QUYỂN
THỨ 15
PHẨM
TỨ VÔ-LƯỢNG ĐỊNH THỨ 159
Từ-bi-hỷ-xả.
Từ gọi là lòng lành, trái nhau với giận dữ, như các thiện-tri-thức.
Là kẻ thiện-tri-thức. Thường cầu an lợi. Hành-giả cũng
vậy, vì tất cả chúng-sinh thường cầu an-lạc. Vậy nên
người nầy làm Vị thiện-tri-thức cho tất cả chúng-sinh.
Hỏi:
Tướng của thiện-tri-thức ra sao?
Đáp:
Thường vì cầu lợi ích an vui đời nầy và đời sau cho nhau,
quyết chẳng trái nhau cầu việc vô ích. Hành-giả cũng vậy,
chỉ vì chúng-sinh cầu việc an-lạc, chẳng cầu việc phi an-lạc.
Bi
gọi là từ-tâm, trái nhau với não hại. Tại vì sao? Cũng
vì chúng-sinh cầu-an vui vậy.
Hỏi:
Giận dữ và não-hại có khác chi không?
Đáp:
Sinh niệm giận trong lòng, muốn đánh đập hại chúng-sinh
nầy do giận khởi nghiệp thân khẩu, thời gọi là não-hại.
Lại giận làm nhân cho hại, vì kẻ ôm lòng giận quyết làm
hại cho kỳ được.
Hỷ
gọi là từ tâm, trái nhau với ganh ghét. Ganh là thấy việc
tốt kẻ khác, tâm chẳng nhẫn tức sinh ghét giận. Hành-giả
thấy tất cả chúng-sinh được những điều tăng ích, sinh
lòng rất vui mừng, như tự mình được lợi.
Hỏi:
Ba pháp nầy đều là Từ cả sao?
Đáp:
Tức là ba món sai khác của Từ-Tâm. Tại vì sao? Vì chẳng
giận là Từ; có người tuy chẳng hay giận, nhưng thấy chúng-sinh
khổ chẳng hay thương. Nếu năng đối với tất cả chúng-sinh
sâu tu lòng Từ, như người thấy con gặp khổ hại cấp bách,
bấy giờ lòng Từ chuyển tên là lòng Bi. Hoặc có người
với trong việc khổ hại của kẻ khác năng sinh lòng thương,
mà đối với trong việc ích chẳng hay sinh lòng vui mừng. Tại
sao biết được? Vì có người thấy kẻ oán tặc khổ thoảng
hoặc sinh lòng thương, mà thấy con đắc thắng việc hơn mình
vẫn chẳng năng vui được. Hành-giả thấy tất cả chúng-sinh
được sự tăng ích sinh tâm vui mừng như mình được không
khác. Đấy gọi là Hỷ. Nên biết sai khác của Từ-tâm là
Bi với Hỷ.
Hỏi:
Xả, thứ gì mà gọi là Xả?
Đáp:
Tùy thấy oán, thân thời Từ-tâm chẳng bình đẳng: đối
với người thân thời trọng đãi so chẳng gì bằng; mà đối
với kẻ oán quá quắc là bạc bẽo. Bi Hỷ cũng như vậy.
Nên hành-giả muốn cho tâm được bình đẳng, thời đối
người thân xả hết thân; đối với kẻ oán hết oán, nhiên
hậu đối với tất cả chúng-sinh lòng Từ mới bình đẳng.
Bi Hỷ cũng vậy. Nên trong kinh nói: “Vì muốn dứt ghét, thương
nên phải tu tập xả tâm”.
Hỏi:
Nếu như vậy thời không có xả tâm riêng? Chỉ lấy tâm bình-đẳng
mà gọi là xả?
Đáp:
Tôi trước đã nói sai biệt của Từ-tâm là Bi Hỷ thảy.
Lại từ-tâm do pháp Hạ, trung, thượng nên có ba thứ năng
khiến ba thứ nầy bình-đẳng, nên gọi là xả. Như nói lấy
Từ-tâm bực thượng tu tập tam-thiền.
Hỏi:
Dùng phương tiện nào mà được Từ-tâm nầy?
Đáp:
Sau sẽ nói tội lỗi giận dữ. Biết tội lỗi này rồi, sẽ
tu Từ-tâm, như trong kinh nói: “Kẻ tu Từ-tâm, ngủ yên, thức
yên, chẳng thấy ác mộng; được Trời hộ người mến; chẳng
trúng độc; chẳng bị đao binh; và nước chẳng làm hại”.
Như vậy tất cả nghiệp báo do giận dữ mà sinh, làm sao bì
kịp? Nghe lợi ích ấy nên siêng tu tập. Lại hành-giả nghĩ
lòng: Ta khởi giận dữ, tự chịu quả-báo, chẳng phải ai
thay chịu, vậy chẳng nên giận mà nên tu lòng Từ. Lại hành-giả
nghi tính; Ta vì chút ác mà gia hại người, thời tự chịu
nhiều ác gấp trăm lần chẳng sánh kịp, nên phải lìa ác.
Lại trong kinh nói năm món nhân-duyên trừ giận, thường phải
nhớ. Lại giận dữ chẳng phải là điều đáng nên của người
tu. Lại phải nghĩ việc lành lợi ích của người kia mà trừ
bỏ việc ác, thời tự dứt giận dữ. Lại phải quán nhân-duyên
trước sau của người kia; Người này đời trước, hoặc
từng làm mẹ ta, ôm thai sinh để nuôi dưỡng ta vì ta mà khổ
nhọc; hoặc từng làm cha, anh, em, vợ, con thì làm sao mà giận?
Lại nghĩ: Đời sau, họ hoặc sẽ vì ta làm cha mẹ anh em;
hoặc sẽ làm La-Hán, Duyên giác, hay các Đức Phật, thời
làm sao giám giận? Lại thấy người ác vì làm ác nên bị
khổ cả hai đời. Vậy nên chẳng giận. Lại quán kỹ thể
tính người kia là thiện hay ác: Nếu là ác họ gia ác với
ta, cớ sao sinh giận, như lửa đốt người, nào ai giận lửa?
Lại thấy người kia bị phân-biệt bức, chẳng được tự
tại, như bị quỷ bắt, thời sinh giận làm gì? Lại tùy dùng
nhân-duyên nào dó mà tu tập nhẫn nhục, phải nghĩ nhớ pháp
ấy, thời dứt giận dữ, lòng Từ thêm lớn. Công đức nhẫn
nhục là hành-giả phải nghĩ lòng: Nếu ta giận người tức
là quê hèn như người không khác. Vậy nên phải nhẫn. Như
Phật nói kệ:
Thí
như tập voi,
Chịu
nổi dao tên;
Ta
cũng như vậy,
Chịu
nỗi các ác.
