà, hai
gọi là lộ-già. Lộ-già lại có hai thứ: một thuận phiền
não, hai bất thuận phiền não. Bất thuận phiền não là thuyết,
ở trong kỳ-dạ gọi là già-đà. Trừ hai thứ kệ nầy, kỳ
dư các kinh chẳng phải kệ gọi là Ưu-đà-na. Ni-đà-na: là
những kinh nhân duyên. Tại vì sao? Vì các Đức Phật hay các
bậc Hiền Thánh thuyết ra kinh pháp cần có nhân duyên. Nhân
duyên của các kinh này hoặc ở trong Khế kinh, hoặc ở nơi
khác, thì gọi là ni-đà-na. A-ba-đà-na là những thuyết có
đầu đuôi thứ lớp như trong kinh nói: “Kẻ trí nói năng
thời có thứ lớp có nghĩa có giải chẳng cho tán loạn.”
thì gọi là A-ba-đà-na. Ý-đế-việt-đa-già: là kinh nhân duyên
và kinh thứ lớp. Nếu hai kinh này ở quá khứ thì gọi là
thì gọi là Y-đế-việt-đa-già, đời nhà Tần dịch: “Việc
này đời quá khứ như vậy.” Xa-đà-già: Nhân việc hiện
tại mà nói việc quá khứ, Như-Lai tuy nói việc đời vị
lai, nhưng việc này đều nhân quá khứ và hiện nên chẳng
nói riêng. Bệ-phật-lược: Là kinh Phật nói rộng thì gọi
bệ-phật-lược. Có kẻ chẳng tin bảo: “Các bực Đại Thánh,
vì vui vắng lặng chẳng ưa ồn ào, chán tạp ngữ thế gian,
vì muốn nhổ các gốc ưa vui, nên chẳng ưa nói rộng”. Như
trong kinh nói: “Có người chứng được Đạo, hơn hai tháng
mới nói một lời.” Vì muốn dứt nghi này nên nói có kinh
nói rộng rất nhiêu ích cho kẻ khác vậy. Như nói Đức Như-Lai
có hai lối thuyết pháp: một rộng hai hẹp; cố nhiên là rộng
hơn hẹp kém. A-phù-đà-đạt-ma: là những kinh thuyết việc
chưa từng có, như nói các việc lạ khi tiếp cận đại biến,
thân lượng các chư Thiên; đại địa chấn động. Có kẻ
chẳng tin các việc như vậy cho nên nói có kinh nói việc chưa
từng có. Và thường hiện nghiệp quả báo, thế lực các
pháp, chẳng khá nghĩ bàn được vậy. Ưu-ba-đề-xá là như
các Ngài đại Ca-Chiên-Diên là các bực đại trí nhân rộng
giải lời Phật. Có kẻ chẳng tin cho là chẳng phải Phật
nói, Đức Phật vì những kẻ ấy cho nên nói có luận kinh.
Kinh mà có luận thì nghĩa dễ hiểu.
Mười
hai bộ kinh này gọi là Phật-pháp. Pháp bảo đầy đủ công
đức như thế, vậy nên đáng kính lễ.
LUẬN
TĂNG BẢO -
TRƯỚC
PHẨM THANH TỊNH THỨ 9
Hỏi:
Trước ông nói nên kính lễ Tăng-bảo. Tại sao nên kính lễ.
Đáp:
Ở nhiều nơi Phật tự khen ngợi Tăng. Tăng-bảo là giới
phẩm thanh tịnh, định phẩm, huệ phẩm, giải thoát phẩm,
giải thoát tri kiến phẩm đều thanh tịnh; nên thỉnh nên
lễ, chắp tay cung kính cúng dường thời kẻ thí chủ năng
được lợi ích, vì đó là đám ruộng cao tột.
Giới
phẩm thanh tịnh: Là các đệ tử Phật giữ giới không bị
tì vết, cho đến bị lỗi nhỏ vẫn rất ôm lòng sợ hãi.
