QUYỂN
THỨ 8
PHẨM
TAM-NGHIỆP THỨ 100
Hỏi:
Trong kinh nói ba nghiệp: thiện, bất-thiện, và vô-ký. Những
nghiệp gì là thiện?
Đáp:
Tùy theo nghiệp nào đó năng cho kẻ khác việc tốt nghiệp
ấy là thiện. Thiện-nghiệp nầy do pháp bố-thí, trì-giới
lòng từ mà sinh, chứ chẳng phải do tắm rửa thảy.
Hỏi:
Sao gọi là tốt?
Đáp:
Khiến kẻ khác được vui, ấy gọi là tốt. Cũng gọi là
thiện,cũng gọi là phước.
Hỏi:
Nếu khiến kẻ khác được vui gọi là phước ấy. Khiến
kẻ khác bị khổ, lẽ ra đắc tội? Như thầy thuốc châm
đốt khiến bịnh nhân sinh khổ, lẽ là đắc tội?
Đáp:
Thầy thuốc châm đốt là vì cho vui nên chẳng đắc tội.
Hỏi:
Nếu vì cho vui là được phước ấy. Như dâm vợ người ta,
khiến họ sinh vui, cũng nên được phước?
Đáp:
Dâm-dục gọi là quyết định bất-thiện. Nếu người khiến
kẻ khác làm pháp bất-thiện, thời đấy là khổ chẳng phải
vui vậy. Vui gọi là nay vui, sau vui, chứ chẳng phải chút vui
hiện-tại, vì bởi chút vui nầy mà về sau bị khổ lớn.
Hỏi:
Có người dùng nhân-duyên ăn uống khiến kẻ khác sinh vui,
hoặc ăn uống chẳng tiêu khiến người kia chết mất, thời
kẻ cho ăn nầy bị tội hay được phước?
Đáp:
Người nầy hảo tâm cho ăn, không có ác tâm, nên chỉ được
phước đức mà chẳng bị tội.
Hỏi:
Dâm vợ kẻ khác ấy cũng lại như vậy. Chỉ vì khoái nên
cũng bị tội, và được phước?
Đáp:
Việc nầy trước đã đáp. Nghĩa là dâm dục, quyết định
bất-thiện, vì sinh khổ lớn vậy. Lại trong bố-thí ăn uống
có phần phước đức. Tại vì sao? Vì kẻ được ăn uống
bất tất đều chết. Chúng-sinh đều vì lòng tham-nhiễm mà
hành dâm-dục, hoàn toàn chẳng phải nhân phước, làm sao được
phước?
Hỏi:
Có người vì sát-sinh nên lợi ích cho nhiều người, người
phá giặc thời quốc-gia khỏi tại họa. Như giết thú dữ
thời lợi nhân-dân. Các việc nầy nên dùng sát-sinh mà được
phước chăng? Hoặc có người dùng nhân-duyên trộm cướp
mà cúng-dường cha mẹ; nhân duyên dâm-dục sinh con cái tốt;
nhân-duyên vọng-ngữ hoặc cho mạng sống lâu; hoặc do ác
khẩu thảy khiến người ta được lợi. Đây đều là thuộc
về thập-ác, làm sao do đấy mà được phước ôi!
Đáp:
Người nầy được phước mà cũng bị tội: Vì lợi kẻ khác
nên được phước; vì hại kẻ khác nên bị tội.
Hỏi:
Thầy thuốc nầy trước cho người khổ, sau khiến được
vui, cớ sao chẳng bị tội và được phước, mà chỉ được
phước ư.
Đáp:
Thầy thuốc ấy, vì thiện-tâm mà châm đốt, không có ác
ý. Nếu hành nghiệp vì thiện ác nên khởi, thời tội phước
đều được.
Hỏi:
Sát thảy đều là được phước. Tại vì sao? Vì nhân-duyên
sát được việc sở-dục: Như vì vua giết được giàu sang;
vì nhân-duyên phước nên được tùy ý sở-dục, làm sao sát-sinh
mà chẳng gọi là phước? Lại người năng sát thời được
tiếng khen. Mà tiếng khen là điều vui của người đời; mà
điều vui của người đời là quả-báo phước đức. Lại
vì sát, nên được mừng vui; mà mừng vui cũng là quả-báo
phước đức. Lại trong kinh thơ nói: Nếu nghịch trận bị
chết, được sinh lên trời. Như bài kệ nói: Nếu người
chiến trận bị chết, thời gái trời giành làm chồng. Lại
nói: Tuy người lành giàu-sang, vì giặc mà xông ra trước năng
sát thời không bị tội, chẳng sát là bị tội. Lại kinh
Thế-pháp nói: Có bốn hạng người: Bà-la-môn, Sát-lợi, Tỳ-xá
và Thủ-đà-la. Bốn hạng người nầy đều có pháp riêng.
Bà-la-môn có sáu pháp; Sát-lợi bốn pháp; Tỳ-xá ba pháp và
Thủ-đà-la một pháp. Sáu pháp là: 1- Tự là miễu trời; 2-
Làm thầy thờ Trời; 3- Tự đọc kinh Vi-đà; 4- Cũng dạy kẻ
khác; 5- Bố thí; 6- Lãnh của thí. Bốn pháp là: 1- Tự làm
miễu Trời mà chẳng được làm thầy; 2- Theo kẻ khác chịu
học kinh Vi-đà mà chẳng được dạy người; 3- Bố thí chẳng
được lãnh thí; 4- Bảo giữ nhân-dân. Ba pháp là: 1- Làm miễu
Trời mà chẳng được làm thầy; 2- Tự học kinh Vi-đà mà
chẳng được dạy người; 3- Tự bố thí mà chẳng được
lãnh của ai. Một pháp là: Lo cung cấp ba hạng người trên
mà thôi. Như hạng Sát-lợi vì bảo giữ nhân-dân nên có quyền
đoạt mạng sống kẻ khác chỉ có phước mà không tội. Lại
kinh Vi-đà nói sát sinh được phước, chỗ gọi lấy lời
thần chú trong Vi-đà đọc mà giết dê, dê chết sinh về trời.
Kinh Vi-đà là một tín điều của thế gian. Cũng kinh ấy lại
nói: Nếu thật kẻ nào đáng chết mà giết họ là không tội,
như những ông Tiên ngũ-thông hay chú nguyện giết người.
Không thể nói Thần-Tiên mà có tội được. Thời tội nhân
làm sao năng thành được việc nầy. Cho nên biết sát-sinh
được phước. Lại người hoặc có tâm-lực năng đoạt mạng
sống được phước, mà thí cho mạng sống đắc tội, như
người đem thiện tâm mà sát sinh vì muốn khiến được vui
làm sao có tội? Như những kẻ hàng thịt nuôi dưỡng trâu
dê, tuy thí mà vẫn phải tội. Như vậy trong việc trộm thảy
cũng có phước đức?
Đáp:
Ngươi nói sát-sinh đều được sở-dục nên gọi phước ấy.
Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì do phước-đức
nên được tùy ý sở-dục. Sở-dục ấy việc phải vin lấy
sát-sinh mà được. Tại vì sao vậy? Vì do đời trước tạo
phước bất-tịnh vậy. Như trong kinh nói: “Cướp đoạt sát
hại được của dùng làm bố thí, khiến cho kẻ khác buồn
khóc và bất -tịnh-thí, thí như vậy thảy gọi là bất-tịnh.
Cần do ác duyên mới được quả báo”. Lại người nầy
do đời trước có phước mà cũng có nghiệp duyên sát-sinh,
vậy nên nay thân nhờ sát mới hưởng quả báo. Cũng có chúng-sinh
phải đền của, mạng nên do sát hại mà được toại sở-dục.
Lại chẳng phải tất cả chúng-sinh đều nhờ sát-sinh mà
được giàu sang, như người đời nói: Người ấy bạc phước,
làm nhiều công, mà không được quả. Tiếng khen, mừng vui
cũng lại như vậy, đều nhờ phước-đức nhân-duyên nên
được tiếng khen, được thân mạng và vui sướng. Chỉ vì
phước ấy bất-tịnh nên mới do sát mà được.
Hỏi:
Sư tử, hổ-lang thảy được thân mạnh đều từ tội sinh,
dọa-xoa, la-sát thảy được vui thân cũng do tội sinh?
Đáp:
Việc nầy như trước đã đáp. Cũng do phước bất-tịnh nên
nhờ tội duyên mà được. Như trong kinh sách của ngươi nói:
Nếu nghịch trận bị chết, thời được sinh lên trời. Việc
nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì kinh ấy là lấy lời
tà-ngữ dụ dỗ người ngu, khiến họ nỗ lực. Tại sao biết
được? Vì cần do phước sinh phước, do tội sinh tội. Trong
ấy trọn không có phước-nhân, thời do đâu mà được phước
quả? Ngươi nói bốn hạng chúng-sinh đều tự có pháp riêng.
hạng Sát-lợi vì hộ người nên giết không tội ấy. Việc
nầy cũng như phép gia-truyền, như những kẻ hàng thịt thảy
đời đời gia-truyền thường phải sát sinh mà cũng chẳng
khỏi tội. Hạng Sát-lợi cũng vậy, tuy là vương pháp, nhưng
cũng phải đắc tội. Nếu Sát-lợi vì vương-pháp nên sát-sinh
không tội, thời những kẻ thợ thịt, thợ săn kia cũng ưng
không tội? Chỉ hạng Sát-lợi đem lòng thương xót vì dân
mà trừ hoạn, thời nhờ đấy mà được phước. Nếu trừ
lý do trên, mà đoạt mạng sống của kẻ khác, thời đấy
là có tội. Như người cướp đoạt của cải người khác
để nuôi cha mẹ mình, thời người nầy cả tội lẫn phước
đều phải thọ.
Hỏi:
Người nào trộm cướp về nuôi cha mẹ người ấy chẳng
nên đắc tội. Như kinh thế pháp nói: “Nếu thiếu ăn bảy
ngày, theo thủ-đà-la mà cướp lấy thời không tội; nếu
mạng đói muốn chết, thời được quyền theo Bà-la-môn mà
lấy”. Người ấy tuy do ác-nghiệp để nuôi sống mạng,
nhưng chẳng gọi là người phá giới, vì lý do cấp nạn vậy,
giống hư-không bụi đất chẳng làm dơ được. Người nầy
cũng vậy, chẳng dơ vì tội?
Đáp:
Tức trong pháp Phạm-Chí nói: “Nếu khi cướp đoạt, tài
chủ đến kiện, bấy giờ Phạm-Chí cần phải so sánh: Giả
sử công đức của tài chủ chẳng bằng thời nên giết đi.
