QUYỂN
THỨ 11
PHẨM
THÂN KIẾN THỨ 130
Ngã
tâm trong ngũ ấm gọi là thân-kiến. Vì thật không có ngã
nên mới nói duyên lấy ngũ-ấm. Ngũ-ấm gọi là thân; với
trong ấy thấy sinh, biết rồi chấp, gọi là thân kiến. Với
trong không có ngã mà lấy tướng ngã, nên gọi là kiến-chấp.
Hỏi:
Với trong ngũ-ấm đặt hẳn danh tự là ngã đâu có lỗi gì?
Như chiếc bình thảy các vật đều có tự tướng, trong ấy
không lỗi, ngã cũng như vậy. Lại nếu nói lìa ấm riêng
có ngã, đấy mới là có lỗi?
Đáp:
Tuy chẳng lìa ấm nói ngã, đấy cũng có lỗi. Tại vì sao?
Vì các bọn ngoại đạo nói ngã là thường, vì đời nay khởi
nghiệp, đời sau chịu quả-báo vậy. Nếu nói như vậy ngũ-ấm
lẽ phải là thường. Lại nói ngã ấy vì ngã là một. Vậy
thời ngũ-ấm tức phải là một? Đấy là có lỗi. Lại ngã
tức là lỗi Tại vì sao? Vì ngã-tâm nên mới có ngã-sở.
Bởi có ngã-sở nên khởi ra tham sân thảy tất cả phiền
não. Cho nên biết ngã-tâm là chỗ sinh phiền não. Lại người
nầy tuy chẳng lìa ấm nói ngã, vì lấy tướng ấm nên chẳng
tu không-lý. Vì chẳng tu không lý nên sinh phiền não. Do phiền
não sinh nghiệp, do nghiệp sinh khổ. Như vậy sinh tử nối
nhau luôn chẳng dứt. Lại người nầy vì chấp ngã nên không
thể thô phân-biệt được thân đầu mắt tay chân huống chi
năng phân biệt được các ấm, vì đã thọ ngã làm một,
ngã là thường vậy. Nên chẳng phân-biệt được thời làm
sao năng vào không-lý? Lại nếu chấp-ngã thời sợ Nê-Hoàn,
vì cho ngã sẽ không có vậy. Như trong kinh nói: “Phàm phu
nghe đạo lý “không vô ngã” sinh sợ hãi rất lớn, vì ngã
sẽ không có nên đều không được gì hết”. Kẻ phàm phu
mà như vậy thì cho đến tham cầu tấm thân con dã-can bị
bệnh hủi, cũng chẳng dùng Nê-Hoàn. Nếu được không trí
thời chẳng còn sợ gì. Như kinh Ưu-ba-tư-na nói: “Người
thanh tịnh trì giới, khéo tu bát-thánh-đạo đến khi mạng
chung lòng dạ vui mừng như phá vỡ đồ đựng chất độc”.
Nếu
nói có ngã tức đọa tà-kiến. Nếu ngã là thường thời
khổ vui chẳng biến đổi. Nếu chẳng biến thời không tội
phước. Nếu ngã là vô thường, thời không có đời sau, tự
nhiên giải thoát cũng không tội phước. Cho nên biết thân-kiến
là tội nặng nhất vậy. Lại kẻ thân kiến gọi là rất
si. Tất cả phàm phu đều bởi thân-kiến loạn-tâm sâu đắm
hữu-ngã, nên bị qua lại sinh tử.Nếu thấy vô-ngã thời
dứt qua lại.
Hỏi:
Nếu ngũ ấm là vô-ngã, tại sao chúng-sinh với trong ấy sinh
ngã-tâm?
Đáp:
Hoặc nghe danh tướng người trời trái gái, vì tưởng phân-biệt
nên sinh ngã-tâm. Và cũng bởi phi-nhân tợ-nhân nên sinh ngã-tâm.
Chỗ gọi nếu không có ngã ấy, ai chịu khổ vui, uy-nghi ngôn-ngữ,
khởi nghiệp tội phước và chịu quả-báo thảy ư? Lại từ
vô thủy sinh tử lâu nhóm ngã-tướng thành thói quen rồi bị
nó sai khiến, như tướng cái bình thảy nên sinh ngã tâm. Lại
vì với trong các thọ ấm mà sinh ngã-tâm, chứ chẳng phải
trong bất thọ vậy. Nghĩa là chỗ năng sinh ngã-tâm, vì trong
ấy có ngã. Tại vì sao? Vì chẳng phải tất cả chỗ đều
sinh được ngã-tâm vậy. Lại vì ngu si nên ninh ngã-tâm, in
như người mù nhặt được sành đá thảy liền sinh tưởng
là vàng ngọc. Lại người nầy chưa được không trí phân
biệt vì si nên thấy có ngã, như trong những huyễn, mộng,
thành càn-thát-bà và vòng lửa quây tròn thẩy mà sinh tưởng
có thật.
Hỏi:
Hiện thấy sắc thân tóc lông móng thảy các phần đều khác.
Kẻ trí cớ sao cho đó là ngã?
