QUYỂN
THỨ 12
PHẨM
TẠP PHIỀN-NÃO THỨ 136
Hỏi:
Trong kinh nói ba lậu: dục lậu, hữu lậu và vô-minh lậu.
Các lậu thứ nào là thế nào?
Đáp:
Trong cõi Dục trừ vô-minh, còn tất cả phiền-não là Dục-lậu.
Cõi Sắc và Vô sắc hữu lậu cũng như thế. Vô-minh trong ba
cõi gọi là vô-minh-lậu.
Hỏi:
Các lậu tăng trưởng thế nào?
Đáp:
Vì pháp từ hạ, trung, thượng lần lữa tăng-trưởng. Lại
được sắc thảy thắng duyên, nên các lậu tăng trưởng.
Hỏi:
Ba lậu nầy tại sao nói bảy lậu?
Đáp:
Thật lậu có hai thứ: Thấy Đạo-lý mà dứt là các lậu
căn-bản; suy nghĩ mà dứt là quả của các lậu. Năm nhân-duyên
giúp cho lậu họp lại thành bảy, tức là phiền-não. Đức
Phật tùy theo nghĩa nên nói: ba lậu, bốn lưu, bốn phược,
bốn thủ, bốn kiết thảy.
Hỏi:
Bốn lưu: dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô-minh-lưu.Thứ nào
là thế nào?
Đáp:
Trừ-kiến và vô-minh, còn tất cả phiền-não cõi Dục, gọi
là Dục lưu. Hữu-lưu cõi Sắc và Vô-sắc cũng như thế. Các
món kiến gọi là kiến-lưu, vô-minh gọi là vô-minh-lưu.
Hỏi:
Trong lưu, cớ sao riêng nói Kiến-lưu, mà trong Lậu chẳng nói?
Đáp:
Ngoại đạo phần nhiều bị kiến-chấp làm trôi nổi, vậy
nên trong Lưu riêng nói. Vì hay nổi chìm nên gọi là Lưu; vì
hay trói buộc ba cõi nên gọi là phược.
Hỏi:
Bốn thủ: dục-thủ, kiến-thủ, giới-thủ, và ngã-ngữ-thủ.
Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Vì vô-ngã nên chỉ lấy lời nói gọi là ngã ngữ thủ. Nếu
người có ngã kiến, tức sinh chấp hai bên, là ngã hoặc thường
hoặc vô thường. Nếu quyết định nói vô thường thời tham
lấy ngũ-dục, vì cho không có đời sau nên đắm nhiễm vui
hiện tại. Nếu quyết định nói thường, kẻ độn căn thời
lấy trì giới mong được vui đời sau; kẻ có chút lợi-căn
thời nghĩ như vầy: “Nếu Thần là thường thời khổ vui
không biến đổi”. Vì cho không tội phước nên mới sinh
tà-kiến. Như thế chỉ bởi ngã ngữ mà sinh bốn món thủ.
Hỏi:
Bốn kiết: Tham ganh thân kiết, giận giữ thậ kiết, giới
thủ thân kiết, và tham trước lấy đấy là thật thân kiết.
Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Tham lấn vật của kẻ khác mà họ chẳng cho thời sinh tâm
giận dữ, mới dùng e đến roi gậy thảy, đấy là cội rễ
đấu tranh của người tại gia; cũng gọi là tùy-lạc-biên,
tức theo bên vui. Nếu người trì giới muốn giới nầy được
thanh tịnh nên bảo: đây là thật, kỳ dư là vọng ngữ, Kiến
chấp nầy thùy theo. Đấy là cội rễ tranh cãi của người
xuất gia; cũng gọi là tùy-khổ-biên, tức theo bên khổ. Ngũ-ấm
gọi là thân. Bốn món kiết nầy cần phải thân khẩu mới
thành, nên gọi là thân kiết. Lại có người nói bốn pháp
nầy năng trói buộc sinh tử nên gọi là kiết.
Hỏi:
Năm món che: tham dục, giận dữ, ngủ nghỉ, trạo-hối và
nghi, việc ấy thế nào?
Đáp:
Người tham đắc các món dục, nên giận dữ bám theo. Như
trong kinh nói: “Do ái sinh giận dữ và ganh ghét thảy các
phiền-não; roi gậy thảy các nghiệp, đều bởi tham-dục mới
sinh”. Người nầy thân và tâm bị tham giận làm hư hoại.
Nhiều việc mệt nhọc thời muốn ngủ nghỉ; người nầy
mới ngủ nghỉ một chút thời tham giận lại đến nữa làm
tán loạn nơi tâm. Tâm chẳng được thiền-định, nên chạy
rông theo cảnh ngoài, nên mới sinh trạo-hí. Người mà nghiệp
bất-tịnh thời tâm thường lo lắng ăn-năn. Vì tán tâm và
hối tâm nên tâm thường sinh nghi ngờ: Có giải-thoát hay chăng?
Như Vương-Tử bảo A-Di-La-Việt Sa-di.
Hỏi:
Sao gọi là che?
Đáp:
Tham dục, giận dữ hay che khuất Giới-phẩm. Trạo hối hay
che Định-phẩm. Ngủ nghỉ hay che Huệ-phẩm. Có người vì
muốn trừ che nầy nên nói đây là thiện, đây là bất thiện.
Người ấy với trong đó sinh nghi là có hay là không? Nghi nầy
thành tựu năng che ba Phẩm trên. Vì sức mạnh của năm món
nầy che khuất ba pháp kia, nên được độc đắc danh là Che.
Có hai món che sức yếu, nên phải họp hai pháp mới thành.
Lại hai che nầy nhân-duyên cùng sinh, vậy nên họp lại mà
nói. Năm pháp nhân-duyên ngủ nghỉ: nặng mí mắt, chẳng vui,
uốn mình, ăn chẳng điều, tâm lui chìm. Nhân-duyên: trạo
hối bốn pháp: là biết bà con xóm làng, biết cõi nước,
biết chẳng chết, và nghĩ nhớ việc giỡn vui nói cười đã
trải qua, gọi là sinh nhân. Vì thuốc trị cũng đồng, nên
ngủ nghỉ cũng cũng lấy Huệ làm thuốc; trạo hối lấy Định
làm thuốc. Vì che khuất cũng đồng nên hai món hợp lại che.
Năm pháp nầy hoặc là che hoặc chẳng phải che; bất-thiện-buộc
về cõi dục gọi là che, kỳ dư chẳng gọi là che. Năm món
kiết hạ-phần là tham dục, giận dữ, giới thủ. Vì đọa
xuống nên gọi là hạ phần. Như trì-ngưu-giới thành thời
làm trâu, mà bất thành thời vào địa ngục. Nghi ngăn ngại
ly-dục, thân kiến, bốn món căn bản, đấy gọi là năm. Lại
vì tham giận nên chẳng khỏi cõi Dục; thân kiến: chẳng ra
khỏi chấp ngã-tâm; giới chẳng ra khỏi hạ pháp; nghi: chẳng
ra khỏi phàm phu. Lại vì tham dục và giận dữ nên chẳng
vượt khỏi cõi Dục. Nếu vượt quá bị kéo lại. Còn ba
món kia chẳng vượt khỏi phàm phu, nên gọi là hạ phần.
Năm món thượng phần là trạo hí phá hoại thiền-định,
nên
tâm chẳng tịch diệt. Trạo hí nầy tùy lấy tướng kiêu-mạn
mới sinh; tâm lấy tướng nầy từ vô-minh mà sinh, nên mới
có nhiễm cõi Sắc, nhiễm cõi Vô-sắc. Năm món kiết nầy
bực học nhân gọi nó là đi lên, nên gọi thượng phần.
Năm món kiết nầy đối với trong tâm kẻ học nhân mà nói,
chứ chẳng vì phàm phu.
Hỏi:
Cớ sao trạo-hí ở trong cõi Sắc, vô-sắc mà nói là kiết,
mà cõi Dục chẳng nói?
Đáp:
Trong kia không có thô phiền-não, nên trạo-hí rõ rệt. Lại
trạo-hí nầy có sức phá Định, nên gọi là kiết. Dứt được
thượng-phần nầy thời được giải-thoát; và có người
với trong cõi Sắc và Vô-sắc sinh tưởng giải-thoát. Vì muốn
ngăn lầm nầy, nên mới nói có thượng-phần kiết. Năm món
Xan: trụ-xứ-xan, gia-xan, thí-xan, xưng-tán-xan, và pháp xan.
Trụ-xứ-xan: là chỉ mình ta ra vào chỗ nầy, chẳng cho người
khác. Gia-xan: là chỉ mình ta ra vào nhà nầy, chẳng cho ai cả;
dẫu có ai ở trong đây ta là hơn họ; Thí-xan: là ta ở trong
đây độc-đắc của bố-thí, chẳng cho ai hết, dẫu có ai
nữa, đừng cho hơn ta.; Xưng-tán-xan; là chỉ khen ngợi mình
ta, đừng khen ai hết; dẫu có khen ai cũng đừng hơn ta; Pháp
xan: là chỉ độc nhất mình ta biết nghĩa mười hai bộ kinh,
và biết sâu sắc nghĩa bí-mật mà chẳng nói cho ai hết.
