QUYỂN
THỨ 3
PHẨM
NHỊ-THẾ HỮU THỨ 21
Hỏi:
Thật có quá khứ vị lai. Tại vì sao? Nếu pháp nầy có, trong
ấy sinh tâm, như pháp hiện tại và pháp vô vi. Lại như Phật
nói Sắc tướng, cũng nói sắc quá khứ và vị lai; và nói
có bao nhiêu sắc: hoặc nội hoặc ngoại, hoặc thô hoặc tế,
hoặc quá-khứ vị-lai và hiện-tại, gọi chung là sắc-ấm.
Lại nói: sắc quá-khứ vị-lai hãy còn vô thường, huống
chi hiện-tại. Vô thường là tướng hữu-vi. Vậy nên phải
nói có. Lại như hiện thấy từ trí sinh trí, vì tu tập vậy.
Như từ bé lúa sinh hạt lúa. Vậy nên phải có quá-khứ. Nếu
không quá-khứ, thời quả vô nhân. Lại như trong kinh nói:
“Nếu quá-khứ sự thật mà có ích thời Phật cũng vẫn
nói”. Lại như nói quán quá-khứ vị-lai tất cả vô-ngã.
Lại ý-thức duyên vị-lai là nương ý quá-khứ, nếu không
có quá-khứ thời thức nương chỗ nào? Lại như biết nghiệp
nhân quá-khứ mới có quả báo vị-lai, ấy là chính-kiến.
Lại như Phật thập-lực biết các nghiệp-nhân quá-khứ vị-lai.
Lại như Phật tự nói: “Nếu không có gây ra tội nghiệp
quá-khứ, thì người nầy chẳng đọa các ác đạo”. Lại
như kẻ học-nhân, nếu còn trong hữu lậu tâm, thời chẳng
phải có tín thảy các vô lậu căn. Lại như các bực Thánh-nhân
chẳng nên quyết định ghi trước việc vị-lai. Lại nếu
không quá-khứ vị-lai thời người đời chẳng nên ghi nhớ
năm món trần. Tại vì sao? Vì ý thức chẳng biết năm món
trần hiện-tại vậy. Lại như nói mười tám ý hành đều
duyên quá-khứ. Lại nếu không quá-khứ, vị-lai, thời A-La-Hán
chẳng nên tự xưng: “Ta được thiền-định”. Vì ở trong
định không nói năng vậy. Lại như trong tứ-niệm-xứ, chẳng
nên quán nội tâm nội thọ được. Tại vì sao? Vì hiện-tại
chẳng được quán quá-khứ vậy. Lại cũng chẳng nên tu tứ
chính-cần. Tại vì sao? Vì trong đời vị-lai không có ác pháp
vậy; còn ba món kia cũng vậy. Lại như không có quá-khứ vị-lai,
thời cũng không có Phật. Lại cũng chẳng nên có kẻ tu giới
đã lâu và người mới tu. Vậy nên chẳng phải lẽ.
PHẨM
NHỊ-THẾ VÔ THỨ 22
Đáp:
Không có quá-khứ vị-lai. Tuy ngươi nói “ Trong pháp có thời
tâm sinh” ấy. Trước tôi đã đáp rằng Không pháp, tâm cũng
có thể sinh được. Lại như ngươi nói “Sắc tướng, sắc
số, sắc khả tướng” ấy. Việc này chẳng phải lẽ. Quá-khứ
vị-lai chẳng phải là sắc, vì không có não hoại vậy. Cũng
không nên nói đó là tướng vô thường vậy; chỉ Phật tùy
theo vọng tưởng phân biệt của chúng-sinh nên mới nói cái
tên ấy thôi. Lại như ngươi nói “trí sinh trí” ấy. Nhân
cùng quả làm nhân duyên lẫn nhau rồi diệt, như hạt giống
và mộng làm nhân cho nhau rồi diệt. Nên Phật cũng nói: Việc
này sinh nên việc kia sinh. Lại như ngươi nói: “Thật mà
có ích thời Phật cũng nói” ấy. Phật nói việc nầy gốc
ở khi hiện tại, chẳng phải Phật nói “cũng có”. Như
nói quá khứ diệt hết thời biết không có. Lại như người
nói “Quán vô ngã” ấy. Vì chúng-sinh đối với pháp quá-khứ
vị-lai cháp hữu ngã, nên Phật mới nói như vậy. Lại như
ngươi nói “Đấy là chính kiến” ấy. Là vì thân nầy khởi
nghiệp, nghiệp nầy cùng quả làm nhân rồi diệt. Về sau
lại tự chịu báo nên mới nói quả. Tóm lại, trong Phật-Pháp
nói: Hoặc có, hoặc không đều là phương tiện, vì muốn
chỉ rõ nghiệp tội phước nhân duyên vậy, chứ chẳng phải
đệ-nhất nghĩa. Như vì nhân duyên nên nói có chúng-sinh, thì
quá khứ vị lai cũng vậy. Như nói nương ý thức quá khứ
ấy là nương phương tiện, chứ chẳng phải như người nương
dựa nơi các vách trụ vậy; và cũng nói rõ là tâm sinh, chứ
chẳng phải nương nơi thân mà sinh. Vì nhân tiền tâm nên
hậu tâm mới được sinh. Nghiệp lực cũng vậy;. Phật biết
nghiệp nầy tùy diệt mà năng cùng với quả làm nhân, chứ
chẳng nói quyết định biết như biết chữ trên giấy. Tội
nghiệp cũng vậy, do thân nầy gây nghiệp, nghiệp này tuy diệt
hết mà quả báo chẳng mất. Lại như người nói “chẳng
nên có các vô lậu căn” ấy. Nếu kẻ học nhân đã được
vô-lậu-căn, được lúc hiện tại, tuy quá khứ diệt, vị
lai chưa đến, vì đã thành tựu rồi nên chẳng được nói
là không. Lại như người nói “Thánh nhân chẳng nên ghi trước
việc vị lai” ấy. Là trí-lực Thánh nhân vậy, tuy pháp chưa
có mà có thể huyền ký trước, như pháp quá khứ tuy đã
diệt hết mà vì niệm lực nên có thể biết được. Lại
như ngươi nói “chẳng nên nhớ năm món trần” ấy. Vì là
kẻ phàm phu si mê vọng niệm nên trước lấy tướng quyết
định, về sau tuy đã diệt hết, mà còn sinh lòng nghĩ nhớ,
vì pháp nhờ lẽ như vậy, chớ chẳng phải như nhớ lông
rùa sừng thỏ… Mười tám món ý hành cũng lại như vậy,
lấy sắc hiện tại, quá khứ tuy diệt, vẫn tùy theo mà nghĩ
nhớ. Lại như ngươi nói “chẳng nên tự xưng Ta được thiền
định” ấy. Là Định được ở hiện tại, vì sức nghĩ
nhớ nên tự nói “Ta được”. Lại như ngươi nói “chẳng
nên được quán nội tâm nội thọ” ấy. Có hai món tâm:
Một là niệm niệm sinh diệt; hai là thứ lớp nối nhau. Dùng
tâm hiện tại, quán tâm nối nhau, chứ chẳng niệm hiện còn.
Lại như ngươi nói “chẳng nên tu tập tứ chánh cần” ấy.
Đề phòng nhân duyên ác pháp đời vị lai đồng thời cũng
phát khởi nhân duyên thiện pháp đời vị lai. Lại như ngươi
nói “Thời không có Phật” ấy. Đức Phật là tướng tịch
diệt, tuy còn hiện ở đời mà chẳng thuộc vào có hay không
huống là khi đã diệt độ ư? Chúng sinh qui mạng với Phật
cũng như người đời thờ phụng cha mẹ vậy. Lại như ngươi
nói “cũng chẳng nên có kẻ tu giới lâu mới” ấy. Chẳng
vì thời gian mà giới có sai khác. Tại vì sao? Vì thời gian
không thật, chỉ do các pháp hòa hiệp sinh diệt nên mới có
thời gian. Vậy nên ngươi đã nói bao nhiêu nhân đều chẳng
phải lẽ.
PHẨM
NHẤT-THIẾT HỮU VÔ THỨ 23
Luận
giả nói: Có người nói tất cả các pháp có; hoặc có người
nói tất cả pháp không có, Hỏi: Do nhân-duyên gì nên nói
có. Do nhân-duyên gì mà nói không?