Lại
kệ nói:
Ác-khẩu
mắng chưởi,
Hủy
nhục giận dữ,
Tiểu
nhân chẳng nổi,
Như
đá mưa chìm.
Ác
khẩu mắng chưởi,
Hủy
nhục giận dữ,
Đại-nhân
chịu nổi,
Như
hoa mưa voi.
Vậy
nên phải nhẫn. Lại đem việc ác nầy xoay làm công đức,
cho các việc ác ấy theo thành công đức vậy. Lại hành-giả
biết chúng-sinh nầy ngu si không hiểu biết, in như trẻ con,
chẳng nên giận vậy. Nhờ những phương tiện nầy năng tu
lòng Từ.
Hỏi:
Làm sao tu Bi?
Đáp:
Hành giả thấy các chúng-sinh vui ít khổ nhiều nên sinh lòng
Bi: Ta nỡ nào với chúng-sinh khổ kia lại gia thêm khổ nữa?
Lại thấy chúng-sinh quá tham đắm vui, sinh nghĩ lòng rằng:
Ta nay làm sao dứt lòng tham nó, nên sinh lòng Bi. Lại thấy
chúng-sinh khổ, vì hiện khổ cho nên khổ; thấy chúng-sinh
vui, vì vô thường nên khổ. Vậy nên tất cả chúng-sinh đều
có phần khổ, hoặc sớm hoặc muộn, không ai thoát được.
Vì nhân-duyên nầy, nên sinh lòng Bi.
Hỏi:
Làm sao tu Hỷ?
Đáp:
Hành-giả thấy kẻ ganh lợi với người khác là tướng quê
hèn, vậy nên tu Hỷ, khởi nghĩ như vầy: Lẽ ta phải cho chúng-sinh
vui, nhưng nay nó tự được, thế là giúp ta. Vậy nên sinh
mừng. Lại thấy ganh ghét ấy luống uổng vô-ích, chẳng tổn
ai được, mà lại hại mình. Lại như kinh nói ganh ghét là
tội lỗi. Muốn lìa lỗi ấy, nên sinh vui mừng.
Hỏi:
Làm sao tu Xả?
Đáp:
Thấy lỗi tâm bất bình-đẳng, muốn cho tâm bình-đẳng, vậy
nên tu Xả. Lại hành-giả thấy lỗi của tâm tham giận nên
tu hạnh Xả.
Hỏi:
Vô lượng tâm nầy ở trong cõi nào?
Đáp:
Đều ở ba cõi.
Hỏi:
Có ông Luận-sư nói từ tam-thiền trở lên không có hỷ-căn.
Việc ấy thế nào?
Đáp:
Tôi chẳng nói hỷ-tâm là hỷ-căn-tính chỉ vì lời kẻ khác
lòng khác mừng chẳng vẫn đục, nên gọi là Hỷ. Bốn vô-lượng
tâm nầy đều là huệ-tính.
Hỏi:
Trong cõi vô-sắc làm sao có bốn vô-lượng-tâm? Vì có sắc
tướng mới phân biệt chúng-sinh; trong ấy hoại mất sắc
tướng làm sao có được?
Đáp:
Chúng-sinh vô-sắc cũng có thể phân-biệt. Như trong kinh nói:
“Phải làm hữu-sắc và vô-sắc thảy”. Lại trong kinh nói:
“Tu Từ rất xa, được báo biến-tịnh; tu Bi rất xa, được
báo vô-sở-hữu-xứ”. Nên biết trong vô-sắc cũng có vô-lượng-tâm.
Hỏi:
Trong mỗi mỗi cõi có một vô-lượng-tâm. Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ
không có sao?
Đáp:
Tất cả xứ có tất cả, chỉ tu thượng Từ nên sinh về
biến-tịnh-xứ. Vì các nghiệp sinh quả-báo tương-tự vậy,
nghĩa là chúng-sinh cầu vui lại được báo vui. Bi cũng như
vậy. Do có thân nên các khổ nhóm nhiều. Vô-sắc trong hư
không, nên Thức-xứ tâm ở trong cảnh duyên rất vui ở, nên
bỏ hết vô-sở-hữu xứ. Hành giả vì bị tưởng làm mỏi
mệt, nên vào vô-sở hữu-xứ, Phi-tưởng phi phi-tưởng cũng
có vô-lượng-tâm. Nhưng vì nhỏ nhiệm chẳng rõ nên chẳng
nói. Lại tất cả xứ có tất cả, nhưng tùy nhiều mà nói,
trong biến-tịnh lòng từ rất cao tột nên nói như thế thảy.
Lại trong các thiền-định, bốn vô-lượng-tâm thọ quả-báo
thù thắng, vì nghiệp-duyên chúng-sinh vậy.
Hỏi:
Có ông luận-sư nói bốn vô-lượng-tâm nầy chỉ duyên chúng-sinh
cõi Dục. Việc nầy thế nào?
Đáp:
Sinh tất cả xứ đều năng hiện vào.
Hỏi:
Nếu sinh trong kia cũng năng hiện vào thời phước chẳng năng
hết, vì thường sống trong ấy?
Đáp:
Như trong ấy cũng hiện vào Thiền thảy; các thiện-pháp khác,
cũng vẫn có thối lui. Từ thảy cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu có lẽ nầy, sao chẳng mau thối lui?
Đáp:
Có nghiệp như vậy, tuy có nhân-duyên lui, mà chẳng mau lui,
như các cõi Trời trong cõi Dục thảy, tuy có thiện-nghiệp
mà cũng sinh ác-đạo. Việc nầy cũng như vậy.
Hỏi:
Kẻ tu Từ tam-muội, tại sao đao binh, nước lửa chẳng làm
hại được?
Đáp:
Đấy là nhờ phước lành lâu dày, nên các ác chẳng gia hại
được; Cũng được các vị Trời thủ-hộ nữa.
Hỏi:
Kinh nói Từ cùng tu giác-ý. Hữu-lậu và vô-lậu làm sao cũng
tu?