Hỏi:
Năm món xan tham nầy có những lỗi gì?
Đáp:
Trụ-xứ ấy thảy là cọng-hữu của nhiều người. Người
nầy đã từng bỏ nhà mình, đến ở chỗ cọng-hữu lại
sinh tâm keo rít bủn xỉn là tệ phiền-não. Lại người ấy
đối với trong pháp giải-thoát trọn không có phần. Tại
vì sao? Vì người ấy trong pháp cọng-hữu hãy còn chẳng xả
được, huống chi năng xả được tự thân ngũ-ấm ư? Lại
người nầy sinh đọa ngạ quỷ thảy các chỗ ác. Lại người
nầy vì lợi dưỡng che tâm, thời kiêu-mạn, khinh dễ các
người lành, nên đọa địa ngục. Lại vị phá-hoại kẻ
khác bố-thí, nên dẫu tái-đắc nhân-thân là bị nghèo cùng.
Lại vì xan tâm làm dứt mất công đức kẻ thí, và vật thí
kẻ thọ, nên bị trọng tội. Nếu xan lẫn pháp thì bị tội
báo đui mù thảy, chỗ gọi mù từ trong bụng mẹ và sinh vào
chỗ nhiều kẻ oán, chẳng được tự-tại; lại mất Thánh-thai,
là kẻ oán tặc ba đời mười phương của các Đức Phật.
Thường qua lại sinh tử làm kẻ ngu-si người lành tránh xa.
Vì xa lìa người lành nên không điều ác nào cũng gây. Ác
có ba thứ: ác ác, đại ác, và ác trong ác. Ác ác: là giết,
trộm thảy. Đại ác là tự giết mình, cũng dạy người tự
giết. Tự keo rít cũng dạy người rít. Ác trong ác là tự
lẫn pháp cũng dạy người lẫn pháp.
Người
nầy lẫn Pháp khiến nhiều người đọa vào ác. Cũng là diệt-Đạo
Phật-Pháp. Như trong kinh nói trụ-xứ-xan có năm lỗi: Vị
thiện Tỳ-kheo chưa đến chẳng muốn đến; đã đến thời
nhăn nhó chẳng vui: nghĩ muốn khiến đi; cất dấu thí vật
của Tăng; các thí vật của chư Tăng sinh tâm ngã-sở. Gia-xan
có năm: Vì tham đắm nhà cửa nên cộng đồng buồn vui với
kẻ thế gian; dứt việc làm phước của kẻ thế-gian; dứt
kẻ thọ giả được của thí; vì dứt hai điều này nên sinh
làm con quỉ ở trong chuồng tiêu nhà ấy. Thí-xan có bốn lỗi:
thường thiếu thốn vật nuôi sống, phá hoại lợi hại người,
mắng nhiếc người lành, tâm thường ôm lo buồn. Khen-ngợi-xan-tham
có năm lỗi: nghe khen người khác tâm thường vẩn-đục; trong
trăm trăm ngàn đời thường không tịnh-tâm; hủy nhục người
lành, tự cao thân mình; diềm thấp người ta; khiến thường
mang tiếng xấu. Lại tất cả xan-tham chung có những lỗi này:
chứa nhóm nhiều vật, sợ hãi đại chúng, ganh ghét nhiều
người, tâm thường vẩn-đục, thân thường cô độc, sinh
vào nhà nghèo hèn. Như thế nhiều vô lượng và tội lỗi
năm món xan-tham. Năm món tâm trồng: nghi Phật, nghi Pháp, nghi
giới và nghi giáo hóa, hoặc có Tỳ-kheo được Phật và các
vị Đại-nhân khen ngợi, người nầy liền đem ác-khẩu sàm-báng,
châm-chích. Đấy gọi là năm món. Nghi Phật: Khởi nghĩ như
vầy: Phật là lớn hay Phú-Lan-Na thảy là lớn? Nghi pháp; Phật
Pháp là hơn hay giới kê-cẩu thảy của ngoại đạo là hơn?
Nghi giáo hóa: dạy phép đếm hơi thở thảy là năng đến
Nê-Hoàn hay chăng? Sàm báng châm-chích; là đem tâm giận dữ
không chút kính nể mà xâm hại người lành. Người này bị
năm pháp ấy làm bại hoại tâm, chẳng kham trồng các căn
lành, nên mới gọi tâm trồng.
Hỏi:
Người ấy vì sao đối với Phật thảy sinh nghi?
Đáp:
Người nầy bất năng đa văn, vậy nên sinh nghi. Nếu những
kẻ đa-văn thời nghi ngờ mỏng ít. Và người nầy ngu-si vô-tri
chẳng biết phân biệt Phật-pháp và dị pháp, vậy nên sinh
nghi. Lại người nầy đối với Phật-Pháp, chẳng năng được
ý-vị, vậy nên sinh nghi. Lại chẳng học chẳng đọc các
sách Vi-đà mà chỉ nghe người khen ngợi rồi sinh tâm quý-trọng.
Lại người này đời đời tà-nghi nặng nhiều, vì tâm thường
vẩn-đục nên đối với Phật thảy sinh nghi, như kẻ thị
giả của Đức Phật tên Tô-Na-Sát-Ba-La. Lại người nầy
cùng với nhiều người tà-kiến cọng đồng sự nghiệp, nên
họ khiến sinh nghi, lại người này vì đọc-tụng Vi-già-đà-hòa-la-na
thảy các kinh tà-kiến, nên chính-trí-huệ bị hỏng, vậy
nên sinh nghi. Lại người nầy với các pháp-nghĩa ưa sinh tà-niệm,
chẳng năng lãnh được ý của kẻ tác giả kinh điển, vậy
nên sinh nghi. Lại người nầy thủy chung chẳng năng được
công-đức tự lợi. Vì những duyên cớ này nên đối với
Phật thảy sinh nghi. Năm món tâm trói: Nếu người vì chẳng
lìa thân dục nên sinh tham đắm. Thân chẳng lìa năm món dục
nên tham đắm dục. Lại cùng với những người tại-gia xuất
gia hòa hợp, đối với trong Thánh-ngữ-nghĩa tâm chẳng vui
mừng; được chút lợi sự tự cho là đủ. Bốn món trói
trong đây bởi tham dục mà khởi. Nếu người vì chẳng lìa
nội thân-dục nên đối với ngoại cảnh, trong Sắc thảy
sinh đắm nhiễm, vậy nên ưa cùng đông người ồn náo hòa
hợp. Vì ưa ồn náo nhiệt nên với trong Thánh-ngữ-nghĩa chỉ
cho pháp tịch-diệt, tâm chẳng ưa vui. Vậy nên đối với
trì-giới đa-văn và thiền-định thảy được chút ít lợi-sự
tự cho là đủ. Vì tham đắm chút lợi-sự nầy nên bỏ mất
đại-lợi. Kẻ trí chẳng nên tham đắm lợi nhỏ mà tổn
hại lớn. Người nầy nếu lìa tám nạn thì còn bị nạn
nan-đắc nhân-thân. Vậy nên cần phải nhất-tâm siêng-năng
tinh-tiến. Lại pháp phàm phu chẳng khá tin vậy. Nếu lìa cụ-túc
nhân-duyên nầy, hoặc có duyên thừa thời trọn chẳng còn
năng vào được Thánh-Đạo. Lại chẳng tham tiểu lợi thời
năng được quả-báo xuất gia; đến khi lâm chung cũng chẳng
ăn-năn; cũng được lợi mình lợi người. Lại người nầy
với trong công-đức hãy chẳng tham đắm huống là ác-pháp,
nên mới gọi là chính-hành. Lại lầm mỗi phàm-phu không thể
thấm nhiễm được.
Hỏi:
Lỗi phàm-phu là thế nào?
Đáp:
Trong kinh nói: “Kẻ phàm phu cần lấy hai mươi pháp tự uốn
dẹp nơi tâm. Nên nghĩ vầy: “1- Ta chỉ hình-thức ăn mặc
khác với kẻ tục; 2- Trọn không sở đắc; 3- Ta sẽ vì bất
thiện mà chết mất; 4- Và sẽ đọa vào biển rất sợ hãi;
5- Sẽ phải đến chỗ sợ sệt; 6- Chẳng biết chỗ không
sợ; 7- Cũng chẳng biết Đạo-Pháp; 8- Chẳng được thiền-định;
9- Hằng chịu khổ thân; 10- Khó lìa tám nạn; 11- Kẻ oán tặc
thường đuổi theo; 12- Các đường đều mở chưa thoát đường
ác; 13- Thường bị vô lượng các tà-kiến trói buộc; 14-
Với tội ngũ-nghịch chưa thể đề phòng; 15- Vô thủy sinh
tử chưa có ngằn mé; 16- Chẳng gây thì chẳng được tội
phước; 17- Thiện ác thay thế nhau chẳng được; 18- Chẳng
tu pháp lành quyết không an ổn; 19- Đã gây lành dữ trọn
chẳng tiêu mất; 20- Ta sẽ vì chẳng điều phục để đến
chết”. Đây là hai mươi pháp chẳng thể ô nhiễm được.