Đáp:
Có người thấy thần như hạt bắp, hạt cải thảy trụ ở
trong tâm; Thần Bà-la-môn trắng; Thần Sát-Lợi vàng, Thầy
Tỳ-Xá đỏ và thần của Thủ-đà-la đen. Lại trong sách Vĩ-đà
nói: “Khi minh sơ, thần của các Đại-trượng-phu sắc như
ánh sáng mặt trời nếu người biết Thần nầy thời năng
vượt qua sinh tử, lại không còn đường nào khác. Tiểu nhân
thời thần nhỏ, đại-nhân thời thần lớn, trụ ở trong
hang thân”. Lại người tọa-thiền được tướng quang minh,
mới thấy Thần ở trong thân như sợi chỉ trong lòng hạt
tịnh-châu. Những người chấp sắc như thế thảy là kẻ
suy nghĩ cạn nói: thọ là ngã, vì trong cây đá thảy không
có thọ, nên mới biết thọ tức là ngã. Kẻ suy nghĩ bực
trung nói: Tưởng là ngã, vì khổ vui tuy có lỗi, nhưng hãy
có tưởng ngã tâm vậy. Kẻ suy nghĩ kỹ nói: Hành là ngã,
vì tướng cái bình thảy tuy có lỗi, nhưng còn có nghĩ ngã
tâm vậy. Kẻ nghĩ kỹ càng sâu sắc hơn nói: Thức là ngã,
vì biết, nghĩ cũng còn thô nghĩ nầy tuy có lỗi, nhưng còn
có liễu biệt được ngã tâm vậy. Lại với trong ngũ-ấm
sinh ngã-tâm, người nầy chẳng năng phân biệt được thọ
thảy các ấm. Với trong sắc, tâm hòa hợp sinh ngã tướng;
như với trong sắc thảy bốn pháp tổng sinh tư tưởng cái
bình, vì sắc thảy sai biệt nên có hai mươi phần thấy sắc
là ngã. Tại vì sao? Vì sắc là pháp bị ngã rõ biết và là
chỗ nưong của thọ thảy; các thọ thảy nầy buộc ở nơi
sắc.Vậy nên gọi là sắc là ngã. Có người thấy sắc ở
trong thọ thảy, vì thọ thảy là pháp bất liễu-biệt vậy
nên bị sắc nương dựa, như hư-không chẳng liễu-biệt nên
bị đất thảy nương dựa. Như vậy hai mươi phần đều do
mà sinh.
Hỏi:
Tại sao trong mắt thảy chẳng nói ngã phần?
Đáp:
Cũng có. Như trong kinh nói: “Nếu người nói mắt là ngã,
thời chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì mắt là sinh diệt mắt
là ngã, thời ngã cũng sinh diệt”. Lại mắt thảy đều có
tướng riêng; nếu nói mắt là ngã, tai thảy chẳng phải ngã,
thời là chẳng được. Nếu tai thảy là ngã thời một người
có nhiều ngã. Vì trong sắc thảy có sai khác vậy, nên được
nói sắc là ngã mà chẳng phải thọ thảy.
Hỏi:
Nếu nói vô-ngã cũng là tà-kiến. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Có hai đế-lý: Nếu nói đệ-nhất nghĩa-đế mà có ngã là
bị tà-kiến; nếu nói thế-đế mà không ngã cũng bị tà-kiến.
Nếu nói thế-đế nên có ngã, đệ-nhất-nghĩa-đế nên không
ngã, thế nên chính-kiến. Lại đệ-nhất-nghĩa-đế nên nói
không; thế-đế nên nói có, thời chẳng đọa kiến-trung.
Lìa lời có, không như vậy đều thông. Như cọp tha con, nến
mấm nặng con bị thương, mấm nhẹ con rơi mất. Như vậy
nếu quyết định nói có ngã, thời đọa thân-kiến; quyết
định nói không ngã, thời đọa tà-kiến. Lại thái quá và
bất cập hai đều có lỗi: Nếu định nói không ngã, thế
là thái quá; nếu định nói có ngã, thời là bất cập. Nên
trong kinh nói: “Cần phải bỏ hai bên”. Nếu đệ-nhất-nghĩa-đế
nên nói không; thế-đế nên nói có, gọi là bỏ hai bên đi
giữa trung-đạo. Lại Phật-pháp là bất-khả tranh thắng.
Nếu nói đệ-nhất-nghĩa-đế nên không, thời kẻ-trí chẳng
hơn; nếu nói thế-đế nên có, thời phàm phu chẳng tranh.
Lại Phật-pa là thanh tịnh trung-đạo phi-thường phi-đoạn.
Đệ-nhất-nghĩa-đế không, nên phi thường, Thế-đế có nên
phi đoạn.
Hỏi:
nếu pháp đệ-nhất-nghĩa-đế nên không, lẽ phải là không
hẳn, vì sao lại nói thế-đế nên có?
Đáp:
Tất cả thế-gian có bao nhiêu lời nói là: Nghiệp và nghiệp
báo, hoặc trói hoặc cởi mở thảy đều do si mà sinh. Tại
vì sao? Vì ngũ-ấm là trống không, như trò huyễn, như ánh
lửa nối nhau mà sinh vậy; vì muốn độ kẻ phàm phụ, nên
mới tùy thuận nói có, nếu chẳng nói vậy là phàm phu mê
muội hoặc đọa vào đoạn diệt. Nếu chẳng nói các ấm
thời chẳng giáo hóa được, vì tội phước thảy nghiệp
hoặc trói hoặc mở, đều chẳng thành lập được. Nếu phá
được những lời si nầy thời tự năng vào được không
lý. Bấy giờ không còn các tà-kiến. Vậy nên kế sau nói
đệ-nhất-nghĩa-đế. Như ban đầu dạy quán thân để phá
tướng nam nữ; kế đó lấy tóc lông móng thảy phân chia thân
tướng chỉ có ngũ ấm. Sau rốt mới lấy không tướng để
diệt tướng ngũ ấm. Diệt tướng ngũ ấm gọi là đệ-nhất-nghĩa-đế.
Lại nếu nói thế-đế nên có, thời chẳng cần phải nói
đệ-nhất nghĩa không có. Lại trong kinh nói: “Nếu biết
các pháp không có tự-thể tính, thời năng vào không lý”.