Đáp:
Từ nầy và giác-ý thuận nhau như trong kinh nói: “Nếu người
chăm lòng nghe pháp, thời năng dứt năm món che”. Tu bảy pháp
giác-ý chẳng cần nghe pháp, cũng tu giác-ý được. Lại trong
kinh nói: “Tỳ-kheo các ngươi! Tu tập lòng Từ, Ta bảo đảm
các ngươi được quả A-Na-Hàm”. Lòng Từ tuy chẳng dứt
gút, nhưng trước lấy lòng Từ nhóm các lợi phước-đức
trí-huệ, rồi mới được Thánh-Đạo, vì Huệ năng dứt các
gút vậy, nên mới nói tu Từ được A-Na-Hàm. Cũng Từ tu giác
cũng lại như vậy.
Hỏi:
A-La-Hán dứt tưởng chúng-sinh, làm sao tu vô-lượng-tâm?
Đáp:
A-La-Hán tuy vào Từ-tâm, mà chẳng hay nhóm thành từ-nghiệp,
vì chẳng thọ sinh vậy.
Hỏi:
Lòng Đại-bi, các Đức Phật Thế-Tôn là thế nào?
Đáp:
Các Đức Phật Thế-Tôn bất-tư-nghì-trí như vầy: Tuy biết
các pháp rốt ráo không mà năng hành Đại-Bi sâu sắc hơn
phàm phu, chỉ chẳng được quyết định tướng chúng-sinh.
Hỏi:
Bi với Đại-bi có sai khác gì?
Đáp:
Gọi Bi chỉ lòng thương xót, mà năng thành xong sự nghiệp,
mới được gọi Đại-Bi. Tại vì sao? Vì Bồ-tát thấy chúng-sinh
khổ, muốn hết khổ nầy mới siêng năng tu tinh-tiến. Lại
ở vô-lượng kiếp tu tập được thành, nên gọi Đại-Bi.
lại đem trí-nhãn thấy khổ chúng-sinh, quyết định phát tâm
cần trừ diệt, nên gọi Đại-Bi. Lại làm nhìêu việc lợi
ích, nên gọi đại-bi. Cũng không bị gì ngăn ngai, nên gọi
đại-bi. Tại vì sao? Vì lòng Bi hoặc nghĩ ác của kẻ kia,
thời sinh ngăn ngại, chứ đại-bi đối với các ác dữ dội
thông suốt không ngại. Lại lòng bi hoặc có dày, mỏng chẳng
đồng, mà tất cả bình-đẳng, nên gọi đại-bi. Lại tự
bỏ lợi mình, mà cầu lợi cho người, nên gọi đại-bi. Bi
chẳng bằng như vậy. Đấy là những tên sai khác. Như vậy
Từ, thảy ở Phật đều gọi là Đại. Nhưng vì Bi năng cứu-khổ,
vậy nên được nêu riêng.
PHẨM
NĂM NHÁNH TAM-MUỘI THỨ 160
Trong
kinh nói năm nhánh Thánh tam-muội là: Hỷ, Lạc, Thanh-tịnh-tâm,
Minh-tướng, và quán-tướng. Hỷ là sơ-thiền nhị-thiền hỷ-tướng
đồng, nên gọi chung làm một nhánh. Đệ-tam thiền vì lìa
hỷ-lạc nên gọi riêng là một nhánh. Trong đệ-tứ thiền
tâm thanh-tịnh nên gọi nhánh thứ ba. Nương ba nhánh nầy năng
sinh minh-tướng. Minh tướng và quán-tướng nầy làm nhân,
năng phá rách ngũ-ấm; quán ngũ-ấm trống không, nên gọi
quán tướng. Năng đến Nê-Hoàn, nên gọi là Thánh.
Hỏi:
Trong kinh nói Thánh-ngũ-trí tam-muội. Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Phật tự nói hành-giả khởi nghĩ rằng: ta với tam-muội nầy
là Thánh-thanh-tịnh. Đấy là sơ-trí. Tam-muội nầy chẳng
phải phàm phu gần gũi được, mà là kẻ trí ngợi khen. Đấy
là trí thứ hai. Tam-muội nầy phải vắng lặng diệu ly mới
được. Đấy là trí thứ ba. Tam-muội nầy hiện tại vui,
sau được báo cũng vui. Đấy là trí thứ tư. Tam-muội này
ta nhất tâm vào, nhất tâm ra. Đấy là trí thứ năm. Phật
chỉ cho trong Định cũng có trí-huệ, chẳng những buộc tâm,
mà hành-giả khi tu tu tập Định, nếu sinh phiền-não thời
ở trong ấy sinh trí trừ phiền-não kia muốn cho tam-muội là
Thánh-thanh tịnh gọi là sơ trí. Thánh thanh-tịnh là chẳng
phải phàm phu được gần, là trí ngợi khen. Là chẳng phải
phàm phu là các vị Thánh-nhân vì đã được trí nên chẳng
gọi phàm phu. Trí nầy năng phá giả-danh, là trí thứ hai.
Mỏng lần các phiền-não, tham thảy phiền-não diệt, nên gọi
tịch-diệt. Vì tịch-diệt nên diệu; ly các phiền-não nên
gọi là ly. Được pháp nầy đều là Đạo ly-dục, là trí
thứ ba. Tùy chứng phiền-não đoạn, được an-ẩn tịch-diệt,
lìa vui nóng nảy, nên gọi hiện vui, sau vui. Hiện vui, là vui
lìa phiền-não. Sau vui là vui Nê-Hoàn, là trí thứ tư. Hành-giả
thường hành vô-tướng tâm, nên thường nhất tâm ra vào,
là trí thứ năm. Vậy nên nếu kẻ nào chưa sinh năm trí phải
sinh; đã sinh tức được quả Tam-muội.
PHẨM
SÁU TAM-MUỘI THỨ 161
Hỏi:
Trong kinh nói sáu tam-muội: có một tướng tu làm một tướng;
có một tướng tu làm nhiều các tướng; có một tướng tu
làm một tướng, nhiều các tướng; nhiều các tướng tu cũng
như vậy. Thứ nào là thế nào?
Đáp:
Một tướng ấy phải là là thiền-định, vì thiền-định
ở trong một cảnh duyên nhất tâm hành vậy. Nhiều các tướng
phải là tri-kiến, vì biết các pháp nhiều các tính, nên với
ngũ-ấm thảy các pháp phương-tiện vậy.
Hỏi:
Một tướng tu làm một là thế nào?
Đáp:
là như người nhờ Định lại được sinh Định. Còn một
tướng tu làm nhiều các tướng: là như người nhờ Định
được sinh tri-kiến. Một tướng tu làm một tướng nhiều
các tướng Là như người nhờ Định được sinh thiền-định
và ngũ-ấm phương-tiện. Nhiều các tướng tu cũng như vậy.