Tại vì sao? Vì Phạm-Chí ta là kẻ thắng nhân có thể dùng
nhiều phương pháp sám hối mà trừ diệt tội nầy. Nếu công
đức đôi bên ngang nhau, thời tự giết giết người kỳ tội
cũng đồng đều, vì đấy là trọng tội khó mà trừ diệt
vậy. Nếu tài chủ đức thắng hơn, thời nên tự xả thân,
vì đấy là trung tội, chẳng khá trừ vậy”. Phân biệt như
vậy, với trong việc kẻ giết kẻ cướp đoạt cũng nên như
vậy. Lại nói dùng sinh hoạt ác-nghiệp trong ấy vì có ác-nghiệp
thời làm sao gọi là phước? Ngươi nói người xông ra trước
thời không tội, chẳng giết là đắc tội. Lời nầy đã
bị phá hoại. Tại vì sao? Vì nếu kẻ tiền-nhân đức hơn,
mình nên xả thân. Nếu là không tội ấy, cớ sao phải như
vậy ư? Ngươi nói kinh Vi-đà nói sát-sinh được phước. Lợi
nói nầy như trước đã đáp, là giết thời không phước…
Ngươi nói người thật đáng chết, giết không tội ấy. Vậy
thời giết những kẻ ác, trộm cũng ưng không tội? Lại tất
cả chúng-sinh đều là tội nhân, vì khởi tác nghiệp để
chịu lấy ấm thân vậy. Vậy thì sát sinh không đắc tội
ấy. Việc nầy không thể được.
Hỏi:
Nếu chúng-sinh tự tạo sát duyên đời trước, nay có bị
giết tại sao đắc tội. Nghiệp cướp trộm thảy cũng đều
như vậy?
Đáp:
Nếu như vậy thời không có tội phước. Tại vì sao? Vì người
ấy tự tạo sát duyên đời trước, nên sát nói không tội,
thời lìa sát-sinh cũng không có phước-đức. Như vậy bố-thí
kẻ khác lẽ cũng không có phước, vì kẻ thọ thí đã tự
tu thí nghiệp từ đời trước, nay tự được quả-báo. Mà
thật không thể chẳng có tội phước. Nên phải biết chúng-sinh
tuy tự tạo sát nghiệp, mà kẻ sát-giả cũng vẫn đắc tội,
vì khởi lòng tham sân si các phiền não vậy. Các phiền não
nầy gọi là tà-điên-đảo; sinh tâm tà-đảo còn đáng bị
tội huống chi cố ý khởi nghiệp ư? Bởi đó mà khiến sinh
tử vô cùng tận. Nếu chẳng như vậy, thời khi mà các vị
Thần-Tiên khởi các phiền não tham sân thảy, lẽ chẳng liền
bị mất thần-thông. Nếu đấy chẳng phải tội lỗi lại
cùng với pháp gì trái nhau mới gọi là phước-đức? Phải
biết chúng-sinh tuy tự tạo sát duyên đời trước, nhưng sát-giả
vẫn phải có tội. Tuy ngươi nói tội nhân vô sở năng thành.
Việc nầy chẳng phải lẽ. Vì hạng Chiên-đà-la thảy cũng
có thể dùng chú-thuật để giết người. Tiên-nhân cũng vậy,
vì ác tâm nên tùy theo lời chú nên vẫn năng thành tội. Lại
vì phước lực của người bị giết nên năng thành; vì cướp
đoạt mạng nên bị tội. Ngươi nói hoặc có tâm-lực do đoạt
mạng sinh phước, thí mạng đắc tội. Việc nầy chẳng phải
lẽ. Tại vì sao? Vì cần do tâm-lực và phước nhân-duyên
nên mới đắc phước, chứ chẳng những chỉ do tâm. Nếu
đem thiện tâm dâm vợ nhà Thầy, giết Bà-la-môn nên được
phước không? Những người biên-địa ở các xứ an-tức thảy
đem tâm phước đức dâm mẹ, chị chừng có phước chăng?
Cho nên biết do nhân-duyên phước, mới có phước đức sinh,
chứ chẳng phải chỉ tâm vậy. Cướp trộm thảy cũng lại
như vậy. Nên biết sát thảy đều là bất thiện. Lại sát
thảy chẳng làm lợi cho kẻ khác nên gọi là bất thiện,
tuy với đời hiện nầy được chút vui chốc lát, nhưng đời
sau chịu khổ rất lớn, vì hại tổn kẻ khác nên gọi là
tướng bất thiện. Lại hiện thấy có nhiều chúng-sinh gây
những điều sát thảy cũng nhiều ở trong tam-đồ và nhân-đạo
chịu các khổ não. Nên phải biết khổ-não là kết-quả của
sát thảy, vì quả giống nhân vậy. Lại trong ba ác-đạo tội
khổ rất dữ dội. Cho nên biết vì nhân-duyên sát thảy mà
sinh vào trong ấy.
Hỏi:
Trong người, Trời cũng như vậy. Các Trời cũng thường cùng
chiến với A-tu-la, giết hại lẫn nhau; trong loài người cũng
dùng hầm hào, thuốc độc, và lưới giết hại chúng-sinh?
Đáp:
Trong Người, Trời có pháp lìa sát thảy, mà trong ba ác đạo
không có. Phải biết trong ấy, tội khổ rất lắm. Lại trong
loài người bởi nhân-duyên sát thảy nên mất những lợi
vui sống lâu thảy: Con người thời thượng-cổ có thọ-mạng
vô-lượng yến sáng từ thân phóng ra, sáng như mặt trời
trắng, bay đi tự-tại; đất đều tự nhiên sinh vật tùy-ý,
gạo nếp tự nhiên sinh. Nhưng đều bởi phạm tội sát thảy,
nên mới mất việc như vậy. Về sau, đến khi con người thọ
mạng chỉ còn mười tuổi, lại càng mất: như bơ, dầu, đường
phèn và lúa nếp, bắp thảy, tất cả đều không có. Nên
biết sát thảy là nghiệp bất thiện. Lại nếu như lìa sát
thảy được vui trở lại: Thọ mạng tăng thêm như thọ niên
đến tám muôn tuổi và các sở-dục tùy ý. Nên biết sát
gọi bất-thiện. Lại như hiện nay, Châu Uất-đơn-Việt tự
nhiên có gạo bắp, áo do cây sinh đều nhờ lìa sát thảy
vậy. Tóm tắt lại nói: Chúng-sinh có bao nhiêu tất cả vui
sướng đều do lìa sát thảy mà sinh. Cho nên biết sát thảy
là nghiệp bất thiện vậy. Lại pháp sát là những người
lành đã bỏ: Như các Đức Phật, Bồ-tát, Duyên-Giác, Thanh-văn
và bao nhiêu những bậc người có công-đức, thảy đều bỏ
lìa. Nên biết nó là bất thiện.
Hỏi:
Sát sinh thảy nầy, người lành cũng cho, như trong kinh Vi-đà
nói: Vì cúng Trời nên cho phép sát dê?
Đáp:
Đấy chẳng phải là người lành. Người lành là thường
cầu lợi vui cho kẻ khác, tu lòng từ-bi, bình đẳng với kẻ
oan, người thân. Những người như vậy, họ đâu có sát sinh?
Người ấy do lòng tham sân đục vẩn nên tự tạo kinh nầy
để cầu sinh lên trời. Chú rủa chúng-sinh kia, nhờ phước
lực mới năng thành việc nầy. Lại sát thảy nầy, kẻ được
giải thoát chẳng bao giờ làm. Nên biết bất thiện.
Hỏi:
Những kẻ được giải thoát cũng chẳng làm các việc khác
nữa, như ăn quá trưa thảy việc nầy cũng nên là bất thiện
sao?
Đáp:
Việc ấy là nhân duyên sinh tội, nên người lành cũng bỏ.
Nếu pháp không lỗi chẳng nên bỏ lìa. Quá trưa ăn thảy
năng hại hạnh tu, vậy nên cũng bỏ. Có pháp vì thể tính
bất-thiện nên bỏ, như giết trộm thảy; có pháp vì nhân
duyên bất thiện nên cũng bỏ, như uống rượu, ăn quá trưa
thảy. Nên biết sát sinh thể tính bất-thiện.Lại kẻ sát
sinh bị nhiều người ghét như sư tử, hổ-lang, các đứa
oán tặc và kẻ hàng thịt thảy. Nếu vì pháp nhân-duyên nầy
mà bị nhiều người ghét gớm đâu chẳng phải bất thiện?
Lại nếu kẻ bất sát được nhiều người thương, như các
vị Hiền-Thánh tu hạnh từ-bi. Nên biết sát là bất thiện.
Hỏi:
Có kẻ sát sinh vì sức mạnh mẽ nên được người ưa, như
người vi Vua giết các đứa oán giặc thời được vua yêu
mến?
Đáp:
Vì nhân-duyên nên chẳng phải mến cho lắm. Như nói nếu người
đem ác-nghiệp khiến cho lòng chúa vui mừng, nếu khi chúa sinh
lòng chán ghét, trở lại nghi người nầy. Nếu họ đem ác
sự mà sinh nghi làm sao gọi mến? Lại những kẻ làm điều
bất thiện là tự chẳng thương mình huống chi kẻ khác ôi.
Nên biết sát sinh là pháp bất thiện. Lại pháp sát thảy
là đánh hại trói buộc thảy các nhân khổ-não, nên biết
bất-thiện.
Hỏi:
Pháp bất sát thảy cũng có khổ nhân, như Vua ra lệnh cho người
phải giết giặc, nếu chẳng giết chắc bị Vua hại?
Đáp:
Nếu vì chẳng giết bèn bị hại ấy. Vậy thì các kẻ chẳng
giết đều bị hại chết? Người nầy vì tự trái lịnh Vua
vậy. Nếu vua biết thâm tâm người nầy chẳng giết, thời
chẳng gia-hại mà lại cúng-dường nữa. Vậy nên biết giết
thảy là nhân-duyên khổ, chẳng phải chẳng giết thảy. Lại
kẻ hành sát, đều khi sắp chết ăn-năn. Nên biết bất-thiện.
Lại trong các việc giết thảy nên bị người khác chẳng
tin, với trong đồng bọn còn chẳng tin nhau, huống chi người
lành. Lại kẻ hành sát thảy người lành bỏ xa, như những
kẻ hàng thịt, thợ săn thảy. Lại những kẻ hành sát thảy
chẳng gọi người vui, kẻ hàng-thịt, thợ săn thảy trọn
đời chẳng nhờ nghề nghiệp ấy làm được sang trọng. Lại
người lành gắng công bỏ lìa sát thảy, nếu chẳng phải
bất thiện, cớ sao gắng công cần cầu bỏ lìa? Lại hiện
thấy sát thảy có quả-báo chẳng vừa lòng. Phải biết đời
sau cũng bị quả-báo khổ. Lại nếu sát thảy chẳng phải
bất thiện ấy, lại có pháp nào gọi bất-thiện ư?