Nên biết ngũ-ấm cũng không có. Lại đệ-nhất-nghĩa không,
trong kinh nói: “mắt thảy, vì đệ-nhất-nghĩa-đế nên không
có; thế đế nên có”. Trong kinh đại không nói: “Nếu nói
đây là già chết hoặc nói người nầy già chết như ngoại
đạo nói thân tứ là Thần. Hoặc nói thân khác Thàn khác.
Sự nghĩa là một, mà tên gọi khác”. Hoặc nói thân tức
là Thần, thân khác Thần khác, là chẳng phải kẻ phạm hạnh.
Nếu ngăn “người nầy già chết” tức nói vô ngã. Nếu
ngăn “đây là già chết” tức phá lão tử, cho đến vô-minh.
Cho nên biết trong đệ-nhất-nghĩa không có lão tử thảy.
Nói sinh làm duyên cho lão tử, đều vì thế đế nên mới
nói, gọi là trung đạo. Lại trong kinh La-Đà nói: “Đức
Phật bảo La-Đà rằng: Sắc tán hoại phá vỡ khiến diệt
chẳng còn hiện, cho đến thức cũng như thế”. Như vách
đá thảy, vì chẳng thật nên có thể phá khiến chẳng còn
hiện. Các ấm chẳng hiện cũng vì đệ-nhất-nghĩa nên không
có. Tùy các ấm tướng tồn tại thời ngã tâm rốt ráo chẳng
đoạn, vì nhân-duyên chẳng diệt vậy; như cây tuy đã bị
đốn chặt, đốt cháy, cho đến thành tro than, như tư-tưởng
cây hãy còn ám-ảnh. Nên tro than nầy bị gió thổi, nước
trội, tưởng cây mới chịu diệt. Như vậy, nếu phá vỡ
tán hoại diệt tướng ngũ-ấm, bấy giờ mới gọi là không
tướng cụ-túc. Lại trong kinh nói: “La-Đà người phá vỡ
tán hoại, chia chẻ chúng-sinh, khiến chẳng hiện còn”. Trong
kinh nầy nói ngũ-ấm vô thường chúng-sinh trống không. Trong
kinh trước nói ngũ-ấm tán diệt ấy là pháp không.
PHẨM
BIÊN KIẾN THỨ 131
Nếu
các pháp hoặc đoạn hoặc thường, đấy là biên-kiến, nghĩa
là chấp chênh-lệch một bên. Có ông Luận-Sư nói: “nếu
người nói ngã hoặc đoạn thường đây là biên-kiến, chứ
chẳng phải tất cả pháp. Tại vì sao? Vì hiện thấy các
vật bên ngoài có đoạn-diệt, nên trong kinh nói: “Thấy có,
gọi là thường, thấy không, gọi là đoạn”. Lại thân tức
là Thần gọi là đoạn-kiến, thân khác Thần khác gọi là
thường-kiến. Lại chết rồi bất tác gọi là đoạn-kiến;
chết rồi tác lại gọi là thường-kiến; chết rồi cũng
tác cũng bất-tác, trong ấy chỗ có tác-giả gọi là thường;
chỗ-bất-tác-giả gọi là đoạn: phi-tác phi bất-tác cũng
như vậy.
Hỏi:
Điều thứ tư nầy chẳng nên gọi kiến chấp?
Đáp:
Vì người nầy đối với trong thế-đế cũng không có Người
và Pháp nên gọi là kiến-chấp. Thường, vô thường; biên,
vô biên thảy bốn câu cũng như vậy. Lại trong kinh nói: “Sáu
xúc nhập diệt hết, mà còn có cái “khác” tức là thường,
không còn cái “khác” tức gọi đoạn. Lại nếu chấp ngã
trước tác, sau sẽ tác nữa gọi là thường-kiến; chấp ngã
trước chẳng tác, sau cũng chẳng tác nữa, gọi là đoạn
kiến. Lại kinh tà-kiến nói: “Thân người có bảy phần:
đất, nước, lửa, gió, khổ, vui, thọ-mạng; nếu khi chết,
tứ-đại quy về gốc, căn quy về hư-không”. Lại nói: “Lấy
dao búa giết chúng-sinh chứa thịt thành đống, thời không
tội sát-sinh, gọi là đoạn-kiến”. Và kinh Phạm-Võng nói
đó là tướng đoạn-kiến. Nếu nói có kẻ tác-giả đời
sau tức kẻ ấy là thọ-giả, gọi là thường-kiến.
Hỏi:
Đoạn và thường-kiến sinh thế nào?
Đáp:
Tùy theo bởi nhân-duyên nào đó nói: Chết rồi khởi trở
lại nhân-duyên ấy nữa, nên mới sinh thường-biên-kiến.
Tùy bởi nhân-duyên nào đó nói: chết rồi chẳng khởi nhân-duyên
ấy nữa, nên sinh đoạn-diệt-kiến.
Hỏi:
Kiến nầy làm sao dứt được?
Đáp:
Chính nhờ tu tập không quán thời không có ngã-kiến. Vì không
ngã-kiến nên không có chấp hai bên nữa. Như trong kinh Viêm-Ma
già nói: “Nếu mỗi ấm chẳng phải là người, thời hòa-hiệp
lại cũng chẳng phải người, mà ly ra cũng chẳng phải người.
Hiện tại như vậy chẳng khá được, làm sao mà nói A-La-Hán
chết rồi bất tác?” Vậy nên biết người chẳng khá được.
Vì người chẳng khá được nên ngã-kiến và đoạn-thường-kiến
cũng không.