Hỏi:
Có ông Luận-sư nói: Một tướng tu làm một tướng; Phải
là như người nhờ đệ-tứ-thiền chứng A-La-Hán quả. Một
tướng tu làm nhiều các tướng: Là như người nhờ đệ-tứ-thiền
chứng năm thần-thông. Một tướng tu làm một tướng nhiều
các tướng: Là như nhờ đệ-tứ-thiền chứng quả A-La-Hán
và năm thần-thông. Nhiều các tướng tu làm nhiều các tướng:
Là như người nhờ năm nhánh tam-muội chứng quả A-La-Hán
và năm thần thông. Còn hai pháp kia cũng như vậy. Nghĩa ấy
thế nào?
Đáp:
Phải nói lý-do? Tại sao đệ-tứ-thiền và A-La-Hán quả là
một tướng; năm chi nhánh tam-muội và năm thần-thông là nhiều
các tướng? Lại năm nhánh chẳng nên làm chỗ nương, vì năm
nhánh tam-muội là minh-tướng quán-tướng của bốn Thiền,
mà làm sao nương đấy được quả A-La-Hán? Tại vì sao? Vì
cần nương nhất Thiền mới được A-La-Hán quả. Lại cũng
nên nương minh-tướng mà được quả A-La-Hán. Vậy chẳng
nên phải lẽ.
Hỏi:
Có người nói có sáu món vào Định: thuận vào, nghịch vào,
thuận nghịch vào, thuận siêu, nghịch siêu, và nghịch thuận
siêu. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Có ông Luận-sư nói: Hành-giả muốn được diệt tận định,
nên thứ lớp vào ra các Thiền. Vậy nên chẳng nên hoặc nghịch,
hoặc thuận, hoặc nghịch thuân, và vượt lên thảy. Sáu lỗi
vào ra ấy được lợi ích chi? Hành-giả muốn được diệt
tận định, quyết phải thứ lớp vào, cũng nên thứ lớp
mà khởi. Lại nếu được bực thượng, tại sao lại vào
bực hạ? Vì bực hạ chông gai, như người lớn chẳng còn
ưa cách giỡn của trẻ nít. Lại như người vì nghề nghiệp
đã khéo, chẳng còn ưa vụng nữa. Việc nầy cũng phải như
vậy. Lại nếu nói siêu-vượt, việc nầy chẳng phải lẽ.
Trong kinh chỉ nói thứ lớp vào các thiền-định. Hành-giả
nếu năng vượt đến đệ-tam, tại sao chẳng năng vượt đến
tứ ngũ? Nếu nói thế lực chỉ chừng ấy, như người trèo
lên thang lên một bực chẳng lên được bực nữa, ví-dụ
này cũng chẳng quyết định. Lại người sức mạnh năng bước
lên bực tứ, lại cũng có thể vượt trên trăm bực. Vậy
nên nên chẳng phải lẽ. Trong kinh tuy nói khi Đức Phật vào
Nê-Hoàn thuận nghịch vượt lên vào các thiền-định. Kinh
nầy cùng với chính nghĩa trái nhau, chẳng nên tin chịu. Tuy
có lời ấy, nhưng nghĩa chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì như
nói hành giả đến diệt-tận-định, chỉ nên thuân vào mà
chẳng cần sáu pháp. Hành-giả nếu đến thẳng Diệt định,
vậy nên chẳng cần. Nếu muốn thí nghiệm tâm mình ở trong
thiền-định coi có thể tự tại chẳng lui, nên mới thuận
nghịch, ra vào, vượt lên, như người cỡi ngựa, nếu tại
trận đối địch thời chẳng nên chạy vòng quanh; như muốn
tập luyện trong lúc nhàn rỗi thời nên. Nếu nói bực dưới
chông gai nên vào ấy. Chẳng vì bực dưới thắng hơn sau bèn
vào, mà vì là chỗ hành-đạo của hành-giả vậy. Nếu nói
như người chẳng ưa trẻ nít giỡn ấy. Hoặc vì nhân-duyên
phải làm trẻ nít múa giỡn: như người đạo diễn gia phải
múa nhảy trọn ngày, đâu phải lòng mình ưa vui mà vì dạy
tập vậy. Như vậy Thánh nhân nghịch thuận ra vào vượt lên
các thiền, là vì muốn thị hiện cho Trời, Người và các
Thần, Tiên biết sức tự tại trong các thiền-định vậy.
Lại khi Đức Phật vào Nê-Hoàn, vì muốn đem thâm diệu thiền-định
để huân tu ngọc Xá Lợi, nên tự-tại vào ra nghịch thuận
vượt lên. Lại người thấy Phật khi vào vô-dư Nê-Hoàn chán
ngán tất cả pháp hữu vi, vậy nên Phật hiện pháp báu quí
đáng yêu mến này. Ngươi nói kinh này trái với chính nghĩa
ấy. Việc này chẳng phải lẽ. Ngươi nói tại sao chẳng năng
vượt đến thứ bốn ấy. Trong Bồ-tát tạng nói tướng vượt
lên; Từ sơ thiền khởi, vào diệt tận đinh; từ diệt tận
định khởi cho đến vào trong tản tâm, vì tâm lực vĩ đại
nên mới có thể như vậy.
PHẨM
BẢY TAM-MUỘI THỨ 162
Luận-giả
nói có bảy chỗ nương: nương sơ-thiền được hết lậu
cho đến nương vô-sở-hữu-xứ được hết lậu. Nương là
nhân nhờ bảy chỗ này được Thánh-trí-huệ, như nhiếp-tâm
được sinh thật-trí. Vì có người chỉ được thiền-định
cho đó là đủ. Vậy nên Phật nói: “đấy chẳng phải đã
đủ đâu cần nương Định nầy cầu thêm thắng pháp nữa”.
Nghĩa là hết các lậu. Nên nói là nương.
Hỏi:
Nương thiền-định nầy được hết các lậu là thế nào?