Đệ tử Phật, chẳng phải vì cầu phước báo sanh về cõi
người, trời, cũng chẳng phải lo sợ địa ngục, ngạ quỷ
mà siêng năng giữ giới chỉ vì vui pháp lành, nên gọi là
thanh tịnh. Lại nữa, giữ tịnh giới chẳng phải hạn cuộc
theo thời tiết; chẳng như Bà-la-môn giữ giới sáu tháng,
hay một đêm, cho đến trọn đời. Nên gọi là thanh tịnh.
Và giữ tịnh giới: lìa hai bên, xa lìa vui ngũ dục và lìa
khổ nơi thân. Nên gọi giới này Thánh ưa mến, mà giới này
cũng được kẻ trí yêu chuộng. Lại bởi chăm lòng ngăn ác,
chớ chẳng phải những lo sợ đời sau mà giữ giới cho nên
gọi Tăng-bảo là giới phẩm thanh tịnh. Định phẩm thanh
tịnh: Là nhờ thiền-định năng sinh chân trí nên gọi thanh
tịnh. Huệ phẩm thanh tịnh: là nhờ huệ mới được hết
phiền não, nên gọi thanh tịnh. Giải thoát thanh tịnh: Như
được hết các phiền não chẳng chỉ năng ngăn phiền não,
nên gọi giải thoát thanh tịnh. Giải thoát tri kiến thanh tịnh:
Là đối với cá phiền não bị hết, được trí huệ nghĩa
là hết ngã sanh, chớ chẳng phải hết phiền não mà nói hét
ngã sanh. Đấy là giải thoát tri kiến thanh tịnh. Nên thỉnh
nên lễ nên cúng dưòng: Vì năng đầy đủ các công đức
như thế cho nên cần cầu thỉnh kính lễ và cúng dường các
bực Phước Điền ấy; đối với trong đó mà trồng cội
phước thì quả báo vô lượng, cho đến khi các Ngài vào Niết-Bàn
vẫn không thể hết. Năng ích thí chủ: Là năng khiến công
đức của thí chủ thêm ích, như ruộng tám công đức, tươi
tốt cho năm giống lúa chẳng cho hư hỏng, ruộng Tăng-bảo
cũng vậy, vì trọn nên tám công đức nên năng khếin thí
chủ trồng công đức được tăng thêm. Vậy nên đáng kính
lễ.
PHẨM
PHÂN BIỆT HIỀN THÁNH THỨ 10
Hỏi:
Do pháp gì nên gọi là Tăng?
Đáp:
Do bốn hành, bốn đắc, và giới, định, huệ các công đứ
thanh tịnh, nên gọi là Tăng. Bốn hành: Hành Tu-Đà-Hoàn, hành
Tư-Đà-Hàm, hành A-Na-Hàm, hành A-La-Hán. Kẻ Tu-Đà-Hoàn có
3 hạng người: 1- Tùy tín hành, 2- Tùy pháp hành, 3- Tùy vô-tướng
hành. Tín hành: Nếu người chưa được trí không vô ngã,
vì tin Phật-pháp, theo lời Phật dạy mà tu thì gọi tín hành.
Như trong kinh nói: “Ta đối việc nầy vì tin nên làm.” Nếu
được chân trí thì chẳng những theo lòng tin mà làm. Như
kinh nói: ‘Thấu biết chẳng có kẻ làm, chẳng có kẻ tin.