Đáp:
Kẻ nói có là căn-cứ Phật nói mười hai nhập gọi là nhất
thiết, ấy là nhất thiết có; địa, hỏa, phong, không, thời,
phương, Thần và ý thảy các đà la phiêu, tức chỉ tất cả
vật, số thảy các cầu-na, tức nương dựa. Nêu cử các nghiệp
dưới đây cho rõ: Các pháp tổng tướng biệt tướng hòa
hiệp và ba cư đế, và tính sẵn có thảy, cùng những việc
trong thế-gian như sừng thỏ, lông rùa, chân rắn, mùi thơm
muối, và màu sắc gió thảy, ấy gọi là không có. Lại như
trong kinh nói: “Hư không không dấu vết, ngoại đạo không
Sa-môn, phàm phu ưa hý luận. Như-Lai thời không có”. Lại
như tùy theo chỗ thọ pháp, cũng được gọi là có. Như đà-la-phiêu
thảy mười sáu sự, ấy là phái Ưu-Lầu Khê cho là có. Hai
mươi lăm đế là phái Tăng khê cho có. Mười sáu món nghĩa
là phái Na-Da-Tu-Ma cho có. Lại nếu như có đạo lý năng thành
xong sự việc, cũng được gọi là có, như mười hai nhập.
Lại nữa, trong Phật-Pháp dùng phương tiện nên mới nói tất
cả có, tất cả không, chớ chẳng phải đệ-nhất-nghĩa.
Tại vì sao? Vì nếu quyết định có, tức đọa bên “thường”;
nếu quyết định không, thời đọa bên “đoạn”. Rời được
hai bên ấy, mới gọi là Thánh-trung-đạo.
PHẨM
CÓ TRUNG-ẤM THỨ 24
Luận
giả nói: Có người nói có thân trung-ấm, hoặc có người
nói không có.
Hỏi:
Do nguyên-nhân gì, nên nói có, do nhân-duyên gì mà nói không?
Đáp:
Kẻ nói có là căn cứ Phật nói trong kinh A-Du-La-Na rằng: “Nếu
khi cha mẹ giao hội, chúng trụ ở theo nơi nào đó liền đến
nương vào trong ấy”. Vậy nên biết có trung-ấm. Lại như
kinh Hòa-Ta nói: “Nếu chúng-sinh sau khi bỏ thân nầy rồi,
mà chưa thọ tâm sinh thân sau, trong khoản trung-gian, Ta nói
ái là nhân-duyên”. Ấy gọi là trung-ấm. Lại như trong bảy
thứ người thiện, có thân trung-hữu-diệt ấy. Lại như trong
kinh nói: “Tạp khởi nghiệp, tạp thọ thân, và tạp sinh
thế-gian”. Vậy nên biết có trung-ấm. Lại như trong kinh
nói Tứ-hữu: bổn-hữu, tử-hữu, trung-hữu và sinh-hữu. Lại
nói Thất-hữu: Ngũ-đạo-hữu, nghiệp-hữu, và trung-hữu.
Lại nói vua Diêm-La quở-trách tội nhân trung-ấm mà biết
túc-mạng chúng-sinh, nghĩa là chúng-sinh nầy sinh chỗ nầy;
chúng-sinh kia sinh chỗ kia. Lại như trong kinh nói: “Dùng thiên-nhãn
xem thấy các chúng-sinh khi chết khi sinh”. Lại nói chúng-sinh
bị ấm trói buộc nên từ thế-gian nầy đến thế-gian kia.
Lại như người đời cũng tin có trung-ấm; họ nói: Nếu người
khi chết có thân tứ-đại vi-tế, ở từ ấm này mà đi. Lại
nếu như có trung ấm thời mới có đời sau; Nếu không có
trung-ấm, khi bỏ thân nầy rồi mà chưa thọ-sinh thân sau,
thì khoảng thời-gian ấy lẽ là gián-đoạn.
Vì
những lý do trên nên biết có trung-ấm.
PHẨM
KHÔNG TRUNG ẤM THỨ 25
Có
người nói không có trung-ấm. Tuy ngươi dẫn trong kinh A-du-la-đa-na
nói có trung ấm, việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì
nếu là Thánh nhân mà chẳng biết cái ấy là chi và từ đâu
đi đến, thời không có trung ấm, nếu có tại sao lại chẳng
biết? Lại như ngươi dẫn câu trong kinh Hòa-Ta nói việc này
chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì trong kinh nầy hỏi khác đáp
khác: Hòa-Ta phạm chí nầy chấp thân khác thần khác nên mới
đáp như vậy, là trung ấm trung hữu, ngũ-ấm. Lại như ngươi
nói “Có trung hữu diệt” ấy. Là người nầy ở chặn giữa
cõi Dục và cõi Sắc, thọ thân ở trong ấy diệt, cho nên
gọi là trung hữu diệt vậy. Tại vì sao? Vì như trong kinh
nói “ Nếu người chết, đi về chỗ nào, sinh về chỗ nào,
ở vào chỗ nào”. Nghĩa nầy không khác. Lại như ngươi nói
“Tạp thọ thân, tạp sinh thế gian” ấy. Nếu nói thọ thân,
nói sinh thế gian, nghĩa nầy chẳng khác. Lại như ngươi nói
“Tứ-hữu, thất-hữu” ấy. Kinh nầy không đúng, vì chẳng
thuận với pháp tướng. Lại như ngươi nói “vua Diêm-La quở
trách ấy”. Đấy là thân sinh hữu chớ chẳng phải trung
hữu vậy. Lại như ngươi nói “Phật nhân trung ấm mà biết
túc mạng” ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ; sức Thánh-trí
là như vậy, tuy chẳng tương tục mà cũng có thể nghĩ biết.
Lại như ngươi nói “Dùng thiên nhãn xem thấy khi chết khi
sinh ấy. Muốn sinh gọi là khi sinh, sắp chết gọi là khi chết,
chớ chẳng phải trung-ấm” vậy. Lại như ngươi nói “chúng-sinh
bị ấm buộc, từ đây đến kia. Muốn chỉ cho biết có đời
sau nên mới nói như vậy, chớ chẳng phải nói rõ có trung-ấm”.
Lại như ngươi nói “khi chết có tứ đại vi tế ấy. Chỗ
thấy biết của người đời chẳng thể tin được, vì đây
chẳng phải dụng làm nhân”. Lại như ngươi nói “nếu không
có trung ấm thì thời gian giữa phải gián đoạn ấy. Vì nghiệp
lực vậy, người nầy sinh đâu, người kia sinh kia, như quá
khứ vị lai tuy chẳng nói nhau mà có thể nghĩ nhớ được”.
Vậy nên không có trung ấm.
Lại
nữa, trong túc-mạng trí nói: Biết người nầy chết ở đây
sinh nơi kia, chớ chẳng nói trụ trong trung-ấm. Lại nữa,
Phật nói ba món nghiệp: hiện-báo nghiệp, sinh-báo nghiệp,
và hậu-báo nghiệp, chớ chẳng nói có trung-ấm báo nghiệp.
Lại nữa, nếu trung-ấm có xúc tức gọi sinh-hữu. Nếu không
thể xúc, vậy thời không có, nên thọ-tưởng thảy cũng không.
Như vậy có chỗ nào ư? Lại nếu như chúng-sinh thọ hình
trung ấm, tức gọi thọ sinh, như trong kinh nói: “Nếu người
bỏ thân nầy thọ các thân khác, Ta nói là sinh, nếu chẳng
thọ thân thì không có trung-ấm.” Lại nữa, nếu trung-ấm
có thối, tức gọi là sinh. Tại vì sao? Vì cần trước sinh
sau thối vậy. Nếu không thối, ấy gọi là thường. Và vì
nghiệp lực nên mới sinh, thì dùng trung-ấm làm chi? Lại nếu
như trung-ấm do nghiệp mà thành, tức là sinh-hữu; như nói
nghiệp nhân-duyên, nếu chẳng do nghiệp thành, thời do đâu
mà có? Cần phải đáp gấp.
Kẻ
hỏi đáp: Tôi cho sinh-hữu có sai khác, gọi là trung-ấm. Vậy
nên không có các lỗi như trên. Người nầy tuy trung ấm sinh,
mà cùng với sinh-hữu khác. Năng khiến Thức đi đến trong
Ca-la-lạ, (tức tinh cha huyết mẹ như giọt sữa đặc) đấy
gọi là trung-ấm.
Luận
chủ nạn rằng: Vì nghiệp lực năng khiến đến, chớ cần
chi phải dùng phân biệt nói trung-ấm ư? Lại tâm không chỗ
đến, vì nghiệp nhân duyên nên mới từ nơi đây diệt mà
sinh nơi kia vậy thôi. Lại như hiện thấy tâm bất tương
tục sinh, như người chân đạp phải gai mà trong đầu biết
đau; Thức nơi chân không có nhân duyên gì đến trong đầu,
chỉ vì các duyên xa gần hòa-hiệp sinh tâm. Vậy nên chẳng
cần phân biệt chấp có trung-ấm.
