QUYỂN
THỨ 10
PHẨM
TAM-NGHIỆP THỨ 119
Trong
ba nghiệp, nghiệp nào nặng hơn: thân nghiệp? khẩu nghiệp,
hay ý-nghiệp ư?
Hỏi:
Có người nói hai nghiệp thân khẩu nặng, chứ chẳng ý-nghiệp
vậy. Tại vì sao? Vì nghiệp thân khẩu định thật vậy, như
tội ngũ nghịch đều bởi thân khẩu gây nên. Lại thân khẩu
năng thành xong việc, như người sinh lòng muốn giết chúng-sinh
nầy, cần đem thân khẩu năng thành việc ấy, chẳng những
ý-nghiệp gây được tội sát sinh; cũng chẳng phải chỉ phát
tâm xây chùa tháp mà được phước đức tốt lành vậy. Lại
nếu không có thân khẩu, chỉ ý nghiệp thời không quả-báo,
như người phát tâm rằng ta phải bố-thí, mà thật chẳng
thí cho, thời không thí phước. Lại chẳng những tùy nghiệp
mà việc được thành xong, như người phát nghiệp mở hội
Đại-thí, mà thật chẳng thí, thời không hội phước; vậy
thời nghiệp báo lộn xộn. Lại trong Luật Tỳ-ni, ý không
phạm tội. Nếu ý nghiệp là trọng đại tại sao chẳng phạm?
Nếu phát tâm bèn được phước ấy, thời phước dễ được,
tại sao hành giả bỏ nghiệp dễ nầy mà tu thí thảy là những
hạnh nghiệp khó tu ư? Lại nếu như vậy ấy, thời phước
vô tận, như người chỉ phát tâm suông trọn không đâu thì
chỗ sở dụng làm sao cho hết được ư? Vì tài vật có hạn
nên phước mới có thể hết. Lại chẳng những phát tâm mà
có thể làm tổn hại hay lợi ích cho kẻ khác, như chúng-sinh
đói khát cần phải cơm nước, chứ đâu phải tâm nghiệp
năng trừ được. Lại việc suy lợi người đời rất lắm,
vì tâm nhẹ nhỏm khó chế-phục được nên không điều ác
nào chẳng khởi, nên đã chịu việc suy hại nặng nề, nếu
phát thiện tâm muốn gây phước nghiệp, thời đã được
đại-lợi, vậy là quá dễ lắm. Lại nếu ý-nghiệp là lớn
muốn phát tâm sát sinh thời đọa địa ngục. Như vậy tuy
lâu tu nhóm giới thảy đâu có ích chi! Lại tu trì giới thảy
các công-đức lành không có an ổn. Tại vì sao? Vì chỉ một
khi phát tâm liền bị tội vậy. Lại trong kinh nói: “Nghiệp
thân khẩu thô nên dứt trước”. Vì dứt phiền não thô nên
tâm được Định. Lại nếu phát dâm tâm là dâm rồi, lẽ
phải phạm giới; nếu phát mà chẳng gọi là dâm, thời lìa
dâm tâm nầy lại có pháp gì gọi là dâm ư? Lại có bao nhiêu
sinh khởi tác nghiệp đều do thân khẩu, chẳng phải do ý
nghiệp, như gạt kẻ khác tất do khẩu nghiệp mới bị tội
vọng ngữ. Lại như trước đã nói đủ bốn món nhân-duyên
mới bị tội sát-sinh là: có chúng-sinh, có tâm tưởng chúng-sinh,
có tâm muốn sát, dứt mạng sống nó. Do bốn việc thành tội,
nên phải biết chẳng do ý nghiệp là trọng. Lại như Phật
nói: Như tiểu nhi tập lòng Từ từ nhỏ, hay khởi ác nghiệp,
nghĩ ác nghiệp ư? Nên biết chỉ là thân khẩu nghiệp ác,
chứ chẳng phải ý-nghiệp?
Đáp:
Ngươi nói nghiệp thân khẩu, chẳng phải nghiệp ý ấy. Việc
nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Trong kinh Phật nói: “Tâm
làm gốc các pháp”. Tâm cao tột, tâm dẫn đường, tâm nghĩ
thiện ác. Tức nói tức làm. Cho nên biết ý nghiệp là trọng.
Lại ý có sai biệt nên nghiệp thân khẩu mới có sai biệt,
như thượng, trung hạ thảy; lìa tâm không có nghiệp, quyết
phải chịu báo”. Lại nói bảy thứ tịnh phước; ba thứ
chỉ dùng ý-nghiệp. Bảy tịnh phước nầy, với phước của
là hơn. Lại lòng Từ là ý-nghiệp, nên kinh nói từ tâm được
quả báo lớn. Như kinh nói: “Xưa, Ta lên bảy tuổi, nhờ
tu tập lòng từ nên ở trong bảy đại-kiếp, chẳng trở lại
thế-gian nầy”. Nên biết ý-nghiệp là trọng. Vì trọng nên
mới có thể che khắp tất cả thế-gian. Lại ý-nghiệp là
trọng, như quả-báo ý-nghiệp nên sống lâu được tám muôn
đại-kiếp. Lại thế-lực ý-nghiệp thắng hơn nghiệp thân
khẩu, như kẻ tu lành khi mạng sắp chết sinh lòng tà-kiến,
thời đọa địa ngục; người làm chẳng lành khi sắp chết
khởi tâm chính-kiến, thời sinh lên trời. Nên phải biết
ý-nghiệp là trọng đại. Lại trong kinh nói: “Với trong các
tội, tà kiến rất nặng”. Lại nói: “Nếu người được
thế-gian thượng chính-kiến, tuy qua lại trong sinh tử cho đến
trăm ngàn năm trọn chẳng đọa ác đạo”. Lại sức ý nghiệp
thù thắng hơn nghiệp thân khẩu, như trong kinh Hòa-lợi nói:
“Ngoại-đạo Thần-tiên một khi nổi giận lên, liền diệt
nước Na-La-Vu-Đà” Như Đàn-đặc thảy các chỗ hiểm nạn
đều do Tiên-nhân nổi giận gây nên. Lại ý-nghiệp có thể
mau được quả-báo, như trong kinh nói: “Nếu người nầy
nay chết lập tức vào địa ngục, lập tức sanh lên trời,
như chiếc gươm thoán-mâu lìa khỏi tay”. Lại ý nghiệp nầy
chứa nhóm nhơ bẩn cho đến đọa vào a-tì địa ngục; chứa
nhóm pháp lành sạch cho đến được Nê-Hoàn. Lại tâm có
quả-báo nên thân khẩu mới có quả-báo, vì nghiệp bất-cố
không có quả báo vậy. Lại chẳng lìa ý-nghiệp mà có báo-nghiệp
thân khẩu, như ý nương nơi thân khẩu làm lành hay chẳng
lành, gọi là thân khẩu nghiệp. Lìa thân khẩu nghiệp, thời
ý-nghiệp có quả báo; mà lìa ý-nghiệp thân khẩu không quả-báo.
Cho nên biết ý-nghiệp là trọng đại, chứ chẳng phải nghiệp
thân khẩu.
Ngươi
tuy nói thân khẩu nghiệp định-thật, như tội ngũ-nghịch
đều do thân khẩu gây nên, nên gọi nặng ấy. Việc nầy
chẳng phải lẽ. Vì nghĩ nặng, sự nặng nên nghiệp mới
nặng, chẳng phải thân khẩu nặng nên nặng. Lại vì tâm
quyết định nên nghiệp mới định-thật; như chỉ dùng tâm-lực
vào ngôi chính-pháp, cũng vì tâm-lực năng đủ nghịch-tội.
Nếu kẻ vô tâm dù giết phải cha mẹ cũng không bị nghịch-tội.
Nên biết thân khẩu vô-lực. Ngươi nói thân khẩu năng xong
việc ấy. Cũng chẳng phải lẽ. Vì việc rồi gọi là xong:
Như cướp mạng sống kẻ khác rồi đã mới bị tội sát
sinh, chẳng phải khi khởi nghiệp thân khẩu; khi rồi việc
còn phải cần dùng đến tâm-lực nữa, cho nên chẳng phải
thân khẩu vậy. Ngươi nói chỉ phát tâm suông không quả-báo
ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ. Như trong kinh nói: “Phát
tâm mạnh nên lập tức sinh lên trời, lập tức vào địa
ngục”. Làm sao nói ý-nghiệp không quả-báo ư? Ngươi nói
chẳng những nhờ nguyện năng thành sự ấy, ấy cũng chăng
phải lẽ. Vì có người thâm phát thiện tâm được phước
thắng hơn đại-thí-hội. Ngươi nói ý không phạm tội, ấy
cũng chẳng phải. Nếu phát ác tâm bị tội tức thì. Như
Phật nói có ba thứ tội: Thân-khẩu-ý. Nên biết chỉ phát
ác tâm chẳng được không tội. chỉ chẳng kiết-giới vì
khó hành –trì vậy; thô-tội trì-giới ngăn được, tế-tội
thiền-định thảy mới trừ được. Ngươi nói tội phước
dễ ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ. Bởi người tâm-lực
yếu nên bỏ việc dễ, làm làm việc khó, như Từ-tâm thảy
được phước rất nhiều, chẳng phải bố-thí được như
vậy. Chỉ vì chúng-sinh trí-lực yếu ớt tu ý-nghiệp Từ-bi
thảy không nổi, nên mới tu bố-thí thảy, đem các thứ hương
hoa và dụng-cụ cúng-dường, vì tịnh tâm khó được vậy.
Ngươi nói phước vô tận ấy. Cũng lấy đây mà đáp. Người
nầy nếu có trí lực thời năng được pháp lành vô tận.
Ngưoi nói ý-nghiệp không làm tổn ích. Việc nầy chẳng phải
lẽ. Vì nghiệp thân khẩu đều do ý-nghiệp dẫn đường nên
chẳng gọi là thắng. Vì tùy theo sức tự khởi được mới
gọi là thắng. Lại các điều lợi ích đều do tu Từ vậy;
nên được mưa thuận gió hòa trăm giống lúa được mùa màng,
như thời đại kiếp-sơ, gạo nếp tự sinh; đến khi con người
thượng-thọ chỉ còn mười tuổi điều phước ấy đều
mất hết, làm sao nói từ-tâm không lợi ích ư.
Lại
kẻ tu lòng Từ năng trừ hết gốc nghiệp chẳng lành; Vì
nghiệp chẳng lhành nên có các điều suy-não, làm sao nói tu
lòng Từ không có đại-lợi ích? Nếu tất cả chúng-sinh tu
Từ-tâm đều sinh chỗ lành; tất cả thọ dụng tự nhiên
mà có, chẳng cần gia công. Cho nên biết từ-phước là sâu
dày hơn hết. Lại, hoặc khi vì lòng Từ bố-thí lợi ích
chúng-sinh, hoặc chỉ do lòng Từ mà lợi ích. Lại kẻ tu lòng
Từ, nếu chúng-sinh xúc phạm đến thân, phần hoặc vào trong
bóng thân đều được an lành vui vẻ. Nên phải biết từ-phước
đối với thí-phước thảy đều thù thắng hơn hết. Ngươi
nói suy lợi rất lắm. Trước đã đáp việc ấy rồi nghĩa
là ý-lực tổn hại hoặc lợi ích chúng-sinh, nên biết ý-nghiệp
là trọng đại. Ngươi nói lâu nhóm giới thảy không ích gì
ấy. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì ý-tịnh nên
trì-giới mới tịnh. Nếu ý bất-tịnh giới cũng bất-tịnh,
như trong kinh thất-chưởng-dâm nói. Lại giới thanh-tịnh được
quả-báo lớn, như trong kinh nói kẻ trì giới sở nguyện tùy
ý, là vì giới tịnh vậy. Lại nếu thanh tịnh trì-giới,
thời tâm được yên ổn, chứ chẳng phải pháp nào khác vậy.