Đáp:
Phật nói hành-giả tùy đem tướng nào, duyên nào rồi vào
sơ-thiền. hành-giả ấy chẳng còn nghĩ nhớ tướng ấy, duyên
ấy nữa; mà chỉ quán trong sơ-thiền, có bấy nhiêu các sắc,
hoặc thọ, tưởng, hành, thức như bệnh, như cung, như tên,
đau nhức, vô thường, khổ, không, vô-ngã. Khi quán như vậy,
tâm sinh nhàm lìa được giải thoát các lậu. Cho đến vô-sở-hữu-xứ
cũng như vậy. Chỉ trừ ba không-xứ vì không có sắc quán
được. Hành-giả thấy cõi Dục ồn-ào rối loạn, sơ-thiền
yên lặng vắng vẻ, nhiên hậu mới được. Vậy nên Phật
nói: “Đừng nghĩ tướng vui tịch-diệt ở Sơ-thiền, mà
chỉ quán ngũ-ấm và tám món tội lỗi của sơ-thiền mà thôi”.
Các chỗ nương khác cũng vậy.
Hỏi:
Cõi Dục tại sao chẳng nói nương?
Đáp:
Trong kinh Tu-Thi-Ma nói: “Trừ bảy chỗ nương lại có được
Thánh-Đạo-xứ”. Nên biết cõi Dục cũng có nương.
Hỏi:
Có người nói nương một bên sơ-thiền chưa đến chỗ được
quả A-La-Hán. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Nếu chưa đến chỗ mà có nương, thời
là có lỗi. Nếu chưa đến chỗ năng được, tại sao vì chẳng
vào sơ-thiền? Vậy nên chẳng phải.
Hỏi:
Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ, tại sao chẳng nói nương ư?
Đáp:
Trong ấy chẳng rõ ràng vì Định nhiều Huệ ít, nên chẳng
nói có nương. Bảy tưởng định là bảy chỗ nương vậy.
Hỏi:
Phật, tại sao nói bảy chỗ nương, gọi bảy tưởng định?
Đáp:
Ngoại-đạo vì không có chân-trí nên chỉ nương dựa nơi
tưởng. Tất cả nương dựa đều bị tưởng làm nhơ nhớp
chẳng phá được giải thoát, nên gọi tưởng-Định. Thánh-nhân
năng phá hoại tưởng, chỉ nương Định nầy thẳng lấy hết
lậu, nên gọi là nương. Như nói hành-giả quán các pháp nầy
như tật bệnh, như mụt ung thẩy, Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ
cũng vì tưởng chẳng rõ rệt, nên chẳng nói tưởng-định.
PHẨM
TÁM GIẢI-THOÁT THỨ 163
Luận-giả
nói: Trong kinh nói tám giải thoát: Trước tiên tưởng nội
sắc, quán ngoại sắc. Kẻ hành-giả nhờ giải thoát nầy
xé rách các sắc. Tại sao biết được? Vì trong đệ-nhị
giải thoát nói: Nội không sắc tưởng, quán sắc bên ngoài,
để phá sắc bên trong nên nói nội không sắc tưởng. Nên
biết hành-giả với trong sơ giải thoát, phá lần sắc thân
đến trong đệ-nhị giải thoát, đã phá được sắc trong,
chỉ còn sắc ngoài. Trong đệ-tam giải thoát sắc ngoài cũng
phá luôn, nên chẳng thấy sắc trong ngoài, ấy gọi là sắc
không. Như trong kinh Ba-la-diên nói: “Phá rách sắc tướng,
diệt dứt các dục, trong ngoài không thấy, Ta hỏi việc?”
Trong bốn giải thoát nói tâm-thức trống không, như trong kinh
lục-chủng nói: “Nếu Tỳ-kheo với trong năm món rất sinh
nhàm lìa, chỉ còn có thức”. Nên biết trong bốn-giải thoát
nầy phá rách các sắc, đến đệ-bát giải thoát mới diệt
diệt tận hết cả. Tại vì sao? Vì nếu diệt sắc thời hữu
vi đều diệt, gọi là quả A-La-Hán. Dùng thứ lớp như vậy
mới được diệt hết. Đấy gọi là tám giải thoát. Có người
nói sơ và nhị giải thoát là bất-tịnh, mà đệ-tam giải
thoát mới là tịnh. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao?
Vì là giải thoát nầy không lấy bất-tịnh-quán mà được
giải thoát; tịnh quán cũng không giải thoát, chỉ lấy không
quán mới năng được giải thoát. Lại ngoại đạo năng được
tịnh và bất-tịnh quán, mà chẳng được gọi giải thoát.
Hỏi:
Ngoại-đạo cũng năng phá-rách sắc tướng, việc ấy thế
nào?
Đáp:
Ngoại đạo lấy tín-giải mà quán phá hoại sắc tướng,
chẳng phải không quán vậy. Tại vì sao? Như dùng tín-giải
mà quán. Thấy thân đã chết đem bỏ trong mồ mã; trùng, thú
ăn thảy.
Hỏi:
Ngoại đạo lìa sắc được vô-sắc định, lẽ phải có vô-sắc
định, lẽ phải có vô-sắc định, lẽ phải có vô-sắc giải
thoát?
Đáp:
Ngoại đạo tuy có vô-sắc-định, mà vì tham đắm nên chẳng
gọi giải thoát. Thánh nhân nhờ vô-sắc-định năng quán bốn
ấm bệnh thảy tám việc, nên gọi giải thoát.
Hỏi:
Ông nói diệt định là A-La-Hán. Việc này chẳng phải lẽ.
Tại vì sao? Vì học nhân cũng được gọi tám giải thoát.
Ông nói diệt-định gọi là lậu tận, vậy thời học nhân
lẽ phải được lậu-tận?
Đáp:
Trong kinh nói Diệt-tướng-chung mà chẳng phân-biệt nói là
tâm diệt hay là phiền-não diệt. Như trong kinh nói hai món
diệt: một diệt; hai diệt; hai thứ lớp diệt. Hai món Nê-Hoàn:
một hiện-tại Nê-Hoàn; hai rốt ráo Nê-Hoàn. Cũng nói hai
món yên-ổn: một yên-ổn; hai đệ nhất yên-ổn. Kẻ được
yên-ổn cũng hai dạng: một được yên ổn; hai được đệ-nhất
yên-ổn. Vậy nên chứng được của học nhân chẳng phải
là chân-thật-diệt. Lại trong kinh nói: “Nếu Tỳ-kheo năng
vào diệt-định là xong tất cả việc”. Nếu diệt-định
chẳng phải A-La-Hán quả thời chẳng nên nói xong tất cả
việc.
Hỏi:
Học-nhân thật chẳng được tám giải thoát sao?