Hỏi:
Nếu pháp sát thảy là bất thiện ấy, thời không có thân
người đẹp, Tại vì sao? Vì không có lúc nào chẳng sát-sinh,
như những lúc đi đến, chân cất lên dẫm xuống, hằng thường
giết hại những chúng-sinh nhỏ-nhiệm. Cũng thường vì ý
tưởng của mình mà lấy vật của kẻ khác, cũng tùy tự
tưởng mà nói láo. Vậy nên chắc không có thân đẹp?
Đáp:
Cố ý làm thời bị tội, chứ chẳng phải cố ý vậy. Như
trong kinh nói: “Thật có chúng-sinh, với trong đó sinh tâm
tưởng chúng-sinh, có tâm muốn giết, giết rồi bị tội giết”.
Trộm thảy cũng như vậy.
Hỏi:
Như người ăn độc, cố hay chẳng cố đều năng chết người.
Lại như sa hầm lửa biết cùng chẳng biết đều năng cháy
người. Dẫm gai thảy cũng như vậy. Phải biết sát-sinh cố
hay chẳng cố đều phải bị tội?
Đáp:
Dụ nầy chẳng trúng. Độc cốt để giết hại thân nên chết,
còn tội phước do tâm, làm sao đem ví được. Lại lửa gai
thảy, nếu chẳng cảm giác, chẳng hay sinh khổ. Vậy nên dụ
này chẳng trúng. Nếu không biết thời chẳng cảm giác đau,
có biết mới có cảm giác. Như vậy nếu không cố tâm, thời
tác nghiệp chẳng thành, cố tâm thời thành, dụ nầy mới
trúng. Có cố thời có tội; chẳng cố thời không. Các nghiệp
đều do tâm sai khác, nên có thượng có hạ, nếu không cố
tâm làm sao có thượng có hạ?
Như
thầy thuốc với chẳng phải thầy thuốc, đều làm cho bệnh
nhân sinh khổ, nhưng vì tâm lực nên có tội phước sai khác.
Lại như con nắm vú mẹ thời chẳng bị tội, vì không nhiễm
tâm vậy. Nếu nhiễm tâm mà nắm thời bèn có tội. Nên phải
biết tội phước đều do tâm sinh. Lại nếu chẳng cố tâm
mà có tội ấy, thời những người được giải thoát cũng
có chẳng cố mà não hại chúng-sinh lẽ phải bị tội, thời
không có người giải thoát, vì lẽ các tội nhân không được
giải thoát vậy. Lại nếu chẳng cố mà có tội phước, thời
một hành nghiệp phải là thiện và bất-thiện. Như người
làm phước nghiệp lầm giết chúng-sinh, thời nghiệp nầy
cũng tội mà cũng phước? Việc nầy chẳng phải lẽ. Phải
biết chẳng cố, thời chẳng nên có tội có phước gì cả.
Lại nếu vô-tâm mà có nghiệp báo ấy, thì làm sao phân biệt
được đây là thiện, đấy là bất thiện và kia là vô-ký
ư? Nên đều do tâm mới có sai khác nầy: Như có ba người
đồng đi quanh Tháp” Một vì nhớ công đức Phật; hai vì
trộm cắp; ba vì đi dạo mát. Tuy thân nghiệp là đồng mà
có thiện, bất thiện và vô ký sai khác. Phải biết do ở
tâm. Lại có nghiệp quyết định có quả-báo; có nghiệp chẳng
quyết định có quả-báo. Có nghiệp thượng, trung, hạ. Có
quả-báo đời hiện tại, quả-báo đời sau, và quả-báo sau
các đời sau nữa thảy. Nếu chẳng do tâm mà được tội
phước thì làm sao mà có sai khác như vậy? Lại nếu lìa tâm
có nghiệp, thời là phi chúng-sinh-số cũng nên có tội phước,
như gió xô sập núi não hại chúng-sinh gió phải có tội;
nếu thổi hoa thơm bay đến chùa Tháp, bèn nên được phước,
ấy chẳng thể được. Cho nên biết lìa tâm không có tội
phước vậy. Lại có ngoại đạo nói: “Tu pháp đoạn thực
nằm trên tro, đất, chông gai thảy, gieo mình xuống vực sâu,
nhảy vào lửa, tự sa thân xuống gộp thảy, dùng những nhân
duyên khổ ấy, mới có phước đức”. Có kẻ trí nạn lại
rằng: “Nếu như vậy thời chúng-sinh ở địa ngục thường
đốt nướng, loài ngạ-quỷ bị đói khát, loại côn trùng
hay bay vào lửa; loài cá trạch ở nước, heo, dê, chó thảy
thường nằm trên phân đất. Các loài này thảy cũng nên được
phước?” Kẻ ngoại đạo kia đáp rằng: “Cần do cố tâm
chịu đựng khổ não nầy thời có phước đức, chứ chẳng
phải cố tâm mà được vậy”. Địa ngục thảy chẳng phải
chịu khổ đốt t hảy. Nếu chẳng cố tâm mà có phước ấy,
thời trong địa ngục thảy cũng nên có phước? Có những
lỗi như thế. Nếu chẳng cố tâm mà có tội và phước, thời
đời không có người lành. Tại vì sao? Vì ở trong bốn oai
nghi thường giết chúng-sinh. Việc nầy không thể được.
Phải biết chẳng cố tâm, thời không tội phước. Lại không
được sinh về chỗ đẹp, vì thường bị tội vậy. Mà thật
có các vị Phạm-vương và các thân tuyệt đẹp, nên biết
nghiệp không cố tâm là không tội phước. Lại trong pháp
của các ngươi ăn thức ăn bất-tịnh, thời đều có tội.
Nếu suy nghĩ cho kỹ, tất cả đồ uống ăn đều là bất
tịnh, ăn thức ăn bất-tịnh đều phải đắc tội. Như vậy
đụng đến rượu thảy, thời chẳng phải Bà-la-môn. Nếu
chẳng thấy nghe, đem tịnh tâm mà ăn, bèn không tội ấy.
Phải biết lìa tâm, thời không tội phước gì cả. Lại với
việc cúng trời, đem phước tâm nên mới giết dê, khiến
dê sinh lên trời. Vì phước tâm mà giết nên có phước đức.
Nếu chẳng phải vậy, tất cả sát sinh đều được phước
mà cũng bị tội. Lại như Bà-la-môn nói: “Hoặc có khi trộm
cướp mà không tội: Như thiếu ăn bảy ngày được theo Thủ-đà-la
mà lấy; nếu đói mạng gần chết thì theo Bà-la-môn mà lấy.
Cũng muốn sanh con đẹp nên tà dâm không tội”. Nếu chẳng
vì cố tâm, thời chẳng nên có các việc sai khác như trên.
Nên biết, nếu người chẳng cố tâm ác ý mà cho kẻ khác
uống độc, do đâu đắc tội? Nếu cố tâm cho người chất
độc, độc trở lại làm lành bệnh, thời ưng đắc phước?
Như bố thí cho người ăn, món ăn ấy chẳng tiêu, khiến người
phải chết, vậy là đắc tội sao? Nếu chẳng cố tâm mà
có tội phước ấy là pháp lộn xộn. Lại người đời, tất
cả việc đều tin nơi tâm, như tức một lời nói năng sinh
vui hoặc giận. Đánh đập thảy cũng như vậy. Nên biế các
nghiệp đều do nơi tâm. Lại ý nghiệp rất hơn hết (qua phẩm
sau sẽ nói) nên biết các nghiệp tại tâm. Lại như người
trí huệ tuy ở nơi ngũ dục mà chẳng bị đắc tội, đều
là nhờ sức của ý. Tại vì sao? Vì kẻ trí thấy sắc chẳng
khởi tâm tưởng bậy, nên không lỗi đắm sắc. Thanh thảy
cũng như vậy. Nếu chẳng khởi tưởng bậy mà có lỗi ấy,
thời tất cả thấy nghe, lẽ đều có lỗi. Vậy thời ý nghiệp
vô dụng. Kẻ trí lấy trí huệ làm đầu, tuy thọ ngũ dục
mà chẳng tham đắm; ngũ dục tuy tồn tại, vì tâm nhàm chán
nên có thể chẳng đắm nhiễm, đấy chẳng phải là sức
ý nghiệp ư? Vậy nên chẳng có không cố tâm mà đắc tội
phước.
Hỏi:
Ông nói tướng thiện và bất-thiện là tổn hại hay lợi
ích cho kẻ khác. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì
nếu người tự đem vật dưỡng thân mà làm phước nghiệp
người ấy tự ăn cũng vẫn có phước đức. Lại tháp chùa
phi chúng-sinh số tưới quét cũng đắc phước. Lại lễ kính
thảy đối với kẻ khác vô ích. Chỉ tổn hại công đức
kẻ khác chẳng nên có phước. Lại chẳng những phát tâm
nên có phước đức mà tùy đem áo cơm lợi ích cho người
khác bấy giờ mới có phước. Như vậy thời kẻ tu từ-bi,
lẽ chẳng có phước. Lại như tháp chùa thảy phi chúng-sinh-số,
hoặc đọat của hại vật, hoặc làm hư nát, lại chẳng có
tội. Lại chẳng hiện trước mặt mà ác khẩu mắng người
ta, lẽ chẳng có tội, vì họ chẳng nghe, đâu tổn giảm chi
mà tội. Lại đối với người khác, chỉ sinh ác tâm mà chẳng
khởi thân khẩu, đâu có hại gì, ấy lẽ đều chẳng đắc
tội. Lại hoặc tự chửi mình và giết thân mình, hoặc tự
tà hành cũng hoặc khi đắc tội. Vậy nên tướng thiện và
bất thiện, chẳng những tổn hại hay lợi ích kẻ khác.
Đáp:
Ngươi nói tự đem đồ dưỡng thân có phước ấy. Việc này
chẳng phải lẽ. Nếu tự cúng-dường cho mình có phước ấy,
thời không có người khác đáng cúng-dường. Mà thật kẻ
cầu phước đức cúng-dường cho người khác. Lại tùy tự
mình phước lại càng mỏng, nên biết tự vì mình chẳng nên
có phước. Lại ngươi nói tự ăn là làm phước nghiệp. Nếu
tự dưỡng thân là lợi ích cho kẻ khác. Đấy là do nơi tâm
mới năng sinh phước đức, chứ chẳng phải do tự mà được
phước vậy. Ngươi nói Tháp chùa phi chúng-sinh tưới quét
cũng được phước ấy. Người nầy nghĩ công đức Phật
đối với trong chúng-sinh là bực cao cả. Vậy nên tưới quét.