PHẨM
THỨ-ĐỆ THỨ 26
Luận
giả nói: Có người nói tứ-đế thứ lớp thấy; lại có
người nói nhất thời thấy.
Hỏi:
Do nhân-duyên gì nên nói thứ lớp thấy? Lại do nhân duyên
gì mà nói nhất thời thấy?
Đáp:
Kẻ nói thứ lớp thấy, như trong kinh nói: “Nếu người thấy
thế gian tập, liền diệt được chấp không. Thấy thế-gian
Diệt, liền diệt được chấp có”. Phải biết Tập Diệt
hai tướng khác nhau. Lại nếu như người nào năng biết được
bao nhiêu tướng Tập đều là tướng Diệt, gọi là ly cấu
đắc-pháp nhãn-tịnh. Lại nói, người trí huệ lanh lợi lần
bỏ các điều ác, như thợ vàng năng dũa bỏ chất rét của
vàng. Lại như trong kinh Lậu-tận nói: “Kẻ nào năng kiến
thời được hết-lậu”. Hành giả chẳng hay tự biết chớ
hằng ngày các lậu tiêu mòn, vì thường tu tập vậy nên được
hết các lậu.
Lại
nữa, Đức Phật nói: “Với trong các Đế, năng sinh nhãn
trí minh huệ”. Trong khổ Đế cõi Dục có hai, hai cõi Sắc
và Vô-sắc cũng có hai. Tập thảy cũng vậy. Lại trong kinh
miệng Phật tự nói ra lần-lữa thấy đế, như người trèo
thang thứ lớp mà lên. Vì các kinh nầy nên biết bốn Đế
chẳng phải nhất-thời thấy được. Lại như các phiền não
với trong bốn Đế, có bốn món tà-hành: là không-khổ, không-tập,
không-diệt và không-đạo. Cho nên vô-lậu-trí cũng phải thứ
lớp tu bốn món chính-hành. Lại nữa, hành giả cần định-tâm
phân-biệt; đây là khổ, đây là nhân của khổ, đây là khổ-diệt,
và đây là đạo-diệt-khổ. Nếu như trong một tâm thời làm
sao quyết định phân biệt được như vậy.
Cho
nên biết chẳng phải nhất thời thấy được vậy.
PHẨM
NHẤT THỜI THỨ 27
Có
người nói bốn Đế nhất-thời thấy chớ chẳng phải thứ
lớp. Ngươi nói: Thấy thế-gian Tập liền diệt chấp không.
Thấy thế-gian Diệt liền diệt chấp có ấy. Thời hoại tự
pháp, vì nếu như thế cũng chẳng cần 16 món tâm; 12 hạnh
để được Đạo. Lại như người nói: Biết bao nhiêu tướng
Tập đều là tướng Diệt thời đắc pháp-nhãn ấy. Nếu
vậy thời phải dùng hai tâm mới đắc-đạo: Một là Tập
tâm; hai là Diệt tâm. Nhưng đâu cần chỉ 16 món tâm vậy.
Lại như ngươi dẫn kinh lậu-tận nói: Kẻ nàng năng tri kiến
thời được hết lậu vậy. Lại như ngươi dẫn kinh lậu-tận
nói: Kẻ nào năng tri kiến thời được hết lậu ấy. Như
vậy cần có tâm nhiều vô-lượng, chẳng những 16 tâm. Lại
như ngươi nói: miệng Phật tự nói ra lần-lữa thấy Đế,
như kẻ trèo thang ấy. Tôi chẳng học kinh nầy, dù có cũng
nên bỏ, vì chẳng thuận với pháp tướng vậy. Lại như ngươi
nói: Bốn món tà-hành ấy. Đối với năm ấm thảy cũng ưng
tà-hành, tùy theo chỗ tà-hành, đều ưng sinh trí. Như vậy
chẳng cần chỉ 16 món tâm mà đắc đạo. Lại như ngươi
nói nên định phân biệt ấy. Đối với sắc thảy cũng cần
phân-biệt. Vậy nên chẳng cần có 16 món tâm vậy. Lại nữa
hành-giả chẳng được các Đế, chỉ có một Đế, nghĩa
là thấy Khổ diệt gọi là sơ-đắc-Đạo, vì thấy pháp thảy
các nhân-duyên vậy. Hành giả từ pháp Noãn thảy lần-lữa
thấy Đế diệt Đế, rốt sau mới thấy diệt Đế. Vậy nên
gọi là Đắc-Đạo.
PHẨM
THỐI THỨ 28
Luận
giả nói: Có người nói A-La-Hán thối, hoặc có người nói
chẳng thối.
Hỏi:
Do nhân-duyên gì nói thối, do nhân-duyên gì lại nói chẳng
thối?
Đáp:
Nói thối: Như trong kinh nói: “Khi giải thoát, A-La-Hán vì
năm nhân duyên bị thối”. Ưa làm việc, ưa đọc tụng, ưa
xử đoán, ưa đi xa, và bị bịnh luôn. Như trong kinh nói có
hai hạng A-La-Hán là thối-tướng và bất thối-tướng. Lại
trong kinh nói: “Nếu Tỳ-kheo nào thối môn giải thoát thời
có lẽ”. Lại như trong kinh nói: “Quán thân như chiếc bình,
phòng ý như đô-thành; đem huệ chiến với ma; giữ phần thằng
không hoại”. Nếu không thối thời chẳng cần giữ thắng.
Lại có hai món trí: Tận-trí và vô-sinh-trí. Nếu tận-trí
chẳng sinh lại thời dụng vô-sinh-trí làm chi? Lại như Ưu-Đà-Da
khó được diệt tận-định, tức là nhân thối. người nầy
tuy thối mà cũng được sinh về cõi Sắc.
Vì
các duyên cớ nầy, nên biết có thối.
PHẨM
BẤT THỐI THỨ 29
Có
người nói Thánh-đạo bất-thối, chỉ biết thiền-định.
Hỏi:
Nếu như vậy thì không có hai hạng A-La-Hán, chỉ có thối-tướng,
vì tất cả A-La-Hán với trong thiền-định đều có thối
vậy?
Đáp:
Thối sức tự-tại trong thiền-định, vì chẳng phải tất
cả A-La-Hán đều được sức tư-tại.
Hỏi:
Chẳng phải như Cù-Đề Tỳ-kheo sáu phen thối rồi bèn lấy
dao tự sát. Nếu như thối thiền-định cần gì tự-sát? Vì
trong Phật pháp quí hồ giải thoát, chớ chẳng quí thiền-định.
Người ấy nương thiền-định nầy, sẽ được A-La-Hán đạo.
Mà mất thiền-định nầy thời mất vô-lậu, chớ chẳng gây
mới, đối với trong các Hữu, đều được nhàm lìa hẳn.
Diệt sạch các kiết-sử không có sinh tướng lại. Ấy là
các kẻ mạnh, in như đèn tắt lửa. Lại nói: Ví như đá
núi, gió không thể động; kẻ mạnh như vậy, chê khen chẳng
lay. Lại trong kinh nói: Ái sinh ái thảy; A-La-Hán nầy, nhổ
hẳn gốc ái, do đâu sinh kiết? Lại nói: Chỗ gọi Thánh-nhân,
rốt-ráo tận cùng ngằn mé, chỗ làm đã xong. Lại nói: Thánh-nhân
tán diệt chẳng nhóm, phá rách chẳng dệt. Lại trong kinh nói:
“Vô-minh là nhân-duyên khởi tham-sân-si”. A-La-Hán nầy, vô-minh
diệt hẳn, làm sao sinh kiết. Lại trong kinh nói: Nếu các Học-nhân
cầu Đạo Nê-Hoàn Ta bảo người nầy quyết chẳng buông-lung”.
Nếu được hết lậu chẳng tái sinh nữa, vậy nên chẳng
thối. Lại nói: Trí-giả khéo suy nghĩ, khéo lời nói, khéo
thân nghiệp, chỗ làm không lỗi. Lại nói: Tỳ-kheo vui hạnh
chẳng buông lung, vì thấy lỗi buông lung, vậy là chẳng thối,
gần-gũi Nê-Hoàn. Lại trong kinh nói: “Nai nương Đồng-nội,
chim nương hư-không, pháp về phân-biệt, chân-nhân về Diệt”.
Lại nữa, ba nhân-duyên sinh khởi các kiết sử: Tham dục chẳng
dứt, cảnh sở-dục hiện-tiền, trong lòng sinh nghĩ bậy. A-La-Hán
nầy tham dục đã dứt, tuy đối sở-dục mà chẳng sinh nghĩ
bậy, cho nên chẳng khởi kiết.