Lại việc đáng làm kẻ nầy đã làm xong, nên tâm chẳng ăn-năn.
Nếu là kẻ tham đắm thời chẳng năng thành pháp tại-gia
và xuất-gia. Vậy nên chẳng nên tham đắm tiểu lợi. Bảy
món sử:
Hỏi:
Các phiền-não sao gọi là sử?
Đáp:
Trong sinh tử nối nhau thường đeo bám theo chúng sinh, nên gọi
là sử. Giống như bà nhũ-mẫu thường theo tiểu-nhi; như bịnh
sốt rét chưa khỏi: như mắc nợ ngày càng sinh lãi; như chuột
độc chưa trừ; như tướng đen tấm sắt nóng; như mộng hột
lúa; như tự ký giấy ở tớ; như kẻ đoán sự chứng nhân;
như trí-huệ lần chứa; như nghề-nghiệp thường tập; như
lửa đèn thường nối nhau. Cứ như thế thứ lớp nối nhau
luôn mà tăng-trưởng nên gọi là sử.
Hỏi:
Sử nầy tương-ưng với tâm hay chẳng tương-ưng?
Đáp:
Tương-ưng với tâm Tại vì sao? Vì đã nói tham thảy là sử-tướng.
Các sử-tướng nầy cùng với mừng tương-ưng. Nếu với lòng
mừng chẳng tương ưng. Việc nầy chẳng phải lẽ. Vì mừng
nầy hoặc ở trong lạc-thọ gọi là tham-sử. Lại tham là
đắm nhiễm. Mà trong tâm chẳng tương-ưng thời không nghĩa
đắm nhiễm. Nên biết các sử cùng với tâm tương-ưng.
Hỏi:
Chẳng phải thế. Các sử chẳng phải tương-ưng với tâm.
Tại vì sao? Vì trong kinh nói: “Tiểu nhi dâm tâm hãy không
có huống năng dâm dục mà cũng bị dục-sử sai khiến”.
Lại nói chẳng nghĩ chẳng phân biệt cũng có duyên thức trụ
vậy. Lại trong kinh nói: “Khi dứt thân kiến các sử đều
dứt hết”. Lại Thánh đạo và phiền-não chẳng được đồng
thời. Vậy nên Thánh-đạo sinh, thời tâm bất tương ưng sử
dứt. Nếu chẳng phải như vậy, thời Thánh-Đạo dứt những
gì? Lại nếu không tâm nào chẳng tương-ưng với, thời phàm
phu, học nhân hoặc khi ở tâm thiện, tâm vô-ký lẽ phải
là A-La-Hán? Lại sử là nhân trói buộc; bị trói thời sử
hừng thịnh vậy. Cho nên biết các sử chẳng tương ưng với
tâm. Lại nếu người ở trong tâm thiện, vô-ký cũng gọi
có sử; nếu kẻ vô tâm chẳng tương-ưng với sử, cớ sao
gọi có sử được? Vậy nên biết các sử chẳng tương ưng
với tâm?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Người nói tiểu-nhi không dục cũng có tham-sử.
Việc nầy chẳng phải lẽ. Tiểu-nhi chưa được thuốc trừ
tham, tham dục chưa hết, nên bị tham sử sai khiến, như người
bệnh vì quỷ, tuy khi chưa phát hiện, cũng gọi người bệnh
quỷ. Tại vì sao? Vì bệnh nhân chưa được chú-thuật, thuốc
men để trừ bệnh chứng vậy. Cũng như bệnh sốt bốn ngày
một độ, tuy hai ngày chẳng phát, cũng gọi là người bị
bệnh sốt; cũng như hạch chuột chưa trừ lành, nên khi nghe
tiếng sấm thời phát hiện. Như vậy chẳng luận trong tâm
nào, chưa được thuốc trừ sử đều gọi là chẳng dứt.
Các câu hỏi khác cũng như đã chung đáp. Ngươi nói chẳng
nghĩ, chẳng phân biệt cũng có duyên thức trụ ấy. Cũng vì
chưa dứt sử vậy. Ngươi nói thân-kiến cùng sử đều dứt
ấy. Ngươi cho trói là tương ưng với tâm khi chưa sinh cũng
dứt. Sử cũng như vậy, tuy khi Thánh-Đạo không có, cũng gọi
là dứt, vì được pháp trái nhau vậy. Ngươi nói Đạo với
phiền-não chẳng đồng thời ấy. Cũng chưa dứt nên nói năng
có. Ngươi nói phàm-phu, học-nhân hoặc ở tâm thiện, vô-ký
lẽ phải là A-La-Hán ấy. A-La-Hán đã dứt người nầy vì
chưa dứt vậy, như người chẳng thọ pháp đoạn-nhục, tụy
chẳng ăn thịt, nhưng chẳng gọi là kẻ đoạn-nhục. Lại
có vô-minh tà-niệm, tà tư-duy thảy nên phiền-não nào chưa
dứt thời sinh. A-La-Hán vì không nhân nầy, nên chẳng đồng
mọi người. Lại người nói bị trói thời sử hừng. Thịnh
việc nầy chẳng phải lẽ. Các phiền-não vì từ pháp hạ,
trung, thượng nên hừng-thịnh, chứ chẳng phải bị trói vậy.
Ngươi nói người ở tâm thiện, vô-ký gọi có sử ấy. Cũng
vì chưa dứt nên gọi có sử. Vì những duyên do nầy nên mới
tham thảy các sử chẳng phải chẳng tương-ưng. Tám tà-đạo,
tà-kiến cho đến tà-định, vì chẳng như thật biết, hiểu
biết trái ngược nên gọi là tà-kiến cho đến tà-định.
Hỏi:
Chính mạng với tà-mạng chẳng lìa nghiệp thân khẩu. Cớ
sau nói riêng?
Đáp:
Kẻ xuất-gia khó dứt tà-mạng, vậy nên phải nói riêng. Tà-mạng:
Là dùng dối gạt thảy năm pháp năng được lợi dưỡng,
nên gọi tà-mạng. Tóm tắt lại mà nói: Các người xuất
gia đều chẳng nên làm nghiệp nuôi sống như những việc
sứ-giả cho Vua, buôn bán, thầy thuốc thảy, và chẳng nên
lấy tiền gạo thảy của chúng-sinh. Nếu lấy đều gọi tà-mạng.
Lại trong Luật cấm lấy đấy làm kế tự-hoạt, đều gọi
là tà-mạng. Như trong kinh nói Ưu-bà-tắc chẳng nên buôn-bán
năm thứ.
Hỏi:
Lấy gì nuôi sống?
Đáp:
Đúng như pháp xin cầu. Lấy đấy sinh sống chẳng nên tà-mạng.
Tại vì sao? Vì tâm bất-định thời hủy hoại thiệu pháp
bất kham tu Đạo vậy. Lại kẻ hành-đạo nên nghĩ như vầy:
Vào trong Phật-Pháp vì mục đích tu Đạo, chẳng vì sinh sống.
Vậy nên kẻ vui thiện-pháp nên tu tịnh-mạng. Lại Tỳ-kheo
nên an-trụ trong pháp Tỳ-kheo, nếu làm tà-mạng thời chẳng
phải pháp Tỳ-kheo.
PHẨM
CỬU-KIẾT THỨ 137
Ái
thảy chín món gút.
Hỏi:
Tại sao trong các món kiến riêng nói hai món thủ?
Đáp:
Giới-thủ khó lìa khỏi, in như khúc gỗ nổi trôi vào trong
dòng nước xoáy, khó mà giải-thoát ra được. Người nầy
cũng vậy, họ nghĩ như vầy: Tà nhờ trì-giới nầy sẽ sinh
lên trời. Vì lẽ ấy nên họ đành chịu nhào xuống vực
sâu, gieo mình vào lửa, tự nhào đầu xuống vực cao thảy
nhiều thứ hành khổ. Lại người thế-gian đối với trong
giới-thủ chẳng thấy lầm lỗi, nên Phật nói là gút. Lại
có thể nương giới thủ nầy có thể bỏ tám chính-đạo.
Lại đấy chẳng phải chính-đạo, nên gọi tùy-khổ-biên.
Lại giới-thủ là trói kẻ xuất-gia; các dục trói kẻ tại-gia.