Đáp:
Trong kinh nói học-nhân được chín thứ-đệ-định. Chẳng
nói được diệt-tận. Hành-giả hoặc được diệt-tận, mà
chẳng năng vào các thiền-định, gọi Huệ giải thoát; hoặc
năng vào các thiền-định mà chẳng được diệt-tận, gọi
là thân chứng. Nếu cả hai đều được gọi là câu giải
thoát. Tại vì sao? Vì các lậu là một phần chướng; pháp
thiền-định là một phần đắc. Giải thoát hai phần trên
gọi câu giải thoát.
Hỏi:
Trong các thứ lớp diệt; trong các giải thoát diệt, có khác
chi không?
Đáp:
Danh đồng mà nghĩa khác. Trong thứ lớp diệt, gọi là tâm,
tâm số diệt; trong giải thoát diệt, gọi các phiền-não diệt.
Như trong kinh nói các hành thứ lớp diệt. Nghĩa là vào sơ-thiền
diệt ngữ-ngôn; vào nhị-thiền diệt giác-quán; vào tam thiền
diệt mừng; vào tứ-thiền diệt vui; vào không xứ diệt sắc-tướng;
vào thức-xứ diệt không tướng; vào vô-sở-hữu-xứ diệt
thức tướng; vào Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ diệt vô-sở-hữu-tướng;
vào diệt-tận-định diệt các tưởng-thọ. Các diệt trong
đây lại có thắng-diệt, chỗ gọi kẻ hà-giả đối với
tâm tham sân si nhàm chán nên được giải thoát.
Hỏi:
Làm sao biết trong thứ lớp tâm, tâm-sở diệt; trong giải
thoát các phiền-não diệt.
Đáp:
Tên diệt tuy đồng mà nghĩa phải có khác. Trong thứ lớp
nói diệt tưởng thọ; trong giải thoát nói diệt vô-minh xúc
thọ. Tại vì sao? Vì từ giả-danh sinh thọ, phá giả-danh thời
diệt, Trong thứ lớp chẳng phải như vậy. Trong các kinh có
sai khác như thế. Nếu nói thẳng hành giả được diệt-tận
thời xong tất cả việc. Phải biết vì khi chứng Nê-Hoàn
các phiền-não diệt, chẳng nói tâm, tâm-số diệt.
Hỏi:
Nếu tám giải thoát là pháp diệt phiền-não thời tất cả
A-La-Hán thảy đều phải được?
Đáp:
Đều được.Nhưng chẳng năng “vào”. Nếu chứng được
các thiền-định, thời năng vào.
Hỏi:
Hành-giả nếu không thiền-định, làm sao năng được thân
tâm trống không, và hết các phiền-não?
Đáp:
Người này có Định mà chẳng năng chứng; lại có như điện
tam-muội, nhờ tam-muội này được hết phiền-não. Như trong
kinh nói: “Ta thấy Tỳ-kheo khi muốn lấy áo có phiền-não
lấy rồi tức không phiền-não”. Như thế thảy. Tại vì
sao? Vì tâm như điện, tam-muội như kim-cương. Chân trí năng
phá phiền-não. Lại nghĩa trong đệ-tam-lực của Phật nói:
Chỗ gọi các thiền, giải thoát, tam-muội, vào, cấu, tịnh
sai khác như thật biết Thiền trong đây là tứ-thiền. Có
người nói bốn Thiền, bốn vô-sắc-định đều gọi là thiền;
giải thoát là tám giải thoát; tam-muội là trong một niệm
tam-muội như điện. Vào là được sức tự-tại trong “thiền
giải thoát tam-muội”. Như Ngài Xá-Lợi-Phất nói: Ta với
trong bảy “Giác” năng ra và vào tự-tại. Nên biết Huệ-giải-thoát
A-La-Hán sao có vị chẳng năng vào, vì có thâm tu tập mới
năng tự tại vào.
Hỏi:
A-La-Hán sao có vị chẳng thâm tu tập các thiền-định?
Đáp:
Người nầy được Đạo, việc làm đã xong, vui tu xả-tâm,
nên chẳng hay tập nữa. Nếu không xả-tâm, thời vào Định
không khó. Như trong kinh nói: “Hành-giả khéo tu bốn pháp
như-ý-túc, có thể thổi núi Tuyết khiến cho thành bột đất,
huống chi thứ vô-minh chết ư?”. Nên biết trong tám giải
thoát nói diệt hết lậu, chẳng cần vào Định mới diệt.
Lại trong kinh nói: “Có minh-tính, có không tính, có vô-biên
hư-không tính, có vô-biên-thức-tính, có vô-sở-hữu-tính,
có Phi-tưởng phi phi-tưởng-tính, có diệt-tính”.Bởi tối
nên có tính sáng; bởi chẳng trống không, nên có tính trống
không; bởi sắc nên có tính vô-biên hư-không; bởi tính vô-biên
hư-không, nên có tính vô-biên-thức; bởi vô-biên-thức nên
có tính vô-sở-hữu; bởi vô-sở-hữu nên có tính Phi-tưởng
phi phi-tưởng; bởi ngũ-ấm nên có tính Diệt. Nếu chẳng
năng phá hoại tướng ngũ-ấm giả-danh, đấy gọi là tối.
Nếu năng phá hoại ngũ-ấm giả-danh, thời gọi là tính sáng.
Như Phật dạy một Tỳ-kheo: “Ngươi đối với không trong
các hành, phải quán các hành trong trống-không, để tự điều
uốn tâm mình, như người cầm đèn trong nhà trống-không,
bao vật bị thấy đều không”. Hành-giả lấy sắc chứng
sắc nầy diệt, gọi là không tính. Ngoại đạo nhờ vô-biên
hư-không-xứ được lìa sắc, cho đến Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ
mà lìa vô-sở-hữu-xứ. Bởi các ấm có diệt-tính ấy: Hành-giả
có bao nghĩ lường, có bao tác khởi đều diệt là mầu nhiệm.
Đấy gọi là bởi các ấm có diệt-tính.
Hỏi:
Các tính nầy nương Định nào mà được?
Đáp:
Trong kinh nói Minh-tính cho đến Phi-tưởng phi phi-tưởng-tính,
đều do tự hành vào Định mà được. Nghĩa là hành duyên
hữu-vi đạo nên được. Tại vì sao? Vì sơ-trí duyên sắc
gọi là minh-tính; tính thứ hai cũng lấy sắc, lấy rồi chia
chẻ khiến không. Như thế cho đến Phi-tưởng phi phi-tưởng-tính,
diệt tính, vào diệt-tính, tất cả pháp hữu-vi đều không
nên mới được. Trong đây nói Diệt gọi là lậu-tận Nê-Hoàn.