Ngươi nói nghiệp thân khẩu thô nên dứt trước. Việc nầy
chẳng phải lẽ. Vì lành nhỏ-nhiệm mới được quả-báo
lớn, như ý nghĩ trong thiền-định. Ngươi nói, nếu phát dâm-tâm
bèn ưng phá giới. Việc nầy chẳng phải lẽ. Nếu người
ý-nghiệp chẳng tịnh thời giới cũng chẳng tịnh. Lại lẽ
được tội phước khác, mà phép kiết-giới khác. Ngươi nói
khởi ra tác nghiệp do thân khẩu ấy. Đều là tổng đáp rồi.
Nghĩa là nghiệp thân khẩu pháp khác, ý nghiệp pháp khác.
Nghiệp thân khẩu cần do tác thành, như đo bốn nhân duyên
thành tội sát-sinh, vì chẳng lìa tâm nghiệp vậy. Lại thế-gian
chúng-sinh cho nghiệp thân khẩu là ác, mà ý-nghiệp chẳng
như vậy. Lại ý-nghiệp chẳng gia hại với người, cũng chăng
khá có được. Lại trước đã nói tướng tội phước vì
bởi tướng nầy nên chỉ gây ý-nghiệp là quan-trọng. Chứ
chẳng phải thân khẩu vậy.
PHẨM
MINH NGHIỆP-NHÂN THỨ 120
Luận-giả
nói: Đã lược nói các nghiệp. Nghiệp là nhân-duyên thọ
thân, thân là bản-tính khổ nên phải diệt trừ. Muốn diệt
thân nầy phải dứt nghiệp-nhân, vì nhân diệt nên quả cũng
diệt theo, như nhân hình có bóng, hình diệt thời bóng diệt.
Vậy nên, nếu muốn diệt khổ phải siêng năng tinh-tấn dứt
nghiệp nhân nầy.
Hỏi:
Do nghiệp thọ thân việc nầy cần hiểu rõ. Tại vì sao? Hoặc
có người nói: thân do bà-la-già-đề sinh; có người nói:
Do Tư-Tại-Thiên sinh; hoặc nói do đại-nhân sinh; hoặc nói
do tự-nhiên sinh. Vậy nên phải nói lý do tại sao biết do
nghiệp mà sinh?
Đáp:
Việc nầy đã dùng nhìêu thứ nhân-duyên phá rồi. Phải biết
do nghiệp thọ thân. Lại muôn vật có nhiều thứ tạp loại,
nên biết nhân cũng sai khác, như thấy lúa bắp thảy khác,
biết giống chẳng đồng. Thời Tự-Tại thảy vì không sai
khác, nên phải biết chẳng phải nhân. Nghiệp vì có vô-lượng
sai khác, nên mới thọ nhiều thứ thân khác nhau. Lại các
kẻ thiện-nhân đều tin bởi nghiệp nên thọ thân. Tại vì
sao? Vì những người nầy thường tu các pháp lành, thí, giới,
nhẫn thảy; lìa sát-sinh thảy các pháp chẳng lành. Nên biết
do nghiệp thọ thân. Lại nếu bởi nghiệp thọ thân thời
là có thể trở lại được chân-trí, dứt tà-trí. Vì tà-trí
dứt, nên tham sân thảy các phiền não đều dứt; vì các phiền
não dứt, nên nghiệp nặng khởi thân sau cũng dứt. Ấy gọi
là có thể trở lại. Trong nhân Tự-tại thảy thời chẳng
trở lại được, vi Tự-Tại thảy chẳng dứt được vậy.
Nên biết do nghiệp thọ htân. Lại hiện thấy quả cùng nhân
giống nhau, như do bắp sinh bắp, do lúa sinh lúa. Như vậy do
nghiệp chẳng lành được báo chẳng ưa; do nghiệp lành được
quả-báo ưa. Trong nhân Tự-tại thảy không có lỗi giống
nhau nầy. Vậy nên nghiệp là gốc của thân, chứ chẳng phải
Tự-Tại-Thiên thảy. Lại nay hiện thấy muôn vật đều do
nghiệp sinh, vì ác nghiệp nhân nên bị chịu đánh, bắt, trói,nhốt,
roi, gậy chết thảy các khổ; thiện nghiệp nhân được hưởng
ngợi khen, lợi dưỡng thảy vui sướng. Kẻ tùy-ý nói lời
ái ngữ, thời được hưởng quả-báo tùy-ý, nên biết do
nghiệp thọ thân, chẳng phải Tự-Tại thảy. Lại người
đời tự biết muôn vật do nghiệp nhân sinh nên khởi làm
các sự nghiệp cấy lúa mạ, và cũng tu thí-giới-nhẫn thảy
các nghiệp phước đức, không ai ngồi yên mà trông ông Trời
Tự-Tại ban sở-dục cho mình. Nên biết do nghiệp được quả-báo.
Lại
như những người tuy nói do Tự-Tại mà họ cũng phải nương
nhờ các sự nghiệp nghĩa là tự khổ thân và thọ trai pháp
thảy. Nên biết lấy nghiệp làm nhân. Lại nếu việc chẳng
hiện có, phải theo kẻ khác mà thọ nghĩa là chỗ sở hành
của Thánh nhân; tất cả Thánh Hiền nhờ giới thảy các pháp
lành. Nên biết vì do nghiệp nhân mới có thế-gian pháp vậy.
Nếu lìa giới thảy cũng không có Thánh-nhân; nếu không Thánh
giáo thời hành nghiệp trái lỗi vậy. Nên biết do nghiệp
thọ thân. Lại tu giới thảy các nghiệp lành, nên năng thành
các việc thần thông biến hóa. Nên biết lấy nghiệp làm
nhân. Lại địa ngục thảy trong các ác thú, sân não thảy
nhiều, nên biết do sân não thảy mà có các ác thú, như thấy
quả trên cây biết cây là nhân. Nên biết nghiệp là gốc
của thân. Lại trong ác đạo do sức mạnh của si thảy, nên
phải biết phiền não là nhân ác đạo, vì tất cả bất thiện
đều do si vậy. Lại sinh các ác đạo thời nhiều, mà sinh
về chỗ lành thời ít: mắt thấy kẻ giết thảy ác hành
nhiều, kẻ thiện hành ít. Nênbiết việc giết thảy là nhân
ác đạo. Lại việc giết thảy bị người lành quở bỏ chẳng
làm, vì người lành biết giết thảy chắc chắn có quả-báo,
nên mới quở bỏ chẳng làm. Nếu biết không quả-báo tại
sao mà bỏ? Lại tâm của các người lành nếu khởi ác tức
tốc siêng năng dứt, vì sợ ác báo vậy. Nên phải biết giết
thảy chắc chắn có ác báo. Nếu chẳng phải vậy, lẽ ra
tùy ý tung hoành đều là vui sướng thời: Chúng-sinh ăn được
giết ăn; của người ta cứ cướp; vợ người ta cứ dâm,
cũng đều vui sướng cả. Vì sợ khổ báo đời sau nên mới
xa lìa các việc ấy. Nên biết do nghiệp có thân. Lại tu tập
chính trí nên dứt hết nghiệp hữu lậu thời chẳng thọ
thân. Nên biết nghiệp là cội gốc. Lại A-La-Hán tuy có các
nghiệp hữu-lậu, vì tu chính trí nên nghiệp chẳng nhóm. Nên
biết nghiệp là nhân thọ thân; vì nhân của thân diệt nên
thân cũng diệt theo. Lại vì nhờ biết tứ-đế nên nhờ tứ-đế
mà phiền não hẳn chẳng sinh khởi lại nữa. Vì chẳng khởi
nên không có thân. Kẻ trí giả suy nghĩ như vậy, nên muốn
biết tứ-đế. Nên biết nghiệp là nhân của thân. Lại nếu
nhân-duyên chẳng đủ thời chẳng thọ thân, như đất khô
giống hư thời tất cả mộng chẳng mọc được. Như vậy
đất thức xứ mà không có nước ái thủy thấm nhuần hột
giống nghiệp, vì bị chân trí làm hư thân sau là mộng thời
chẳng sinh nảy; Kẻ Trí-giả vì biết việc nầy nên muốn
làm thô đất thức-xứ, hư hột giống nghiệp, nên mới siêng
năng gia công tinh-tấn. Vậy nên biết nghiệp là nhân duyên
thọ thân. - Hết nghiệp luận.
NHÓM
TẬP-ĐẾ PHẨM TƯỚNG PHIỀN-NÁO TRONG LUẬN PHIỀN NÃO THỨ
121
Luận-giả
nói; Đã nói các nghiệp, các phiền não, nay sẽ nói làm dơ
tâm gọi là phiền não.
Hỏi:
Sao gọi là dơ?
Đáp:
Nếu tâm năng khiến sinh tử nối nhau luôn, đấy gọi là dơ.
Sự sai khác của tâm dơ là: tham, sân, si thảy, tâm dơ nầy
gọi là phiền não: cũng gọi pháp tội, cũng gọi pháp lui,
cũng gọi là pháp ẩn chìm, cũng gọi là pháp nóng và cũng
gọi là pháp ăn-năn. Có các tên như thế. Tâm dơ bẩn nầy
tu nhóm gọi là sử, chẳng những tâm dơ khi sinh gọi là sử.
Phiền não là: tham, sân, si, nghi, kiêu-mạn và năm món kiến.
Do mười món sai khác nầy nên mới có chín mươi tám món sử.
Tham là mừng vui ba cõi, cũng mừng vui vô-hữu, đấy gọi là
tham. Như trong kinh nói: “Dục-ái, hữu-ái, vô-hữu-ái”.
Vô hữu gọi là Đoạn-Diệt. Chúng-sinh bị khổ ép ngặt,
nên muốn diệt ấm-thân cho “Vô” là vui.
Hỏi:
Mừng vui là tướng thọ, chức chẳng phải tướng tham. Như
trong kinh nói nghĩa nay mừng, sau mừng. Là nói đời nay thọ
vui, sau cũng thọ vui. Lại nói nghĩa này buồn sau buồn. Là
nói đời này chịu khổ, đời sau cũng chịu khổ. Lại như
trong lời Trời hỏi rằng có con thời mừng. Phật đáp: Có
con thời lo. Như thế các việc?
Đáp:
Tham là một phần của mừng. Như trong kinh nói: “Thọ làm
nhân-duyên cho ưa vui, trong thọ tam sai khiến trong đoạn-thực
có mừng có tham, mừng hết nên tham cũng hết”. Nên biết
tham là một phần của mừng. Vậy là không lỗi. Tại sao biết
được? Như trong kinh nói: “Tập Đế: Nghĩa là khao-khát vậy”.