Lại kẻ giới-thủ tuy có tu các pháp xuất-gia, mà luống không
được gì cả. Lại kẻ giới thủ nay chẳng được vui, sau
chịu đại-khổ, như trì-ngưu-giới thành thời làm trâu, bại
thời đọa địa ngục. Lại bởi giới-thủ nầy có thể hủy-báng
chính-đạo và kẻ tu chính-đạo. Lại giới-thủ là chỗ các
ngoại đạo sinh khởi kiêu mạn; họ khởi nghĩ như vầy: Ta
nhờ pháp nầy năng thắng mọi người. Lại vì giới-thủ
nên 69 phái đều có pháp sai khác nhau. Lại giới-thủ là thô
dễ thấy nên nhiều chúng-sinh tu; Đạo trí huệ mầu-nhiệm
khó thấy, nên người đời chẳng biết tu để được lợi
ích. Lại kiến-chấp nầy năng lôi kéo lòng người, nên những
kẻ ngu-si phần nhiều tu pháp nầy. Lại đấy gọi là trọng-ác-kiến.
Vì nghịch với chính-đạo mà hành phi-đạo vậy. Sở dĩ kẻ
kiến-thủ tham đắm tà-pháp chẳng bỏ lìa được là vì sức
mạnh của nó vậy. Lại vì sức kiến-thủ nên gút càng thắt
chặt thêm.
Hỏi:
Trong kinh Đế-Thích vấn, vì sao chỉ nói Người Trời còn
hai gút xan và tật.
Đáp:
Hai món phiền-não nầy là bỉ-ổi tệ lậu lắm. Tại vì sao?
Vì thấy các chúng-sinh đói khát khổ-não, vì lòng bủn-xỉn
nên chẳng hay thương xót cứu giúp; thấy kẻ nào đắc thắng
cũng sinh tâm ganh ghét, lòng ôm nóng nảy. Vì những lý-do nầy
nên đọa vào chỗ nghèo hèn, xấu-xí không chút oai đức.
Lại vị Thích-Đề-Hoàn-Nhân hai gút nầy nặng nhiều hằng
đến làm não tâm, nên Phật vì nói. Lại hai gút nầy là nhân-duyên
trọng tội. Tại vì sao? Vì bởi hai gút nầy mà khởi trọng
ác-nghiệp vậy. Lại trong ba món độc, tham giận năng khởi
trọng tội: Tham giận thịnh nên mới khởi hai gút nầy. Lại
hai gút nầy năng não hại nam nữ. Lại khó bỏ lìa. Tại vì
sao? Vì nếu thâm tu thiện tâm mới có thể dứt hẳn tính
ganh ghét; thâm tu bố thí nhiên hậu dứt hết lòng bủn-xỉn.
Vì chẳng thấy nghiệp báo mà năng xả trọng vật đó là
việc rất khó, như người thấy con đắc thắng việc hơn
mình, lòng còn khó mừng, huống là kẻ địch. Vì hai gút nầy
nương hai tính ghét ưa, nên rất khó trừ dứt. Vì những lý-do
nầy nên Phật nói riêng.
PHẨM
TẠP-VẤN THỨ 138
Luận
giả nói: Tất cả phiền-não phần niều nhiếp thuộc trong
mười món sử, vậy nên phải nhân nơi mười sử mà tạo
luận. Mười sử: tham, giận, mạn, vô-minh, nghi và năm món
kiến.
Hỏi:
Mười phiền-não đại-địa pháp nầy, chỗ gọi chẳng tin,
biếng nhác, nhớ bậy, tán tâm, vô-minh là phương tiện, tà-niệm,
hiểu bậy, giỡn cợt, buông-lung. Pháp nầy thường chung cùng
với tất cả tâm phiền-não. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Trước đã phá tương-ưng, chỉ tâm pháp mỗi mỗi sinh vậy
nên chẳng phải lẽ. Lại đấy là phi-đạo-lý. Tại sao biết
được? Hoặc có tâm bất-thiện cùng tín bất-thiện chung;
hoặc có tâm bất-thiện mà không tín. Tinh-tiến thảy cũng
như vậy. Cho nên biết chẳng phải tất cả trong tâm phiền-não
có mười pháp nầy. Lại người nói ngủ-nghỉ và trạo hí
ở trong tất cả tâm phiền-não, cũng chẳng phải lẽ. Nếu
tâm mê chìm, bấy giờ mới có ngủ nghỉ, chứ chẳng phải
ở trong tâm trạo-hí. Có những lỗi như vậy.
Hỏi:
Trong cõi Dục có mười phiền-não. Cõi Sắc và vô-sắc trừ
sân, còn dư thừa tất cả. Việc nầy thế nào?
Đáp:
Trong ấy cũng có ganh ghét thảy. Tại vì sao biết được?
Trong kinh nói có vị Phạm-Vương bảo các Phạm-chúng rằng;
“Các ngươi đừng đến Cù-Đàm Sa-môn, các ngươi chỉ ở
đây với Ta tự sẽ được hết ngằn mé già chết”. Đấy
là ganh ghét. Vì có ganh ghét nên phải có giận dữ. Lại kinh
nói Phạm-Vương nắm tay Tỳ-kheo khiến ra khỏi chúng Tăng,
rồi bảo rằng: Tỳ-kheo! Ta cũng chẳng biết tứ-đại ở
chỗ nào diệt hết không còn. Như vậy đem tâm dua dọc gạt
các Phạm-chúng đấy gọi là dua dọc. Như nói ta kẻ tôn quý
tạo ra muôn vật. Đấy là kiêu mạn buông-lung. Những điều
như vậy, trong ấy cũng có những ác phiền-não, nên phải
biết cũng có bất thiện. Có ông Luận-sư nói: Nếu tham phụ
mẫu và Hòa-thượng, A-Xà-Lê thảy gọi là thiện tham; tham
của vật người khác thảy gọi là bất-thiện tham; chẳng
làm tổn ích người khác gọi là vô-ký tham. Giận pháp bất-thiện
và ác-tri-thức thảy gọi là giận lành; nếu giận thiện-pháp
và chúng-sinh gọi là giận chẳng lành; nếu giận vật phi
chúng-sinh gọi là giận vô-ký. Nếu nương ngạo-mạn để
dứt ngạo mạn gọi là mạn lành; khinh chúng-sinh gọi là khinh
chẳng lành. Vô-minh thảy cũng như thế. Lại có Luận-sư khác
nói: Nếu như thiện chẳng gọi phiền-não.
Hỏi:
Thân-kiến ở cõi Dục phải gọi vô-ký. Tại vì sao? Vì nếu
thân-kiến là bất-thiện thời tất cả phàm phu đều sinh
ngã-tâm, chẳng khá khiến đều đọa địa ngục, nên gọi
vô-ký. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Thân-kiến là căn-bản của tất cả phiền-não, làm sao gọi
vô-ký được! Lại người nầy đọa là vì người khác nói
có Thần-ngã, bấy giờ làm sao được gọi vô-ký? Biên-kiến
cũng như thế.
Hỏi:
Nếu chuyển người tà-kiến sang đọa vào trong Nghi, người
nầy là bất-thiện chăng?
Đáp:
Người ấy chẳng phải là bất-thiện. Tại vì sao? Vì thà
đọa trong nghi chẳng vào tà-kiến.
Hỏi:
Có người nói tất cả phiền-não buộc cõi Dục năng khiến
Dục-hữu nối nhau; buộc cõi Sắc và vô-sắc cũng như thế.
Việc ấy thế nào?
Đáp:
Chỉ Ái năng khiến các Hữu nối nhau, vì trước mừng rồi
sau mới sinh vậy. Lại nói Ái là nhóm khổ; cũng nói ái ưa
uống ăn tham dục thảy nên tùy theo chỗ mà thọ-sinh. Trong
tà-kiến thảy không có nghĩa như vậy. Tuy trong kinh nói khinh-mạn
nhân-duyên sinh. Cũng trước mạn sau ái nên mới sinh. Giận
cũng như thế. Cho nên biết đều bởi ái nên các Hữu nối
nhau.
Hỏi:
Trong các phiền-não có mấy thứ thấy đạo-lý dứt, mấy
thứ suy nghĩ dứt?
Đáp:
Tham, sân, mạn và hai món vô-minh, thấy đạo-lý và suy nghĩ
dứt; kỳ dư sáu món chỉ thấy đạo-lý là dứt.
Hỏi:
Kẻ học-nhân cũng có ngã-tâm. Nếu biết chẳng thị-hiện
tướng đó thôi, vì học-nhân một phần thân-kiến chưa dứt?
Đáp:
Đấy là mạn chẳng phải kiến; kiến là tướng thị-hiện.
Hỏi:
Có người nói bủn-xỉn, ganh ghét, hối tiếc, dua dọc thảy
chỉ suy nghĩa dứt. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Đấy đều là pháp đi đôi, cũng chẳng thấy đạo-lý và
suy nghĩ dứt. Tại vì sao biết được? Như Ni-Kiền-Tử thảy
vì thấy đệ-tử Phật được cúng-dường nên sinh tâm ganh
ghét. Tâm ganh ghét nầy thấy Đạo thời diệt. Nên biết lý
thấy Đạo-lý là dứt ngay. Có người từ trước đối với
đệ-tử Phật, sẻn tiếc chẳng thí vì được thấy đạo
nên bèn năng cúng thí. Sẻn tiếc nầy thấy đạo là dứt.