Hỏi:
Các giải thoát nầy ở trong bực nào?
Đáp:
Hành giả muốn phá hoại sắc: hoặc hương cõi Dục mà trụ
Định, hoặc nương cõi sắc mà trụ định, thời năng được
sắc không. Tất cả trong các bực năng được tâm không.
Hỏi:
Giải thoát nầy có mấy hữu-lậu, mấy vô-lậu?
Đáp:
Không-tính là tất cả vô-lậu.
PHẨM
TÁM THẮNG-XỨ THỨ 164
Thắng-xứ
thứ nhất: Tưởng nội sắc thấy ngoại sắc ít hoặc tốt
hoặc xấu, đối với các sắc nầy thắng-tri thắng-kiến,
nên gọi là thắng xứ. Thứ hai tưởng nội sắc thấy ngoại
sắc nhiều. Thứ ba tưởng nội không có sắc, thấy ngoại
sắc ít. Thứ tư tưởng nội không có sắc, thấy ngoại sắc
nhiều. Thứ năm tưởng nội không có sắc, thấy ngoại sắc
xanh, hình xanh, sáng xanh, như hoa-ưu-ma-già, như sắc chân-thanh
nhuộm áo ba-la-nại. Thứ sáu thấy vàng. Thứ bảy thấy đỏ,
thứ tám thấy trắng. Hành giả thấy như thể thấy các sắc
nhiều vô-lượng. Tại vì sao? Vì chẳng những có xanh ấy
thảy bốn sắc, mà vì lược nói nên mới có tám thắng-xứ.
Hành-giả nếu năng dùng không-quán phá rách các căn, bấy
giờ gọi là thắng xứ.
Hỏi:
Ai năng được pháp này?
Đáp:
Đệ-tử của Phật chứ chẳng phải ai khác.
Hỏi:
Tám thắng-xứ nầy ở trong bực nào?
Đáp:
Ở Dục, Sắc hai cõi.
Hỏi:
Là hữu lậu hay vô lậu?
Đáp:
Trước là hữu lậu, mà dùng không quán phá sắc thời thành
vô lậu.
Hỏi:
Tại sao pháp này độc danh thắng xứ?
Đáp:
Đấy là chỗ tham đắm nhất của hành giả. Vậy nên Phật
vì đệ-tử nói tên thắng xứ, nghĩa là chỉ cho cần phải
thắng cảnh duyên nầy vậy.
PHẨM
CHÍN THỨ LỚP SƠ-THIỀN THỨ 165
Chính
thứ lớp Định: Bốn thiền, bốn vô-sắc-Định và diệt-tận-Định.
Sơ-thiền: Như trong kinh nói: “Hành-giả lìa các dục các
ác pháp bất-thiện hữu-giác hữu-quán. Ly-sinh hỷ-lạc vào
sơ-thiền”.
Hỏi:
Nên chỉ nói tướng sơ-thiền, mắc chi mà nói lìa các dục
ư?
Đáp:
Có người báng rằng: thế-gian không có ai năng lìa dục, vi
người đời đều ở trong ngũ-dục cả: không ai mắt chẳng
thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi thơm, lưỡi
chẳng nếm vị và thân chẳng cọ xát. Nên mới nói lìa dục.
Dục là dục-tâm chẳng phải là sắc thảy; như nói sắc thảy
các vật chẳng gọi là dục. Tại sao biết được? Có kẻ
tinh-tiến sắc thảy vẫn tồn tại, mà năng dứt dục. Lại
trong kinh nói: “Sắc thảy là phần chẳng gọi là dục”.
Tham tâm trong ấy mới gọi là dục. Nếu sinh tham tâm thời
tìm cầu các dục. Vì nhân-duyên cầu dục, nên mới có tham
giận, gậy roi, giết hại các ác pháp tiếp theo. Như trong
kinh Đại-nhân nói nhân ái sinh cầu thảy. Nên biết lài tham
dục gọi là lìa dục. Có người nói lìa sắc thảy năm món
dục gọi là ly-dục, lìa pháp ác bất-thiện, gọi là lìa
năm món che. Sơ-thiền gần với tâm tán loạn, nên gọi hữu-giác.
Lại hành-giả nầy Định lực chưa thành, phát khởi tâm tán
loạn, nên gọi hữu giác. Như trong kinh nói: “Ta tu hạnh hữu-giác
hữu-quán”. Phải biết Phật nói tản tâm là giác. Giác nầy
yếu lần nhiếp-tâm càng sâu, thời gọi là quán. Tùy Định
thành-tựu, tâm chẳng tản nhiều, bấy giờ nói là quán. Quán
nầy đeo theo hành-giả đến bực Thiền trung-gian. Nếu lìa
giác-quán được mừng gọi là ly-sinh-hỷ. Hỷ nầy trước
năng được lợi ích nơi thân, nên gọi là lạc. Lìa giác-quán
nầy ưa ở trong một cảnh duyên, đấy gọi là Thiền. Thiền
nầy bị giác-quán làm loạn nên được quả-báo thân có sai
khác. Vì hạ, trung, thượng sai khác nên có; Phạm-chúng-thiên,
Phạm-phu-thiên, Đại-phạm-thiên.
Hỏi:
Nếu lìa giác-quán hỷ là sơ-thiền ấy, thời chẳng cần
dùng năm nhánh làm sơ-thiền; như lìa giác-quán cùng đệ-nhị-thiền
có sai khác chi? Lại trong kinh nói: “Sơ-thiền hữu-giác hữu-quán,
khoái-lạc khác, hỷ cũng khác.” Nếu tức là lạc, thời
trong bảy giác-ý chẳng nên riêng nói khoan-khoái giác-ý vậy?
Đáp:
Ngươi nói sơ-thiền không năm nhánh. Việc nầy chẳng phải
là. Vì chẳng nói năm nhánh là tính sơ-thiền. Sơ-thiền gần
địa có giác quán nầy, nên gọi là nhánh.
Hỏi:
Nếu gần địa có pháp số là nhánh ấy. Sơ-thiền cũng gần
ngũ-dục, thời nên nói là nhánh?
Đáp:
Ngũ-dục chẳng gọi là gần, vì hành-giả nầy tâm đã lìa
vậy. Lại sơ-thiền như thứ lớp chẳng khởi dục-tâm. Lại
ngũ-dục chẳng trụ làm nhánh sơ-thiền. Nhánh gọi là nhân.