Lại
thấy các pháp do nhiều duyên mà sinh, thời không chấp hai
bên. Lại như nói: Thấy thế-gian nhóm, thời dứt chấp không;
thấy thế-gian diệt, thời dứt chấp-có. Lại vì hành trung
đạo, nên diệt cả hai bên. Tại vì sao? Vì thấy các pháp
nối nhau sinh luôn, thời dứt đoạn-kiến; thấy niệm niệm
diệt thời dứt thường-kiến. Lại nói ngũ-ấm phi-tức ấm
là người, cũng phi-ly-ấm là người. Cho nên biết chẳng phải
thường chẳng phải đoạn. Vì năng được thân khác nên chẳng
được nói là một; vì đều là chúng-sinh nên chẳng được
nói là khác. Lại ngũ ấm nối nhau mới có chúng-sinh chết
sống. Trong ấy chẳng được nói tức nơi đó; vì chỉ nối
nhau luôn khác vậy; cũng chẳng được nói khác, vì trong nối
nhau kia có thể nói một vậy. Lại nói: Vì từ ấm nầy đến
ấm khác nhau, nên chẳng được nói thường; do sức nhân-duyên
nối nhau sinh nên chẳng được nói đoạn.
PHẨM
TÀ KIẾN THỨ 132
Nếu
thật có pháp mà sinh tâm cho là không đấy gọi tà-kiến.
Như nói không có tứ đế, Tam-bảo thảy. Trong kinh nói: “Tà-kiến
là: Không thí, không thờ, không đốt, không lành, không dữ,
không có nghiệp-bất lành dữ; không đời nay, không đời
sau; không cha mẹ; không chúng-sinh thọ sinh thế-gian; không
A-La-Hán chính-hành chính-trí, và tự mình rõ thấu chứng đời
nầy đời sau; biết ta sinh tử đã hết, phạm-hạnh đã thành,
sở-tác đã xong. Từ thân nầy trở đi không còn thân nào
khác. Thí: là vì lợi-tha nên mới cho; Thờ: là những lời
lẽ trong sách Vĩ-Đà do Trời mà có nên phải thờ; Đốt:
là ở trong miễu thờ Trời đốt vật hương tô thảy; Lành:
là năng được ba món ái-quả nghiệp lành; Dữ: là được
ba món nghiệp dữ chẳng ái-quả; Nghiệp-báo lành dữ: là
lành dữ đời nay danh tiếng thảy và quả-báo đời sau thân
Trời thảy. Đời nay: là hiện tại; Đời sau: là vị lai;
Cha mẹ: là kẻ năng sinh; Chúng-sinh thọ sinh: là từ đời
nay đến đời sau; A-La-Hán: là kẻ hết phiền não nghĩa là
không có những việc mà gọi là tà-kiến. Lại chúng-sinh dơ
sạch, có biết thấy, không biết thấy đều không nhân-duyên.
Lại không sức không mạnh và quả-báo nầy thảy, gọi là
tà-kiến. Như vô thường tưởng là thường; khổ tưởng là
vui; bất-tịnh tưởng là tịnh; vô-ngã, tưởng là ngã; phi
thắng, tưởng là thắng; tịnh-đạo tưởng là phi tịnh-đạo;
phi tịnh-đạo, tưởng là tịnh-đạo; trong không tưởng có,
trong có tưởng không. Những tâm trái ngược như thế thảy,
trong luận A-Tì-Đàm gọi là ngũ-kiến. Trong Phạm-Võng có
sáu mươi hai kiến, đều gọi tà-kiến.
Hỏi:
Tà-kiến nầy làm sao sinh?
Đáp:
Bởi si nên sinh. Nhiễm đắm phi-nhân và tợ-nhân, nên mới
sinh tà-kiến. Lại vì sau nhiễm đắm nhân vui nên bảo không
khổ. Lại mất đạo-lý chân-không nên nói không khổ, vì
cho không kẻ chịu khổ vậy. Như nói muôn vật trong thế-gian
không nhân không duyên. Hoặc nói nhân nơi Trời Tự-Tại thảy
chứ chẳng nhân nơi ái. Đấy gọi là không Tập. Tùy bởi
nhân-duyên nào đó nói không Nê-Hoàn; hoặc nói Nê-Hoàn bằng
một cách khác. Đấy gọi là không Diệt. Nếu không đạo
Nê-Hoàn thời đến chỗ nào? Hoặc nói lại có đạo giải
thoát khác là dứt tham thảy. Đấy gọi là vô-Đạo. Không
Phật: là người nầy nói: các pháp nhiều vô-lượng mà làm
sao một Người có thể biết hết được ư? Hoặc là nghĩ
như vậy: Phật là bậc cao sang trong loài người, vì không
người nào bằng, nên biết không Phật. Không hết phiền não,
nên gọi không Pháp. Không kẻ chính-hành được Pháp nầy,
nên gọi không Tăng. Bởi bố-thí chẳng được hiện-quả
nên gọi không bố-thí. Lại có kinh sách nói không bố-thí.
So sánh mà biết cũng chẳng quyết định: Thế-gian có kẻ
ưa bố-thí mà lại nghèo cùng; kẻ tham lam mà được giàu
sang. Do những nguyên nhân nầy nên nói không thí không thờ,
không đốt cũng như vậy.