Việc nầy cũng do chúng-sinh nên được phước vậy..
Hỏi:
Phật đã diệt độ, chẳng gọi chúng-sinh. Như trong kinh nói:
“Phật chẳng có, chẳng phải không, cũng chẳng phải có
không, cũng chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không”.
Làm sao gọi là chúng-sinh được?
Đáp:
Nếu đã diệt độ chẳng gọi chúng-sinh, người ấy nghĩ
Phật khi chưa diệt-độ mà vì cúng dường, vậy nên được
phước. Như người tế cha mẹ là nghĩ khi còn sống; nếu
chẳng như vậy, chẳng gọi cúng-dường cha mẹ. Việc nầy
cũng vậy. Ngươi nói lễ kính thảy với kẻ khác vô ích.
Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì lễ kính thảy,
có nhiều lợi cho kẻ khác, là khiến cho kẻ kia sang trọng
được người khác cung kính, ấy gọi lợi ích. Cũng khiến
người khác theo học cung kính, ấy gọi phước đức. Lại
những khi lễ kính kẻ khác, tự mình phá được thói ngạo
mạn, vì phá được một phần bất-thiện, nên được nhiều
lợi ích, cũng để hiển dương công đức của kẻ khác. Lễ
kính thảy có những lợi ích như vậy. Lại ngươi nói lễ
kính thảy tổn công đức kẻ khác. Việc nầy chẳng phải
lẽ. Vì đem hảo-tâm mà lễ kính, chẳng phải như ngoại đạo
vì muốn làm tổn kẻ kia mà hành lễ kính. Lại như bố-thí,
nếu kẻ kia ăn uống chẳng tiêu, họ cũng tổn công-đức.
Vậy thì bố-thí cũng chẳng nên có phước. Nên khi lễ kính
thảy cần phải suy nghĩ kỹ, có phước thời làm. Như trong
kính nói: “Có một Tỳ-kheo ở trong nhà tắm, đem tay thoa
thân kẻ khác. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: Kẻ cúng
dường này là A-La-Hán, kẻ thọ cúng dường là người phá
giới. Các người nên học”. Không nên đem sư tử cúng dường
chồn mèo thảy, ngươi nói chẳng những phát tâm mà được
phước ấy. Tâm là gốc tất cả công đức, như người làm
lợi mình và người, lợi đời nầy và đời sau, đều lấy
thiện tâm làm gốc; như người làm tổn mình và người, tổn
hại đời nầy và đời sau, đều do bất thiện tâm làm gốc.
Lại người tu lòng từ, lấy quả báo từ-tâm làm lợi ích
cho tất cả: Nghĩa là gió mưa phải thời, nhật nguyệt tinh
tú chẳng sai thường độ, nước đại-hải chẳng tràn ngập,
lửa đại-hỏa chẳng đốt cháy, làm được báo chẳng ưa
mến; chính-thân mà làm được quả-báo ưa mến. Chẳng nói
có báo thứ ba. Lại quả-báo phước đức thời được ưa
mến như ý muốn, mà quả-báo tội lỗi thời trái lại với
trên. Lại khổ, vui là quả-báo tội, phước. Chẳng khổ chẳng
vui cũng là quả-báo thiện hành. Vậy nên biết vô-ký không
có quả-báo.
PHẨM
TÀ HẠNH THỨ 101
Đức
Phật nói ba tà hạnh: Thân tà-hạnh, khẩu tà-hành, ý tà-hạnh.
Thân tạo-tác ác nghiệp gọi là thân tà-hành. Tà-hành nầy
có hai thứ: Một nhiếp thuộc vào mười bất-thiện-đạo,
như giết, trộm, tà dâm; hai chẳng nhiếp, như roi, gậy, trói
buộc, tự đâm vợ thảy và bất-thiện-đạo trước sau ác
nghiệp.
Hỏi:
Sát sinh thảy nầy là ba nghiệp bất-thiện, chỉ là tính thân
nghiệp ư?
Đáp:
Tội sát gọi sát bất-thiện nghiệp. Tội nầy thân cũng có
thể tạo, tùy đem thân mình sát hại chúng-sinh. Khẩu nghiệp
cũng có thể tạo, tùy đem lời dạy bày khiến người sát
chúng-sinh; hoặc đem tâm phù chú mà sát cũng có thể tạo
được, như có người phát tâm mà năng khiến kẻ khác chết.
Tội trộm, dâm cũng như vậy. Chỉ tự làm thì bị tội đầy
đủ. Lại thân nghiệp bất-thiện, hoặc lấy thân làm tướng,
hoặc lấy khẩu làm tướng, hoặc phát tâm thời kẻ khác
biết, lấy nhân-duyên nầy cũng tạo được tội sát thảy.
Nhưng phần nhiều là do nhân tạo tác, nên gọi chung là thân-nghiệp.
Khẩu-tà-hành, cũng như vậy. Khẩu gây ra ác nghiệp gọi khẩu-tà-hành.
Trong đây cũng có hai thứ: Như khi có người quyết định
hỏi, mà mình hiện trước mặt dối họ là nhiếp về bất-thiện
đạo; kỳ dư thời chẳng nhiếp. Tà-kiến thâm sân thảy là
ý-tà-hành.
Hỏi:
Tại sao trong mười bất-thiện-đạo nói tà-kiến? Trong ba
bất-thiện-căn nói si?
Đáp:
Tà kiến là tên khác của si. Si nầy tăng trưởng bền chắc
gọi là tà-kiến. Si lại không có tướng riêng, chỉ lấy
điên đảo tham đắm, nên gọi là Si.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Các tà hành được quả-báo bất-ái, chính
hành được quả-báo ái”. Tướng ái và bất ái nầy chẳng
quyết định; như tức một sắc, mà có ái và bất ái. Vậy
nên cần biện minh tướng ấy?
Đáp:
Vui là tướng ái. Như trong kinh nói: “Phước báo gọi là
vui”. Khổ là tướng bất ái. Như trong kinh nói: “Các ngươi
đối với tội, phải sinh lòng sợ hãi, vì đấy là nhân duyên
khổ vậy”.
Hỏi:
Nếu vui là tướng ái ấy. Vậy thì heo chó thảy, ăn phẩn
uế lấy làm vui, là quả phước đức sao?
Đáp:
Là phước quả bất tịnh. Như nghiệp kinh nói: “Nếu phi
thời thí, bất-tịnh thí, tâm khinh khi, tâm đục vẩn mà bố
thí nơi phi Phước-điền”. Thí như vậy thảy thời được
quả-báo ấy.
Hỏi:
Như trong kinh nói chính hành được ái-báo. Tại sao lại nói
do nhân-duyên chính hành được sinh lên trời?
Đáp:
Có những kẻ tà hành cũng được sinh lên trời; hoặc bảo
sinh trời là quả-báo tà hành. Nên trong kinh lại nói nhân
duyên chính hành mới sinh về nơi ấy. Lại tà hành chính hành
năng được thân hai đường thiện ác khác nhau. Khi thọ thân
rồi ở trong đó chịu những khổ vui: Như nhân duyên tà hành
ở trong ác đạo chịu khổ; nhân-duyên chính hành thời được
hưởng vui Trời Người.
PHẨM
CHÍNH HÀNH THỨ 102
Thân
làm điều lành gọi là thân chính-hành. Khẩu, Ý cũng như
vậy. Lìa sát-sinh thảy ba nghiệp bất-thiện gọi là thân-chính-hành.
khẩu lìa bốn lỗi gọi là khẩu chính hành. Ý lìa ba bất-thiện
gọi là ý-chính-hành. Ba món nầy nhiếp thuộc về Luật nghi.
Chỗ khác gọi: Giới, định vô-lậu luật-nghi. Lại bao nhiêu
lễ kính, bố-thí thảy là thiện-thân-nghiệp, đều gọi thân
chính-hành. Chỗ khác gọi nói lời thật mềm-dịu thảy đều
gọi khẩu chính-hành. Ý nghiệp chẳng tham thảy đều gọi
ý-chính-hành. Gọi chung là tam-chính-hành.
Hỏi:
Ngoại đạo, Thần-Tiên không có quả báo được giải thoát
giới, người nầy năng được giới luật nghi chăng?
Đáp:
Các ngoại đạo ấy từ nơi tâm sinh giới-luật-nghi, mà cũng
gọi giới khẩu-thọ. Lại các người kia thảy cũng năng được
nhiếp thuộc về chính-hành giới-luật-nghi. Như loài người
thọ mạng chỉ còn mười tuổi mà nhờ thọ pháp bất-sát
thời đẻ con thọ mạng được hai mươi tuổi.
Hỏi:
Trong kinh nói: Chính-hành, tịnh-hành và tịch-diệt-hành. Có
sai khác gì không?
Đáp;
Có ông Luận sư nói: Kẻ phàm phu tu lành nơi thân khẩu, ý
nghiệp gọi là chính-hành. Kẻ học-nhân đã đoạn gút nên
tức nơi chính-hành nầy gọi là tịnh-hành. Bực vô-học-nhân
đoạn gút, vì từ không gút sinh lời nói, nên gọi là tịch-diệt-hành.
Lại vô-học-nhân rốt-ráo chẳng khởi nghiệp bất-thiện
nên gọi là tịch-diệt-hành. Như nói: Thân, khẩu, ý đều
là tịch-diệt-hành. Lại có người nói ba món hành nầy nghĩa
dồng mà tên khác. Chỉ đẹp nơi chất-trực nên gọi là chính;
lìa các phiền não nên gọi là tịch; lìa các bất-thiện nên
gọi là tịch-diệt. Nên tuy có ba tên mà nghĩa chẳng khác.
Hỏi:
Có ông Luận sư nói chỉ có tâm là tịch-diệt-hành chứ chẳng
phải nghĩ. Nghĩa ấy thế nào?
Đáp:
Ba món hành nầy đều do nơi tâm. Tại vì sao? Vì lìa tâm không
có nghĩ, cũng không có nghiệp thân khẩu nữa.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Người thấy chính hành được trọn nên,
thời là thấy trời”. Nếu thấy thiên-số chẳng phải tất
cả kẻ chính-hành đều sinh lên trời, cớ sao sqđ nói như
vậy?