Khát là thế nào: Nghĩa là muốn được thân sau là khát. Hành
tướng ra sao? Nghĩa là nương dựa lòng tham muốn được đủ
thứ.
Hỏi:
Nếu nói muốn được thân sau là tướng khao-khát ấy. Tại
sao nói nương dựa lòng tham muốn được đủ thứ?
Đáp:
Lại còn có tướng khao-khát. Như nói: Muốn được dủ thứ
là nói tướng chung; muốn được thân sau là nói tướng riêng.
Người ly-dục cũng có muốn được các thứ khi khát muốn
được nước thảy, đấy chẳng phải nhiếp vào tập-đế.
Nếu nương dựa lòng tham muốn được thân sau, khao khát nầy
mói gọi là nhiếp vào tập-đế.
Hỏi:
Nếu như khao-khát cũng là mừng, tham cũng là mừng tại sao
nói nương dựa lòng tham?
Đáp:
Mới sinh gọi khát, tăng-trưởng gọi là tham, nên nói nương
dựa. Như trong kinh nói: “Ưa buộc thế gian”. Vậy nên mừng
tức là tham. Lại trong kinh nói: “Diệt trừ tham buồn các
pháp bất thiện”. Trong ấy tham tức là mừng, buồn tức
là giận. Như nói giận là buồn thời biết cũng nói mừng
là tham. Vậy như trong mười tám ý hành, chẳng nói phiền
não, mà chi nói các món thọ. Nên biết phần mừng là tham.
Lại kẻ phàm phu lìa tham không thể thọ vui; lìa giận không
thể thọ khổ, lìa si không thể thọ chẳng khổ chẳng vui.
Tai sao biết được? Trong thọ thứ ba nói: “Người phàm phu
với trong thọ này, chẳng biết tập nhân, chẳng biết diệt
trừ, chẳng biết ý-vị chẳng biết tội lỗi, chẳng biết
xuất ly; nên với trong thọ chẳng khổ chẳng vui bị vô-minh-sử
sai khiến”. Người phàm phu ấy thường chẳng biết năm pháp
nầy, nên thường đối với trong thọ chẳng khổ chẳng vui
bị vô-minh sử sai khiến. Vô-minh sử tức là tính “chẳng
biết” của thọ hành vậy. Như phàm phu tâm hành khổ vui
cũng tức là tham giận. Lại như bắt đầu đến nơi tâm gọi
là thọ; thêm lớn rõ ràng gọi là phiền não. Lại tâm mềm
xuống gọi là thọ; cũng tức tâm ấy tăng lên gọi là phiền
não.
PHẨM
THAM TƯỚNG THỨ 122
Luận
giả nói: Tham này trong chín món gút thông buộc cả ba cõi
gọi là ái. Với trong bảy gút phân làm hai thứ: tham-dục
và hữu-dục. Tại vì sao? Vì có người đối với hai cõi
trên sinh tưởng giải thoát. Vậy nên Phật mới nói chõ ấy
gọi là “Có”. “Có” gọi là sinh, nếu không tham thời
chẳng sinh. Vậy nên riêng nói hữu-tham, chẳng những dục-tham
là phiền não, diệt hết dục tham gọi là giải thoát. Nên
Phật mới nói: Thiền trong vô sắc cũng có hữu tham. Phật
chỉ rõ trong ấy có trói buộc nhỏ nhiệm. Vậy nên nói tham
này, ở trong mười đường chẳng lành và trong bốn trói buộc
gọi là tham-dục. tham-dục mà gọi là dục, vì muốn được
vật của kẻ khác. Ở trong năm món che và trong hạ-phần-kiết
gọi là dục-dục. Dục-dục mà gọi là dục, vì ở trong ngũ-dục;
trong ba bất-thiện-căn gọi là tham bất-thiện-căn; tham bất-thiện-căn
là năng sinh trưởng các pháp bất thiện. Tham nầy, nếu tham
phi-pháp gọi là ác tham, như trộm cướp vật của kẻ khác,
cho đến lấy vật của Tháp, chùa, Tăng-chúng; hoặc chúng-sinh
chưa chết mà muốn ăn thịt; hoặc muốn dâm mẹ, chị, em
gái, vợ của bực Thầy, người xuất-gia và vợ của mình
mà mà dâm chỗ phi-đạo, đều gọi là ác tham. Như vật của
mình mà chẳng muốn nới cho, thời gọi là xan, xan tức là
tham. Nếu thật không công đức, mà muốn khiến người ta
bảo có, gọi là ác dục. Nếu thật có công đức, nếu muốn
người ta biế gọi là phát-dục. Nếu muốn được nhiều
thí nhiều vật, gọi là đa-dục. nếu muốn được thí ít,
vật ít, mà tìm lấy thứ tốt không nhàm gọi là bất tri
túc. Nếu lắm chấp dòng dõi, gia thuộc, danh sắc, của giàu,
trẻ trai, trường thọ thảy, gọi là kiêu-dật. Nếu tham bốn
vật cúng-dường, gọi là tứ ái. Lại tham này có hai thứ:
một dục tham, hai cụ-tham. Lại có hai thứ: một ngã-tham,
hai ngã-sở-tham. Một duyên-nội, hai duyên-ngoại. Tham hai cõi
trên một bề duyên bên trong. Lại có năm thứ: một tham sắc,
hai tham hình; ba tham xúc; bốn tham uy-nghi ngôn-ngữ; năm tham
tất cả. Lại tham sắc, thanh, hương, vị, xúc gọi là tham
ngũ-dục. Lại với sáu món xúc sinh ái gọi là tham lục-trần.
Lại tham ở trong ba món thọ: trong lạc thọ có tham muốn được,
có tham giữ gìn; trong khổ thọ có tham chẳng muốn được,
có tham muốn mất; trong bất-khổ bất lạc thọ có tham ngu
si. Lại tham này có chín phần, như trong kinh đại nhân nói:
“Bởi ái nên tìm theo sự sở dục”.
Như
người bị việc nầy làm khổ thời tìm việc khác, như nói
kẻ vui chẳng cầu, kẻ khổ nhiều cầu. Tham nầy tăng trưởng
gọi là cầu. Khi cầu, nếu được gọi là đắc. Ưa nhân
được thời trù tính là nên lấy hay chẳng nên lấy . Nếu
tâm quyết định gọi là nhân trù tính nên ưa muốn: nhân
ưa muốn nên tham đắm, tham đắm gọi là tham-ái. Nhân-duyên
tham đắm nên lấy; lấy gọi là thọ, nhân thọ sinh bủn-xỉn;
nhân bủn-xỉn nên giữ gìn nhân giữ gìn nên mới sắm đủ
thứ roi, gậy, dao, xà-mâu thảy. Đấy gọi là chín phần.
Lại có chín phần nữa, là tham tùy thời nên mới có thượng-trung-hạ:
hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng,
thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Lại thế-gian
chia tham nầy làm mười thứ: một như khi thấy sắc đẹp
đầu tiên móng tâm nói ngầm “được” hai kế đó sinh muốn;
ba phát-ngụyện; bốn nghĩ nhớ; năm theo bắt chước động-tác;
sáu quên xấu hổ; bảy thường ám ảnh trước mắt; tám buông
lung; chín điên cuồng; mười ngất chết. Đấy gọi là tướng
tham.
PHẨM
THAM NHÂN THỨ 123
Hỏi:
Làm sao sinh tham ấy?
Đáp
Như với trong cảnh duyên nữ sắc thảy sinh nghĩ nhớ bậy:
hoặc sắc, hoặc hình, hoặc xúc, hoặc điệu bộ nói năng
là sinh tham dục. Lại nếu chẳng giữ gìn các cửa mắt tai
thời sinh tham dục. Lại như với việc ăn uống chẳng biết
tiết-lượng là sinh tham dục. Lại gần gũi nữ sắc thời
sinh tham dục. Lại hưởng các thú vui thời sinh tham-dục. Lại
vì ngu si nên sinh tham dục như với trong bất-tịnh tưởng
là tịnh. Lại bởi ác-tri-thức nên sinh tham dục, như đem
khăn nhơ nhớp mà gói áo sạch-sẽ. Lại vì cộng sự với
người đa-dục, nên sinh tham-dục. Lại đối với thân thọ
thảy bốn pháp sinh nghĩ nhớ lộn ngược là bị tham-dục
lôi kéo, như bình tròn không đai, như hoa không xỏ xâu. Lại
như biếng-nhác chẳng siêng tu hành thời tham-dục dễ sinh
được. Lại đi chỗ phi-hành-xứ, thời bị tham xâm lấn nghĩa
là chỗ dâm-nữ, quán rượu, hàng thịt thảy, như ví-dụ
chim bồ-cắt. Lại quán bất-tịnh thảy chưa có thể phá hoại
được cảnh duyên thời tham dục đắc thế. Lại từ lâu
xa đến giờ, thường quen tham-dục, nên thành tham-sử, vậy
thời dễ sinh. Lại với cảnh duyên nữ sắc thảy ưa thủ-tướng,
thủ-liễu. Thủ-tướng: nghĩa là lấy các tướng tay, chân,
mặt, mắt, lời nói, giỡn cười, xem nhắm và kêu khóc thảy.
Thủ liễu: nghĩa là phân biệt trai gái hình trạng sai khác.
Như vậy, lấy, lấy rồi nghĩ nhớ phân biệt thời sinh tham-dục.
Lại tâm nghĩ lường yếu ớt nên cứ chạy theo cảnh duyên
không thể ngăn chận được, thời sinh tham dục. Lại nếu
sinh tham dục nhẫn chịu chẳng bỏ, thời ngày càng lớn lần
thêm: từ hạ sinh trung; từ trung sinh thượng. Lại với trong
tham dục chỉ thấy say đắm mùi lợi lạc mà chẳng biết
tội lỗi, thời sinh tham dục. Lại vì thời tiết nên sinh
tham dục, như mùa xuân thảy. Lại vì nơi chỗ nên sinh tham-dục,
như có địa-phương từ xưa nay nhiều thói dâm-dục. Lại
tùy theo thân lực, nên sinh tham dục, như tuổi trẻ, không
bệnh hoạn và đồi nuôi sống đầy đủ. Lại vì lực năng
nên sinh tham-dục, như uống thuốc thảy. Lại được tịnh
diệu tùy ý ngũ-dục thời sinh tham dục: nghĩa là thấy sắc
đẹp hoa ao, vườn rừng, sum mậu xanh tươi, nước suối chảy
mát-mẽ, mây hữu tình bay lơ lửng, ánh điện sáng lung linh,
gió quạt mùi thơm bay đến; hoặc nghe tiếng kêu áo-não hòa
nhau của các giống chim muông, và nữ-nhân trang điểm mềm
dịu nhu-mì âm-thanh thảnh-thót, bộ điệu nói năng thảy.