Như Tô-Na-Sát Đa-La thảy, hối tiếc cũng thấy đạo là dứt.
Như Tu-Đà-Hoàn nhân-duyên đọa địa ngục thảy và thọ thân
đời thứ tám, dua dọc thảy cũng thấy đạo-lý mới dứt.
Hỏi:
Các phiền-não có mấy thứ thấy khổ-Đế dứt, mấy thứ
thấy Tập, Diệt, Đạo đế dứt, và mấy thứ suy nghĩ dứt?
Đáp:
Trước đã nói thấy đạo-lý dứt sáu sử. Bốn món, tháy
khổ-Đế dứt, thấy Tập, Diệt, Đạo đế dứt. Kỳ dư bốn
sử năm món.
Hỏi:
Thân-kiến, biên-kiến chỉ thấy khổ-Đế dứt; giới-thủ
hai món, thấy Khổ thấy Đạo dứt. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Các phiền-não thật khi thấy Diệt đế mới dứt.Vậy nên
thân kiến thảy chẳng phải chỉ thấy Khổ-Đế mà dứt được.
Lại thân-kiến đối với bốn Đế hiểu sai lầm: ngũ-ấm
vô thường do nhân-duyên sinh, ngã chẳng phải vô thường,
chẳng do nhân sinh; ngũ-ấm có diệt mà ngã không diệt. Đạo-đế
cùng với ngã kiến là pháp trái nhau. Vậy nên tham kiến bốn
món bị dứt. Biên-kiến cũng bốn món dứt. Tại vì sao? Vì
hành-giả thấy khổ đế do tập-đế sinh thời dứt đoạn-kiến.
Kiến-chấp do Đạo-đế được dứt, thời dứt thường kiến.
Giới thủ cũng có bốn món: có nhân có quả, vậy nên khi
thấy khổ-đế biết giới nầy là khổ, chẳng nhờ đấy
mà được thanh-tịnh. Phải là thấy khổ-đế mới dứt. Biết
giới nầy là nhân khổ, chẳng nhờ đấy mà được tịnh.
Phải là thấy Tập-đế mới dứt. Vì tà-kiến bài báng Nê-Hoàn:
Cho rằng nhờ kiến chấp nầy được tịnh. Phải là thấy
diệt-đế mới dứt. Bởi đấy mà bài-báng Đạo. Phải là
thấy đạo-đế mới dứt. Như kiến-thủ nương tà-kiến nên
có bốn món, giới-thủ cũng như thế.
Hỏi:
Nếu như vậy thời chẳng gọi 98 món sử?
Đáp:
Các sử tùy bực mà dứt, chẳng tùy cõi nên chẳng hạn số
98.
Hỏi:
Tham, mạn và trừ tà-kiến còn bốn biến kia đều tương ứng
vói ba căn, trừ khổ-căn ưu-căn; giận dữ cũng tương ứng
với ba căn, trừ lạc-căn hỷ-căn ; vô-minh tương-ưng với
năm-căn; tà-kiến, nghi tương ưng bốn căn, trừ khổ căn;
giận, che dấu tội, xan ganh chẳng tương ưng với ưu-căn.
Việc ấy như thế nào?
Đáp:
Trước đã phá không có tương ưng vậy. Ra sau sẽ nói. Trong
năm Thức không có phiền-não vậy. Lại trong pháp ngươi tham
tương-ưng với hỷ-căn, mà xan chẳng phải như vậy. Đấy
là không lý do, vì xan là một phần tham vậy. Như vậy kiêu
mạn chẳng cùng tương ưng với ưu-căn cũng không lý do. Vậy
nên biết chỗ lập luận của các ngươi đều tự nhớ tưởng
phân-biệt.
Hỏi:
Có người nói thấy khổ-đế dứt được năm món kiến; nghi
và tham, sân, mạn chẳng tương-ưng với vô-minh. Và tập đế
dứt được tà-kiến, kiến thủ; nghi và tham, sân, mạn chẳng
tương ưng vô-minh. Đấy gọi là sử biến khắp, kỳ dư chẳng
phải khắp. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Tất cả biến khắp. Tại vì sao? Vì tất cả đều chung nhân
duyên nhau vậy. Lại đối với trong tà-kiến của mình sinh
tâm tham, chỗ gọi không khổ cho đến không Đạo. Tham đắm
kiến-chấp nầy mà lấy làm tự-cao; nếu nghe nói khổ thời
sinh ghét giận. Lại tham nầy năng duyên diệt-đế, sân cũng
năng ghét giận Nê-Hoàn; cũng lấy Nê-Hoàn sinh tâm tự cao.
Đạo cũng như vậy. Phải biết các sử khác cũng có năng
biến khắp. Lại phiền-não buộc cõi Dục năng duyên cõi Sắc,
như bởi tham nên mừng, bởi sân nên oán-ghét; vì lấy pháp
kia tự cao, cũng lấy đó cho là hơn, chẳng phải chỉ cõi
Dục vậy. Như phiền-não cõi Dục năng duyên cõi Sắc; phiền-não
kiến thảy cõi Sắc cũng năng duyên cõi Dục. Cõi Vô sắc
cũng như vậy. Lại phiền-não nầy đều có thể có tướng
chung tướng riêng. Tại vì sao? Vì tham cũng năng có tướng
chung nhiễm như cả bốn thiên hạ. Lại như kinh Trường-Trảo
nói: Tất cả nhẫn là tham, tất cả bất-nhẫn là sân”.
Cũng lấy phiền-não nầy tự-cao, vì phiền-não nầy đều
năng khởi nghiệp thân khẩu vậy. Tại vì sao? Vì trong kinh
nói: “Sinh tâm thấy biết như vậy, nói việc như vậy.”
Nghĩa là có Thần thảy. Lại tất cả phiền-não nầy do trong
Thức thứ sáu, trong năm thức kia không có. Tại vì sao? Vì
tưởng đi trong thức thứ sáu, nên tất cả phiền-não đều
do tưởng mà sinh. Nếu chẳng phải như vậy, thời thân-kiến
thảy lý-ưng ở trong năm thức. Tại vì sao? Vì mắt thấy
sắc bảo “ta năng thấy”. Nghi nạn thảy cũng như vậy.
Hỏi:
Trong kinh nói sáu ái-chúng. Tại sao nói trong năm thức kia không
phiền-não?
Đáp:
Như sáu ý-hành đều đi trong ý-thức. Chỉ nhờ mắt thảy
mở cửa và dẫn đem, nên mới gọi sáu ý-hành. Việc nầy
cũng vậy. Lại trong ý-thức có bao phân biệt nhân-duyên, mà
trong năm thức kia không có. Nên biết trong năm thức kia không
phiền-não vậy.
PHẨM
ĐOẠN QUÁ THỨ 139
Hỏi:
Có người nói các phiền-não có chín bực: hạ, trung, thượng:
hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng;
thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Trí cũng có chín
bực. phiền-não nầy trước đoạn thượng thượng, sau cùng
đoạn hạ hạ. Đem trí hạ hạ đoạn phiền-não thượng thượng;
cho đến đem trí thượng thượng đoạn phiền-não hạ hạ.
Việc ấy thế nào?
Đáp:
Dùng tâm nhiều vô lượng đoạn các phiền-não. Tại vì sao?
Trong kinh Phật nới: “Vì như kẻ thợ khéo, tay cầm cán rìu,
mắt thấy chỗ ngón mắn, tuy hằng ngày chẳng hay phân biệt
mòn hết bao nhiêu; nhưng khi mòn hết nốt mới hay là mòn hết.
Tỳ-kheo cũng vậy, khi đang tu Đạo, tuy chẳng phân biệt biết
ngày nay diệt được hết bao nhiêu phiền-não, ngày hôm qua
diệt hết bao nhiêu; nhưng đến khi diệt hết nốt mới biết
là hết”. Cho nên biết phải dùng vô-lượng trí diệt mới
hết các phiền-não chứ chẳng phải tám hay chín gì cả.
Hỏi:
Nương dựa Định nào, diệt những phiền-não này?
Đáp:
Nhờ bảy chỗ y-xứ diệt được phiền-não. Như trong kinh
Phật nói: “Nhờ sơ-thiền lậu hết, cho đến nhờ vô-sở-hữu
xứ hết lậu”. Lại lìa bảy chỗ nương nầy cũng có thể
hết lậu, như trong kinh Tu-thi-ma nói lìa bảy chỗ nương cũng
hết lậu. Cho nên biết trong Định cõi Dục cũng được hết
lậu.