Lại
nói Tỳ-kheo tà-quán các pháp, nên khởi tam lậu. A-La-Hán nầy
không có tà-quán, nên chẳng khởi các lậu. Lại trong kinh
nói: “Nếu dùng Thánh-huệ biết rồi thời không có thối”.
Như quả Tu-Đà-Hoàn không có thối. Lại A-La-Hán khéo tướng
biết ba món thọ: Sinh-tướng, diệt-tướng, vị quá-xuất-tướng,
cho nên chẳng khởi kiết. Lại nói: Tỳ-kheo nếu giới, định,
huệ ba việc thành-tựu, thời chẳng thối-chuyển. Lại A-La-Hán
dứt kiết đã sinh, chưa sinh khiến chẳng sinh. Lại trong kinh
nói: “Thiệt-hành Thánh-nhân, quyết không có thối”. A-La-Hán
đã chứng tứ-đế, các lậu diệt hết rồi nên gọi là kẻ
Thiệt-hành. Lại nói thất-giác gọi là pháp bất thối. A-La-Hán
đầy đủ thất giác, cho nên chẳng thối. A-La-Hán chứng được
bất-hoại giải thoát, cho nên chẳng thối. Lại A-La-Hán với
trong Phật-Pháp, được lợi kiên-cố, chỗ gọi bất hoại
giải thoát. Lại như người chặt tay, nghĩ hay chẳng nghĩ,
thường gọi kẻ chặt tay, A-La-Hán cũng vậy, đã dứt kiết-sử,
nghĩ hay chẳng nghĩ, thường gọi là dứt. Lại trong kinh nói:
“Tín thảy các căn lợi, gọi là A-La-Hán”. Kẻ lợi căn
quyết không có thối. Lại A-La-Hán năng ở trong pháp vô-thượng
đoạn-ái, nên tâm khéo được giải thoát, rốt ráo diệt
hết; ví như lửa cháy chỗ chưa cháy, cháy rồi chẳng trở
lại cháy chỗ cũ. Tỳ-kheo cũng vậy, vì được thành-tựu
11 pháp nên quyết không có thối.
Hỏi:
Có hai hạng A-La-Hán, ông đã dẫn kinh nói kẻ bất-thối.
Đáp:
Đây là nói tổng tướng, các kẻ Học-nhân quyết chẳng buông
lung. A-La-Hán chẳng cần nói riêng tướng bất thối. Lại
như Phật nói kệ: Thắng nếu sinh lại, chẳng gọi là Thắng;
thắng mà hay sinh, ấy gọi là chân-thắng. Lại A-La-Hán sinh
đã hết nên chẳng còn thọ thân lại. Kinh của ngươi tuy
nói A-La-Hán thối pháp ưng được lại. Nếu như vậy thì
khả pháp cũng ưng chẳng thối. Nếu như Tỳ-kheo năng khiến
các tướng chẳng sinh, gọi là A-La-Hán, cho nên không có thối.
PHẨM
TÂM TÍNH THỨ 30
Luận
giả nói: Có người nói tâm tính bổn tịnh, vì khách-trần,
nên bất tịnh. Lại có người nói trái lại.
Hỏi:
Do nhân duyên gì nói bổn tịnh, vì khách-trần, nên bất tịnh.
Lại do nhân duyên gì mà nói trái lại?
Đáp:
Kẻ nói trái lại cho rằng tâm tính chẳng phải bổn-tịnh
vì khách trần nên bất-tịnh. Tại vì sao? Vì phiền não cùng
tâm thường tương ưng mà sinh, chớ chẳng phải tướng khách-trần.
Lại ba món tâm: Thiện, bất thiện, và vô-ký. Tâm-thiện và
vô-ký là chẳng phải cấu, như bất thiện tâm vốn tự bất
tịnh, chẳng bởi khách trần vậy. Lại nữa, tâm nầy niệm
niệm sinh diệt chẳng đợi phiền não, nếu phiền não chung
sinh thì chẳng gọi là Khách.
Hỏi:
Tâm là chỉ biết sắc thảy, nhiên hậu lấy tướng; từ tướng
sinh các phiền não, rồi cùng với tâm làm bẩn, nên nói bổn
tịnh.
Đáp:
Chẳng phải vậy, Khi tâm và tâm số này đã diệt chưa có
tướng bẩn. Khi tâm-diệt rồi bẩn thấm vào chỗ nào?
Hỏi:
Tôi chẳng cho tâm niệm niệm diệt nên nói như vậy, mà cho
tâm nối nhau nên mới nói ô nhiễm?
Đáp:
Tâm nối nhau nầy thế-Đế mới có, chớ chẳng phải chân
thật nghĩa. Đấy chẳng nên nói. Lại thế-Đế cũng là nhiều
lỗi: Tâm sinh đã diệt, chưa sinh thì chưa khởi, làm sao nối
nhau. Vậy nên tâm tính chẳng phải bổn tịnh khách trần nên
bất tịnh. Chỉ Phật vì chúng-sinh bảo tâm thường tại,
cho nên nói bị khách trần làm ô nhiễm thời tâm bất tịnh.
Lại Phật vì chúng-sanh biếng nhác, nên nghe tâm vốn bất
tịnh, liền cho tính chẳng khá biến cải, thì chẳng phát
tịnh tâm. Cho nên mới nói bổn-tịnh.
PHẨM
TƯƠNG-ƯNG BẤT TƯƠNG-ƯNG THỨ 31
Luận
giả nói: Có người nói tâm tương-ưng với các sử; lại
có người nói tâm chẳng tương-ưng.
Hỏi:
Do nhân-duyên gì nên nói tâm tương-ưng; lại do nhân-duyên
gì mà nói chẳng tương-ưng?
Đáp:
Kẻ nói tâm tương-ưng, trong sử phẩm sau sẽ nói. Lại tham
dục thảy các nghiệp phiền não, nghiệp này các sử tương-ưng.
Trong pháp của ngươi tuy nói tâm chẳng tương-ưng với sử,
cùng với tâm tương-ưng làm nhân cho gút buộc. Việc nầy
chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì trong kinh nói do vô-minh, tà
niệm, tà tư-duy thảy khởi tham thảy các gút, chứ không có
kinh nào nói do sử sinh vậy. Trong pháp của ngươi tuy nói lâu
tập luyện gút buộc thời gọi là sử-sinh. Việc này chẳng
phải lẽ. Tại vì sao? Vì các nghiệp thân khẩu cũng có tướng
lâu tập; đây chỉ nên có tợ sử-tâm bất tương-ưng hành,
mà thật không có. Vì nếu như vậy thì các pháp đều từ
nhân hiện tại mà sinh, không có nhân quá khứ. Vậy thời
cũng chẳng cần từ nghiệp-sinh báo; cũng chẳng cần từ ý
sinh ý-thức vậy. Lại nữa, các sử này vì niệm niệm diệt
thời do nhân nào sinh?
Hỏi:
Chung nhau làm nhân mà sinh?
Đáp:
Ấy cũng chẳng phải lẽ, vì nhân quả không được nhất
thời hiệp lại vậy. Việc này ra sau trong thí dụ đèn sẽ
nói. Cho nên chẳng nên nói các sử chẳng phải tâm tương-ưng.
PHẨM
QUÁ KHỨ NGHIỆP THỨ 32
Luận-giả
nói: Đạo nhân Ca-Diếp-Bệ nói báo nghiệp đời quá-khứ
chưa chịu thời có, các đời quá-khứ khác thời không có.
Đáp:
Nghiệp nầy nếu mất là quá-khứ; quá-khứ nếu chẳng mất
thời là thường. Mất là tên khác của quá-khứ. Mà vì mất
rồi bị mất nữa, thời nghiệp nầy làm nhân cho quả-báo
đã diệt, vì quả-báo ở sau khi sinh. Như trong kinh nói: “Vì
việc nầy nên việc kia được sinh. Như khi sữa diệt làm
nhân cho bơ. Thế thì cần gì phân biệt nghiệp quá-khứ ư?
Mà nếu nói như vậy thời trong các nhân có lỗi, là vì sao
không nhân mà Thức được sinh? Như thế thì không sữa làm
sao có bơ? Nếu không có tứ-đại, thời thân khẩu các nghiệp
nương đâu mà có? Nhưng lẽ như vậy, Tôi trước nói có quá-khứ
có lỗi, kẻ kia nên đáp lại đi.
PHẨM
BIỆN NHỊ BẢO THỨ 33
Luận-giả
nói: Đạo nhân Ma-Hê-Xá-Bà nói Phật tại Tăng số.
Đáp:
Nếu nói Phật tại trong tứ-chúng: Là hữu chúng, sinh-chúng,
nhân-chúng và Thánh-nhân chúng, vậy thì chẳng lỗi. Nếu nói
Phật tại trong Thanh-văn chúng, thế là có lỗi, vì do nghe
pháp mà được giác ngộ gọi là Thanh-văn: và vì tướng Phật
khác nên chẳng ở trong chúng nầy.