Lại vì nghiệp nhân-duyên nên sinh tham-dục, như kẻ thanh tịnh
thí thời hay ưa mừng tịnh diệu ngũ-dục, mà kẻ tội nhân
thời ưa bất tịnh. Lại vì từng loại nên sinh tham dục,
như người dục người. Lại thân đắm giả-danh thời sinh
tham dục; người nầy đối bên trong sinh tướng sĩ-phu bên
ngoài sinh tướng nữ-lưu và áo mặc, kẻ oan, người thân
các tướng. Lại vì tâm chưa được không Định nên trong
thấy chúng-sinh, ngoài thấy sắc thảy thời sinh tham dục.
Lại nếu tham-sử chưa diệt hết, ái duyên hiện tiền với
trong ấy sinh nghĩ nhớ bậy bạ. Những nhân-duyên như thế
thảy là sinh tham dục.
PHẨM
THAM QUÁ THỨ 124
Hỏi:
Tham dục có những lỗi gì nên muốn dứt ư?
Đáp:
Tham dục thật khổ, Phàm phu điên-đảo quấy sinh tưởng vui.
Kẻ-trí thấy khổ, thấy khổ thời phải dứt. Lại thọ dục
không nhàm, như uống nước mặn, càng uống càng khát; vì
càng khát thì làm sao được vui? Lại vì thọ dục nên các
ác nhóm đống và có dao gậy thảy đều bởi tham dục vậy.
Lại trong kinh nói: “Tham tội nhẹ mà khỏ bỏ”. Vì đối
với giận dữ nên gọi là tội nhẹ, kỳ thật là nặng. Lại
tham làm nhân-duyên cho thân sau, như nói ái làm nhân-duyên cho
thủ, cho đến nhóm một đống đại khổ. Lại nói khổ làm
nhân cho ái. Lại nói Tỳ-kheo cần phải suy nghĩ kỹ càng:
Có bao nhiêu các điều khổ do đâu mà có? Phải biết đều
lấy thân làm nhân-duyên, thân nhân nơi ái. Lại nói trong đoạn-thực
có mừng có tham, vậy nên thức sinh trong ấy. Phải biết ái
làm nhân-duyên thọ thân. Lại tham này thường đi trong bất
tịnh, như nữ-nhân thảy. Thân tâm nữ-nhân là bất-tịnh,
như cục phân bọc chất màu hay làm ô uế, như rắn độc
hay cắn hại. Lại tham dục này thường đi trong si, như trong
kinh nói: “Ví như chó gặm xương khô dính máu: vì nước
mồm thấm vào, nên tưởng cho là ngon. kẻ tham cũng như vậy,
với trong dục không ý vị, vì sức tà trái ngược nên cho
là hưởng vị”. Lại như khúc thịt thảy bảy thứ ví dụ.
Hoặc có người bảo với trong việc trong quá-khứ vị-lai
mà sinh tham dục nên vui ít khổ nhiều. Tại vì sao? Vì như
hưởng giàu sang thì ít, mà lúc tán hoại thì nhiều. Lại
kẻ ái dục là bởi vui nên chịu đủ các thứ khổ: nghĩa
là khi tìm cầu khổ, khi giữ gìn khổ, khi thọ dụng cũng
khổ luôn; như cấy lúa, buôn bán, chinh chiến, sĩ tiến thảy.
Khi tìm cầu là khổ. Khi giữ gìn lo sợ mất mát nên khổ,
hiện còn không nhàm nên khổ. Lại đoàn tụ vui yêu ít, chia
lìa khổ lắm nhiều. Cho nên biết tham dục có nhiều tội
lỗi. Lại như Phật nói ái dục có năm thứ tội lỗi: một
ý vị ít mà lỗi nhiều; hai các gút hừng thịnh; ba đến
chết không nhàm; bốn bị Thánh mắng bỏ, năm không ác nào
chẳng gây.
Lại
tham dục nầy thường khiến chúng-sinh thuận theo giòng sinh
tử, mà xa lìa Nê-Hoàn. Có các tội lỗi như thế nhiều vô-lượng.
Nên phải biết tham-dục là nhiều tội lỗi. Lại sinh các
phiền não đều bởi tham-dục, như tham thân nên khởi các
phiền não về thân. Lại chẳng nhổ gốc ái-sử thời thường
hằng bị khổ, như chẳng chặt cây độc-thọ thời thường
hại người. Lại tham năng khiến chúng-sinh mang gánh gánh nặng.
Lại trong kinh nói: “Tham ái là giây, như hai trâu đen trắng
tự chẳng buộc nhau, chỉ bởi giây buộc. Như vậy mắt chẳng
buộc sắc, sắc chẳng buộc mắt, tham-dục ở trong ấy buộc”.
Nếu cảnh duyên là buộc, thời không ai được giải thoát.
Lại trong kinh nói: “Chúng-sinh bị vô-minh che khuất và gút-ái
trói buộc, qua lại trong sinh tử không có ngằn mé”. Lại
trong kinh nói: “Tham dứt nên sắc dứt, cho đến Thức cũng
dứt”. Tham nầy nhờ quán vô thường thảy mới dứt được.
Dứt được tham-dục nầy thời tâm được giải thoát. Sắc
tham dứt thời không sắc; Không sắc thời khổ dứt, cho đến
Thức cũng như thế. Cho nên biết tham-dục là trói buộc bền
chắc hơn hết. Lại tham-dục nó ác như kẻ giặc mà chúng-sinh
chẳng thấy biết, lại tham-dục thường dạo đi bên trong
cửa, mềm-mại đẹp đẽ nên gọi là thâm-ác. Lại tâm chúng-sinh
ưa khởi tham-dục, cho đến loại muỗi, kiến cũng đều ở
trong uống ăn, dâm-dục mà khởi. Lại tham-dục nầy nhiều
thứ nhân-duyên năng buộc lòng người, nghĩa là cha mẹ, anh
em, chị em vợ con và của cải thảy. Lại chúng-sinh vì tham-dục
ăn uống, dâm-dục che tâm nên mới năng thọ sinh; nếu tham
muốn thiền-định thời sinh cõi trên. Lại tham-dục nầy năng
làm hòa-hiệp: tất cả sở-lạc của thế-gian đều khác nhau,
mà tham-dục làm hòa-hợp lại, in như cát được nước trộn
vào là dính nhau lại. Lại trong sinh tử lấy tham-ái làm khí-vị,
như nói “Trong sắc đắm vị”. Nghĩa là bởi sắc sinh: hoặc
mừng hoặc vui. Nếu không tham thời chẳng có khí-vị, chẳng
khí-vị thời có thể mau dứt sinh-tử. Lại tham-dục nầy
trái nhau với giải thoát. Tại vì sao? Vì chúng-sinh vì bởi
tham đắm dục-lạc, thiền-định lạc nên chẳng vui muốn
giải thoát. Lại tùy dứt được một phần tham, tức được
biến thành một phần vui, như nói: “Tùy chỗ lìa dục lần
lượt vui sâu sắc”. Lại nói: “Nếu muốn được các vui,
phải bỏ tất cả dục”. Bỏ tất cả dục nên được rốt
ráo thường vui. Nếu muốn được đại-lạc, phải bỏ rời
thiểu-lạc. bỏ rời thiểu lạc nên năng được vô-lượng
lạc. Lại nói “Kẻ trí không riêng có lời vui gì khác, bằng
lìa lòng tham-ái”. Tùy lòng lìa tham-ái thời diệt được
các khổ não. Lại tham-dục nầy làm hư thiện-pháp. Tại vì
sao? Vì kẻ nặng tham đắm thời chẳng đoái hoài giới-luật,
dòng-dõi, giáo-pháp, uy-nghi, danh-dự, chẳng lĩnh thụ lời
giáo-hóa, chẳng thấy sự suy hoạn, chẳng coi tội phước
ra gì, như cuống như say chẳng biết tốt xấu; cũng như kẻ
mù chẳng thấy phước lợi. Như nói “Tham-dục chẳng thấy
lợi; tham-dục chẳng biết phân-biệt phải trái, in như đui
mù vô-trí, vì chẳng diệt trừ tham-dục vậy”.
Lại
nói “tham dục là biển cả, không bờ cũng không đáy, sóng
mòi xoáy vận sâu, ác-trùng, quỉ La-sát; các hiểm nạn như
thế, không ai quá khỏi được; chỉ nương thuyền tịnh giới
nhờ sức gió chính kiến; Phật là vị đại thuyền sư, năng
chỉ dẫn đường chính, như nói mà tu hành, kẻ ấy mới qua
được”. Lại trong các phiền não không có tưởng nhớ phân
biệt khí vị nào bằng tham dục. Lại tham-dục này là khó
dứt, như trong kinh nói: Hai món muốn khó dứt: một muốn được;
hai muốn sống lâu”.
Hỏi:
Tham-dục có những lỗi như thế, làm sao biết được tướng
của kẻ tham dục?
Đáp:
Người nhiều tham-dục là ưa vui nữ sắc và hoa hương, chuỗi
anh lạc, ca nhạc, múa hát; thường đến nhà dâm nữ nhóm
họp, ăn uống; ưa tụ họp đông đảo và các đồ dụng cụ
múa giỡn; ưa đem lời ái ngữ, tâm thường vui mừng, sắc
diện tươi hòa, lẹ ý hỏi han, ngậm cười nói năng, khó
giận dễ vui, tâm nhiều lân mẫn, thân thể lanh lẹ, tính
tình tháo vát, tự chấp chặt bản ngã. Những tướng như
thế gọi là tướng nhiều tham-dục. Tướng nầy cùng với
tính trói buộc đều thuận nhau, vậy nên khó dứt. Lại tất
cả tham-dục rốt ráo đều khổ. Tại vì sao? Vì những việc
tham ái được kia chắc chắn phải ly tán tất có buồn khổ,
như nói “Người Trời đều vui sắc, tham sắc, ưa sắc, đắm
sắc; khi sắc nầy hoại thời tâm ăn năn buồn rầu. Thọ,
tưởng, hành, thức cũng như thế cả”. Lại trong các kinh
Phật nói nhiều ví dụ để quở tham dục nầy nghĩa là: nặng
hại huệ mạng, nên nói là độc; ở tâm thời xốn nên gọi
là gai; năng dứt căn lành nên gọi là dao; năng đốt thân
tâm nên gọi là lửa; năng sinh các khổ nên gọi là oán; từ
trong tâm sinh ra nên gọi là giặc bên trong; vì khỏ nhổ nên
gọi là rễ sâu; năng nhớp danh dự gọi là đất bùn; ngăn
trở đường lành gọi là vật chướng ngại; đâm vào bên
trong đau nhức nên gọi là tên đâm tim; sinh nảy các ác nên
gọi là rễ chẳng lành; chẩy rót vào biển sinh tử nên gọi
là sông; trộm cướp của lành nên gọi là tặc. Tham-dục
có những tội lỗi như thế nhiều vị-lai. Vậy nên cần phải
dứt.
PHẨM
ĐOẠN THAM THỨ 125
Hỏi:
Tham-dục có những lỗi như vậy sẽ làm sao dứt?
Đáp
Lấy bất-tịnh quán thảy mà ngăn, vô thường quán thảy mà
dứt.
Hỏi:
Có người giác tỉnh vô thường nên càng tăng tham dục, việc
ấy làm sao?