Hỏi:
Thấy Đạo-lý phiền-não mới đoạn, chứ chẳng cần nưong
Định vô sắc mà đoạn, vì lẽ hành-giả nầy hoại sắc-tướng
rồi vậy?
Đáp:
Việc nầy trước đã đáp rồi, nghĩa là vô-sắc-Định năng
duyên sắc.
Hỏi:
Vì là trước từ sơ-thiền rồi thứ lớp lìa dục đến nhị
thiền thảy là đồng thời hay sao?
Đáp:
Cần phải thứ lớp, vì lìa sơ-thiền muốn sinh nhị-thiền
thảy vậy.
Hỏi:
Trong cõi Dục cũng có thứ lớp sao?
Đáp:
Các phiền-não diệt từng mỗi niệm nên cũng cần thứ lớp.
Như những người ở các cõi trời diệm-ma, khi ôm nhau thời
thành dâm dục; Trời đâu suất nắm tay nhau thành dục; trời
hóa-lạc miệng nói với nhau thành dục; trời tha-hóa-tự-tại
xem nhau là thành dâm dục. Nên biết phiền-não cõi Dục cũng
lần lữa mới dứt hết. Có người nói: Nhờ phước đức
nhân duyên mà sinh về trong ấy, chứ chẳng phải nhờ dứt
phiền-não, vì chỗ sở-dục được diệu vậy, nên mới có
sai khác. Lại do căn đần-dộn nên ôm nhau mới thành dục;
căn mãnh lợi lần nên xem nhau là thành dục.
Hỏi:
Có người nói phiền-não suy nghĩ bị đoạn là lẫn lữa đoạn:
Trước đoạn buộc cõi Dục, sau đoạn buộc cõi Sắc và Vô
sắc. Còn thấy Đạo-lý bị đoạn là đồng thời đoạn..
Việc ấy thế nào?
Đáp:
Tùy theo thấy Đạo-lý mà đoạn, nhưng thật tất cả phiền-não,
thấy Diệt-đế mới đoạn. Việc nầy trước kia đã nói.
Chỗ gọi thấy Đế phiền-não mới đoạn, như thân kiến
thảy đều là khi thấy Diệt-đế mới đoạn. Từ Noãn-pháp
trở đi, nhờ tu quán tướng ngũ-ấm vô thường thảy mới
đoạn phiền-não, thấy Diệt-đế mới hết.
Hỏi:
Quán Khổ buộc cõi Dục năng dứt gút cõi Dục. Tập cũng
như vậy. Như cõi Dục cho đến phi-tưởng phi phi-tưởng xứ
cũng như vậy. Quán Diệt cõi Dục năng dứt gút cả ba cõi.
Đạo cũng như vậy. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Diệt-trí năng dứt phiền-não. Vậy nên lời ngươi nói chẳng
phải lẽ.
Hỏi:
Trong kinh nói vì quán ngũ-ấm vô thường thảy, nên được
quả Tu-Đà-Hoàn, cho đến quả A-La-Hán. Sao ông nói chỉ quán
Diệt-đế là dứt phiền-não?
Đáp:
Trí quán ngũ-ấm nầy sinh diệt hợp lại mà quán nên năng
dứt kiết-sử. Như trong kinh nói: “Tỳ-kheo quán sắc nầy
là sắc tập, là sắc diệt”. Lại còn nói: thấy pháp biết
pháp thời dứt phiền-não. Mới biết là thấy Diệt-đế nên
dứt hết các phiền-não. Lại ngũ-ấm là ở trong khổ sinh
các phiền-não, nếu thấy ngũ ấm diệt cho là tịch-diệt
yên ổn. Như vậy là đầy đủ khổ-tưởng. Cho nên biết
thấy các ấm-diệt, thời phiền-não hết. Như nói vì các
pháp không thể tính, nương một xả tâm mà dứt, Không thể
tính tức diệt. Nếu hành giả thấy sắc không thể tính,
thời đến thức cũng không thểt tính, thời được xa lìa
sâu-sắc. Lại ba môn giải-thoát đều duyên Nê-Hoàn, vì môn
giải-thoát nầy năng dứt phiền-não, không còn phương-tiện
nào khác hơn. Nên biết chỉ vô-vi duyên Đạo năng dứt phiền-não
mà thôi. Vậy nên ngươi đã nói phương-pháp phiền-não. Việc
ấy chẳng phải lẽ.
Luận
giả nói: Các phiền-não có vô-lượng môn phân biệt như vậy
thảy, xin kẻ cầu giải-thoát cần phải biết cho. Tại vì
sao? Vì biết đấy là buộc là lỗi nên được giải-thoát;
như người biết kẻ oán nên mới xa lìa được; như biết
đường hiểm nên mới tránh được. Phiền-não cũng như vậy.
Lại phiền-não buộc rất là chặt-chẽ lắm hơn Vua Tỳ-Ma-Chất-Đa-La
A-Tu-La buộc; cho nên chúng-sinh ở cõi hữu-đỉnh cũng vẫn
thường bị phiền-não buộc. Vậy nên càn biết nó là tội-lỗi.
Lại chúng-sinh, cho đến cõi hữu-đỉnh vẫn lui đọa trở
lại, là vì đều chẳng năng thấy biết lỗi phiền-não vậy.
Lại vì chẳng dứt gút nên sinh tăng thượng-mạn: tự cho
mình đã dứt. Về sau nghi hối. Vậy nên cần biết lỗi các
phiền-não, đừng cho nó gạt. Lại nếu chúng-sinh bỏ lìa
vui tịnh-diệu Nê-Hoàn, lại tham vui dục-lạc hèn tệ. Hễ
có vui ấy đều do lỗi các phiền-não. Nếu dứt các phiền-não
thời được đại lợi. Nên cần biết lỗi các phiền-não.
Lại pháp mà ngăn giải-thoát tức là phiền-não. Nếu chẳng
dứt phiền-não quyết không nhân-duyên giải-thoát. Tại vì
sao? Vì các phiền-não là nhân-duyên có thân; tùy phiền-não
có thân, tùy thân có khổ. Vậy nên kẻ cầu lìa khổ, cần
phải siêng-năng tinh tiến dứt các phiền-não.
PHẨM
MINH NHÂN THỨ 140
Hỏi:
Phiền-não làm nhân-duyên cho thân, việc nầy cần phải thuyết
minh. Tại vì sao? Vì có các ngoại-đạo chẳng tin lẽ ấy:
hoặc nói thân nầy không nhân không duyên, in như cỏ cây tự
nhiên mà sinh; hoặc nói muôn vật là do đấng Tự-Tự-Tại
và các Trời thảy mà sinh; hoặc nói muôn vật từ thể-tính
mà sinh; hoặc vi-trần hòa hợp mà sinh. Có những lối lập-luận
đại khái như thế, nên cần phải thuyết-minh?
Đáp:
Từ nghiệp có thân lẽ nầy trước đã thành lập. Nghiệp
ấy do phiền-não mà sinh nên mới lấy phiền-não làm nhân-duyên
sinh thân.
Hỏi:
Tại sao biết bởi phiền-não mà có nghiệp?
Đáp:
Tùy tâm giả-danh gọi là vô-minh. Tâm giả danh ấy năng nhóm
các nghiệp, cho nên biết nhân-duyên phiền-não mới có nghiệp.
Lại A-La-Hán các nghiệp chẳng nhóm nên chẳng thành tựu,
cho nên biết các nghiệp do phiền-não mà thành. Như trong kinh
Phật nói: “Nếu người được minh bỏ lìa vô-minh; người
ấy năng khởi tội nghiệp, phước nghiệp và bất động nghiệp
chăng? - Bạch Đức Thế Tôn! Không vậy.” Lại không có nghiệp
vô-lậu, nên biết chỉ tùy giả danh năng khởi các nghiệp.
Tâm vô-lậu chẳng tùy giả-danh nên chẳng khởi nghiệp. Lại
kẻ học nhân không hành, như kinh nói: “Học nhân Hoàn mà
chẳng hành; Diệt mà chẳng tác.” Tác tướng là hành, hành
gọi là nghiệp. Lại vì tâm vô-lậu chẳng phải tướng là
hành, nên không có nghiệp vô lậu. Vậy nên tất cả nghiệp
thọ thân đều bởi phiền-não mà sinh. Lại kẻ dứt phiền-não
chẳng còn thọ sinh. Nên biết có thân đều bởi phiền-não.
Hỏi:
Tất cả chúng-sinh đều là không phiền-não, sau khi sinh mới
khởi, như người khi sinh không răng, về sau mới mọc?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Kẻ có phiền-não tùy có những tướng nghĩa
là khi mới sinh ra hiện có tiếng oa oa thảy. Nên biết đều
cùng với phiền-não cọng sinh. Lại hiện thấy chúng-sinh phần
nhiều sinh trong chuồng tiêu thảy chứ chẳng sinh trên đá
bàn thạch. Phải biết vì tham đắm hương vị thảy nên mới
sinh vào trong ấy. Cho nên biết do phiền-não mà sinh.