Hỏi:
Phật đứng đầu Tăng, vì có người cúng thí Tăng.
Đáp:
Thí nầy thuộc về bậc Tăng nào? Kinh nầy có chút lỗi. Vậy
thì nên nói thí ấy thuộc về Phật Tăng.
Hỏi:
Đức Phật bảo Cù-Đàm-Di rằng: “Đem áo nầy thí Tăng,
tức cúng-dường Ta, mà cũng là cúng-dường Tăng”.
Đáp:
Ý Phật nói đem ngữ ngôn vì cúng dường Ta, vật nầy cúng-dường
Tăng. Như trong kinh nói: “Nếu người đi thăm kẻ bịnh, tức
là thăm Ta”.
Hỏi:
Có các người đã thành tựu Thánh-công-đức, như Xá-Lợi-Phất
thảy đều ở trong Tăng số, Phật cũng như thế, vì đồng
tướng vậy.
Đáp:
Nếu đem đồng tướng thì những kẻ phàm-phu và phi-chúng-sanh
số cũng vẫn có thể vào Tăng số được, mà đâu có được.
Cho nên biết Phật chẳng thuộc vào trong Tăng. Và Phật chẳng
vào Tăng-Yết-Ma tức xử đoán và cũng chẳng đồng các việc
tăng-sự. Lại nữa, vì Tam-bảo riêng biệt, cho nên Phật chẳng
ở trong Tăng.
PHẨM
VÔ NGÃ THỨ 34
Luận
giả nói Đạo nhân Độc tử nói có ngã. Ngoài ra đều nói
không có.
Hỏi:
Thuyết nào là thật?
Đáp:
Pháp vô-ngã thật. Tại vì sao?`Như trong kinh Phật bảo Tỳ-kheo
rằng: “Chỉ vì danh tự, chỉ vì giả thi thiết, và chỉ
vì hữu dụng, nên mới gọi là ngã mà thôi”. Bởi chỉ vì
danh tự thảy, cho nên biết không có chân thật ngã. Lại như
trong Kinh nói: “Nếu người nào không thấy khổ, thời người
nầy thấy có ngã.” Nếu như thật thấy khổ thì chẳng còn
thấy ngã. Nếu thật có ngã thì kẻ thấy khổ lẽ cũng thấy
ngã. Lại nói: Thánh nhân chỉ vì tùy tục nên mới nói phô
có ngã. Lại trong kinh Phật nói: “Ngã tức là động xứ”
Nếu thật có thời chẳng gọi động xứ, như mắt có nên
chẳng gọi động xứ. Lại như trong các kinh đều ngăn chấp
ngã. Như Tánh Tỳ-kheo-ni bảo ma vương rằng: “Người gọi
là chúng-sinh tức là tà-kiến”. Vì các nhóm hữu vi pháp
đều là trống không không có chúng-sinh”. Lại nói: Các hành
hòa hiệp nói nhau nên mới có tức là huyễn-hóa dối gạt
phàm phu, đều là kẻ oán giặc, như tên đâm vào tim, không
có chắc thật. Lại nói: Vô-ngã, vô-ngã sở, vô chúng-sinh,
vô nhân, chỉ là trống không. Tướng ngũ-ấm sinh diệt bại
hoại mới có nghiệp, có quả báo mà thôi, chớ kẻ tác giả
bất-khả-đắc. Các duyên hòa hiệp nên mới có các pháp nối
nhau. Vì các lý do nầy nên trong các kinh Phật đều ngăn chấp
ngã. Cho nên không có ngã.
Lại
như trong kinh giải nghĩa Thức: Sao gọi là Thức? Nghĩa là
năng biết sắc cho đến biết pháp chớ chẳng nói biết ngã.
Vậy nên không có ngã. Quần-Na Tỳ-kheo hỏi Phật rằng: Ai
ăn, thức ăn chăng? Phật đáp: “Ta chẳng nói có kẻ ăn thức
ăn”. Nếu có ngã nên nói ngã ăn thức ăn. Vì chẳng nói
cho nên biết không có ngã. Lại như nói kinh Bình-Sa-Vương
nghinh Phật nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: Các ngươi
xem những kẻ phàm-phu đuổi theo giả danh cho là có ngã. Trong
ngũ ấm nầy thật không có ngã và ngã sở”. Lại nói vì
ngũ ấm nên có các thứ tên: Là ngã, chúng-sinh, nhân, thiên
thảy, như vậy vô lượng danh từ đều vì ngũ ấm mà có.
Nếu có ngã thời lẽ nên nói nguyên nhân ngã. Lại như ông
trưởng lão Phất-Ni-Ca bảo với ngoại đạo rằng: “Nếu
người tà kiến không mà cho là có”. Phật muốn dứt tà
mạn nầy chớ chẳng dứt chúng-sinh. Cho nên nói không ngã.
Lại
như trong kinh Viêm-Ma-Già, ngà Xá-Lợi-Phất bảo với Viêm-Ma-Già
rằng: “Ngươi thấy sắc-ấm là A-La-Hán chăng?
Đáp:
Chẳng phải.
Hỏi:
Thấy thọ, tưởng, hành, thức là A-La-Hán chăng?
Đáp:
Cũng chẳng phải.
Hỏi:
Thấy ngũ-ấm hòa-hợp là A-La-Hán chăng?
Đáp:
Cũng chẳng phải.
Hỏi:
Thấy lìa ngũ-ấm là A-La-Hán chăng?
Đáp:
Cũng chẳng phải nữa.
Xá-Lợi-Phất
nói: Nếu như vậy thì xét tìm chẳng khá được, thì có nên
nói A-La-Hán sau khi chết không có chăng?
Đáp
rằng: Thưa Ngài Xá-Lợi-Phất! Tôi trước đã có ác-tà-kiến
nay được nghe nghĩa nầy, tà kiến kia liền diệt”. Nếu
như có ngã thời chẳng gọi là ác-tà. Lại trong tứ-thủ
nói: “Ngã-ngữ-thủ. Nếu thật có ngã, nên nói ngã-thủ,
như dục-thủ thảy, chứ chẳng nên nói ngã ngữ thủ. Lại
như trong kinh Tỳ-ni nói: “Với trong tam-sư, nếu có Sư nào
bất-đắc hiện-ngã hậu-ngã, Ta nói Sư này là Phật đấy”.
Vì Phật là bất-đắc nên biết không có ngã. Lại trong vô
ngã cho ngã-tưởng là điên-đảo. Nếu trong ý ngươi cho ngã-tưởng
trong ngã chẳng phải điên-đảo ấy là chẳng phải lẽ. Tại
vì sao? Vì Phật nói: “Chúng-sinh thấy có bao nhiêu ngã, đều
là thấy ngũ-ấm đấy”. Vậy nên không có ngã. Lại nói
chúng-sinh nghĩ nhớ bao nhiêu túc-mạng cũng đều là nghĩ ngũ
ấm đấy. Nếu như có ngã cũng nên nghĩ-ngã, vì chẳng nghĩ
nên biết không ngã. Nếu trong ý ngươi bảo cũng có kinh nói
nghĩ nhớ chúng-sinh, như với trong chúng-sinh nào đó. Ta gọi
tên chúng-sinh đó. Việc này cũng chẳng phải lẽ. Vì đây
là thế-đế phân biệt, nên nói là thật nghĩ ngũ-ấm, chớ
chẳng phải nghĩ chúng-sinh. Tại vì sao? Vì ý thức nghĩ; ý-thức
chỉ duyên nơi pháp. Vậy nên không có nghĩ nghĩ nhớ chúng-sinh.
Lại như có người nói quyết định có ngã, thời với trong
sáu món tà-kiến quyết đọa về một món. Nếu trong ý ngươi
bảo không ngã cũng là một thứ tà-kiến ấy, là chẳng phải
lẽ. Tại vì sao? Vì hai Đế vậy. Nếu đem thế-Đế nói không
ngã; đem đệ-nhất-nghĩa-đế nói có ngã, vậy là có lỗi.
Ta nay nói đệ-nhất-nghĩa-đế nên không lỗi, thế-đế nên
có. Vậy nên không lỗi. Lại Phật nói nhổ gốc ngã-kiến,
như trong lời hỏi của vua Si-vương. Phật đáp: “Này Si-vương!
Nếu người đem một lòng quán các thế-gian là trống không,
thời nhổ được gốc ngã-kiến, chẳn còn thấy vua chết
nữa”. Lại như các thuyết nói nhân duyên có ngã buồn vui
các việc đều do ngũ-ấm mà ra. Và vì phá các ngã-kiến nhân-duyên
của ngoại đạo. Vậy nên không có ngã.