Đáp:
Nếu người năng biết tất cả vô thường thời không tham-dục,
Như trong kinh nói: “Khéo tu tưởng vô thường nên có thể
phá hoại được tất cả tham dục. tham sắc, tham vô sắc,
tất cả hí-trạo, kiêu-mạn và vô-minh”. Lại nếu người
năng thấy thế-gian e đều khổ, khổ bởi nhân-duyên tham,
thời tham nầy dứt. Lại nếu người thường nghĩ: ta chắc
phải chịu khổ sinh-lão-bệnh-tử, thời tham nầy dứt. Lại
như được tịnh-lạc thời bỏ lạc bất-tịnh, như được
sơ-thiền thời bỏ dục-ái. Lại thấy lỗi của tham-dục
là năng dứt được. Lỗi như trước đã nói. Lại vì đa
văn thảy trí-huệ tăng trưởng nên năng dứt tham-dục vì
tính trí-huệ phá phiền não vậy. Lại nhờ nhân-duyên lành
đầy đủ, thời tham-dục dứt, nghĩa là tịnh trì-giới thảy,
và mười một nón Định-cụ, trong Đạo Đế sau sẽ nói.
Lại sắc-trí thảy, pháp-trí thảy ác phương tiện. Đức
Phật là Vị Đại-y, các bạn đồmg học là những kẻ sai
khiến chính-pháp là thuốc, tự như nói mà làm cho đúng, thời
bệnh tham-dục dứt:như có người biết bệnh và ba việc ấy
đầy đủ là bệnh lành tức thì.
Hỏi:
Như trong kinh nói dùng bất-tịnh quán để trừ tham dục. Tại
sao nói bất-tịnh thảy và vô thường thảy?
Đáp:
Tất cả Phật-pháp đều vì phá các phiền não. Nhưng đều
có thắng-lực riêng: trước tiên dùng bất-tịnh quán để
ngăn tham-dục, sau mới lấy vô thường mà dứt. Lại bất-tịnh
để trừ thô-tham-dục, đấy được nhiều người biết chứ
tham-sử vi-tế nên phải nhờ vô thường mới dứt được.
Lại chỉ trong một kinh đó nói như thế, chứ trong các kinh
khác cũng nói các pháp khác cũng năng dứt. Nhân-duyên như
thế thời tham-dục dứt.
PHẨM
SÂN NHUẾ THỨ 126
Luận-giả
nói tướng giận dữ là: Như giận người nầy muốn khiến
nó diệt mất, nhờ khiến kẻ khác trói đánh giết hại, nhất
quyết từ bỏ hẳn chẳng muốn thấy. Giận này gọi là ba-la-đề-già
Dịch là giận hạng nặng. Có thứ giận chỉ muốn đánh đập
người khác gọi là vi-hân-bà: Dịch là giận hạng trung. Có
thứ giận chẳng muốn bỏ rời như bởi ghét, yêu vợ con
mà sinh, gọi là câu-lự-đà; Dịch là giận hạng nhẹ. Có
thứ giận thường ngấm dơ tâm, gọi là ma-xoa: Dịch là chẳng
trả thù. Có thứ giận ở mãi nơi tâm chẳng bỏ, cần muốn
trả thù, gọi là: ưu-bà-na-ha; Dịch là trả thù. Có thứ
giận gấp chấp một việc nhiều lời khuyên nhủ quyết chẳng
muốn bỏ, như sư tử muốn qua sông, nhắm lấy tướng bên
kia bờ, cho đến chết chẳng lui, gọi là ba-la-đà-xá: Dịch
là chấp-chặt. Có thứ giận thấy người ta đắc lợi, tâm
sinh ganh ghét, gọi là y-sa. Có thứ giận thường ưa giành
kiện, tâm khẩu cương cường, gọi là tam-lam-ba: dịch là
giận giành. Có thứ giận, hoặc sư-trưởng dạy dỗ mà nghịch
chống lại, gọi là đầu-hòa-già: Dịch là trái chống. Có
thứ giận như được việc chút ít chẳng vừa lòng thời
tâm sinh bối rối tác hại, gọi là a-sằn-đề: Dịch là chẳng
nhịn. Có thứ giận nói lời chẳng mềm mại thường hay nhăn-nhó
chẳng hay hòa sắc mặt, nói năng cướp ý trước, gọi là
a-bà-cật-lược: Dịch là chẳng vui lòng. Có thứ giận đối
với kẻ đồng-trụ thường hay mắng chửi, gọi là a-tảo-la-triêm:
Dịch là chẳng thuận hòa. Có thứ giận dùng thân-khẩu-ý
xúc não kẻ đồng-học, gọi là thắng kỳ: Dịch là xúc hại.
Có thứ giận thường hay bẳn hẳn và chê bai sự vật, gọi
là đăng-đơn-na-tha: dịch là khó tính. Hai thứ giận này,
hoặc nhân chúng-sinh hoặc chẳng nhân chúng-sinh: Nhân chúng-sinh
gọi là trọng tội. Lại có thượng, trung, hạ chia riêng chín
phẩm. Lại nhân chín món phiền não chia riêng làm chín. Vô
sự nổi giận ngang ấy là thứ mười.
Hỏi:
Giận nầy làm sao sinh được?
Đáp:
Từ việc chẳng vừa ý khổ-não mà sinh. Lại vì chẳng năng
chính biết tính khổ-thọ nên sinh giận dữ. Hoặc từ quở
mắng roi đánh thảy mà sinh. Hoặc đồng sự với người ác
mà sinh giận dữ, như hàng thịt, thợ săn thảy. Hoặc vì
nhờ trí-lực yếu ớt nên sinh giận dữ như cành nhánh cây
bị gió làm lay. Hoặc nhóm giận dữ cho đến nỗi thành tính
thời sinh giận dữ.. Hoặc từ trong dòng hàng thịt, thợ săn
và loài rắn độc mà lai sinh làm người thời sinh giận dữ.
Hoặc ưa nhớ lỗi của kẻ khác nên sinh giận dữ, như trong
chín thứ não đã nói. Hoặc tùy thời tiết nên sinh giận
dữ, như đến khi người chỉ còn mười tuổi thảy. Hoặc
bởi loài giống nên sinh giận dữ, như loài rắn độc thảy.
Hoặc bởi địa phương nên sinh giận dữ, như nước khương
cù thảy. Lại như trước đã nói nhân duyên sinh tham, cùng
với tham trái nhau thời sinh giận dữ. Lại chấp ngã-tâm kiêu-mạn
hừng thịnh và say sưa tài vật, các nhân-duyên như thế thảy,
thời sinh giận dữ.
Hỏi:
Giận nầy có những tội lỗi gì?
Đáp:
Trong kinh nói giận là tội nặng nhất. Vì đối với tham dục
nên gọi là dễ nguôi. Mà thật là khó gỡ, chỉ chẳng bằng
tham lâu theo bám nơi tâm. Lại giận làm hại hai mặt: trước
đốt hại nơi mình, sau mới đốt hại nơi người. Lại giận
quyết định là địa ngục, vì do giận khởi nghiệp đa phần
đọa địa ngục vậy. Lại giận năng phá hoại phước lành,
nghĩ là thí-giới nhẫn ba pháp nầy đều do lòng Từ thảy
mà sinh; giận cùng với lòng Từ trái nhau nên gọi là năng
phá hoại, lại do giận khởi nghiệp đều bị tiếng xấu.
Lại do giận khởi nghiệp về sau tâm phải ăn năn. Lại kẻ
hay giận hờn, không có lòng lân mẫn, nên mang danh là kẻ
hung bạo, vì chúng-sinh đã thường khổ mà lại gia-hại vì
giận, như ghẻ như lửa. Lại trong kinh tự nói lỗi của giận
là kẻ nhiều giận hình sắc xấu xí, khi nằm ngủ, khi thức
dậy chẳng yên vì tâm thường sợ hãi; bị người khác chẳng
tin thảy.
Hỏi:
Người nhiều giận dữ có những tướng ra sao?
Đáp:
Tâm khẩu cương cường thường chẳng vui vẻ, mặt mày nhăn
nhó, điệu sắc chẳng hòa, khó mà gần gũi dễ nổi xung khó
giải khuây, thường hay giận hờn ngầm, ưa những cãi cọ;
hay sửa sang binh khí, kết bè đảng với bạn ác; lại ganh
ghét người lành; là con người thô kệch chẳng suy nghĩ kỹ,
ít khi biết hổ trẽn. Có những điều như thế gọi là tướng
giận dữ. Các tướng nầy đều vì ganh ghét kẻ khác mà sinh,
vậy nên cần phải dứt.
Hỏi:
Phải làm thế nào mà dứt?
Đáp;
Phải thường tu Từ-Bi Hỷ-Xả thời giận dữ dứt. Lại phải
thấy tội lỗi của giận dữ thời mới dứt được. Lại
được chân trí thời giận dữ dứt. Lại phải nhờ sức
nhẫn nhục là giận dữ mới dứt được.
Hỏi:
Sao gọi là sức nhẫn?
Đáp:
Nếu có thể nhẫn các khổ quở mắng do kẻ khác là người
nầy được phước báo, pháp lành, cũng chẳng nên bởi chẳng
nhẫn mà sinh hung ác. Đấy gọi là sức nhẫn nhục. Lại kẻ
tu nhẫn gọi là Sa-Môn, vì nhẫn nhục là cửa đầu tiên vào
Đạo vậy. Pháp Sa-Môn là: xung chẳng trả xung; mắng chẳng
trả mắng; đánh chẳng đánh lại. Lại như Tỳ-kheo năng nhẫn
thời đúng với pháp xuất gia. Lại kẻ giận dữ chẳng phải
phép xuất gia. Phép xuất gia là nhẫn nhục mới phải. Lại
nếu Tỳ-kheo hình mặc khác tục mà tâm còn giận dữ, thời
đồng với thó phi sở nghi. Lại như kẻ tu nhẫn nhục thế
là đã đủ công đức Từ-bi. Lại kẻ tu nhẫn nhục năng
thành tự lợi. Tại vì sao? Vì những kẻ giận dữ muốn não
hại người, mà chính là tự hại: đem hết thân khẩu để
gia ác cho người, mà tự mình đã bị ác quá hơn trăm ngàn.
Nên biết giận là tự tổn hại nặng nhất. Vậy nên kẻ
trí muốn khiến mình, người đều được khỏi đại-khổ
và đại tội, cần phải tu nhẫn nhục.
Hỏi:
Làm sao năng nhẫn nổi những khổ quở trách mắng chửi?
Đáp:
Nếu người khéo tu vô thường rõ thấu các pháp niệm niệm
sinh diệt; kẻ mắng, kẻ bị mắng đều diệt từng niệm,
trong ấy có chỗ nào đáng sinh giận dữ? Lại khéo tu không
tâm mới có thể nhẫn-nhục được. Nên nghĩ như vầy: Các
pháp “thật không” ai là kẻ mắng? ai là kẻ bị mắng?
Lại sự việc nếu thật, thời nên nhẫn-nhục: vì ta thật
có lỗi, tiền nhân kia thật lời. Thế sao giận được? Nếu
sự chẳng thật, thời kẻ kia tự phải bị quả báo vọng
ngữ, ta dính gì mà giận? Lại nếu nghe mắng ác, phải nghĩ
như vầy: tất cả thế gian đều theo nghiệp chịu báo, ta
xưa chắc đã gây nghiệp nhân mắng này, nay nên đền trả.