Đáp:
Vì nói thiên-số nên việc nầy đã rõ. Những kẻ chính-hành
tuy bất-tất sinh lên trời, nhưng nếu sinh về chỗ sang trọng,
thời với trời tương-tự, nên mới nói thấy thiên-số. Các
kẻ chính-hành đáng lẽ đều sinh lên trời mà hoặc bị các
duyên phá hoại, vậy nên chẳng sinh; chỗ gọi là tà-chính-tạp-hành,
vì tà-hành mạnh hơn nên chẳng được sinh lên trời. Như
trong kinh Phật nói với A-Nan rằng: “Ta thấy có người tu
ba chính-hành mà sinh vào ác-đạo”. Là người ấy quả-báo
tà-hành đời trước đã chín mùi, nay tuy tu chính-hành vì
chưa đầy đủ vậy. Lại có người khi sắp lâm-chung sinh
khởi tâm tà-kiến, nên bị đọa ác-đạo; còn những kẻ
tà-hành sinh về chỗ lành cũng như vậy. Cho nên pháp phàm
phu chẳng nên tin vậy. Nên phải biết tùy theo nghiệp-lực
mạnh nên thọ sinh có sai khác.
PHẨM
KẾ NGHIỆP THỨ 103
Hỏi:
Kinh nói có ba thứ nghiệp: Nghiệp buộc cõi Dục; nghiệp buộc
cõi Sắc; nghiệp bụôc cõi Vô-sắc. Nghiệp nào là thế nào?
Đáp:
Nếu nghiệp từ địa-ngục đến cõi trời Tha-hóa-tự-tại
ở trong ấy chịu báo gọi là nghiệp buộc cõi Dục; từ cõi
Phạm-thế đến cõi trời A-ca-ni-tra, chịu báo trong ấy gọi
là nghiệp buộc cõi Sắc; từ hư-không-xứ đến phi hữu tưởng,
phi-vô chịu báo tưởng, trong ấy gọi là nghiệp buộc cõi
vô-sắc.
Hỏi:
Nghiệp vô-ký và nghiệp bất-định báo, chẳng ở trong ba
thứ nầy sao?
Đáp:
Nghiệp nầy và quả-báo đều là buộc ở cõi Dục. Tại vì
sao? Vì pháp nầy là nghiệp quả-báo cõi Dục vậy.
Hỏi:
Pháp cõi Dục, chẳng phải tất cả đều là quả-báo, vậy
nên chẳng phải?
Đáp:
Tất cả pháp ở cõi Dục đều là nghiệp-báo buộc ở cõi
Dục.
Hỏi:
Nếu như vậy thời ngoại-đạo tà-luận cho rằng tất cả
lãnh-thọ khổ vui đều là nghiệp nhân-duyên đời trước.
Lại nghiệp quả-báo đời trước là thiện, bất-thiện có
báo chẳng có báo. Lại công phu tinh-tấn vô sở dụng, nếu
đều là nghiệp-báo lại cần gì nhọc công ư? Và nếu các
phiền não và nghiệp đều là nghiệp-báo, thời không giải
thoát được, vì nghiệp-báo chẳng tiêu hết vậy?
Đáp:
Ngươi nói ngoại đạo tà luận, việc nầy chẳng trúng. Vì
ngoại đạo nói như vầy: “Khổ vui tốt xấu chỉ là nghiệp
quả-báo đời trước”. Vậy thời chẳng cần nhân duyên
hiện tại. Mà thật thấy muôn vật từ hiện tại duyên sinh,
như hạt-giống chẳng hạn. Nên chẳng được nói tất cả
đều từ nghiệp nhân duyên đời trước. Lại do nhân do duyên
muôn vật mới được sinh, như lấy hạt giống làm nhân, đất,
nước, thời gian, không gian thảy làm duyên. Nhãn thức lấy
nghiệp làm nhân, nhãn sắc thảy làm duyên.. Vậy nên chẳng
đồng với tà luận ngoại đạo. Ngươi nói nghiệp quả-báo
đời trước. Việc nầy chẳng phải lẽ. Vì hiện thấy do
quả mới có quả khác nối nhau sinh, như do lúa sinh lúa. Như
vậy do báo sinh báo, đâu có lỗi chi? Lại như người ẩn
tật bất năng nam, và sự dâm dục của loại chim sẻ, chim
uyên ương thảy, sự giận dữ của loại rắn độc thảy,
phải biết đều là nghiệp quả báo đời trước.
Hỏi:
Nếu từ báo sinh báo vậy là vô cùng?
Đáp:
Tôi nói ba thứ nghiệp báo: Thiện, bất thiện và vô-ký. Từ
thiện và bất thiện sinh báo vô-ký chẳng sinh, nên chẳng
phải vô cùng, như từ lúa sinh lúa; ở trong ấy từ hạt giống
sinh mộng, chẳng từ bắp thảy sinh. Như vậy từ quả báo
thiện và bất thiện mới có quả-báo khác sinh chẳng từ
vô-ký báo mà sinh. Ngươi nói chẳng cần nhọc công ấy. Tuy
từ nghiệp sinh báo nhưng cần phải gia công nhiên hậu được
thành. Như nhờ được nghiệp lúa mới có lúa sinh, nhưng cần
phải có giống thảy, vậy mới được thành. Ngươi nói không
có giải thoát. Việc này chẳng phải lẽ. Được chân trí
là ác nghiệp diệt hết, cũng như rang giống chẳng còn sinh
được, nên không bị lỗi không giải thoát. Lại các pháp
có sinh ra đều lấy nghiệp làm gốc. Nếu không có nghiệp
làm gốc làm sao năng sinh. Lại sinh của muôn pháp đều có
định phần, như pháp nầy quyết từ thân người nầy sinh,
mà chẳng ở thân các người khác. Nếu không có nghiệp làm
gốc, thời làm sao quyết định sự sai khác vậy.
Hỏi:
Nếu pháp chỉ từ nhân mà sinh, như từ đậu sinh đậu có
lỗi gì?
Đáp:
Việc nầy cũng lấy nghiệp làm gốc, vì nghiệp nhân duyên
được đậu, nên mới có từ đậu sinh đậu. Tại sao biết
được? Là thời kỳ thượng-cổ người ta tu hạnh lành, nên
nếp gạo tự sinh, nên biết nghiệp là gốc mới có đậu
sinh đậu.
Hỏi:
Vậy thì chúng-sinh-số vật từ nghiệp đời trước mà sinh?
Đáp:
Chẳng phải phi-chúng-sinh-số vật cũng lấy nghiệp làm gốc.
Tất cả chúng-sinh có quả-báo cộng-nghiệp, nghĩa là được
chỗ ở, nhờ nghiệp nhân duyên nên có đất thảy; nhờ nghiệp
nhân duyên sáng nên có mặt trời trăng thảy. Nên phải biết
vật sinh đều lấy nghiệp làm gốc. Tại vì sao? Vì là đời
trước đều có sở do của sức bố-thí, trì-giới thảy,
vậy nên cũng từ nghiệp thảy sinh.
Hỏi:
Nếu pháp vô-lậu cũng từ nghiệp sinh, đấy cũng gọi pháp
bị ràng buộc, vậy thì không được. Vì lẽ trong kinh nói
có thọ pháp chẳng bị buộc mà!
Đáp:
Pháp vô-lậu lấy chân-trí làm nhân, lấy nghiệp làm duyên,
vì sức lớn mạnh nên gọi là chẳng buộc.
Hỏi:
Nghiệp nào chị quả-báo cõi Dục? Nghiệp nào chịu quả-báo
cõi Sắc, và cõi vô-sắc?
Đáp:
Nếu ở trong ba cõi Dục, Sắc, vô-sắc khởi mười nghiệp
bất thiện, thời chịu quả báo cõi Dục.
Hỏi:
Nếu ở trong cõi Sắc, Vô-sắc cũng có thể khởi mười nghiệp
bất thiện chăng?
Đáp:
Trong ấy có thể khởi nghiệp bất thiện. Như trong kinh nói
trong kia có tà kiến. Tà-kiến chẳng phải bất thiện sao?
Hỏi:
Tà kiến ở trong ấy là vô-ký chẳng phải bất-thiện vậy?
Đáp:
Chẳng phải vô-ký. Tại sao biết được? Vì trong kinh Phật
nói: “Tà kiến là nhân khổ-não”. Người tà-kiến khởi
ra những nghiệp thân, khẩu và ý, có bao nhiêu tạo tác đều
là quả-báo khổ, in như trái mướp đắng toàn tứ đại đều
là một vị đắng. Như cõi Dục tà-kiến bất-thiện; cõi
Sắc và vô-sắc cũng lấy tướng nầy nên cũng gọi là bất
thiện, vì tướng đồng nhau. Như Phạm-thiên Bà già bảo các
Phạm kia rằng: Các ngươi đừng đến Cù-Đàm sa môn Phật,
Ta ở đây có thể độ thoát cho các ngươi,” là khởi tâm
khẩu bất thiện ở tại cõi Sắc. Lại có các Phạm-thiên
ở cõi kia nạn hỏi Phật. Có các việc như vậy. Lại người
ở cõi Sắc, Vô-sắc bảo: Đấy là Nê-Hoàn. Đến khi mạng
chung thấy ấm-thân ở cõi Dục, Sắc liên sinh tà kiến bảo:
Không có Nê-Hoàn. Rồi bài báng Pháp vô-thượng vậy. Làm
sao chẳng phải bất thiện ư? Vì những việc nầy nên biết
trong ấy có nghiệp bất thiện.
Hỏi:
Nếu ở trong ấy nghiệp bất-thiện, nghiệp nầy bị buộc
chỗ nào?
Đáp:
Nghiệp bât thiện nầy thời chịu quả-báo cõi Dục, vì buộc
ở cõi Dục vậy. Nghiệp thiện có ba bực: thượng, trung,
hạ. Nghiệp hạ chịu quả-báo cõi Dục; trung, chịu quả-báo
cõi Sắc; thượng chịu quả-báo cõi Vô-sắc. Lại có người
nói: “Nghiệp lành chịu báo ở cõi Sắc là nhiếp thuộc
về tứ-thiền; chịu báo cõi vô-sắc là nhiếp thuộc về
tứ-vô-sắc định. Kỳ dư tâm tán loạn khởi nghiệp thời
chịu quả-báo ở cõi Dục”.
Hỏi:
Tại sao trong ấy khởi nghiệp lành mà chịu quả-báo cõi Dục?