PHẨM
HỮU-NGÃ VÔ-NGÃ THỨ 35
Hỏi:
Ông nói Vô-ngã, việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì
trong bốn món.
Đáp:
Món thứ bốn là bỏ đáp: Nghĩa là người sau khi chết, hoặc
có hoặc không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải
không. Nếu thật không ngã thời chẳng nên có lối bỏ đáp
nầy. Lại như người nào nói không có chúng-sinh thọ thân
sau ấy tức là tà-kiến. Lại trong mười hai bộ kinh, có kinh
bổn-sinh Phật tự nói lời: Vua Đại-Hỷ-Kiến kia tức là
thân ta thuở xưa vậy. Có cái việc bổn sinh như vậy. Ngũ-ấm
nay chẳng phải ngũ-ấm xưa. Vậy nên có ngã từ xưa đến
nay. Lại Phật nói nay mừng sau mừng làm lành hai đời mừng.
Nếu chỉ có ngũ-ấm, thì chẳng nên nói hai đời mừng. Lại
trong kinh nói: “Tâm dơ nên chúng-sinh dơ; tâm sạch nên chúng-sinh
sạch”. Lại như một người sinh thế-gian, nhiều người
bị suy não; lại một người sinh thế-gian, nhiều người được
lợi ích. Lại như gây nghiệp nhân lành hay chẳng lành đều
nương nơi chúng-sinh chứ chẳng nương phi chúng-sinh-số. Lại
nhiều chỗ trong kinh Phật tự nói: Ta nói có chúng-sinh năng
thọ thân sau, và năng tự lợi mà chẳng lợi tha-thảy. Vì
các lẽ ấy nên biết có ngã, ông trước tuy nói chỉ vì danh
tự thảy. Việc này chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Là Phật
chỉ vì ngoại-đạo nói lìa ngũ ấm riêng chấp có ngã tướng
thường chẳng hoại. Muốn dứt tà-kiến nầy nên mới nói
không ngã. Nay chúng tôi nói ngũ-ấm hòa-hiệp, gọi đó là
ngã nên không bị lỗi. Lại tuy nói: Ngã chỉ vì danh tự thảy,
nên suy nghĩ kỹ lời nói nầy: Nếu chúng-sinh chỉ có danh
tự ấy, thì như giết trâu đất chẳng bị tội sát nếu
giết trâu thiệt cũng chẳng nên có tội. Lại như trẻ con
đem vật danh tự cúng thí, đều có quả báo, người lớn
đem thí cũng nên được báo mà thật chẳng có được. Lại
chỉ danh tự nên không mà nói có ấy, Thánh-nhân nên có vọng
ngữ sao? Vì thật ngữ mới gọi là Thánh-nhân chứ! Nên biết
có ngã. Lại như Thánh-nhân thấy thật ngã mà tùy tục nên
nói có ngã ấy thời là thấy điên đảo, vì nói khác vậy.
Lại như vì tùy-tục không mà nói có, thời chẳng nên lại
nói thật nghĩa trong kinh là 12 nhân duyên, ba món giải thoát,
và các pháp vô ngã thảy. Nếu người bảo có đời sau tùy
mà nói có, trái lại người bảo không, cũng tùy mà nói không;
và bảo muôn vật trong thế gian đều từ Tự-Tại-Thiên mà
sinh. Các món kinh thơ tà-kiến như vậy, cũng đều nên tùy
mà nói theo? Các việc ấy đều chẳng nên. Vậy nên ông đã
dẫn kinh đều bị tổng phá hết. Vậy nên chẳng phải không
có ngã.
Đáp:
Ngươi trước nói vì bỏ đáp nên biết có ngã ấy. Việc
nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì đây là pháp bất-khả-thuyết.
Qua trong món diệt-đế sau sẽ phân-biệt nói nhiều. Cho nên
không có thật ngã. Và bất-khả-thuyết ấy, chỉ vì giả
danh mà nói, chứ chẳng phải thật có vậy. Lại ngã trong
pháp của ngươi lấy sáu Thức mà biết, như trong kinh của
ngươi nói: Nhờ nhãn thấy sắc cho nên ngã hoại. Vậy thì
cái bị biết của nhãn-thức là chẳng nên nói phi-sắc phi
phi-sắc, thanh thảy cũng vậy. Lại nữa, nếu ngã là cảnh
bị biết của sáu thức thời cũng với kinh trái nhau. Vì trong
kinh nói: Năm tình-thức không thể thay đổi nhau mà lấy năm
trần, vì chỗ chủ khác vậy. Nếu lấy được sáu thức mà
biết ngã, thời sáu căn thay nhau dùng. Lại lời ngươi đã
nói trước sau vẫn trái nhau: Bị biết của nhãn-thức chẳng
gọi là sắc. Lại ngươi nói: “Vô-ngã là tà-kiến” ấy.
Trong kinh Phật tự bảo các Tỳ-kheo rằng: “Tuy không có ngã,
nhưng vì các hành nối nhau, mới nói có sinh tử. Ta dùng thiên-nhãn
thấy các chúng-sanh khi sinh khi chết”. Cũng chẳng nói là
ngã. Lại trong pháp của ngươi có lỗi: trong pháp ngươi nói:
Ngã Bất-sinh. nếu bất-sinh thời không cha mẹ; không cha mẹ
thời không có nghịch tội, cũng không có các tội tội nghiệp
khác nữa. Vậy nên pháp ngươi tức là tà-kiến. Lại ngươi
nói có bổn-sinh ấy. Bởi ngũ-ấm nên gọi là Hỷ-Kiến-vương,
tức ngũ ấm kia nối nhau, nên gọi là Phật. Cho nên nói Ta
là vua kia. Trong pháp ngươi Ngã là một, vậy chẳng nên phân-biệt.
Lại ngươi nói làm lành hai đời mừng ấy. Trong kinh Phật
tự ngăn việc nầy, nói Ta chẳng nói có kẻ bỏ ngũ-ấm nầy
thọ ấm kia, chỉ vì ngũ-ấm nối nhau chẳng khác, nên mới
nói hai đời mừng. Lại ngươi nói tâm dơ nên chúng-sinh dơ
ấy. Do đó nên biết không có thật ngã. Nếu có thật ngã
nên cùng với tâm khác, chẳng nên nói tâm dơ nên chúng-sinh
dơ. Tại vì sao? Vì không thể kia dơ mà đay chịu vậy; chỉ
vì giả danh nhân-duyên mới có dơ nên nói giả danh dơ. Vậy
nên giả danh là ngã, chẳng phải chận thật vậy. Lại như
pháp ngươi nói Ngã chẳng phải ngũ-ấm. Vậy thì chẳng sinh
chẳng diệt, không có tội phước gì cả, có những lỗi như
vậy. Chúng tội nói ngũ-ấm hòa hiệp giả danh là ngã. Nhân
ngã nầy vậy nên có sinh có diệt, và có cả tội phước
nữa, chẳng phải là không có giả danh, nhưng chẳng phải
thật vậy.
Lại
như trước ngươi nói “Ý muốn phá ngoại-đạo nên Phật
nói không ngã” ấy. Đó là ngươi tự vọng tưởng phân-biệt
như thế, chớ y Phật chẳng phải vậy. Lại các thuyết nói
có ngã đều là lầm lỗi, như ngươi nói ngoại-đạo rời
ngũ-ẩm rồi riêng chấp có ngã, ngươi cũng như vậy. Tại
vì sao? Vì ngũ-ấm vô-thường mà ngã chẳng-khá nói hoặc
thường hay vô-thường, tức là rời ấm. Lại nữa ấm có
ba phần: Giới-định-tuệ; thiện, bất thiện, vô-ký; buộc
dục-giới, sắc-giới, vô-sắc-giới. Phân biệt như thế,
ngã chẳng-khá được vậy, nên khác với ngũ-ấm. Lại ngã
là người, mà ngũ-ấm chẳng phải người, thời là khác vậy.
Lại ấm là năm, mà ngã là một, vậy nên ngã chẳng phải
ấm vậy. Nếu mà có ngã, vì các duyên do nầy thì khác với
ngũ-ấm. Lại thế-gian không có một pháp nào mà chẳng-khá-nói
một chẳng khá-nói khác, vậy nên không có pháp chẳng-khá-nói.
Hỏi:
Như đốt và khá đốt, tức vật có thể đốt, chẳng được
nói một, chẳn được nói khác. Ngã cũng như vậy?
Đáp:
Đấy cũng là đồng nghi. Cái nào là đốt, cái nào khá đốt?