Nếu
đem lửa đốt vật thành tro, trong ấy có những quả gì? Không
lành dữ, không nghiệp báo lành dữ: Như nói Thần là thường
thời không lành dữ, Nếu Thần vô thường thời không đời
sau: vì không đời sau nên không lành dữ, không nghiệp báo
lành dữ. Không đời nay: là chia chẻ các pháp, chung qui đều
không có gì cả. Không đời sau: là tùy bởi chết rồi chẳng
tác nhân duyên nghĩa là không đời sau. Không cha mẹ: là cũng
đem từng phần chia chẻ khiến cho tiêu hết. Lại nói như
do cục phân sinh trùng, cục phân dĩ nhiên chẳng phải cha mẹ
con trùng. Lại thân phần đầu thảy, chẳng phải tức thân
phần cha mẹ. Lại các pháp niệm niệm diệt, thời lấy gì
làm cha mẹ? Không chúng-sinh thọ sinh: là vì pháp chúng-sinh
không có, nên đời nay hãy không, huống là năng thọ thân
đời sau. Lại duy nghĩ mà nói: thời chúng-sinh này là thân
này hay là chẳng phải thân này? Nếu là thân nầy, thời mắt
thấy thân nầy chôn làm đất; đốt thành tro; trùng ăn là
thành phân nên không thọ sinh. Nếu là chẳng phải thân nầy
thời có hai thứ: hoặc tâm, hoặc lìa tâm. Nếu là tâm, thời
tâm pháp niệm niệm sinh diệt chẳng trụ, huống chi đến
thân đời sau. Nếu lìa tâm, thời chẳng chấp ngã; với trong
tâm kẻ khác hãy chẳng chấp ngã, huống là chỗ vô tâm. Vậy
nên không kẻ thọ sinh. Không A-La-Hán: là người nầy thấy
mọi người đói cầu ăn, lạnh cầu ấm, nóng cầu mát, hủy
hại thời giận, kính nuôi thời mừng, nên không kẻ hết
phiền não được. Lại kinh sách hoặc nói không A-La-Hán, do
đó vin lấy kinh nầy nên sinh tà-kiến. Dơ sạch thảy không
nhân-duyên: là người nầy thấy pháp dơ tự nhiên mà sinh.
Và có thứ dơ tự thể nó dơ, nên mới nói vô nhân. Biết
thấy không biết thấy cũng như vậy. Không sức không mạnh:
là tất cả chúng sinh đều nhờ nhân-duyên hoặc có người
nói ông Trời Tự-Tại mới có sở tác. Lại thấy chúng-sinh
thuộc nghiệp nhân-duyên chẳng phải ông Tự-Tại, nên nói
không sức mạnh và quả-báo này. Vô thường tưởng thường:
là tùy đem nhân-duyên nào đó để phá niệm niệm diệt, nhờ
nhân-duyên ấy nên sinh thường kiến. Lại nói các pháp khi
diệt lại thành vi-trần; hoặc nói trở về bản-tính. Lại
các pháp tuy diệt, vì nhớ tưởng, nên có thể chịu khổ
vui, mới sinh trưởng là thường. Lại nói Thần là thường,
âm thanh cũng thường. Vì những duyên cớ này nên sinh tưởng
thường. Khổ: là kẻ ưa vui tùy đem nhân-duyên nào đó, bảo
là có vui như trong phẩm tam-thọ trước đã nói. Do nhân-duyên
nầy, nên sinh tưởng vui. Bất tịnh tưởng tịnh: là vì nhiễm
đắm thân, nên mắt thấy bất tịnh mà sinh tưởng tịnh.
Hoặc nghĩ như vầy: ta được nhân tướng thấy thân này chẳng
tịnh, mà có chúng-sinh cho đó là tịnh. Do những nhân-duyên
như thế nên sinh tưởng tịnh. Vô-ngã tưởng ngã: là thấy
ấm nối nhau sinh, mới nhận lấy một tướng cho đó là ngã.
Lại như trước đã nói nhân duyên sinh thân kiến. Vì những
nhân-duyên nầy, nên sinh tưởng ngã. Chẳng hơn tưởng hơn:
là người nầy đối với trong các thầy ngoại đạo Phú-Lan-Na
thảy mà sinh thắng hơn. Lại Phạm-Vương tự nói: “Ta là
Đại-Phạm-Thiên-Vương kẻ tạo ra muôn vật”. Như thế thảy.
Có người nói: Nếu người hưởng vui ngũ dục đầy đủ,
đấy là pháp hơn hết. Lại nói, nếu người ly dục vào sơ-thiền
cho đến tứ-thiền, đấy là pháp rất hơn hết. Lại nói
hiện thấy chúng-sinh trong thế-gian Bà-la-môn là cao cả, chứ
chẳng phải hiện thấy trời trong chúng-sinh là cao tột. Đấy
là chẳng hơn tưởng hơn. Hơn tưởng chẳng hơn: là trong tất
cả chúng-sinh Phật là rất thù thắng, mà có người đối
với Phật chẳng sinh tưởng hơn mà lại nói như thế nầy;
là dòng sát-đế-lợi, lại là mới học Đạo không mấy ngày.
Lại còn bảo: những lời trong Phật-pháp chẳng khéo đẹp,
văn từ phiền phức trùng-điệp chẳng bằng sách Vi-Đà, đấy
chẳng gọi là hơn. Trong chúng Tăng có bốn hạng người, vậy
nên chẳng hơn. Như thế thảy với trong hơn sinh tưởng chẳng
hơn.
Trong
phi tịnh-đạo tưởng tịnh-đạo: Như người nói lấy tro
nước thảy rửa người khiến cho trong sạch. Lại nói xong
hết sinh tử gọi là thanh tịnh đạo. Lại chỉ tham đắm
trì-giới, phạm hạnh, cúng dường Trời thảy. Cũng nói: Do
Trời Tự-Tại nên được thanh tịnh. Hoặc nói tiêu hết bản
nghiệp khổ hạnh, gọi là thanh tịnh. Lại mỗi khi muốn tắm
rửa cho sạch phải đọc chú ngữ trong sách Vi-đà, nhiên hậu
mới ăn uống, gọi là thanh tịnh đạo. Dùng các thứ tà đạo
như thế thảy mà được giải thoát, chứ chẳng dùng bát-chính-đạo
cho là thanh-tịnh-đạo. Trong có sinh tưởng không: Như trong
pháp thế-đế có mà nói là không. Trong không sinh tưởng có:
Như nói có đà-la-phiêu, có hữu-phần-giả, cũng nói có cầu-na
số-lượng thảy cũng nói tổng tướng biệt tướng và chứa
nhóm; cũng nói thế-tính thảy vô vật là có. Những nhân-duyên
như thế thảy sinh tâm trái ngược, đều gọi là tà-kiến.