Đáp:
Như trong đây nhiếp tâm khởi nghiệp lành, thời trong kia chịu
báo; như vậy trong kia tản tâm khởi nghiệp lành, thời trong
đây chịu báo. Lại như cõi Sắc, vô-sắc khởi nghiệp chẳng
lành thời ở trong cõi Dục chịu báo. Nghiệp lành trong kia
cũng như thế.
Hỏi:
Nếu ở cõi Sắc, vô-sắc chẳng năng khởi nghiệp lành buộc
về cõi Dục?
Đáp:
Trong ấy không có nhân-duyên nầy. Nếu ở cõi Dục năng khởi
nghiệp lành cõi Sắc, Vô-sắc. Mà ở cõi Sắc, Vô-sắc lại
chẳng năng khởi nghiệp lành cõi Dục sao! Lại các ngươi
nói: “Ở trong cõi Sắc năng sinh tâm vô-ký cõi Dục”. Nếu
năng sinh tâm vô-ký, tại sao chẳng năng sinh thiện tâm ư?
Lại trong kinh Phật bảo Thủ-Thiên-Tử rằng: “Phải niệm
trụ-tâm thọ thô tướng”. Thô-tướng tức là tâm buộc
cõi Dục. Người nầy tùy đem thiện-tâm nghe pháp lễ Phật,
đều là buộc tâm ở cõi Dục. Nếu chẳng như vậy chẳng
gọi thô-tướng. Lại trong ấy cầu niệm tài phước. Như
nói: “Bạc Đức Thế Tôn! Tôi đối với ba việc không nhàm
nên mạng chung trong đây sinh về cõi trời Vô-nhiệt”. Nghĩa
là chiêm bái Phật, nghe Pháp, và cúng-dường Tăng. Cầu niệm
tài phước là buộc tâm về cõi Dục. Lại trong đây có kẻ
niệm Phật thảy mà chẳng cầu tài phước nên phải biết
có thiện buộc về cõi Dục.
PHẨM
TAM BÁO-NGHIỆP THỨ 104
Hỏi:
Trong kinh Phật nói ba thứ nghiệp-báo: Hiện-báo, sinh-báo,
hậu-báo.Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Nếu thân này gây nghiệp tức thân này chịu, gọi là hiện-báo;
đời nầy gây nghiệp đời sau chịu báo, gọi là sinh báo;
đời nầy gây nghiệp quả sau các đời sau nữa mới chịu
báo, gọi là hậu-báo, vì qua sau đời sau nên gọi là hậu.
Hỏi:
Báo nghiệp thân trung ấm ở chỗ nào mới chịu?
Đáp:
Hai chỗ chịu: Nghiệp trung ấm thứ lớp ở chỗ sinh báo chịu,
vì sinh có sai khác nên gọi có trung-ấm; nghiệp các trung-ấm
khác ở chỗ hậu-báo chịu.
Hỏi:
Ba thứ nghiệp này là báo quyết định hay đời quyết định?
Đáp:
Có người nói: “Báo định: Nghiệp định-báo quyết định
đời hiện chịu báo. Hai thứ kia cũng vậy”. Tuy có thuyết
nầy, nhưng nghĩa ấy chẳng trúng. Tại vì sao? Vì nếu như
vậy chẳng những ngũ-nghịch gọi là định báo mà trong lục-túc
A-tỳ-đàm cũng nói ngũ nghịch là định báo. Lại trong kinh
Giêm-lượng cũng nói bất-định. Có nghiệp phải chịu quả-báo
địa ngục mà người nầy vì tu thân giới tâm huệ nên có
thể chịu quả-báo đời hiện này. Vậy nên ba thứ nghiệp
cần phải là đời quyết định, vì báo nghiệp đời hiện
bất tất đời hiện này chịu. Nếu chịu thời nên hiện
chịu chứ chẳng phải các chỗ khác. Hai thứ nghiệp kia cũng
như vậy.
Hỏi:
Trong nghiệp gì năng thọ hiện báo?
Đáp:
Có người nói nghiệp nhặm mau hiện chịu báo, như đối với
Đức Phật các vị Thánh-nhân và cha mẹ thảy mà khởi nghiệp
thiện, ác là hiện chịu ngay quả-báo. Nếu nghiệp chẳng
nhặm mà nặng thời là đời sau chịu báo, như ngũ-nghịch
thảy; vừa nhặm vừa nặng, thì sau đời sau mới chịu, như
nghiệp Vua Chuyển-Luân hoặc nghiệp Bồ-tát. Lại có người
nói: Ba thứ nghiệp này tùy nguyện quả-báo. Nếu nghiệp nguyện
đời nay thọ tức là hiện-thọ, như bà Mạc-Lợi phu nhân
đem phần ăn của mình cúng dường Phật, nguyện được làm
phu nhân cho Vua đời hiện. Hai nghiệp kia cũng như vậy. Lại
tùy nghiệp nào chín thời thọ trước.
Hỏi:
Nghiệp quá-khứ sao gọi là chín?
Đáp:
Đầy đủ tướng nặng, thế gọi là chín.
Hỏi:
Vả có một niệm khởi nghiệp, một niệm kế thọ báo không?
Đáp:
Không có được! lẫn lữa rồi mới thọ, như hạt giống
lần lữa sinh mộng, nghiệp pháp cũng như vậy.
Hỏi:
Như những người còn ở trong thai, khi ngủ mê và điên cuồng
thảy, có thể nhóm nghiệp không?
Đáp:
Những trường hợp như vậy, hễ có nghĩ thời năng nhóm nghiệp,
nhưng chẳng đầy đủ.
Hỏi:
Nếu lìa đất cõi Dục nầy có thể khởi nghiệp cõi Dục
này không?
Đáp:
Người có ngã tâm đều nhóm nghiệp ấy, nếu lìa ngã tâm
thời không nhóm lại.
Hỏi:
A-La-Hán cũng kính lễ tu phước thảy, nghiệp nầy tại sao
chẳng nhóm?
Đáp:
Vì tâm chúng-sinh nên các nghiệp mới nhóm. A-La-Hán không ngã-tâm
nên các nghiệp chẳng nhóm. Lại A-La-Hán tâm vô-lậu, mà kẻ
vô-lậu tâm chẳng nhóm các nghiệp. Lại trong kinh nói: “Dứt
nghiệp tội phước gọi là A-La-Hán”. Người nầy chẳng
nhóm nghiệp tội phước và nghiệp bất-động, chịu nghiệp
cũ đã xong, nghiệp mới chẳng tạo.
Hỏi:
Bực học-nhân có nhóm các nghiệp không?
Đáp:
Cũng chẳng còn nhóm. Tại vì sao? Vì trong kinh nói: “Người
nầy phá tan các nghiệp chẳng nhóm chẳng chứa, diệt hết
thảy”. Có ông Luận-sư nói: Kẻ học nhân này có ngã-mạn,
nên cũng nhóm các nghiệp, nhưng nhờ sức vô-ngã-trí, nên
bất tất chịu báo.
Hỏi:
Ba thứ nghiệp nầy ở chỗ nào tạo được?
Đáp:
Tất cả chỗ trong ba cõi đều tạo được.
Hỏi:
Nghiệp bất định có hay là không?
Đáp:
Có. Nếu nghiệp hoặc hiện báo, hoặc sinh-báo, hoặc hậu-báo,
đây gọi là bất-định. Nghiệp như vậy nhiều.
Hỏi:
Nếu biết ba thứ nghiệp nầy được lợi gì?
Đáp:
Nếu năng phân-biệt ba thứ nghiệp nầy thời sinh chính kiến.
Tại vì sao? Vì hiện thấy có kẻ làm ác mà hưởng giàu sang.
Kẻ hiền thiện lại chịu khổ. Đối với việc như vậy
hoặc sinh tà kiến cho rằng thiện ác không có quả-báo. Nếu
được biết ba nghiệp nầy sai khác như vậy, thời sinh chính
kiến. Như nói kệ rằng:
“Làm
ác thấy vui,
Vì
ác chưa chín;
Đến
lúc ác chín,
Tự
thấy chịu khổ.
Làm
thiện thấy khổ,
Vì
thiện chưa chín
Đến
khi thiện chín,
Tự
thấy hưởng vui”.
Lại
kinh Phân biệt đại-nghiệp nói: “Kẻ bất-đoạn-sát được
sinh lên trời”. Người nầy nếu đời trước có phước,
nên khi mạng chung phát thiện-tâm mạnh-mẽ năng biết như
vậy thời sinh chính kiến. Vậy nên cần biết tướng ba thứ
nghiệp.
PHẨM
TAM THỌ BÁO NGHIỆP THỨ 105
Hỏi:
Trong kinh Phật nói ba thứ báo nghiệp: Báo vui, báo khổ và
báo nghiệp chẳng khổ chẳng vui. Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Thiện-nghiệp được báo vui; bất-thiện-nghiệp bị báo khổ,
nghiệp bất động được báo chẳng khổ chẳng vui; nghiệp
nầy bất tất quyết định chịu, nếu chịu thời chịu báo
vui, chẳng phải khổ thảy. Hai nghiệp kia cũng như vậy.
Hỏi:
Các nghiệp nầy cũng được báo Sắc, tại sao chỉ nói Thọ
thôi?
Đáp:
Trong các quả-báo Thọ là rất hơn hết. Thọ là thật-báo,
Sắc thảy là như đồ dụng-cụ. Lại trong cảnh duyên nói
Thọ, như nói lửa khổ lửa vui; hoặc trong nhân có quả, như
người thí-thực gọi là thí năm món lợi. Cũng như nói ăn
tiền thảy.
Hỏi:
Từ cõi Dục đến trong tam-thiền được thọ quả-báo chẳng
khổ chẳng vui sao?
Đáp:
Được thọ.
Hỏi:
Do nghiệp-báo nào?
Đáp:
Là nghiệp-báo hạ-thiện. Nghiệp Thượng-thiện thời thọ
báo vui.
Hỏi:
Nếu như vậy, tại sao nói trong đệ tứ-thiền và vô-sắc
định ư?
Đáp:
Kia là tự địa. Tại vì sao? Vì trong ấy chỉ có một thứ
quả-báo nầy mà không có thọ nào khác, vì là tịch-diệt
vậy.
Hỏi:
Có người nói buồn chẳng phải nghiệp báo. Việc ấy thế
nào?
Đáp:
Tại sao chẳng phải ư?
Hỏi:
Buồn chỉ lo tưởng phân-biệt mà sinh, nghiệp báo chẳng phải
là tưởng phân -biệt vậy. Lại nếu buồn là nghiệp-báo
thời nghiệp-báo nhẹ, nên chẳng phải báo vậy. Lại buồn
nầy khi ly-dục là dứt, mà nghiệp báo khi ly-dục chẳng dứt.