:”Ấy là bực Thượng nhân. Vậy nên phải biết chưa được
chân-trí là Tùy-tín-hành.. Như trong kinh nói: “Nếu người
đối với Pháp đem chút trí tuệ quan sát nhẫn vui, gọi là
tín hành. Vượt khỏi bậc phàm phu, nhưng chưa chứng được
quả Tu-Đà-Hoàn, trong thời gian ấy chẳng may mạng chết,
gọi là tín-hành.” Người nầy còn trong vương tự-huệ chánh
quán các pháp tâm nhẫn dục lạc, tuy chưa được trí không-vô-ngã
mà có thể sanh tâm thế gian tợ-nhẫn-pháp. Từ đây trở
đi gọi là vượt khỏi bực phàm phu. Tại vì sao? (để qua
sau sẽ nói rộng). Nếu không có tín tấn năm căn, thì người
nầy còn ở ngoại phàm phu. Cũng người nầy lần hồi tu tập
được Noãn, Đảnh các pháp tức là tu hụê mà cựu danh vẫn
còn nên cũng gọi là tín hành, vì quyết chẳng kịp người
Pháp-hành vậy. Kinh nầy nên nói: Cần phải chứng được
quả Tu-Đà-Hoàn, chứ chẳng nên nói chẳng may mạng chết.
Tại vì sao? Vì kẻ tín hành hãy còn xa xôi vậy. Như ông Úc-Già
trưởng giả cúng dường chúng Tăng, có vị Thiên-thần giới
thiệu: Ngài này là A-La-Hán, Ngài này là hàng A-La-Hán cho đến
Ngài nầy là Tu-Đà-Hoàn, Ngài này hành Tu-Đà-Hoàn. Nếu còn
ở 15 tâm thời không có thể giới thiệu như vậy được.
Phải biết kẻ hành Tu-Đà-Hoàn có gần có xa, gọi là Tín
hành. Kẻ pháp hành: Người này được trí không vô ngã, mà
còn ở trong pháp Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế-Đệ-Nhất, tùy thuận
pháp hành tu các pháp không vô ngã thì gọi là pháp hành. Hia
kẻ hành nhân này vào Thấy-Đế-Đạo, Thấy-Diệt-Đế nên
gọi là vô-tướng-hành. Ba hạng người này là hành quả Tu-Đà-Hoàn.
Trong đạo thế tục vì không có dứt gút, nên không được
gọi là Hành. Còn ba quả kia, việc này qua phần sau.
Tu-Đà-Hoàn:
như trong kinh Phật nói: “Nếu người dứt được ba món gút:
Thân kiến, nghi, giới thủ thì gọi là Tu-Đà-Hoàn, chẳng
đọa ác đạo, chẳng được chánh trí, chỉ cùng cực đến
bảy phen sanh tử là cùng”.
Hỏi:
Nếu Tu-Đà-Hoàn nhờ thấy đạo lý chắc chắn nên các phiền
não bị dứt đều hết, diệt được vô lượng khổ, như
Địa-du kinh đã nói, mà đây cớ sao chỉ nói dứt ba món gút
ư?
Đáp:
Việc này qua sau sẽ nói rộng hơn. Nghĩa là Thân-kiến hết
các món khác cũng hết theo, còn chẳng đọa vào ác đạo:
ra sau, trong phần nghiệp-tụ cũng sẽ nói rộng. Chắc được
chánh-trí: là người nầy được vào trong dòng pháp chắc
đến Niết-Bàn, như cây trôi giữa sông Hằng lìa tám nhân
duyên chắc đến biển cả. Cùng cực bảy phen: Là người
nầy ở trong bảy đời trí vô lậu thành thục, như giọt
tinh huyết đầu tiên trong bào thai, cứ bảy ngày biến thành
trạng thái khác. Lại như uống các vị dầu tô-lạc cực
đến bảy ngày thời lành bịnh kiết, và như giòng họ cũng
chỉ hạn đến bảy đời. Lại như thân người bị rắn cắn
vì sức của tứ đại chỉ đi được bảy bước và vì sức
độc của nọc rắn nên chẳng đi được bước thứ tám.