Với trong tà-kiến nầy đặc-biệt bốn thứ kiến, thừa bao
nhiêu điều nặng cũng đều gọi tà-kiến.
Hỏi:
Tà-kiến nầy làm sao mà dứt?
Đáp:
Trong kinh Phật nói chính kiến năng tiêu tà-kiến.
Hỏi:
Làm sao sinh chính kiến?
Đáp:Như
thấy, nghe, so sánh biết, chính quyết định là chính-kiến
sinh. Lại khéo tu chính-định, thời sinh chính kiến. Như kinh
nói nhiếp tâm năng như thật biết, chứ chẳng phản tán tâm
vậy.
Hỏi:
Tà-kiến nầy có những lỗi gì?
Đáp:
Tất cả tội lỗi suy não đều bởi tà-kiến. Vì người ấy
bảo: Không tội phước và nghiệp-báo lành dữ. Nên hiện
tại họ không có các việc lành đẹp huống là đời vị-lai.
Người phá lành dữ như vậy gọi là dứt gốc lành! Quyết
định sẽ đọa a-tì địa ngục, như trong A-tì-đàm-lục-túc
nói giết người nầy tội nhẹ hơn giết loại trùng kiến.
Lại người tà-kiến nầy làm nhơ nhớp cõi đời, vì làm
nhiều điều tổn giảm chúng-sinh nên lối sống của họ như
cây độc-thọ sống làm não hại vậy. Lại người này khởi
ra nghiệp thân-khẩu-ý đều là ác báo. Như trong kinh nói:
“Người tà-kiến khởi ra nghiệp thân khẩu ý, nguyện muốn
nghĩ nhớ, đều là ác báo, như trồng giống bầu đắng, giống
câu-xa độc, quyết hại giống cây chu-mạn-đà”. Trong ấy
có bao địa, thủy, hỏa, phong chưởng đều là vị đắng,
vì trồng giống đắng vậy. Như vậy người tà-kiến các
tâm-vương, các tâm-số-pháp, vì tà-kiến nên đều bị ác
báo. Vậy nên người nầy dù có làm bố-thí thảy quyết không
có quả-báo tốt, vì trước đã bị tâm tà-kiến làm hư hoại
vậy. Người nầy gây ra những bất-thiện đều là thêm lên,
vì chứa nhóm ác tâm đã lâu đời vậy. Lại nhờ giới-pháp
mới có thể ngăn phi-pháp mà người nầy không có thiện ác
nên không thể cấm kỵ họ được, nên rất là buông lung
hoành hành những điều bất-thiện, quyết định phá vỡ hai
pháp trong trắng là hỗ với trẽn, nên cùng với loài súc-sinh
không khác! lại nếu người nói không thiện ác, là trong tâm
người ấy thường ôm bất thiện. Lại người nầy không
có nhân-duyên năng thọ thiện-pháp. Tại vì sao? Vì người
ấy chẳng hay gần-gũi người lành, chẳng nghe thiện-pháp
ác tâm dễ khởi, thiện-tâm khó sinh. Vì dễ khởi ác nên
không nhân-duyên thiện. Như vậy dồn chứa thời dứt mất
thiện-căn. Lại người tà-kiến nầy gọi là ở chỗ nạn
xứ, như chúng-sinh trong địa ngục chẳng kham đắc Đạo.
Nếu người nầy, dù sinh ở trung-quốc, đầy đủ sáu căn,
năng phân biệt tốt xấu, nhưng cũng chẳng kham đắc Đạo.
Lại người tà-kiến nầy không ác nào chẳng gây, chẳng kiêng
cử nhẹ nặng. Lại họ gây chút bất-thiện cũng đọa địa
ngục, vì nặng tội tâm khởi nghiệp nầy vậy, như trong phẩm
Nghiệp giải thích nghiệp địa ngục. Vì những nhân-duyên
này mà người ấy gây ra nghiệp đều là địa ngục. Lại
người này chẳng hay hết nghiệp tội ác, vì pháp bất-thiện
thường ở trong tâm vậy. Lại người nầy lần-lữa trong
địa ngục khó được giải thoát. Tại vì sao? Vì người
dứt căn lành trong khi căn lành chưa nối nhau quyết chẳng
ra khỏi địa ngục; lại vì người nầy tà-kiến ở luôn
trong tâm, thời căn lành làm sao sinh nối nhau lại được?
Lại người tà-kiến gọi là bất-khả-tri, in như bệnh nhân
mà tướng chết đã xuất hiện, dù có vị lương y cũng không
trị được! Người nầy cũng vậy, vì không còn chút lành
vậy. Cho đến các Đức Phật cũng chẳng cứu được. Vậy
nên quyết phải đọa A-tì địa ngục
PHẨM
NHỊ-THỦ THỨ 133
Đối
với trong chẳng phải thật sự sinh tâm quyết định: Chỉ
đây là sự-thật, kỳ dư đều là vọng-ngữ. Đấy gọi là
kiến-thủ. Và như trước đã nói trong pháp chẳng hơn mà
quyết định sinh tưởng cho là hơn, cũng gọi kiến-thủ.
Hỏi:
Kiến-thủ có những lỗi gì?
Đáp:
Người nầy được ít công-đức, rồi cho là tự-mãn. Lại
người nầy uổng nhọc công-phu. Tại vì sao? Vì người ấy
với trong việc phi-thiện mà sinh tưởng là diệu-thiện, rồi
siêng năng tinh-tấn bởi nhân-duyên này về sau tâm sinh ăn-năn.