Nên thứ lửa là đốt thứ khác là khá đốt, thời đốt
khác với khá đốt. Nếu thứ lửa tức khá đốt, làm sao
nói chẳng một? Nếu thứ khá đốt tức là thứ lửa; nếu
rời thứ lửa, cũng đều chẳng đốt, nên mới gọi là đồng
nghi. Nếu trong đốt, có khá đốt, như trong ngã có sắc, tức
đọa thân kiến. Lại phải nhiều ngã, như lửa củi khác,
lửa phân trâu khác; ngã cũng như thế, ngã nhân ấm khác,
ngã thiên ấm khác, tức là nhiều ngã. Lại như đốt khá
tốt ở trong ba đời; ngã và ngũ ấm cũng phải như vậy,
ở trong ba đời, như đốt và khá đốt. Vì là hữu-vi nên
ngã và ngũ ấm cũng phải là hữu-vi. Lại tuy ngươi nói: Đốt
và khá đốt chẳng một chẳng khác.. Nhưng mắt thấy tướng
khác ngã và ngũ ấm cũng phải có khác. Lại ngũ ấm mất,
mà ngã chẳng mất, vì chết nơi đây, sinh đến nơi kia, có
hai đời mừng vậy. Nếu tùy theo ngũ-ấm có mất có sinh,
thời đồng như ngũ ấm chẳng được gọi hai đời mừng.
Ngươi dùng vọng tưởng phân biệt có ngã, được những lợi
gì? Lại như các món trần không có một trần bị biết của
cả sáu thức. Ngã mà ngươi đã nói có thể sáu thức đều
bị biết thời chẳng phải là sáu trần.
Lại
chẳng nhiếp thuộc 12 nhập, thời chẳng phải các nhập. Chẳng
nhiếp tứ-đế. Vậy nên, nếu nói có ngã tức là vọng ngữ.
Lại trong pháp ngươi nói pháp khá biết là năm pháp tạng
quá khứ, vị lai, hiện tại, vô-vi và pháp bất-khả-thuyết.
Ngã ở vào trong pháp thứ năm, thời khác với bốn pháp kia.
Ngươi muốn cho khác với bốn pháp trước mà chẳng phải
thứ năm là không thể được. Như nói ngã là bị các lỗi
nầy thì cần gì vọng tưởng phân biệt ngã làm chi ư? Vậy
nên trước ngươi nói có câu: “Ngoại đạo rời ngũ ấm
rồi riêng chấp có ngã, chúng tôi chẳng phải vậy.” Việc
nầy chẳng phải lẽ. Lại trước ngươi nói ngã chỉ giả
danh nên nghĩ kỹ ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ. Lại trước
ngươi nói ngã chỉ giả danh nên nghĩ kỹ ấy. Việc nầy chẳng
phải lẽ. Tại vì sao? Vì là trong Phật-Pháp nói việc thế
đế chẳng cần nghĩ kỹ. Lại ngươi nói vọng ngữ thấy
điên đảo, cũng lại như vậy. Lại như ngươi nói: “Chẳng
nên nói thật nghĩa trong kinh” ấy. Việc nầy nên nói, vì
khiến cho biết đệ nhất nghĩa vậy. Lại ngươi nói, nói
chỗ thế gian, đều nên tùy ấy. Nếu nói từ Tự-Tại-thiên
sinh muôn vật thảy là chẳng nên thọ; nếu có lợi ích, chẳng
trái với thật nghĩa thế là nên thọ. Vậy không lỗi. Như
trong thế đế năng sinh công đức, năng có lợi ích, như vậy
nên thọ. Ra sau sẽ nói rộng. Lại ngươi nói giết trâu đất
thảy, không tội sát ấy. Giờ đây mới đáp: Nếu đối với
các loài có tình thức, các ấm nối nhau thời có nghiệp và
nghiệp báo; với trong trâu đất thảy không có việc như thế.
Vậy nên phải biết ngũ ấm hòa hiệp giả danh là ngã, chớ
chẳng phải thật có vậy.
PHẨM
SẮC-TƯỚNG TRONG SẮC LUẬN NHÓM KHỔ -ĐẾ THỨ 36
Hỏi:
Trước ông nói sẽ nói luận thành-thật. Nay phải nói những
gì là thật?
Đáp:
Tứ-đế là thật. Là khổ, khổ nhân, khổ diệt, khổ diệt
đạo. Năm thọ ấm là khổ. Các nghiệp và phiền não là khổ
nhân. Hết khổ là khổ diệt. Tám Thánh đạo là đạo diệt
khổ. Vì muốn thành lập pháp ấy nên mới tạo luận nầy.
Đức Phật cũng tự lập thành pháp nầy, vì muốn độ chúng-sinh
nên đã nói tản mát ở nhiều chỗ. Lại Phật lược nói
pháp-tạng có tám mươi bốn ngàn, trong ấy có bốn y, tám
nhân, nghĩa nầy hoặc bỏ mà chẳng nói, hoặc có nói cũng
chỉ lược thôi. Tôi nay muốn soạn tập có thứ lớp khiến
nghĩa rõ ràng nên mới nói.
Hỏi:
Ông nói năm thọ ấm là khổ đế; những gì là năm?
Đáp:
Sắc, thức, tưởng, thọ và hành là năm ấm. Sắc ấm là
tứ đại, và tư-đại sở nhân thành pháp, cũng nhân tứ-đại
sở thành, chung gọi là sắc. Tứ-đại: Địa, Thủy, Hỏa,
Phong; do sắc, hương, vị và xúc nên thành tứ đại. Do tứ-đại
nầy thành nhãn thảy năm căn. Các món này chạm nhau nên mới
có tiếng. Địa là sắc thảy nhóm họp cứng nhiều, nên gọi
là Địa. Như vậy ướt nhiều gọi Thủy; nóng nhiều gọi
là Hỏa; nhẹ động nhiều gọi Phong. Nhãn căn là chỉ duyên
sắc và làm chỗ nương cho nhãn-thức, và khi đồng tánh chẳng
nương, đều gọi nhãn-căn. Bốn căn kia cũng như vậy. Sắc
là chỉ làm chỗ bị duyên cho nhãn thức, và khi đồng tánh
chẳng duyên, gọi là Sắc, Hương, Vị, Xúc cũng vậy. Các
món này chạm nhau nên có tiếng.
PHẨM
SẮC DANH THỨ 37
Hỏi:
Trong kinh nói các sắc bị có đều là tứ đại, và sở nhân
thành tứ đại. Vì sao nói các bị có “đều là” ư?
Đáp:
Nói bị có đều là, là quyết định nói sắc tướng, chớ
không nói gì khác. Vì những kẻ ngoại đạo nói có Ngũ-đại.
Vì muốn bỏ thuyết này, nên nói tứ-đại. Sở nhân thành
tứ-đại: là tứ-đại giả danh nên mới có. Khắp đến nên
gọi là Đại. Pháp không sắc không hình; vì không hình, nên
không phương; vì không phương nên chẳng gọi là Đại. Lại
vì thô hiện lên nên gọi là Đại tâm, tâm số pháp chẳng
hiện, nên chẳng gọi là Đại.
Hỏi:
Vì sao gọi Địa thảy pháp là sắc, mà chẳng gọi thanh thảy?
Đáp:
Pháp có đối gọi là sắc, thanh thảy đều có đối nên cũng
gọi là sắc, chớ chẳng phải như tâm pháp thảy. Có hình
nên gọi là sắc; thanh thảy đều có hình nên cũng gọi là
sắc. Ngăn ngại nơi chỗ, nên gọi là hình.
Hỏi:
Sắc thảy chẳng phải đều có hình, thanh thảy mới không
hình.
Đáp:
Thanh thảy tất cả có hình; vì có hình, vì có đối, có ngăn
ngại, nên bị vách ngăn thì chẳng nghe.
Hỏi:
Nếu thanh thảy có ngăn ngại, thời lẽ chẳng dung thọ các
vật, như vách ngăn nên không dung được gì.
Đáp:
Vì thanh nhỏ nhiệm nên có thể dung thọ được, như hương
vị thảy nhỏ nhiệm nên chung nương một hình, mà chẳng phòng
ngại nhau. Vậy nên thanh thảy, vì có ngại có đối, nên đều
gọi là sắc. Lại vì tướng nó khá não hoại, nên gọi là
sắc. Bao nhiêu sự cắt đứt tàn hại thảy, đều nương nơi
sắc; vì trái với sắc nầy, nên mới gọi là vô sắc định.
Lại chỉ rõ nghiệp lành dữ đời sống trước, nên gọi
là sắc. Lại cũng chỉ rõ tâm và tâm số pháp, nên gọi là
sắc. Lại vì xưng danh, nên mới gọi là sắc
PHẨM
TỨ-ĐẠI GIẢ-DANH THỨ 38
Hỏi:
Tứ-đại là giả-danh, nghĩa nầy chưa thành lập được vì
có người tứ-đại là thật có?