Hỏi:
Trong địa ngục thảy chẳng nên sinh được. Tại vì sao? Vì
không người nào tham vui trong địa ngục thảy vậy?
Đáp:
Chúng-sinh vì sức mạnh ngu-si, nên ở trong tâm điên-đảo
mà sinh khi sắp chết xa thấy địa ngục lầm cho là hoa ở
ao do đó tham đắm, nên sinh vào trong ấy. Như trong kinh nói:
“Nếu người ở trong chỗ chật hẹp ồn ào mà chết thời
muốn được chỗ rộng rãi là sinh trong loài chim. Nếu kẻ
chết vìa khát là sinh làm loài trùng trong nước. Nếu kẻ
chết vì lạnh thời sinh trong địa ngục nước đá lạnh.
Nếu tham đắm dâm-dục sinh trong loài chim sẻ. Tham đắm ăn
uống thời sinh làm loài trùng trong thây chết”. Lại bởi
vì chỗ tham đắm nên gây các ác. Vì các ác nhân-duyên bắt
buộc chịu lấy quả-báo. Lại vì tham đắm thân nên các nghiệp
năng sinh quả-báo. Tại vì sao? Vì sức mạnh ngu si tham đắm
thân mình, nên sinh các phiền-não kiêu-mạn thảy. Do đấy
năng nhóm thành nghiệp; vì nghiệp nên vào trong các đạo.
Hỏi:
Nều vì nhân-duyên phiền-não mới có thân. Kẻ dứt phiền-não,
lẽ ra ngũ-ấm chẳng còn nối nhau được?
Đáp:
Thân nầy gốc do phiền-não mới sinh; phiền-não tuy hết, nhưng
vì thế lực nên thân vẫn còn chẳng dứt liền. Như lấy
gậy quậy bánh xe, tuy tạm bỏ gậy, nhưng bánh xe vẫn còn
chạy chẳng ngừng.
Hỏi:
Nếu vì thế lực phiền-não nghiệp trước nên mơi có thân.
Những kẻ dứt phiền-não, cũng vì thế lực phiền-não nghiệp
trước nên cũng lẽ ra thọ thân?
Đáp:
Cần phải lấy tướng nên thức năng trụ. Người nầy hết
thế lực nghiệp trước; nay khéo tu môn vô-tướng giải-thoát
nên chẳng thọ thân sau. Lại như các hột giống ở trên hòn
đá nóng chẳng sinh nảy được. Như vậy lấy lửa trí-huệ
mà làm nóng các thức-xứ thời giống thức chẳng sinh, là
dứt nối nhau đời sau. Lại vì các hành nhân-duyên chẳng
đầy đủ nên chẳng còn nối nhau nữa. Như trong kinh Phật
nói: “Thức là hột giống, nghiệp hành là ruộng, tham ái
là nước vô-minh là che đậy. Vì nhân-duyên nầy nên thọ
thân sau”. A-La-Hán duyên nầy chẳng đủ nên không có thân
sau”. Phải biết nhân duyên phiền-não mà thọ sinh. Lại kẻ
không phiền-não, có tâm biết khổ thảy. Nay những kẻ thọ
sinh chẳng thấy có những tâm nầy. Nên biết kẻ không phiền-não
chẳng năng thọ sinh.
Hỏi:
Tu-Đà-Hoàn thảy có tâm biết khổ thảy mà khi sinh cũng chẳng
thấy có?
Đáp:
Các vị A-La-Hán sức trí-huệ mạnh, tất cả phiền-não chẳng
năng thắng nổi, nên khi mạng sắp chết ngăn được thọ
sinh. Tu-Đà-Hoàn thảy trí lực chẳng bằng, nên chẳng phải
đem mà so sánh. Lại ngươi nói như răng về sau lần lần mọc,
phiền-não cũng vậy. Việc ấy chẳng phải lẽ. Tại vì sao?
Vì các vị A-La-Hán dùng trí-huệ vô-lậu đã đốt cháy phiền-não,
nên chẳng còn thọ sinh nữa, như hột giống bị rang chẳng
còn mọc được. Lại hiện thấy đời nay do phiền-não sinh
thân, như do tham-dục mà thân sắc biến khác, giận dữ cũng
vậy. Nên biết ngũ-ấm thân đời sau cũng do từ phiền-não
mà sinh.
Hỏi:
Cũng thấy do uống ăn do nhân-duyên thảy sinh có ngũ-ấm, mà
sao chẳng gọi uống ăn là nhân-duyên thọ thân?
Đáp:
Uống, ăn nương nhờ tâm mà năng sinh sắc thảy. Phiền-não
chẳng phải như vậy. Lại vì không chỗ nương để sinh sắc
thảy. Nên biết phiền-não là nhân-duyên thọ thân. Lại hiện
thấy chim sẽ thảy đa dục; rắn độc thảy đa sân; loại
heo thảy đa ngu. Nên phải biết các chúng-sinh ấy chắc chắn
đời trước đã nhóm họp dâm-dục ấy thảy các phiền-não,
nên mới sinh vào trong các loại ấy.
Hỏi:
Sinh-xứ lẽ là vậy. Nhưng chẳng phải trước đã nhóm họp
nhân-duyên phiền-não?
Đáp:
Nếu như vậy thời dâm-dục thảy vô nhân, việc nầy không
thể được. Nên phải biết do từ trước nhóm họp nhân-duyên
nên mới có. Lại tham sân thảy phiền-não hùng-thịnh thời
gây sát các tội. Vì tội này nên hiện chịu các khổ roi
gậy trói buộc. Phiền-não, nếu mỏng thời được trì-giới
tu thiện, làm các điều lành thảy. Nhờ giới thiện nầy
hiện được vui tiếng khen lợi dưỡng thảy, như đời hiện
này suy bại lợi-lạc đều bởi phiền-não. Nên biết đời
sau sẽ cũng như thế.
Hỏi:
Nếu bảo phiền-não mà có thân, thời không có sinh tử qua
lại tại vì sao? Vì phiền-não thịnh nên đọa ác trong đạo.
Thân đã chịu tội: phiền-não càng tăng, hẳn không nhân giải-thoát.
Như thế không thể được sinh chỗ lành. Nếu thân hưởng
phước là phước lại tăng lên thời chẳng còn sinh lại chỗ
ác. Như vậy thời không có sinh tử qua lại?
Đáp:
Người ấy tuy đọa chỗ ác, thoảng hoặc được thiện tâm;
tuy sinh chỗ thiện hoặc khởi ác tâm, vậy nên sinh tử qua
lại chẳng dứt. Lại tùy tham thảy phiền-não giảm ít, theo
đó mà được sinh chỗ tốt; tùy tham thảy nhiều, theo đó
mà sinh chỗ xấu; như heo chó thảy. Kẻ tùy phiền-não giảm
sinh chỗ tốt, như vì phiền-não giảm sinh chỗ tốt, như phiền-não
mỏng nên năng tu bố-thí, trì giới thảy phước sinh cõi trời
Lục-Dục, vì dứt tâm dục nên mới được vui thắng Thiền.
Vì sắc nhiễm nên được vui thắng Định. Mở hết tất cả
gút thời được Vô tỷ Nê-Hoàn. Nên biết thân nầy bởi
phiền-não mà có. Lại hiện thấy chúng-sinh quốc độ tồi
tệ, và những người ác nương ở những chỗ tồi tệ đều
do tham đắm. Nên biết chỗ ở chúng-sinh ở trong sinh tử cũng
do tham đắm, như loại trùng nga tham sắc sáng nên bị đèn
đốt cháy thân. Tham đắm ấy chẳng do trí sinh. Tại vì sao?
Vì nga kia chẳng biết lửa đèn là khổ-xúc nên mới gieo mình
vào. Như vậy chúng-sinh bị khổ thân sau, đều bởi vô-minh
nhân-duyên tham ái nên mới sinh, như cá nuốt mồi câu; hưu
nai chạy theo tiếng nhái của thợ săn, đều bị tham đắm
nên mới gây ra nạn chết chóc. Lại như người vì tham đắm
nên đi đến phương xa lạ mà chẳng năng hồi hương. Nên
biết đều bởi phiền-não nên mới sinh. Lại như cây chẳng
nhổ rễ tham là cây khổ thường còn. Như Đức Phật : “Rễ
cây chẳng nhổ, dù có chặt gốc cây vẫn sinh chồi; tham sử
đã nhổ, thường thường chịu khổ”. Lại thân này là bất
tịnh, vô thường, khổ, không, vô-ngã; tự chẳng bởi vô-minh,
có đâu kẻ trí mà tham suy-khổ nầy, giống như với kẻ mù
có thể đem áo nhớp mà gạt là áo quý báu. Như vậy bị
vô-minh làm mù, thời năng chịu tội lỗi ngũ ấm bất tịnh.