Vậy nên biết buồn chẳng phải nghiệp báo?
Đáp:
Ngươi nói buồn do tưởng phân-biệt sinh nên chẳng phải báo
ấy. Vui cũng là Nghiệp-báo. Vui nầy có hai thứ: một vui,
hai mừng. Mà vui mừng cũng do tưởng phân-biệt sinh, lẽ chẳng
nên gọi là báo? Ngươi nói thời nghiệp-báo nhẹ. Buồn nầy
nặng hơn khổ. Tại vì sao? Vì buồn là người ngu, những
kẻ hữu-trí họ không buồn, vậy nên khó trừ, cũng năng
thâm sinh phiền não. Lại trong tứ-bách-quán nói: Tiểu nhân
thân khổ, quân-tử tâm ưu. Lại buồn lo nầy phải cần đem
trí mới dứt được; thân khổ khi vui cũng năng trừ được.
Lại buồn năng sinh khổ-não trong ba đời, chỗ gọi ta trước
có khổ, nay khổ sẽ khổ nữa. Lại buồn là chỗ trụ-xứ
của các phiền não. Như trong kinh nói là chỗ ở của phiền
não. Nên nói mười tám món ý-hành, bởi trong năm thức chẳng
sinh phiền não vậy. Lại trong kinh nói: “Buồn là hai mũi
tên, vì chịu khổ hai lần vậy như người bị hai mũi tên
đâm vào một chỗ thời chịu khổ gấp đôi”. Như vậy người
ngu bị khổ bức bách lại càng thêm buồn lo, nên thân tâm
khổ-não lắm hơn khổ thường vậy. Lại kẻ ngu thường buồn
lo. Tại vì sao? Vì người ấy ân-ái trái lìa, oán tắng hội
hợp, cầu chẳng được thảy, nên thường lo buồn khổ-não.
Lại buồn nầy do hai nhân sinh: Một do mừng sinh, hai do buồn
sinh. Như mất vật sở-ái là do mừng sinh, như trong kinh nói;
“Đức Phật hỏi vua Ba-Tư-Nặc rằng: Ngươi yêu mến nước
Ca-thi-kiều-tát-la không?” Lại nói : “Chư Thiên vui sắc,
tham sắc, sắc nầy nếu hoại, thời sinh buồn khổ”. Đấy
gọi là mừng sinh. Do buồn sinh: Do việc ghét mà sinh, cũng
do ganh-ghét thảy sinh. Kẻ chưa ly-dục ganh ghét thảy các món
kiết thường não-hại nơi tâm. Như nói kẻ thiên-nhân nhiều
kiết bủn-xỉn, ganh-ghét. Lại nhiều chúng-sinh bởi chọc
tức kẻ khác nên bị quả-báo buồn khổ, như nói tùy trồng
giống sinh quả. Nên biết buồn là nghiệp-báo. Người nói
khi ly-dục dứt nên chẳng phải báo ấy. Việc nầy chẳng
phải lẽ. Tu-Đà-Hoàn chưa ly dục cũng dứt được báo địa
ngục thảy. Có thể cho báo địa ngục thảy là chẳng phải
quả-báo nặng ư? Cho nên không thể cho ly dục dứt, bèn gọi
là chẳng phải quả-báo.
Hỏi:
Báo-nghiệp chẳng khổ chẳng vui gọi là bất-động. Nghiệp
nầy là lành lẽ phải thọ báo vui, cớ sao lại thọ báo chẳng
khổ chẳng vui?
Đáp:
Thọ nầy bất-động mới là thật vui, vì tịch-diệt nên
gọi chẳng khổ chẳng vui. Lại trong kinh nói: Trong lạc-thọ
tham sai khiến. Lòng tham trong ấy ở thọ trong ấy sai khiến
nên biết là vui vậy.
PHẨM
TAM CHƯỚNG THỨ 106
Hỏi:
Trong kinh nói ba chướng: Nghiệp chướng, phiền não chướng,
báo chướng. Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Nếu các nghiệp phiền não và báo, năng ngăn Đạo giải thoát,
nên gọi là chướng.
Hỏi:
Năng chướng pháp gì?
Đáp:
Tu thiện thí, giới để hồi hướng cho ba cõi, đây hay bị
ngăn Đạo. Lại báo nghiệp quyết định chịu đấy cũng bị
ngăn. Như trong kinh nói: “Nếu người nầy quyết định nhóm
chịu báo nghiệp, thời chẳng vào chính vị”. Đấy gọi
là nghiệp chướng. Lại nếu người phiền não dày nhặm tăng
lên thường ở nơi tâm, là phiền não chướng. Lại như người
phiền não chẳng trừ khiển được, như những người bất
năng nam thảy, tưởng dục, cũng gọi là phiền não chướng.
Lại ở chỗ do tội ác sinh như địa ngục thảy, và tùy những
chỗ sinh không thể tu Đạo được đều gọi là báo chướng.
Hỏi:
Có người trước chẳng hiểu rõ hết kẻ tiền nhân, chẳng
biết họ là kẻ lành, thời chẳng bố thí, vì nghĩ rằng:
“Người kia, nêu bởi ta thí là được điều kiện gây các
việc ác, thời ta có liên đới một phần trách nhiệm”.
Như Phạm-chí thảy người xuất gia. Vậy nên các người xuất-gia,
chẳng nên bố thí vì họ gây tân nghiệp bị buộc và ngăn
ngại giải thoát vậy?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Vì kẻ khác làm tội phước với ta chẳng
can hệ. Tại vì sao? Vì
trong nhân duyên tột phước có nhiều tội lỗi. Tại vì sao?
Như chúng-sinh là nhân-duyên sát, nếu không chúng-sinh lấy
chi mà sát? Vậy thời kẻ chết lẽ phải có tội. Lại như
kẻ giàu là nhân-duyên trộm. Sắc đẹp là nhân-duyên tà-dâm.
Người khác là nhân-duyên nói dối thảy. Ngụy xưng thảy
là nhân-duyên lường gạt. Kẻ mua lẽ cũng có tội? Lại kẻ
thọ làm nhân-duyên cho kẻ thí lẽ cũng được phước. Như
người đạo giếng ao thảy, kẻ dùng nước lẽ đều được
phước? Vậy thời chẳng cần tự làm phước-đức. Mà thật
chẳng phải vậy. Vậy nên trong nhân-duyên chẳng phải có
tội phước. Lại phước phần của kẻ thọ giả lẽ phải
tiêu hết, thời người ấy chẳng theo kẻ khác mà thọ thí.
Tại vì sao? Vì đem phần phước đức của mình mà đổi láy
đồ uống ăn vậy. Lại kẻ thí giả nhiều tội mà ít phước.
Tại vì sao? Vì đâu có bao nhiêu kẻ Bà-la-môn hay làm lành;
phần nhiều đem tâm tam độc vẩn-đục chìm-đắm trong ngũ-dục,
chẳng siêng tu hành. Vậy nên kẻ thí-giả lẽ phải tội nhiều
mà phước ít. Lại các Phạm-chí thảy tự xưng là kẻ hiện
nhân tu hành pháp lành. Mà sự thật những người ấy không
thể nhiếp tâm chính quán các pháp thiền-định. Nếu lìa
thiền-định, thời khó điều phục được tâm. Vậy nên kẻ
thí-giả thí cho người chưa ly-dục lẽ phải bị tội nhiều?
Lại như người cúng dường cha mẹ, cung cấp cho vợ con, thân
bằng quyến thuộc bè-bạn đều ưng bị tội, thời không
có người được phước phần. Mà thật chẳng phải vậy.
Vậy nên tội phước chẳng ở trong nhân-duyên. Lại pháp trì
giới thảy cũng lợi cho kẻ khác, vì người này chẳng sát
sinh nên thí mạng sống cho tất-cả thời kẻ trì-giới bị
phần đại tội? Vì chẳng sát nên kẻ tiền nhân được sống
lâu làm các điều ác, ác ấy đều là lẽ phải kẻ trì giới
chịu một phần như vậy thì kẻ cầu phước đều bèn phải
sát-sinh, chứ chẳng nên trì giới? Lại như người thuyết-pháp
khiến cho kẻ khác tu phước, nhờ nhân duyên tu phước về
sau được giàu sang; giàu sang thời kiêu-ngạo, buông-lung; ngạo
lung thời gây các việc ác; các ác nầy kẻ thuyết-pháp đều
phải có phần trách nhiệm? Lại nhân-duyên thì khiến người
khác giàu, vì nhân-duyên giàu gây làm các tội cũng ưng là
kẻ thí phải chịu một phần. Vậy thì Phạm-chí chỉ thọ
mà chẳng thí, cũng chẳng nên thí cho ai. Mà nay Phạm-chí chỉ
thọ mà chẳng thí nên biết đấy là tà đạo. Lại như các
vị vua đúng như pháp mà trị dân cũng ưng có tội? Lại như
con làm tội, cha mẹ phải có trách nhiệm, vậy thì lẽ chẳng
nên sinh con? Lại như thầy thuốc giỏi chữa lành bệnh lẽ
cũng phải tội, vì kẻ được sống sẽ làm nhiều tội vậy.
Lại trời mưa phải thời nuôi lớn ngũ cốc lẽ ra trời cũng
đắc tội, vì cứu sống và nuôi nhiều chúng-sinh ác vậy.
Lại kẻ thí ăn lẽ cũng bị tội, vì kẻ ăn hoặc chẳng
tiêu vật ăn khiến chết mất mạng; và những người chưa
ly-dục vì đắm say thực vị, nên kẻ thí-giả lẽ cũng bị
tội. Vậy thì thí-giả thường phải buộc thọ giả lập
lời thề rằng: Nay ăn vật ăn của ông quyết chẳng làm ác,
nhiên hậu mới cho. Nếu chẳng làm vậy thời th í giả mất
cả hai mặt.
Hỏi:
Trong kinh cũng nói: “Nếu Tỳ-kheo ăn cơm, mặc áo của thí-chủ,
vào vô-lượng thiền-định, nhờ nhân-duyên nầy nên thí-chủ
ấy được phước vô-lượng”. Nếu nhờ nhân-duyên nầy
mà được phước ấy, thì tại sao chẳng bị tội ư?