Lại người nầy bị kẻ trí chê cười, vì với trong chẳng
hơn mà sinh tưởng là hơn vậy. Lại nếu người chẳng hơn
mà cho là hơn, là tướng ngu-si, in như kẻ mù đối với người
sành ngói mà sinh tưởng là vàng bạc, bị kẻ sáng mắt cười
cho xấu hổ. Kiến-thủ có những lỗi như thế.
Như
những người bỏ trí-huệ mà dùng giới tắm rửa thảy mong
được thanh-tịnh, gọi là giới-thủ.
Hỏi:
Vậy thì chẳng cần giới mà được thanh-tịnh sao?
Đáp:
Nhờ trí-huệ giới mới thanh-tịnh vì trí-huệ là căn-bản.
Hỏi:
Giới-thủ có những lỗi gì?
Đáp:
Thuyết ra lỗi kiến-thủ, và lấy việc tầm thường cho là
mãn túc thảy, đều là lỗi ấy. Lại nhân-duyên giới-thủ
uổng chịu các khổ nghĩa là chịu lạnh nóng, nằm trên tro
đất, gốc cây, chông gai thảy; gieo mình xuống vực thẳm,
nhảy vào lửa, tự nhào đầu xuống hố sâu thảy. Thì đời
sau cũng chịu quả-báo khổ kịch liệt, Như trong kinh nói:
“Trì giới trâu, nếu thành-tựu thời trở làm trâu, mà chẳng
thành được thời đọa địa ngục”. Lại người nầy là
hạng người từ tối vào tối, vì thọ pháp nầy đời hiện
bị khổ, đời sau cũng khổ nữa. Lại người nầy bị tội
rất nặng. Tại vì sao? Vì lấy phi pháp cho là pháp, rồi hủy
hoại chân-pháp, và cũng bài báng những kẻ tu chính-pháp nữa,
khiến nhiều chúng-sinh trái bỏ chân-tịnh-pháp, đọa trong
vòng tội lỗi vậy. Vì chất chứa nhiều đại tội, nên bị
quả-báo a-tì địa ngục. Thà chẳng tu còn hơn, chớ chẳng
nên tu tà-đạo. Tại vì sao? Vì nếu từ trước chưa tu dễ
khiến tu Đạo, chứ tu tà hư tâm, nên khó vào chính Đạo.
Lại tuy là kẻ oán tặc chẳng hay khiến người suy não như
sinh tà-kiến. Tại vì sao? Vì oán tặc chẳng hay làm ô uế
người như chạy theo tà-kiến, chịu tu các tà giới ngoại
đạo: Trần hình không hổ, xoa tro đất lên mình và nhổ tóc
thảy vậy. Lại người tà-kiến đều mất thảy lợi vui thế-gian:
hiện tại mất vui ngũ dục; vị lai mất vui sinh về cõi lành
và vui Nê-Hoàn, nếu người cầu vui mà bị khổ, cầu giải
thoát mà bị trói buộc, thì chẳng gọi là cuồng ư! Tại
vì sao? Vì nhân-duyên thí một bữa ăn còn khá được sinh
lên trời. Mà người nầy tu tà hạnh dù cho thí cả thân mạng
vẫn không lợi ích gì!
PHẨM
TÙY PHIỀN-NÃO THỨ 134
Tâm
nặng nề muốn nhắm mắt gọi là nghỉ. Tâm nhiếp lìa thức
tỉnh gọi là ngủ. Tâm tản duyên các trần gọi là trạo
động. Tâm ôm gút lo gọi là ăn năn, chỗ gọi chẳng nên
làm mà làm, nên làm mà chẳng làm. Tâm chiều uốn giả-dối
lành gọi là khúc. Tâm dua dọc cầu thành sự gọi là gạt.
Tự tác ác chẳng biết xấu gọi là không trẽn. Làm bậy
giữa công chúng chẳng biết xấu chẳng e ngại gọi là không
hỗ. Tâm chạy theo bất thiện gọi là phóng-dật. Thật không
công đức mà tỏ muốn khiến người ta nhận có gọi là trá.
Hiện tướng kỳ lạ vì cầu lợi dưỡng, dùng lợi-khẩu
làm cho đẹp lòng người gọi là tham-dục. Vì muốn được
vật của người, nên hiện tướng muốn được, như nói vật
này tốt thảy, gọi là hiện tướng. Nếu vì muốn hủy nhục
người nầy, nên ngợi khen người kia, như nói: “Thân phụ
của ngươi tịnh-tiến, ngươi chẳng bằng vậy”, gọi là
nói động mé. Nếu đem của thí đã được đề cầu của
thí nữa, như nói: đây là vật thí do người nào đó mới
cúng; những lối như thế gọi là dùng lợi để cầu lợi.
Nếu người có bệnh ưa ngủ, gọi bệnh xưng đầy mắt. Nếu
được chỗ tốt đầy đủ nhân-duyên hành đạo, mà thường
buồn rầu, gọi là bất hỷ. Nếu người hay uốn mình, thân
chẳng điều thích, vì nhân-duyên ngủ nghỉ, gọi là uể oải.
Nều người chẳng biết điều hòa ăn uống nhiều ít, gọi
là thực-bất-điều. Nếu bất kham tinh tiến, gọi là thoái
tâm. Nếu các vị tôn trưởng có lời dạy bảo, mà chẳng
kính sợ, gọi là chẳng tôn kính. Ưa vui kẻ ắc, gọi là
ưa bạn ác. Những điều như thế gọi là tùy-phiền-não.
Vì tùy-tòng mà sinh phiền não vậy.
PHẨM
BẤT-THIỆN-CĂN THỨ 135
Ba
bất-thiện-căn là tham, sân và si.
Hỏi:
Những kiêu-mạn thảy lẽ cũng là bất-thiện-căn, tại sao
chỉ nói ba món ấy ư?