Lại bởi ngã tâm nên thọ thân tuy khổ mà chẳng năng bỏ
rời. Nếu không có ngã tâm, thời năng xa lìa. như Ngài Xá-Lợi-Phất
nói: “Kẻ thanh tịnh trì giới đắc Đạo khi chết vui mừng,
như phá vỡ bát thuốc độc.
Nên
biết phiền-não nhân-duyên mà có thân. Lại có kẻ vì vô-trí
nên tham đắm thân nầy, như lấy chiếc hòm nhỏ sơn vẽ đựng
đầy đồ bất tịnh, khi mà chưa khai nắp, thời thấy khá
ưa vui, nhưng khi dở ra toàn là mùi hôi thúi. Lại như rắn
độc nằm đầy trong nhà tối, khi đèn chưa soi là sinh lòng
vui đắm, mà khi thấy là bỏ chạy tức tốc. Chúng-sinh cũng
vậy, tùy có vô-minh thời vui thế-gian nếu khi sáng mắt là
tâm lìa nhàm ngao-ngán. Như vậy tham ái là căn bản thọ thân.
Tại vì sao? Vì tham ái nên cầu. Cầu có hai thứ: dục cầu,
hữu cầu. Cầu các dục hiện tại gọi là dục cầu; lại
cầu thân sau gọi là hữu cầu. Nên biết tham-ái là gốc thọ
thân. Lại nếu tham dắm ngũ ấm tức sinh thân-kiến. Bảo
rằng: “Ngã nầy là ngã ngữ-thủ tức lấy.” Nhân món thủ
nầy mà sinh ba món thủ khác. Thủ làm nhân-duyên Hữu, tức
có; hữu làm nhân-duyên Sinh, nên biết phiền-não là căn bản
của thân. Lại thân nầy đều khổ. Với khổ thân nầy sinh
tưởng điên-đảo là vui. Do vui điên đảo nầy sinh ái điên
đảo; vì ái điên-đảo nầy mà năng thọ thân sau. Nên biết
nhân-duyên tham ái mới có thân. Lại thân nầy nhờ nhân duyên
ăn nên mới sống còn. Tham ăn vật thô “đoạn-thực” nên
chẳng vượt khỏi cõi Dục. Như trong nghiệp-phẩm nói tham
hương vị nên sinh trong chuồng tiêu thảy. Vì tham đắm xúc
“xúc-thực” nên sinh trong bào-thai. Vì tham đắm xúc ấm
mát, nên sinh trong trứng, chỗ ướt. Đều chẳng vượt khỏi
cõi Dục. Nhân ba món xúc nầy mà sinh ba món thọ, nên mới
nói xúc làm nhân-duyên thọ. Ý-tư-thực cũng như vậy. Phát
nguyện muốn được thân đời sau: “Ta sẽ làm việc nầy”,
Không thấy biết Thức là gốc tham ái của ăn “thức-thực”
nên có thể gây thành thân sau. Bốn cách ăn như vậy đều
do tham-ái. Tất cả chúng-sinh đều nhờ ăn mà sống còn, nên
biết ái làm nhân-duyên cho sinh. Lại tứ sinh: sinh bằng trứng,
sinh bằng thai, sinh bằng ướt, và sinh bằng biến hóa. Vì
ái dâm-dục nên do trứng sinh và do thai sinh. Tham hương vị
thảy nên do chỗ ẩm-ướt sinh. Tùy chỗ sở-ái nên khởi
nghiệp nặng nề thời chịu hóa sinh.
Nên
biết lối sinh sai khác đều bởi tham-ái. Lại bốn thứ thọ
thân: Có năng tự giết mà kẻ khác chẳng năng giết, như
thế thảy bốn thứ đều do tham ái sai khác nên mới có. Nên
biết tham ái là nhân-duyên có thân. Lại bốn-thức-xứ: Tùy-sắc
mà thức trụ, y-sắc, duyên-sắc, lấy mừng làm thấm nhuần
thọ, tưởng, hành cũng như vậy. Mà chẳng nói thức là thứ-xứ,
vì khi thức tỉnh là không phiền-não vậy. Vậy nên biết
phiền-não nhân-duyên có thân. Lại mười hai pháp nhân-duyên
đều bởi vô-minh. Tại vì sao? Vì tâm giả-danh gọi là vô-minh.
Nhân vô-minh nầy mới khởi nghiệp hành: phước hành, tội
hành và bất động hành. Muốn an lạc chúng-sinh gọi là phước
hành; làm khổ não chúng-sinh gọi là tội hành; nhiếp tâm
từ-bi thảy gọi là bất-động-hành. Tùy theo các hành nghiệp
nầy mà thức trụ thân đời sau. Nương thức sinh danh sắc,
lục-nhập, xúc, thọ. Bốn chi nầy là quả-báo phiền-não
nghiệp đời trước. Trở lại nhân-ái nầy sinh. Ái, Thủ
và Hữu là nghiệp phiền-não năng sinh Sinh, Lão và Tử thảy
đời sau. Như vậy mười hai hữu-phần nối nhau, đều lấy
vô-minh làm gốc. Nên biết phiền-não nhân-duyên có thân. Lại
sinh tử vô-thủy. Tại sao biết được? Trong kinh nói: “Từ
nghiệp nhân-duyên mới có mắt thảy các căn. Bởi ái có nghiệp,
bởi vô-minh nên có ái. Vô-minh bởi nhớ nghĩ tà; nhớ nghĩ
tà, trở lại nhân mắt duyên lấy sắc từ si mà sinh vậy”.
Cho nên biết sinh tử luân-chuyển không đầu.
Nếu
nói nhân đấng Trời Tự-Tại thảy thời chẳng có vô-thủy,
việc nầy không thể được. Nên biết phiền-não nhân-duyên
có thân. Lại diệt hết phiền-não thời được giải-thoát.
Lại thân chúng-sinh nhiều thứ tạp loại. Nếu nhân Tự-Tại
thảy lẽ ra chẳng tạp. Vì nghiệp phiền-não có nhiều thứ
nên thân cũng chẳng một. Lại hai mươi căn, nhân sáu căn
sinh sáu thức. Trong ấy nam nữ căn. Các pháp nầy nối nhau
chẳng dứt nên gọi là mạng. Mạng nầy lấy gì làm căn?
Chỗ gọi là nghiệp vậy. Nghiệp nầy nhân nơi phiền-não.
Phiền-não nương thọ, nên lấy năm thọ làm căn. Như vậy
sinh tử lần lữa nối nhau. Nương tín thảy các căn thảy
dứt nối nhau kia. Như vậy hai mươi căn qua lại sinh tử. Nên
biết đều bởi phiền-não có thân. Lại kẻ cầu giải-thoát
mới sinh những phẩm: Giới-Định-Huệ, giải-thoát, giải-thoát-tri-kiến.
Dùng những pháp nầy để làm gì? Để đều vì diệt các
phiền-não. Kẻ Trí thấy lợi-ích ấy nên mới nương các
phẩm nầy. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại có
phiền-não thứ lớp diệt hết: Diệt ba gút được quả Tu-Đà-Hoàn;
mỏng lần tham-dục thảydc quả Tư-Đà-Hàm; diệt hết gút
cõi Dục được quả A-Na-Hàm. Trong các thiền-định cũng như
vậy: thứ lớp tất cả đều thời chứng được quả A-La-Hán.
Như vậy tùy theo các phiền-não thứ lớp diệt nên thân cũng
lần diệt theo. Nếu thân do Trời Tự-Tại thảy thời chẳng
ưng lần diệt. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại
phiền-não tham thảy các người thiện đều cần dứt hẳn,
vì chắc sẽ thấy nhân-duyên tham thảy đời này đời sau
bị việc suy hại, vậy nên cầu dứt. Nếu chẳng như vậy
thời chẳng cầu dứt. Như những người nói thân nhân Trời
Tự-Tại thảy, mà người ấy cũng cầu dứt tham dục thảy.
Nên biết tham dục thảy là nhân-duyên có thân. Lại kẻ trí
dùng trí huệ mà giải-thoát. Nên biết vì do vô trí nên phải
bị trói. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại Đức
Phật nói trong các kinh: “Diệt hết tham mừng mới được
chính giải-thoát? Tại vì sao? Vì mắt, sắc thảy chẳng gọi
là trói tham mừng mới gọi là trói. Vì phá tham mừng, nên
tâm được chính giải-thoát”. Chính giải-thoát nên tâm mới
năng vào Nê-Hoàn. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân.
Lại dùng không, vô tướng, vô tác mà được giải-thoát.
Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Tại vì sao? Vì quán
các pháp trống không tức không có tướng khá được; vì
diệt tướng nên chẳng nguyện muốn thân sau. Vậy nên dùng
“không” làm môn giải-thoát. Trái lại kia là bị trói. Vì
những các lẽ trên nên biết do phiền-não mà có thân. Việc
nầy thuyết-minh đã rõ. Hết nhóm Tập-Đế.
Thành
Thật luận hết quyển 12.
---o0o---