Đáp:Tứ-đại
giả-danh nên mới có. Tại vì sao? Phật vì ngoại đạo nên
nói tứ-đại. Có các ngoại-đạo nói sắc thảy tức là đại,
như phái Tăng-khê thảy. Hoặc nói rời sắc thảy là đại,
như phí Vệ-thế-sư thảy. Cho nên kinh nầy quyết định nói
nhân sắc thảy mới thành địa thảy các đại. Cho nên biết
các đại là giả danh có. Lại như kinh nói địa-chủng là
cứng và nương cứng. Vậy nên biết chẳng những cho cứng
là địa. Lại người đời cũng đều tin các đại là giả
danh có. Tại vì sao? Vì người đời nói thấy đất, ngửi
đất, đụng đất và mùi đất. Lại trong kinh nói: “Địa
khá thấy và có đụng chạm”. Lại vào địa thảy, tất
cả trong vào, người ấy thấy sắc đất mà chẳng thấy cứng
thảy. Lại người chỉ ra sắc đất, hương đất, vị đất,
xúc đất; trong pháp thật có, không thể chỉ ra gì khác. Lại
nghĩa tên đại là khắp cùng vậy, tướng nầy nói trong giả-danh,
mà chẳng những trong tướng cứng. Lại nói đất ở trên
nước là giả danh đất ở, chẳng những cứng ở. Lại nói
chốn đại-địa bị đốt cháy tận diệt mà không có khói
than là đốt giả danh địa, chẳng những đốt cứng. Lại
vì sắc thảy nên tin có địa thảy, chẳng những cứng thảy.
Lại trong thí dụ giếng nói nước cũng thấy cũng xúc, như
ướt là nước thì chẳng có hai thứ được. Tại vì sao?
Vì Phật nói năm tình-thức không thể thay nhau lấy trần cảnh.
Cho nên Phật nói nước có tám công-đức; nhẹ-nhàng, mát-mẻ,
mềm-mại, ngon-ngọt, trong-sạch, chẳng hôi, mỗi khi uống
vào điều-hòa khoan-khoái, và uống rồi không bịnh hoạn.
Trong đây như nhẹ-mát-mềm đều thộc về xúc-nhập, ngọn
thuộc về vị-nhập, trong sạch thuộc về sắc-nhập, chẳng
hôi là hương-nhập, đều-khoan và không bịnh là thế-lực
của nước. Tám món hòa-hiệp nầy gọi chung là nước. Cho
nên biết các Đại là giả-danh có. Lại pháp nhân-sở-thành
đều là giả-danh không thật có vậy. Như trong kệ nói: Bánh
thảy hòa-hiệp, nên gọi là xe; Năm-ấm hòa-hiệp, nên gọi
là người. Lại như A-Nan nói: Các pháp nhiều duyên thành,
Ngã không quyết định chỗ. Lại như người nói: Cứng thảy
là Đại. người ấy cho cứng thảy làm chỗ bị nương cho
sắc thảy. Vậy thì có nương, có chủ chẳng phải là thật-pháp.
Cho nên biết tứ-đại đều là giả-danh. Lại trong các pháp
có mềm-mịn trơn láng thảy, đều là nhiếp-thuộc về xúc-nhập;
cứng thảy bốn pháp có nghĩa gì đâu mà được độc-đắc
là Đại? Lại nữa, một món mà có bốn chấp, đều có sai
lầm. Vậy nên biết tứ-đại là giả-danh. Lại thật pháp
hữu-tướng, giả danh hữu-tướng, và giả-danh sở-năng. Ra
sau sẽ nói rộng. Vậy nên tứ-đại chẳng phải thật có
vậy.
PHẨM
TỨ-ĐẠI THẬT-HỮU THỨ 39
Hỏi:
Tứ-đại là thật có. Tại vì sao? Vì trong A-Tì-Đàm nói:
“Tướng cứng là địa-chủng, tướng ướt là thủy-chủng,
tướng nóng là hỏa-chủng, tướng động là phong-chủng”.
Vậy nên tứ-đại là thật có. Lại sắc thảy tạo sắc,
do tứ đại sinh, giả danh có thời không thể sinh pháp được.
Lại vì cứng thảy chỉ có tứ-đại, chỗ gọi cứng, nương
cứng là Địa. Vậy nên cứng thảy là thật đại. Lại như
trong kinh Phật nói hai món: Cứng nương cứng, ướt nương
ướt thảy. Vậy nên biết cứng là thật pháp, nương cứng
là giả-danh. Các Đại khác cũng vậy. Vậy nên cứng thảy
là thật đại. Pháp nương cứng vì tùy tục nên gọi là Đại
thôi. Vậy nên mới có hai thứ Đại vừa thật vừa cũng giả-danh.
Lại như trong A-Tì-Đàm nói: “Hình xứ là Địa, tướng cứng
là Địa-chủng”. Các đại khác cũng như vậy. Lại trong
kinh Phật nói: “Trong nhãn hình có bao nhiêu cứng là Địa;
ướt và nương ướt là Thủy; nóng và nương nóng là Hỏa.”
Hình thịt là Địa. Trong hình thịt nầy Phật nói có tứ-đại,
thời phải biết cứng thảy là thật Đại, mà hình là giả-danh
Đại. Lại Phật chẳng nói trong Phong có nương, nên mới biết
Phong là thật đại. Lại như ngươi nói tứ-đại là giả-danh,
thì rời tướng Đại, nếu nương cứng gọi là Địa-chủng
ấy thời Thủy nương vật cứng, thủy tức là Địa? viên
đất bùn nương ướt, đất bùn tức là Thủy? Như người
bị bịnh nóng, cả thân đều nóng, thân tức là Hỏa? Việc
nầy chẳng phải lẽ. Vậy nên chẳng được nói nương cứng
là Địa-chủng, mà chỉ cứng mới là Địa-chủng. Các Đại
khác cũng như vậy.
Lại
nữa, tứ-đại chúng sinh, cho nên chẳng rời nhau. Như trong
kinh nói: “Bao nhiêu sắc bị có, đều do tứ-đại tạo thành”.
Nếu người nói tứ-đại là thật, thời chẳng rời nhau.
Mà nếu tứ đại giả danh thời phải rời nhau. Tại vì sao?
Vì các món sắc thảy nương cứng, rời các món ướt thảy,
như vậy thời trong nhãn hình không có tư-đại thời cũng
với knh trái nhau. Ông muốn chẳng trái với kinh thời nên
công nhận tứ-đại là thật. Trước ông nói: “Vì ngoại-đạo
nên nói tứ-đại” ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại
vì sao. Vì các bọn ngoại đạo nói tứ-đại cùng với sắc
thảy hoặc một hoặc khác. Chúng tôi nói thuộc vào xúc nhập
một phần ít là tứ-đại. Vậy nên không bị lỗi. Lại chúng
tôi nói hiện thấy cứng thảy là tứ-đại, chớ chẳng phải
như người phái Vệ-thế-sư nói tứ-đại cũng có mà chẳng
phải hiện thấy. Lại ông nói cứng và nương cứng ấy. Nghĩa
nương có hai thứ, như trong kinh nói: Sắc nương sắc. Lại
nói tâm nương đại-pháp. Trong nghĩa nầy nói cứng tức là
nương cứng, mà không nói pháp nào khác. Nếu như vậy đâu
có lỗi chi ư? Lại ông nói người đời đều tin, cho đến
nước có tám thứ công-đức. Đó chỉ là tùy tục mà nói
vậy thôi, chớ chẳng phải là thật đại. Lại ông nói pháp
nhân-sở-thành, đều là giả danh. Việc nầy chẳng phải lẽ.
Tại vì sao? Vì trong kinh nói: “Nếu sáu nhập, hoặc nhân
sáu xúc-nhập sở-thành-pháp”. Lại Tỳ-kheo hỏi Phật: Những
gì là mắt? Phật đáp: Nhân tứ-đại tạo thành sắc thanh
tịch, đấy gọi là mắt. Như vậy thành mười hai món nhập.
Lại ông nói có chủ có nương. Chúng tôi chẳng nói như thế,
mà chỉ nói: Pháp trụ ở trong pháp thối. Lại ông nói: “Cứng
thảy có nghĩa gì mà được độc đắc gọi là Đại” ấy.
Cứng thảy có nghĩa là chỗ gọi tướng cứng năng gìn giữ;
tướng nước năng thấm ướt; tướng lửa năng làm nóng;
còn gió năng thành-tựu. Vậy nên tứ-đại là thật.
Thành
thật luận hết quyển 3.