Đáp:
Tất cả phiền não đều do ba phiền não nầy; còn mạn thảy
cũng là si phần nên chẳng nói rộng. Lại ba món phiền não
nầy phần nhiều ở trong tâm chúng-sinh, mạn thảy chẳng phải
vậy. Lại tham là bất-thiện-căn của sân, vì trái với sở-tham
thời tùy đó mà sinh sân. Còn si làm gốc cho cả hai. Tại
vì sao? Vì nếu người không si thời chẳng tham sân. Lại trong
kinh nói mười-bất-thiện-nghiệp có ba món do tham-sân-si mà
sinh chứ chẳng nói do mạn thảy mà sinh. Lại chỉ có ba món
thọ, chứ không có món thứ tư; trong ba thọ nầy bị ba phần
phiền não kia sai khiến; nếu riêng có mạn thảy thời sai
khiến ở trong món thọ nào? Việc nầy thật chẳng nói được.
Nên phải biết ba món nầy là gốc gác các phiền não.
Hỏi:
Tại sao trong lạc-thọ bị tham sai khiến?
Đáp:
Vì hiện thấy ở trong ấy sinh. Như trong kinh nói: “Người
được lạc-xúc sinh mừng, khổ-xúc chẳng mừng”. Người
nầy với trong các thọ: tập, diệt, vị, quá và xuất vì
chẳng như thật biết vậy, nên với trong thọ chẳng khổ
chẳng vui, bị vô-minh-sử sai khiến. Tại vì sao? Vì người
nầy bị buộc trong cõi vô-sắc các ấm nối nhau, chẳng như
thật biết, nên đối với trong ấy sinh tưởng tịch-diệt,
hoặc tưởng giải thoát, hoặc tưởng chẳng khổ chẳng vui,
hoặc tưởng ngã. Vậy nên mới nói trong thọ chẳng khổ chẳng
vui sinh si.
Hỏi:
Các món sử nầy là ở trong pháp mà sai khiến, hay là ở trong
chúng-sinh mà sai khiến?
Đáp:
Nhân pháp mà sinh tâm chúng-sinh; tùy tâm chúng-sinh mà lãnh
các món thọ; tùy các món thọ tham thảy các phiền não sai
khiến. Nên biết nhân pháp sinh sử rồi sai khiến chúng-sinh.
Tại sao biết được? Vì nếu chúng-sinh chưa dứt sử nầy
thời bị nó sai khiến; trái lại là chẳng còn khiến nữa.
Nếu như trong pháp mà sai khiến, thời pháp là thường có,
lẽ ra phải thường sai khiến, vì thường chẳng nên dứt
vậy. Lại phi chúng-sinh-số lẽ cũng có sai khiến. Nếu như
vậy thời như vì người sai khiến thời cái vách thảy cũng
có sai khiến; vì người biết nên vách thảy lẽ cũng có biết.
Việc nầy thật không thể được. Lại như vậy thời không
A-La-Hán, vì người khác có sử, nên mình cũng có sử.
Hỏi:
Sử nầy chưa dứt thời sai khiến, mà dứt rồi chẳng khiến?
Đáp:
Hai món sử: một cảnh duyên sử; hai tương-ưng sử. Sử nầy
hoặc dứt, hoặc chẳng dứt, tức là cảnh duyên và tương-ưng;
tại sao nói dứt thời chẳng khiến? Nếu như vậy, lẽ phải
nói tướng sử thứ ba? Vì không thể nói được, nên phải
biết không có vậy. Lại sử năng duyên cõi khác mà chẳng
sai khiến, nên biết chỉ sai khiến trong chúng-sinh, chứ chẳng
phải trong pháp vậy.
Hỏi:
Hai món sử một cảnh duyên hai tương-ưng. Các sử của chúng-sinh
nầy, chẳng phải cảnh duyên, chẳng phải tương-ưng, làm
sao mà sai khiến được?
Đáp:
Việc nầy trước đã đáp: Các sử nhân pháp mà sinh và sai
khiến chúng-sinh.Như trong A-tì-đàm thân-trung nói: “Chúng-sinh
cõi Dục có bao nhiêu món sử sử thảy?”. Nếu chẳng sai
khiến chúng-sinh làm sao có những câu hỏi như thế?
Hỏi:
Nếu sử nó sử chúng-sinh, trong kinh lại nói trong lạc-thọ
tham sử, thời trái nhau?
Đáp:
Đấy là lời nói bất-tận. Nên phải nói đủ là: trong lạc-thọ
sinh tham rồi sai khiến chúng-sinh.
Hỏi:
Tham nầy cũng nhân sắc thảy mà sinh, cớ sao trong ấy chỉ
nói nhân lạc-thọ mà sinh?
Đáp:
Bởi nghĩ nhớ phân-biệt vui mừng thảy, nên tham mới sinh,
chứ chẳng phải chỉ do sắc thảy mà sinh.
Hỏi:
Nhân khổ-thọ cũng sinh tham, như nói kẻ vui chẳng cầu, kẻ
khổ nhiều cầu. Cớ sao chỉ nói do lạc-thọ sinh?
Đáp:
Chẳng vì khổ thọ nên sinh tham. Người này bị khổ làm bức
ngặt, nên với trong lạc-thọ sinh tham.
Hỏi:
Trong bất-khổ bất-lạc-thọ, cũng bị tham-sử sai khiến,
cớ sao chỉ nói trong lạc-thọ?
Đáp:
Người nầy cho bất-khổ bất-lạc-thọ là vui nên sinh tham,
cho nên nói trong lạc-thọ tham sai khiến, vì trong ba món thọ
nầy ba phiền não sai khiến, nên chỉ nói có ba.
Thành
Thật luận hết quyển 11.