Đáp:
Nếu Tỳ-kheo thọ dụng cơm áo của thí-chủ, vào vô-lượng
thiền-định. Là phước bố-thí của thí-chủ tự được
tăng-trưởng, chứ chẳng được phước thiền-định, như
ruộng tốt nên thu hoạch nhiều, mà ruộng xấu thời thu được
ít. Như vậy ruộng Phước-điền tốt thời trả báo cho thí-chủ
được phước nhiều, mà phước-điền xấu thời phước ít,
chứ chẳng phải do thọ giả làm phước làm tội mà thí-giả
chịu ảnh hưởng. Vậy nên chẳng bởi tội phước nhân-duyên
mà bị tội hay được phước. Kẻ kia tuy là nhân-duyên, mà
tội phước phải do tự mình khởi ra ba nghiệp.
Hỏi:
Người chưa ly-dục tâm chẳng tự-tại quyết có tham đắm,
nên người xuất gia chẳng phải tu thí.
Đáp:
Nếu như vậy thời người xuất-gia trì-giới thảy đều có
phước đức, đấy cũng nên bỏ. Nhưng đừng hồi-hướng
về ba cõi mà phải vì Nê-Hoàn. Lại chỉ nên xa lìa phiền
não các nghiệp bất-thiện. Tại vì sao? Vì các nghiệp nầy
khi nhân, còn có thể đề phòng, mà đến khi quả không thể
làm gì hơn được! Vậy nên các Đức Phật thường đối
trong khi nhân nói pháp giáo-hóa, chẳng phải như Vua Diêm-Vương
đến khi quả mới giáo-hóa bằng lối quở trách.
Hỏi:
Trong ba nghiệp chướng nầy món nào nặng hơn?
Đáp:
Có người nói báo chướng nặng hơn, vì chẳng giáo-hóa được
vậy. Có người nói bởi tùy người nên tất cả đều nặng.
Hỏi:
Món nào có thể chuyển được?
Đáp:
Đều có thể khiến diệt được. Nếu có chuyển, ấy chẳng
gọi là chướng vậy.
PHẨM
TỨ NGHIỆP THỨ 107
Hỏi:
Trong kinh Phật nói bốn thứ nghiệp: Báo nghiệp đen đen, báo
nghiệp trắng trắng, báo nghiệp đen trắng đen trắng, và
vô báo nghiệp chẳng đen chẳng trắng vì diệt hết nghiệp
vậy. Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Báo nghiệp đen đen: Tùy bởi nghiệp nào đó sinh về chỗ
não như A-tỳ địa ngục và các chỗ khổ não không báo lành,
như súc-sinh ngạ-quỷ một phần ít. Cùng với đây trái nhau,
tức nghiệp thứ hai. Tùy bởi nghiệp nào đó sinh về chỗ
không khổ não, như hai cõi Sắc, Vô sắc và cõi Dục người
Trời một phần ít, đen trắng lẫn lộn, tức nghiệp thứ
ba. Tùy bởi nghiệp nào đó sinh về chỗ khổ não chẳng khổ
não, như địa ngục súc-sinh ngạ-quỷ Người Trời một phần
ít. Nghiệp thứ bốn gọi là vô lậu vì hay diệt hết ba nghiệp.
Nếu nghiệp hai đời bị quở: Nay quở, sau quở: Người này
bị tội đọa ở chỗ tối đen, không có tiếng tăm, nên gọi
là đen. Lại hai đời khổ-não: nay khổ sau khổ nên gọi là
đen.
Hỏi:
Nghiệp nầy thứ nào năng sinh về chỗ thuần khổ não?
Đáp:
Tâm nối nhau làm ác, không có ăn năn, không có điều lành
để tiêu diệt nghiệp ác, đấy gọi năng sinh chỗ thuần
khổ não. Lại đem tà-tâm gây các ác; Lại đối với người
trọng gây ác, chỗ gọi cha mẹ và các người lành; lại đối
vói chúng-sinh làm ác không sót chút lòng thương: như giết
chúng-sinh, hoặc cướp hết của vật, hoặc nhốt nơi lao ngục
mà chẳng cho ăn, hoặc đánh khảo nặng nề khiến không còn
chút vui. Các nghiệp như thế sinh về chỗ khổ thuần túy.
Nghiệp báo trắng trắng: Như người thuần nhóm các lành,
không có chẳng lành. Thế lực hai nghiệp này rất to, các
nghiệp khác không hơn được: Như khi chịu nghiệp báo đen
thì chẳng dung báo trắng khi chịu nghiệp báo trắng thì chẳng
dung báo đen. Tại vì sao? Vì tất cả chúng-sinh đều nhóm
lành, chẳng lành sức nghiệp ngăn nhau, nên chẳng được đồng
chịu cùng lúc. Như hai người cùng kéo giành một vật ai mạnh
lôi trước. Nghiệp thứ ba báo yếu ớt, vì lành, chẳng lành
lẫn lộn vậy nên chịu báo cùng thay nhau mà hơn vậy.
Hỏi:
Có người nói: Nếu chẳng lành chịu báo ác đạo, đấy gọi
là nghiệp thứ nhất. Lành buộc ở cõi Sắc, gọi nghiệp
thứ hai. Trong cõi Dục buộc người trời chịu nghiệp báo
lẫn lộn đấy gọi nghiệp thứ ba. Mười bảy bực học tư
trong Vô ngại Đạo, gọi là nghiệp thứ tư. Nghĩa này như
thế nào?
Đáp:
Đức Phật tự nói tướng các nghiệp nầy: Nếu người khởi
gây tội nơi thân-khẩu-ý, thì sinh về chỗ khổ não, thân
chịu khổ não, và chịu lấy các món chịu đều chẳng như
ý-muốn. Cho nên tùy khiến chúng-sinh về chỗ thuần khổ,
đấy gọi nghiệp thứ nhất. Cõi Sắc và vô sắc thời thuần
hưởng vui Trời người cõi Dục cũng có kẻ thuần hưởng
vui như trong kinh nói: “Có người vui cũng có sáu món xúc,
người trong cảm giác các món trần, không chẳng tùy ý”.
Đấy là nghiệp thứ hai.Gây nghiệp đen trắng lẫn lộn, là
nghiệp thứ ba. Tất cả nghiệp vô-lậu là hết các nghiệp,
vì trái nhau vậy, chứ chẳng phải mười bảy bực học tư
gọi là nghiệp thứ tư.
Hỏi:
Vô lậu thật trắng, cớ sao gọi là chẳng trắng?
Đáp:
Tướng trắng nầy khác chẳng đồng trắng của nghiệp thứ
hai. Trắng nầy rất hơn, vì không đối đãi nhau vậy. Như
nói vị Chuyển-luân Thánh Vương thành tựu trong sạch hơn
mắt Người Trời. Thật mắt người nầy hơn các người khác
nên gọi là hơn người. Nghiệp nầy cũng vậy, hơn các nghiệp
trắng khác nên nói chẳng trắng. Lại có người nói: Lẽ
phải nói gọi báo nghiệp chẳng phải đen trắng, đấy thời
không lỗi. Lại Nê-Hoàn chẳng gọi phải trắng. Vậy nên
nghiệp nầy phải gọi chẳng phải trắng. Lại cũng phải
nói chẳng phải trắng chẳng phải đen. Tại vì sao? Vì Nê-Hoàn
gọi Vô-pháp. Nghiệp nầy là Nê-Hoàn nên gọi chẳng đen chẳng
trắng. Lại người đời quí trọng nghiệp lành hữu lậu,
nên gọi là trắng. Và nghiệp thứ tư năng bỏ nghiệp nầy,
nên gọi chẳng trắng. Lại nghiệp nầy không có tướng đen
nên cũng không có tướng trắng khá được. Lại báo trắng
nên nghiệp gọi cũng trắng. Nghiệp nầy không báo nên chẳng
gọi trắng.
PHẨM
NGŨ-NGHỊCH THỨ 108
Thân
kế sau chịu quả-báo nên gọi không-hở. Nếu đời hiện
nầy chịu thời khổ não nhẹ, báo ít; vì nghiệp ấy nặng
vậy, nên theo thứ lớp mau đọa vào địa ngục A-tì. Ngũ-nghịch:
Bởi Phước-Điền đức trọng, nên gọi là nghịch. Chỗ gọi
ác-tâm: Phá tăng, đâm thân Phật chảy máu, giết A-La-Hán,
giết cha và mẹ. Vì chẳng biết ơn dưỡng-dục, nên gọi
là nghịch. Nghịch tội nầy chỉ trong đạo làm người năng
sinh khởi, chẳng phải trong các đạo khác, vì người có hiểu
biết đặc-biệt vậy.
Hỏi:
Giết Thánh-nhân khác có bị tội nghịch không?
Đáp:
Kẻ giết Thánh-nhân phần nhiều đọa địa ngục, nếu giết
A-La-Hán chắc chắn phải đọa địa ngục. Nếu người đánh
Phật mà chẳng chảy máu cũng bị trọng tội, vì cố tâm
muốn hại Thế-Tôn vậy.
Hỏi:
Nếu người gây một nghịch tội thời đọa địa ngục, hoặc
gây hai ba cũng một thân đều chịu báo chăng?
Đáp:
Vì tội nầy nhiều nên lâu chịu khổ nặng. Ở trong ấy chết
rồi lại sống lại trong đó.
Hỏi:
Trong tội phá Tăng tại sao mà nặng?
Đáp:
Nếu pháp quấy biết pháp quấy, pháp phải biết pháp phải,
tâm khởi như vậy thời gọi là nặng. Nếu phi pháp bảo là
pháp, pháp bảo là phi pháp, là chẳng như trước. Lại như
người ở chỗ Phật mà phá Tăng, tự xưng là Đại-sư đáng
cao cả trong trời người, đấy cũng là nặng.
Hỏi:
Nếu chẳng phải Thánh-nhân, phàm phu có thể phá sao gọi trọng
tội?
Đáp:
Vì ngăn ngại chính-pháp nên gọi trọng tội.
Hỏi:
Pháp phá Tăng là thời gian bao lâu?
Đáp:
Pháp chẳng cửu-trụ, chẳng trải qua một đêm. Trong ấy,
các vị Phạm-Vương, các chư Thiên, các vị Đại đệ-tử
như ngài Xá-Lợi-Phất thảy, liền hòa-hợp trở lại. Có
người nói năm trăm vị Tỳ-kheo nầy, đời trước vì nhân-duyên
ngăn thiện-căn đắc Đạo của kẻ khác nên nay bị quả-báo
nầy. Lại nhân tâm phàm phu vội vã nên dễ có thể phá-hoại,
như chỉ chứng được “thế gian không vô-ngã tâm” còn
chẳng thể phá được, huống chi bực vô-lậu ư! Vì ác-dục
ở nơi lòng, nên mới gây nhân-duyên phá Tăng. Vậy nên kẻ
cầu phước cần phải bỏ ác dục.
Thành
Thật luận hết quyển 8.