Và pháp dối gạt cũng đến bảy đời. Lại như đến khi
bảy mặt trời xuất hiện là thời kiếp cháy hết. Như vậy
bảy đời chứa nhóm vô lậu đốt cháy hết phiền não. Và
bởi lẽ của pháp ấy chỉ có bảy phen. Có Tu-Đà-Hoàn đời
nay vào Niết-Bàn, có đời thứ hai thứ ba cực đến đời
thứ bảy là cùng. Đấy gọi là Tu-Đà-Hoàn. Hành Tư-Đà-Hàm:
Các món gút bị dứt do suy nghĩ có chín phẩm. Nếu dứt một
hai cho đến ba bốn năm, ấy là hành giả Tu-Đà-Hàm. Có người
nói: “Chỉ đem một pháp Vô-ngại-đạo mà dứt.” Việc
nầy chẳng trúng, vì trong kinh Phật nói phải đem vô lượng
tâm mà dứt, như trong kinh Cán búa thí dụ đã nói, và hành
giả Tư-Đà-Hàm còn có tên là gia-gia, là người nầy hoặc
hai hoặc ba phen qua lại hoặc hiện thân nầy được vào Niết-Bàn.
Đây là hành giả Tư-Đà-Hàm. Tư-Đà-Hàm: Chỉ còn đến nhân
gian một phen là vào Niết-Bàn. Người nầy do suy nghĩ dứt
được gút mỏng gọi là Tư-Đà-Hàm. Tư-Đà-Hàm, hoặc hiện
thời đời nầy vào Niết-Bàn hành A-Na-Hàm. Nếu dứt được
gút phẩm thứ bảy thứ tám, người nầy đều gọi là A-Na-Hàm.
Dứt phẩm thứ tám gọi là Nhất-chủng. Kẻ hành A-Na-Hàm,
hoặc có kẻ hiện đời nầy được liền vào Niết-Bàn. Lìa
hết chín phẩm gút của cõi Dục nên được gọi là A-Na-Hàm.
A-Na-Hàm nầy có tám thứ sai khác. Đã có kẻ nói: có kẻ
do thân trung ấm nhập diệt, có kẻ do sanh hữu nhập diệt,
có kẻ có bất-hành nhập diệt, có kẻ hành nhập diệt, có
kẻ thượng hành đến cõi trời Sắc-cứu-cánh nhập diệt,
có kẻ chuyển-thế nhập diệt, có kể do hiện đời nhập
diệt. Tùy theo căn cơ thượng, trung, hạ nên có sai khác.
Trung
ấm nhập diệt cũng có ba thứ căn cơ thượng, trung, hạ.
Có vị A-Na-Hàm rất chán thế gian mà có chút chướng ngại
nên hiện đời chẳng được nhập diệt, người nầy khi sống
trong thân trung ấm mới nhập diệt. Sanh hữu cũng có ha hạng
là sanh diệt, hành diệt và bất hành diệt. Sanh diệt: là
khi sanh rất nhàm lìa sanh-hữu liền vào Niết-Bàn, gọi là
sanh diệt, vì căn cơ lanh lợi vậy. Hoặc có kẻ sanh xong,
các pháp vô lậu đạo tự nhiên hiện tiền chẳng cần gia
hạnh siêng tu mà vào Niết-Bàn, gọi là bất-hành-diệt, vì
căn cơ bậc trung vậy. Hoặc có kẻ sanh xong rất sợ việc
thọ thân, siêng tu hành đạo mới vào Niết-Bàn, gọi hành
diệt vì căn cơ đần độn. Vậy thượng hành diệt cũng có
ba hạng: Hoặc từ một chỗ mạng chung, đến một chỗ sanh,
rồi bèn vào Niết-Bàn, gọi là lợi căn, Hoặc từ hai chỗ
sanh gọi là Trung căn. Tất cả chỗ mạng chung, tất cả chỗ
sanh, gọi là độn căn, Từ sơ thiền đến cõi trời Quảng-quả,
gọi là quyết định. Đến cõi trời Quảng-quả rồi hoặc
sanh về cõi trời Tịnh-cư; người nầy chẳng còn đến cõi
vô-sắc-xứ, kẻ nầy quyết chẳng sanh về cõi trời Tịnh
cư, vì đắm vui định vậy. Chuyển-thế: Hoặc đời trước
chứng được quả Tu-Đà-Hoàn, hay quả Tư-Đà-Hàm; về sau
chuyển thân lại chứng được quả A-Na-Hàm: người nầy chẳng
vào cõi sắc, cõi vô sắc. Hiện diệt: là kể lợi căn số
một, liền hiện thân này được vào Niết-Bàn. Lại có hai
hạng người: một là tín giải thoát, hai là kiến đắc, hai
hạng nầy vì căn cơ có sai khác: Như kẻ học-nhân độn căn
ở trong tư-duy-đạo gọi là tín-giải thoát. Lợi căn là kiến
đắc. Hoặc A-Na-Hàm đủ tám pháp giải thoát gọi là thân
chứng, các hạng nầy đều là kẻ A-La-Hán vì dứt gút đồng
đều vậy. Nêu dứt sạch hết tất cả phiền não là A-La-Hán.