Làm sao giận được? Lại nếu nghe mắng ác , tự phải xét
lỗi mình: Do nghiệp thọ thân thân là đồ đựng khổ, nên
phải chịu mắng. Lại kẻ tu nhẫn-nhục nên suy nghĩ như vầy:
“Muôn vật đều do nhiều nhân duyên sinh; khổ mắng ác nầy,
là do nhĩ thức, ý thức và tiếng tăm thảy mà sinh. Ta với
trong ấy tự có hai phần, kẻ kia duy có tiếng tăm, vậy thời
tội ta nhiều hơn. Tại sao mà giận? Và vì ta với tiếng tăm
nầy chấp lấy tướng phân biệt, nên sinh phiền não tức
là ta lỗi”. Lại kẻ nhẫn nhục chẳng nên bắt lỗi kẻ
khác. Tại vì sao? Vì tội tham sân si nầy chẳng phải lỗi
của chúng-sinh mà do tâm chúng-sinh bệnh phát sinh ra vậy, nên
chẳng được tự tại, như thầy chữa quỷ, chữa kẻ mắc
quỷ, chỉ nên giận quỷ mà chẳng nên giận bệnh-nhân. Lại
người nầy vì siêng tu tinh tấn ham nhóm pháp lành nên chẳng
chấp lời kẻ khác. Lại nghĩ nhớ các Đức Phật, các Hiền-Thánh
hãy chẳng khỏi bị mắng: như xảo-ma Bà-la-môn thảy mắng
Phật nhiều điều; như Xá-Lợi-Phất thảy bị Bà-la-môn gia
hạicác thứ hủy-nhục, huống chi chúng ta là hạng người
bạc phước ư? Lại nghĩ như thế này: Thế gian nhiều ác
mà chẳng cướp được mạng ta đã là rất may huống chi đánh
mắng? Lại nghĩ thế nầy: các thứ mắng ác nầy với ta không
khổ dễ nên nhẫn chịu. Như Phật dạy Tỳ-kheo dẫu cho cưa
sắt xẻ mình, cũng nên nhẫn chịu, huống chi mắng chửi thời
chứng nghiệm rõ ràng, càng thêm nhàm lìa, bỏi ác tu thiện.
Lại người này phải biết chẳng nhẫn-nhục sau chịu khổ
báo, mới nghĩ như vầy: thà chịu khinh mắng, khỏi đọa địa
ngục. Lại người này nặng ôm lòng hổ-trẽn. Ta là kẻ đại
nhân đệ tử Đức Thế Tôn, là kẻ tu Đạo làm sao mà khởi
thân khẩu là nghiệp chẳng đáng khởi ư? Lại được nghe
Bồ-tát tu nhẫn nhục và Đế-Thích thảy mà được quả nhẫn-lực.
Vậy nên phải tu nhẫn.
PHẨM
VÔ MINH THỨ 127
Luận
giả nói chạy theo giả-danh gọi là vô-minh. Như nói phàm phu
theo tiếng tăm Ngã. Trong ấy thật không có Ngã và ngã-sở,
chỉ các pháp hòa hiệp giả gọi là Người; phàm phu chẳng
phân biệt được nên sinh ngã-tâm. Ngã-tâm sinh tức là vô-minh.
Hỏi:
Trong kinh Phật nói chẳng biết đời quá-khứ thảy gọi là
vô-minh. Tại sao chỉ nói ngã-tâm ấy?
Đáp:
Với trong quá-khứ nầy thảy vì nhiều người sai lầm, nên
mới nói trong ấy chẳng biết gọi là vô-minh. Lại trong kinh
giải thích nghĩa Minh là có chỗ hiểu biết mới gọi là minh.
Biết những pháp gì? Là sắc ấm vô thường, như thật nói
biết vô thường. Thọ, tưởng, hành thức các ấm vô thường,
như thật biết vô thường. Cùng với Minh trái nhau gọi là
vô-minh. Vậy thời bất minh “như thật” nên gọi vô-minh.
Hỏi:
Nếu bất-minh như thật gọi vô-minh ấy. Gỗ đá thảy các
pháp lẽ phải gọi vô-minh? Vì bất minh như-thật vậy.
Đáp:
Chẳng phải vậy. Gỗ đá vô-tâm chẳng phân-biệt được
đời quá-khứ thảy, vì vô-minh phân-biệt được nên chẳng
đồng gỗ đá.
Hỏi:
Vô-minh gọi là vô pháp, như người mắt chẳng thấy sắc
không có pháp chẳng thấy. Vậy nên chỉ Minh không có, nên
gọi là vô-minh, chứ không có pháp riêng vậy?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Nếu không có vô-minh thời đối trong năm
ấm vọng chấp có người, và trong ngói đá sinh tưởng là
vàng bạc ấy, là gọi thứ gì? Vậy nên phải biết tính tà
phân-biệt gọi là vô-minh, chứ chẳng phải vì mình không
có mà gọi là vô-minh vậy. Lại từ vô-minh nhân-duyên mới
có các hành thảy nối nhau mà sinh; nếu là vô pháp thời làm
sao sinh được!
Hỏi:
Nếu chẳng phải minh gọi là vô-minh ấy. Nay chỉ trừ minh,
tất cả các pháp đều là vô-minh. Vậy nên chẳng vì một
pháp gọi là vô-minh?
Đáp:
Vô-minh nầy là nói trong tự tướng, chứ chẳng nói các pháp.
Như nói bất thiện tức là nói thể bất thiện, chức chẳng
nói vô ký. Vô-minh cũng vậy. Tuy mang hình người, mà không
có đức hạnh người, nên mới gọi chẳng phải người. Như
vậy minh nầy tuy có phân-biệt mà chẳng năng thật biết nên
mới gọi vô-minh. Gỗ đá chẳng phải vậy.
Hỏi:
Nếu nói vô-sắc, vô đối, vô-lậu, vô-vị đều là các lối
nói, tại sao vô-minh chẳng phải như thế?
Đáp:
Hoặc có lý nầy, nhưng trong bất thiện thảy thời chẳng
như vậy.
Hỏi:
Có người nói chỉ bởi minh không có nên gọi vô-minh, như
trong nhà không ánh sáng nên gọi là tối?
Đáp:
Thế-gian có hai lối nói: Hoặc sáng không có nên nói là không
sáng; hoặc sáng bậy cũng nói là không sáng. Sáng không có
nên nói là không sáng ấy: Như thế gian nói mù chẳng thấy
sắc, điếc chẳng nghe tiếng. Sáng bậy cũng nói là không
sáng ấy: Như đêm thấy cây trụi sinh tưởng người; thấy
người tưởng là cây trụi Lại người chẳng năng thật biết
được như vậy nên gọi là chẳng biết. Lại tà-tâm gọi
là phiền não; các hành nghiệp nhân-duyên nầy vì A-La-Hán
đã dứt nên không có vô-minh làm nhân-duyên cho các hành. Nếu
chẳng phải minh gọi vô-minh ấy. Nay A-La-Hán không minh trong
Phật pháp, lẽ phải gọi vô-minh? Nếu có vô-minh thời chẳng
phải A-La-Hán. Nên phải biết riêng có thể tính vô-minh tức
là tà tâm vậy. Tà-tâm nầy là vô-minh phân ra tất cả phiền
não. Tại vì sao? Vì tất cả phiền não đều là tà-hành vậy.
Lại tất cả phiền não che khuất tâm người, đều là đui
mù. Như nói tham-dục chẳng thấy pháp tham-dục chẳng thấy
phước. Kẻ nang thọ tham nầy đều gọi là đui mù. Sân si
cũng như vậy. Lại từ tất cả phiền não sinh các hành-nghiệp,
nên trong kinh nói từ vô-minh sinh hành. Nên biết tất cả phiền
não đều là vô-minh. Lại kẻ chẳng thấy “không” thường
có vô-minh, vì bẩn vô-minh là nhân-duyên các hành. Lại vì
tà-minh nên nói vô-minh. Kẻ thưa thấy “không” thường là
tà-minh. Nên biết vô-minh phân ra tất cả phiền não.
Hỏi:
Làm sao sinh vô-minh?
Đáp:
Nếu nghe, nghĩ tà-nhân thời sinh vô-minh, như cho có đà-la-phiêu,
có hữu-phần-giả, có tinh-thần, các pháp niệm niệm chẳng
diệt, không có thân đời sau, tiếng tăm và Thần là thường,
cỏ cây thảy có tâm; rồi muốn thành lập những tà-chấp
như thế, thời sinh vô-minh. Hoặc do tà-nhân nên sinh vô-minh
là: gần-gũi bạn tà-ác, chăm nghe tà pháp, rồi nghĩ tà và
làm tà. Vì bốn tà-nhân ấy nên sinh vô-minh. Lại nhân-duyên
sinh các phiền não khác, đều là nhân sinh vô-minh. Lại do
nhân vô-minh nên sinh vô-minh, như từ bắp sinh bắp, từ lúa
sinh lúa. Như thế từ chấp của chúng-sinh, thời sinh vô-minh.
Lại trong kinh nói: “Từ tà niệm nhân-duyên mà sinh vô-minh”.
Tà niệm tức là biệt danh của vô-minh, nghĩa là thấy có
người, trước tâm sinh người, sau nghĩ rõ ràng, nên gọi
là vô-minh; hai trước sau nầy giúp nhau sinh nhau, như từ cây
sinh trái, từ trái lại sinh cây.
Hỏi:
Vô-minh có những lỗi gì?
Đáp:
Tất cả suy-não đều bởi vô-minh. Tại vì sao? Vì từ vô-minh
sinh tham thảy các phiền não; từ phiền não khởi nghiệp bất
thiện; từ nghiệp mới thọ thân. Nhân-duyên thọ thân, mới
bị các thức suy-não. Như trong kinh nói: “Vô-minh che khuất
gút-ái trói buộc, chịu các hữu-thân”. Lại trong kinh Sư
tử hẩu nói:”Các lấy, đều do vô-minh làm gốc”. Lại
nói kệ”
Có
bao chỗ tội ác
Đời
nay hoặc đời sau,
Đều
vô-minh làm gốc,
Nên
từ tham dụ khởi
Tất
cả lỗi phiền não
Đều
bởi vô-minh có,
Vì
từ vô-minh sinh
Tất
cả phiền não vậy.
Lại
phàm phu vì vô-minh nên chịu thân ngũ-ấm nầy là: Bất-tịnh,
vô thường, khổ, không, vô ngã; kẻ Trí có đâu chịu các
khổ này! Lại vì nhờ chính-tư-duy nên năng xả ngũ-ấm, như
trong kinh nói: “Nếu biết ngã tâm là tà điên-đảo, thời
chẳng còn điên-đảo, thời chẳng còn sinh”. Nên biết bởi
vô-minh nhân-duyên nên bị trói buộc. Minh nhân-duyên nên được
giải thoát. Lại thế gian chúng-sinh vì vô-minh nên tham cầu
chút khí vị mà chẳng thấy nhiều tội lỗi, như phù du tự
gieo mình vào lửa, như cá nuốt mồi câu. Chúng-sinh cũng vậy,
hiện tham chút khí-vị mà chẳng đoái nhiều tội lỗi ngày
mai. Lại kinh điển ngoại đạo đã sinh tà kiến nói không
có tội phước thảy, đều là vô-minh. Lại các kiến khởi
nghiệp phần nhiều đọa địa ngục; tà-kiến đều bởi vô-minh
mà sinh. Lại Đức Phật là đấng Thế-Tôn, là bậc Nhất-Thiết-Trí
là vị Đại-sư ba cõi, là kẻ Chân-Tịnh tu hành và các Thánh
Đệ-Tử thảy. Mà các bọn ngoại đạo chẳng phân-biệt được,
như viên ngọc châu bảo bị đứa mù bỏ-xa. Đấy đều là
lỗi vô-minh vậy. Lại tất cả chúng-sinh có bao việc suy-não
bại hoại thảy, đều bởi vô-minh; có tất cả lợi ích thành
tựu tăng trưởng đều nhờ minh-mẫn. Nếu tăng trưởng vô-minh
rốt ráo quyết đạo a-tì địa ngục. Như kiếp sơ con người
chẳng biết khí vị là hư vọng, mới sinh tham-đắm, nên mất
sắc-lực thọ mạng các thọ mạng các việc tốt thảy. Nên
phải biết đều bởi vô-minh mà bỏ mất các điều lợi.
Lại vô-minh nầy duy chân trí mới dứt được, chứ tham thảy
bất lực. Lại trong tâm tham không có tham, mà vô-minh có mặt
trong tất cả tâm; và những người chẳng tu huệ là vô-minh
thường ở trong tâm. Lại trong các phiền não vô-minh rất
mạnh, như trong kinh nói vô-minh tội nặng cũng khó giải trừ.
Lại
vô-minh là cội rễ của mười hai Nhân-duyên, nếu không có
vô-minh thời các nghiệp chẳng nhóm chẳng thành. Tại vì sao
biết được. Các vị A-La-Hán không có tướng chúng-sinh, vì
không vô-minh nên các nghiệp chẳng năng nhóm thành. Nghiệp
chẳng nhóm nên Thức thảy các chi phần chẳng sinh lại được.
Nên mới biết vô-minh là gốc của các khổ. Lại hiện thấy
tham đắm thân bất-tịnh nầy cũng đối với trong vô thường
sinh tưởng là thường, in như nắm tay không để đối trẻ
nít; cũng như huyễn sư năng hiện trò huyễn để gạt người
khiến họ thấy đất là vàng. Lại người tục nói: đứa
ngu hiện có thể gia thêm tội mà cũng có thể dùng lời nói
gạt. Thế-gian cũng vậy, mắt thấy bất tịnh mà để cho
nó bị gạt. Lại các tâm pháp niệm niệm diệt hết, vì lấy
tướng nên mới sinh. Sắc diệt hết rồi, vì si nên lấy tướng:
với trong Thanh thẩy cũng lại như vậy. Vậy nên khó mà giải
trừ. Đấy là lỗi vô-minh.
Hỏi:
Người nhiều vô-minh có những tướng gì?
Đáp:
Người nầy với chỗ đáng sợ chẳng sợ, chỗ đáng vui chẳng
vui; ganh ghét người lành, ưa vui kẻ ác; ngược lấy ý người,
thường ưa chống trái, chấp cứng việc bậy, thiếu lòng
hổ trẽn, chẳng kể hiềm nghi; chẳng hay vui người, mình
cũng khó vui, chẳng hay gần ai, ai cũng khó gần; ngu hãi không
hiểu, ưa mặc áp nhớp, ưa vào chỗ tối, và chỗ bất tịnh;
tự cao tự đại, hay khinh dễ người chẳng cần đạo lý,
tự khoe công đức; lỗi chẳng biết lỗi, lợi chẳng biết
lợi; chẳng ưa sạch sẽ, cũng chẳng uy nghi; vụng về nói
năng, thường hay hờn giận hờn; lấy trộm pháp người, mà
sâu tham đắm; học tụng khó đắc, đắc rồi dễ mất; dẫu
có sở đắc, chẳng giải nghĩa nổi; dẫu có giải nghĩa,
thời giải bậy bạ. Những tướng như thế đều bởi vô-minh.
Nên biết vô-minh có vô lượng tội lỗi, vậy nên phải dứt.
Hỏi:
Làm sao dứt được?
Đáp:
Khéo tu chân trí thời nó dứt mất.
Hỏi:
Biết ấm giới thảy cũng gọi là chân trí. Tại sao trong kinh
nói thuốc vô-minh là, hoặc nhân-duyên, hoặc quán nhân-duyên?
Đáp:
Các bọn ngoại đạo đối với nhân trong sự vật hiểu lầm;
vì hiểu lầm trong nhân, nên nói Trời Tự-Tại thảy tạo
ra thế-gian. Vì lầm nhân trong sự vật, nên mới nói có đà-la-phiêu
có hữu phần thảy. Quán pháp nhân-duyên, thời hay sai lầm
nầy dứt.
Hỏi:
Nhân duyên gọi là thuốc trị vô-minh. Tại sao nói hai thứ?
Đáp:
Vì muốn thu nhiếp hết các trí. Nếu quán ấm, giới, nhập
thảy cũng phá được vô-minh. Nhưng nặng nhất là vô-minh
nên gọi tà-kiến. Tà-kiến nhờ nhân-duyên mới dứt, nên
nói hai thứ. Tham san cũng như thế. Lại thế-gian đối với
danh-tự trong bình thảy sai lầm: như nghe tên cái bình thời
sinh nghi: Tức sắc thảy là bình hay là rời sắc thảy lại
riêng có bình? Như vậy nghi tức ngũ ấm là người hay rời
ngũ ấm lại riêng có người? Nếu tâm quyết định thời
đọa hai bên nghĩ là Đoạn và Thường. Thân tức là Thần,
hay thân khác Thần khác cũng như vậy. Nếu người biết bình
do các duyên sinh, nhân sắc, hương, vị, xúc mà thành. Như
vậy sắc thảy các ấm là người; có thể hiểu như thế
thời năng bỏ lìa “bởi danh-tự sinh ngu si” Danh tự nầy
năng che khuất thật nghĩa các pháp, như trong kinh Thiên-Văn
nói: “Danh thắng tất cả pháp, không có gì hơn được”.
Do một pháp danh tự nầy tất cả các pháp đều tùy theo.
Lại nói: “Thấy thế-gian Tập thời dứt được chấp không
thấy thế-gian Diệt thời dứt được chấp có”. Lại nói:
“Vì các hành nối nhau luôn nên mới nối ngũ-ấm sinh tử”.
Đấy đều là tội lỗi vô-minh, quán Nhân-duyên thời dứt.
Lại trong kinh nói “Nếu người thấy Nhân-duyên là người
ấy tức đã thấy pháp”. Nếu thấy Pháp tức là thấy Phật.
Như vậy nếu người năng dứt do-danh sinh-si, là người này
mới thật thấy Phật, chẳng theo ai học. Vậy nên phải nhờ
chính-trí thời hết vô-minh. Vì chính nhờ biết pháp nhân-duyên
nên mới năng được chính-trí. Lại được nói tám muôn bốn
ngàn trong pháp-tạng có bao nhiêu trí-huệ đều để diệt
trừ vô-minh vì vô-minh làm cội rễ tất cả phiền não và
giúp cho tất cả phiền não. Nhân-duyên như vậy thời dứt
được vô-minh.
PHẨM
KIÊU-MẠN THỨ 128
Hỏi:
Đã nói ba phiền não là cội rễ sinh tử. Lại còn có gì
nữa không?
Đáp:
Có. Gọi là khinh-mạn.
Hỏi:
Khinh-mạn là thế nào?
Đáp:
Do tà-tâm tự cao gọi là mạn. Mạn nầy có nhiều thứ: như
mình ở bực thấp mà tự cao thì gọi là mạn. Ở bực ngang
mà chấp bực ngang cũng gọi là mạn, vì trong ấy chấp tướng
tà tâm ta hơn vậy. Ở ngang hàng mà tự cho cao hơn gọi là
đại-mạn. Ở bực hơn mà tự-cao gọi là mạn mạn. Đối
với trong ngũ-ấm chấp lấy ngã-tướng, gọi là ngã-mạng.
Ngã-mạn có hai thứ: thị-hiện tướng và bất thị-hiện
tướng. Thị hiện tướng là ngã-mạn của phàm phu: nghĩa
là chấp sắc là ngã; hay chấp hữu-sắc là ngã; chấp sắc
trong ngã; chấp ngã trong sắc. Cho đến Thức cũng như vậy.
Vì hiện ra hai mươi phần nầy nên gọi là thị-hiện tướng.
Bất thị-hiện-tướng là; Kẻ học-nhân ngã-mạn, như trưởng-lão
Sai-Ma-Già nói: “Chẳng nói sắc là ngã, chẳng nói thọ, tưởng,
hành, thức là ngã; chỉ trong ngũ-ấm có: ngã-mạn, ngã-dục,
ngã-sử”. Chưa dứt hết gọi là ngã-mạn. Nếu chưa được
các quả công-đức Tu-Đà-Hoàn thảy, mà tự cho là đã được,
gọi là Tăng-thượng-mạn.
Hỏi:
Tăng-thượng-mạn có những lỗi gì?
Đáp:
Về sau sẽ lo buồn. Như trong kinh nói: “Nếu Tỳ-kheo nói
ta dứt nghi được Đạo, liền phải hiện tiền thuyết nhân-duyên
thẳm sâu và pháp xuất thế-gian. Nếu Tỳ-kheo này thật chẳng
được Đạo, khi nghe pháp ấy thời sinh hối não”. Vậy nên
phải siêng dứt tăng-thượng-mạn này. Lại người tăng-thượng-mạn,
các Đức Phật Thế-Tôn có tâm Đại Từ-Bi hãy còn bỏ xa
chẳng vì nói pháp. Vậy nên phải dứt. Lại người tăng-thượng-mạn,
vì trụ ở trong pháp tà kiến, nên không có thật công-đức,
in như kẻ buôn ngọc đi sâu vào trong biển-cả, mà tham thứ
ngọc giả ngụy châu. Người nầy cũng vậy, vào trong biển
cả Phật pháp, được chút vui Thiền, bảo là chân Đạo mà
sinh tham đắm. Lại người tăng-thượng-mạn, khi về tuổi
già sắp chết chẳng kham thọ Đạo. Nên phải siêng cầu chân
thật trí-huệ. Lại người tăng-thượng-mạn tự mất lợi
ích mà tăng thêm ngu si, vì thật chưa được mà tưởng cho
là được vậy. Vì vậy mà chẳng nên tự dối gạt lấy mình,
phải xa tránh bỏ lìa. Nếu người đại-thắng mà cho là chẳng
bằng chút, gọi là bất như mạn. Người này tự cao và tự
hạ mình xuống. Nếu người không đức mà tự-cao gọi là
tà-mạn. Lại lấy ác pháp tự cao cũng gọi tà-mạn. Nếu
đối với người lành và bực đáng trọng, mà chẳng chịu
lễ-kính gọi là ngạo mạn. Những tướng như thế gọi là
kiêu-mạn.