A-La-Hán có 9 hạng: 1- Thoát tướng, 2- Thủ tướng, 3- Tử-tướng,
4- Trụ-tướng, 5- Khả-tấn-tướng, 6- Bất hoại-tướng, 7-
Huệ giải-thoát-tướng, 8- Cầu giải thoát-tướng, 9- Bất-thoái-tướng.
Các bực A-La-Hán nầy vì chứng được tín tấn các căn nên
có sai khác nhau.
Kẻ
rất độn căn là thoái-tướng: lui mất chánh định; vì lui
chánh định nên vô lậu trí huệ không thể hiện tiền. Thủ
tướng: là kẻ có chút căn cơ khá hơn, hoặc gìn giữ được
chánh định thì chẳng lui mất mà chẳng giữ được thì mất.
Thoái-tướng: trước kia dầu có cố giữ cũng lui mất. Tử-tướng:
kẻ nầy căn cơ lại khá hơn chút nữa; rất nhàm chán các
quả báo, người nầy vì không thể được chánh định nên
vô lậu trí huệ khó được hiện tiền,dẫu được mừng
rồi cũng mất, nên tự tìm lấy cái chết vậy. Trụ-tướng:
Nếu được chánh định chẳng tiến chẳng lui gọi là Trụ-tướng.
Ba hạng trước là ở trong thoái phần chánh định, còn trụ
tướng nầy ở trong trụ phần chánh định. Khả-tấn-tướng:
Nếu được chánh định thì bền chắc tăng thêm, người nầy
tu ở trong tăng phần chánh định. Bất hoại tướng: Được
chánh định rồi các nhân duyên không thể làm hư hoại; người
nầy trụ ở đạt phần chánh định, vì trí huệ rất sắc
bén nên khéo lấy tướng chánh định: vào, trụ khởi mà chẳng
phá hoại. Bởi diệt tận định nên có hai hạng, người chẳng
được
Định
này gọi là Hụê giải thoát. Mà kẻ nào được định này
gọi là câu giải thoát. Bất thoái tướng: Là những công
đức được đều không lui mất, như trong kinh nói: Đức Phật
bảo các Tỳ-kheo: nếu Đệ tử ta đem giường chở Ta, Ta trước
đã được, đều không lui mất.
Chín
hạng như thế gọi là vô-học-nhân. Trước có 18 học-nhân
và chín vô-học: Cộng 27 hạng gọi là tất cả ruộng Phước
của thế gian.
Trong
Tăng-bảo có đầy đủ công đức, vậy nên đáng kính lễ.
PHẨM
PHƯỚC ĐIỀN THỨ 11
Hỏi:
Do những gì mà các Hiền Thánh nầy gọi là ruộng phước?
Đáp:
Dứt hết tham, sân si và các thứ phiền não nên gọi ruộng
phước. Như nói chẳng trừ bỏ thứ cỏ giống như lúa thì
hại mạ lúa tốt. Vậy nên cúng thí người vô dục được
quả báo lợi lớn. Lại người nầy tâm không, nên gọi ruộng
phước. Tại vì sao? Vì không tướng nên các phiền não tham,
sân si chẳng khởi được, chẳng sanh ác nghiệp. Lại các
Hiền Thánh chứng được pháp bất tác nên gọi là ruộng
phước. Lại các người nầy thiền định đã được thảy
đều thanh tịnh, vì các phiền não lớn nhỏ đã hẳn lìa
vậy. Và bỏ hết sự buồn vui nên gọi ruộng phước. Lại
năng dứt trừ năm món trói buộc nơi tâm, nên tâm được
thanh tịnh gọi là ruộng phước. Lại nữa, trọn nên ruộng
tám công đức; và dùng bảy món định cụ khéo giữ nơi tâm;
và năng tận diệt bảy món tệ lậu không còn các lầm lỗi;
lại đầy đủ các giới hạnh, bảy tịnh pháp vậy. Lại
được trọn nên tám công đức của hạnh thiểu dục và tri
túc. Và đã vượt qua bờ bên kia, và đang siêng năng cầu
qua, nên gọi là ruộng phước. Như trong kinh nói: “Chỉ năng
phát tâm muốn tu pháp lành hay được nhiều lợi ích”, huống
chi tu hành ư? Các Hiền Thánh nầy thường tu pháp lành nên
gọi ruộng phước. Như trong kinh nói: “Có kẻ thí chủ nào
cúng vị Tỳ-kheo có trì giới, vị ấy lãnh cúng dường rồi
vào chánh định vô lượng, kẻ thí chủ được phước vô
lượng.” Trong chúng có kẻ vào các chánh định: vô-lượng,
vô-tướng, vô-động năng khiến thí chủ được quả báo
vô lượng, nên gọi ruộng phước. Lại như trong kinh nói:
“Ba việc hòa hợp nên phước lớn.” Một là có lòng tin
hai là vật thí, ba là ruộng phước. Với trong Chúng Tăng,
người có nhiều công đức; đối với người có công đức
ấy dễ sinh lòng tin. Lại nữa, cúng Chúng Tăng đủ chín nhân
duyên nên được quả báo lớn, và cúng Chúng Tăng là vì kẻ
thọ thanh tịnh nên kẻ thí chắc được thanh tịnh. Lại cúng
thí có tám thứ: có tâm thanh tịnh, mà vật thí ít, ít thí
cho kẻ phá giới; có tâm thanh tịnh, vật thí ít, nhiều thí
cho kẻ phá giới; có tâm thanh tịnh, vật đem thí ít, nhiều
thí cho kẻ phá giới; có tâm thanh tịnh vật thí ít, cũng
ít thí cho kẻ trì giới; có tâm thanh tịnh, vật thí ít, cũng
ít thí cho kẻ trì giới; có tâm thanh tịnh, nhiều thí bốn
món cũng như vậy. Với trong Chúng Tăng mà cúng thí chắc được
trọn nên hoặc hai hoặc ba; tất cả người lành đều nhờ
Chúng Tăng mà tăng thêm công đức, nhiên hậu mới tùy ý nguyện
hồi hướng Bồ-đề. Và nhờ đem vật thí Tăng nầy đều
sẽ được quả giải thoát ở trong sanh tử quyết không thể
hết. Lại đem thí Chúng Tăng đều vì trang nghiêm nơi tâm.Lại
nữa, nếu đối với một vị Tăng sanh lòng tin thanh tịnh
hoặc khi dể hoại, mà đối với Chúng Tăng lòng tin thanh tịnh
quyết chẳng hư hoại. Lại đối với một vị sanh lòng ái
kính hoặc chẳng được rộng, mà đối với Chúng Tăng sanh
lòng tin kính thời tâm được rộng lớn vì cảnh duyên nhiều
vô lượng. Lại nữa, cúng thí vì muốn tất cả người vào
Tăng số, vì tâm rộng lớn ấy nên được quả báo cũng lớn.
Do
các lý do như trên nên các vị Hiền Thánh nầy gọi là ruộng
phước. Vậy nên đáng kính lễ.
Thành-Thật
luận hết quyển 1.