Hỏi:
Làm sao sinh mạn?
Đáp:
Vì chẳng biết thật tướng các ấm và sinh kiêu mạn. Như
trong kinh nói: “Nếu người dùng vô thường sắc và tự nghĩ:
Là thượng, là trung, là hạ?” Chính vì người ấy chẳng
biết như thật tướng vậy – Cho nên Thức cũng như thế.
Nếu biết ấm tướng thời không kiêu mạn, như trâu ỷ đôi
sừng nên sinh bạo mạn, nếu trừ đôi sừng thời chẳng còn
gì mà bạo. Thân là bất tịnh, chín lỗ chảy nhớp, có đâu
kẻ Trí ỷ đó mà tự cao! Nhờ những nhân-duyên niệm thân
như vậy, thời không kiêu mạn. Lại kẻ Trí biết tất cả
chúng-sinh hoặc nghèo hoặc giàu, hoặc sang hoặc hèn, đều
lấy xương thịt gân mạch, năm tạng, phấn uế họp lại
mà thành thân; đều có sinh-lão-bịnh-tử buồn rầu khổ não;
cũng có tham sân thảy các phiền não, tội phước thẩy các
nghiệp, và địa ngục thảy các phần ác-đạo. Làm sao mà
khởi kiêu mạn. Lại thấy nội ngoại tâm do nhân nguyên sinh,
đều niệm niệm diệt, thời không kiêu mạn. Tại vì sao?
Vì chạy theo tướng nên sinh kiêu mạn, nếu không có tướng
khởi mạn chỗ nào? Lại kẻ trí huệ, như thật có giới
các công-đức, thời chẳng sinh mạn. Tại vì sao? Vì giới
thảy các công đức đều vì để làm tiêu hết các phiền
não nầy vậy. Nếu không công đức, có đâu kẻ-trí, với
trong việc không có, mà khởi kiêu mạn. Lại quán tướng vô
thường thảy thời diệt kiêu mạn. Có đâu kẻ trí, lấy
vật vô thường khổ, bất tịnh mà sinh kiêu-mạn?
Hỏi:
Kiêu-mạn có những lỗi gì?
Đáp:
Từ kiêu-mạn có thân, từ thân sinh tất cả khổ. Như trong
kinh Phật nói: “Nếu đệ-tử Ta kẻ nào chẳng năng như-thật
biết tướng kiêu mạn, thời Ta thọ-ký cho sẽ sinh về chỗ
nào đó, vì còn thừa kiêu mạn chẳng dứt vậy”. Lại tất
cả phiền não đều tùy theo mà lấy tướng ngã là tướng
lớn nhất trong các tướng. Nên biết là từ mạn có thân.
Lại kiêu-mạn tức là si-phần. Tại vì sao? Vì mắt thấy
sắc bảo là ta năng thấy. Lại kiêu-mạn nầy sinh chẳng cần
đạo-lý. Tại vì sao? Vì tất cả thế-gian đều vô thường,
khổ, vô-ngã làm sao bởi đó mà sinh kiêu-mạn. Vậy nên đối
với tham sân si rất không có đạo-lý. Lại từ mạn khởi
nghiệp vừa nhặm vừa nặng, vì tham đắm sâu sắc, mà từ
tham khởi nghiệp chẳng được như vậy. Lại vì sức mạnh
kiêu-mạn nên tham thảy mới hừng thịnh: tức tham nầy được
dòng dõi thảy thời kiêu-mạn thêm lớn hừng thịnh. Lại
nhân-duyên ngã-mạn bị sinh vào nhà thấp hèn cũng sinh trong
loài sư-tử hổ-lang. Do nhân-duyên nầy mà đọa địa ngục.
Kêu mạn có những tội lỗi như thế nhiều vô lượng..
Hỏi:
Tướng thế nào gọi là nhiều kiêu-mạn?
Đáp:
Người ấy chỗ chấp bền chắc khó mà nói chuyện với họ:
Không lòng cung-kính, ưa hoành-hành tự-đại, tự-đại khó
dạy, ít khi sợ hãi, có được chút ít tự cho là nhiều,
ưa khinh dễ người. Những lỗi nầy rất khó trừ. Cho nên
kẻ có Trí rất chẳng nên phạm kiêu-mạn
PHẨM
NGHI THỨ 129
Luận
giả nói nghi là đối với trong thật pháp tâm chẳng quyết
định bảo: Có giải thoát hay không giải thoát ư? Có lành
chẳng lành hay không ư? Có Tam-bảo hay không ư? Đấy gọi
là nghi.
Hỏi:
Như thấy cây trụi sinh nghi là cây hay người? Thấy cục đất
sinh nghi là cục đất hay chim cáp? Thấy tổ ong sinh nghi là
tổ ong hay quả diêm phù? Thấy rắn sinh nghi là rắn hay khúc
dây? Thấy dã mà sinh nghi là ánh sáng hay nước? Những nghi
như vậy nhân nhãn thức mà sinh. Nghe tiếng sinh nghi là tiếng
chim công hay người nhái? Ngửi nghe mùi sinh nghi là thơm hoa
ưu-bát hay thơm hòa hợp? Nếm vị sinh nghi là vị thịt hay
vị giống như thịt? Chạm xúc sinh nghi là lụa dây hay lụa
chín? Ý thức thời nhiều thứ sinh nghi: như nghi pháp này có
đà-la-phiêu hay chỉ cầu-na? Có thần hay không có thần. Những
nghi như thế, phải là nghi chăng?
Đáp:
Nếu cây trụi, người thảy sinh nghi thời chẳng phải phiền
não, vi đấy không thể làm nhân-duyên cho thân sau; lại vì
người lậu tận cũng khởi nghi ấy vậy.
Hỏi:
Nghi ấy làm sao sinh?
Đáp:
Như thấy nghe biết hai món pháp, nên sinh nghi. Tại vì sao?
Vì trước thấy hai vật đứng: một cây hai người; sau mới
xa thấy người với vật ngang nhau thời sinh nghi là cây hay
là người? Đất thảy cũng như thế. Hai món nghe: như nghe
nói có tội phước đời sau, cũng nghe nói không có, vậy nên
sinh nghi. Hai món biết: như trời mưa lớn nên mương rãnh nhẩy
nước; hoặc khi đắp đập, nước mương cũng nhẩy tràn;
như trời muốn mưa kiến tha trứng di-cư, hoặc người đào
giếng cũng mang trứng tránh đi. Như chim công kêu người có
thể nhái được. thật sự khá thấy như cái bình; chẳng
thật sự cũng khá thấy như vòng lửa quây tròn; thật sự
chẳng khá thấy như rễ cây dưới đất và nước; chẳng
phải sự thật cũng chẳng khá thấy như cái đầu thứ hai,
cái tay thứ ba. Như thế thảy hai món pháp thấy, nghe, biết
nên mới sinh nghi. Lại chẳng xét kỹ khi thấy nên sinh nghi,
như thấy xa thảy tám nhân-duyên. Lại hai tin nên sinh nghi:
Như có người nói có đời sau; lại có người nói không có.
Tin cả hai người nên mới sinh nghi. Lại đối với trong việc
ấy khả nghi, cho đến chẳng thấy tướng khác, vậy nên sinh
nghi. Nếu thấy tướng khác thời không nghi.
Hỏi:
Thấy tướng khác là thế nào?
Đáp:
Thấy nghe biết quyết định thời không có nghi. Với trong
Phật-pháp tùy khi đem thân chứng pháp thật-tướng mới rốt
ráo không nghi. Như Bồ-tát khi ngồi chốn Đạo-tràng thuyết-pháp
tinh-tấn, Bà-la-môn chứng được thâm pháp hiện-tiền các
duyên thấy biết tiêu hết và xé rách lưới nghi tức thì.
Lại nếu được trí-huệ có đạo-lý thời nghi nầy dứt,
như kẻ trí nghe nói Hành làm nhân-duyên cho Thức, liền quyết
định biết rõ vô-thỉ sinh tử như thế thảy.
Hỏi:
Nghi có lỗi gì?
Đáp:
Nếu kẻ đa nghi, tất cả sự nghiệp thế-gian và xuất thế-gian
đều chẳng thành tựu được. Tại vì sao? Vì người nghi
không thể khởi phát sự nghiệp gì cả, nếu phát khởi cũng
yếu ớt, nên chẳng thành tựu. Lại trong kinh nói: “Nghi là
gốc nảy mụt nơi tâm, giống như ruộng hoang nhiều gốc nảy
mụt nên dị-thỏa kỳ-hoa cũng không sinh được, huống là
các giống lúa nếp” Tâm cũng như vậy, vì rễ nghi phá hoại,
nên đối với trong việc tà còn chẳng quyết định được,
huống năng quyết định việc chính. Lại Đức Phật gọi
nghi là nhóm tối. Nhóm tối có ba thứ: Nhóm tối quá-khứ,
nhóm tối vị-lai, nhóm tối hiện-tại. Nhóm tối nầy sinh
chỗ các ngã kiến. Lại người nầy dù được định tâm
cũng là tà-định. Nếu lìa Phật-pháp thời không thể nói
là kẻ chính-định được. Lại nhiều chúng-sinh hoài-nghi
chí-tử, như nói A-Tra-già-la thảy là ngũ-thông tiên-nhân mà
phải ôm nghi đến chết. Lại kẻ nghi nầy, nếu tu phước-đức
thí thảy, hoặc không quả-báo, hoặc ít được báo. Tại
vì sao? Vì các phước nghiệp nầy đều từ nơi tâm khởi.
Mà tâm người nầy thường bị nghi làm đục vẩn, nên không
phước lành. Lại trong kinh nói: “Lòng nghi tu bố-thí là chịu
quả-báo sinh ở chốn biên-địa”. Tại vì sao? Vì kẻ đa
nghi nầy bất năng nhất tâm, tùy khi tay đưa cho, chẳng hay
sinh các tâm cung-kính, nên được lĩnh chút quả-báo sinh ở
chốn biên địa, như tiểu quốc-vương Ba-da-tuy thảy.
Hỏi:
Không có nghi nầy đâu. Tại vì sao? Vì nghi là tâm-số-pháp,
mà các tâm-số-pháp là niệm niệm sinh diệt. Nếu “thị”
thì chẳng phải phi; nếu “phi” cũng chẳng phải thị. Vì
trong nhất tâm chẳng được có thị lẫn phi. Vậy nên biết
không có?
Đáp:
Tôi chẳng nói trong niệm niệm có nghi. Tâm chẳng quyết định
nối luôn nhau gọi là nghi. Bấy giờ tâm chẳng quyết định
rõ ràng là cây trụi hay là người; tâm này nối nhau luôn
vì chẳng tin nên tâm vẩn đục. Cũng bởi tà kiến nên chẳng
tin. Khi nghi hoặc có hoặc không. Chẳng tin này có hai thứ:
Một từ nghi tâm sinh; hai từ tà kiến sinh là nặng. Tin cũng
có hai thứ: một từ chính kiến sinh; hai từ nghe sinh. Từ
chính kiến mà sinh thời tin bền chắc; từ nghe mà sinh thời
sinh chẳng được như vậy.
Thành
Thật luận hết quyển 10.