Nhân tức là phần, như thánh-đạo phần nhóm họp đủ thảy.
Giác-quán cũng như vậy. Nhân sơ-thiền nếu hành-giả Định-tâm
ở trong cảnh duyên bị lui, rồi lại lấy Định Tướng, nhiếp
tâm nơi cảnh, nhớ nghĩ bản tướng, đấy gọi là giác-quán.
Nên biết giác-quán là nhân sơ-thiền. Trong đệ-nhị-thiền
Định-tâm đã thành, vậy nên chẳng lấy giác quán làm nhân;
nhị-thiền cũng thứ-lớp mà chẳng sinh giác-quán. Nếu ngươi
nói sơ-thiền chung với giác-quán, cũng chẳng phải lẽ. Vì
từ sơ-thiền khởi, kế đó sinh giác-quán. Vì gần giác-quán
nên gọi là chung, như cùng đệ-tứ chung đi, tuy chút xa nhau,
nhưng cũng gọi là chung được. Lại trong bực nầy có sinh
nhân-duyên, nên gọi có giác-quán, như người bịnh vì quỉ
bắt, tuy khi chẳng phát cũng gọi là bịnh. Người nầy bị
quỉ làm nhớp nếu có cơ hội là tái phát, nên gọi là bệnh.
Lại lạc-thọ tức là hỷ, chỉ nói sai khác cũng từ khoái
mà riêng nói vui. Như trong kinh nói: “được thân khoái thời
thọ vui”.
Hỏi:
Nếu như vậy, tại sao sơ thiền nói năm nhánh”
Đáp:
Tùy lúc nói năm, như bảy giác ý đắc-thời-tiết, nên gọi
mười bốn giác ý. Trong đây nói có khoái thân, khoái tâm
mà thật thân không khoái, chỉ có tâm vui nên thân cũng thọ
vui thôi. Hỷ cũng như vậy, ban đầu đến tại thân gọi là
hỷ. Mới đầu được tướng hỷ-lạc, nên gọi là lạc.
Về sau chỉ gọi hỷ, vì thời gian khác vậy. Lại không riêng
có pháp khoái, chỉ khi sinh hỷ thân tâm không còn nặng nề
cứng cỏi, mà được mềm mại điều hòa, nên gọi là khoái
đấy thôi. Như bệnh tứ đại diệt bệnh tứ-đại không
sinh, người ấy gọi là vui. Khoái cũng như thế. Lại trong
pháp trừ diệt cũng gọi là khoái. Như trong kinh nói: “Các
hành thứ lớp diệt”. Như vào sơ thiền ngôn ngữ diệt,
cho đến vào tận diệt-Định các tưởng thọ diệt. Vậy
nên không riêng có pháp khoái. Nếu nói sơ-thiền tương ưng
với giác-quán cũng không phải lẽ. Tại vì sao? Trong kinh nói:
“Hành-giả nếu vào sơ thiền thời diệt ngôn-ngữ”. Giác
quán là nhân ngôn ngữ, làm sao có nhân ngôn ngữ mà ngôn ngữ
diệt? Nếu bảo rằng giác quán vẫn còn, chỉ ngôn ngữ diệt
ấy, như người ở cõi Dục khi tâm chẳng muốn nói năng,
cũng gọi là diệt.
Hỏi:
Nếu trong sơ-thiền không giác quán ấy, nên gọi là Thánh
mặc nhiên. Mà Phật chỉ nói nhị thiền là Thánh-mặc-nhiên,
chẳng nói sơ thiền. Nên biết sơ thiền, phải có giác quán?
Đáp:
Vì gần giác quán nên chẳng nói mặc nhiên, chứ chẳng phải
giác quán tương ưng nên chẳng nói vậy. Lại trong kinh nói
sơ thiền còn có tiếng tăm như gai, nên chẳng nói mặc nhiên.
Hỏi:
Trong sơ-thiền vì sao có tiếng tăm là gai?
Đáp:
Sơ-thiền an trụ định tâm yếu như hoa trôi trên nước; đệ-nhị-thiền
thảy an trụ định tâm mạnh như sơn sơn vào cây. Lại xúc
thảy cũng gọi gai sơ-thiền, vì xúc năng khiến khởi động
sơ-thiền vậy. Nhị thiền thảy chẳng như vậy. Tại vì sao?
Vì trong sơ thiền các thức chẳng diệt, nhị-thiền thảy
năm thức diệt hết.
PHẨM
NHỊ-THIỀN THỨ 166
Diệt
các giác-quán, nội-tịnh nhất-tâm không giác không quán, Định
sinh hỷ lạc, vào đệ-nhị-thiền.
Hỏi:
Nếu đệ-nhị-thiền nói diệt giác-quán, thì biết sơ-thiền
chắc có giác-quán, như trong nhị thiền có hỷ và tam thiền
sẽ nói diệt hỷ?
Đáp:
Như trong sơ-thiền không khổ căn, mà cũng nói khổ căn, lối
diệt đệ-nhị-thiền nầy cũng như vậy.
Hỏi:
Trong sơ-thiền tuy không khổ-căn mà có các thức. Các thức
là chỗ khổ căn nương. Nên nói sơ-thiền khổ-căn chẳng-diệt?
Đáp:
Trong sơ-thiền tuy có các thức, nhưng chẳng phải chỗ khổ-căn
nương.
Hỏi:
Tính năm thức là chỗ khổ-căn nương, vì tính đồng nên
nói sơ-thiền có khổ?
Đáp:
Nếu như vậy, ưu-căn từ tính ý-thức sinh, lẽ phải nói
tất cả chỗ đều có?
Hỏi:
Nay sao nói trong nhị-thiền khổ-căn diệt?
Đáp:
Sơ-thiền gần tâm bất-định. Kẻ mà tâm bất-định hay sinh
là các thức buộc ở cõi Dục; ở trong ấy sinh khổ-căn.
Vậy nên chẳng nói sơ-thiền diệt khổ.
Hỏi:
Nếu như vậy sơ-thiền cũng gần ưu căn. Ưu-căn nầy cũng
nên nói như lối diệt đệ-nhị, đệ-tam-thiền?
Đáp:
Nương Dục-ưu-căn. Do nương dục mà hỷ sinh. Được tịnh-hỷ
thời bất-tịnh-hỷ diệt. Vậy nên trong sơ-thiền không có
ưu-căn. Nương bất-định sinh khổ-căn. Sơ-thiền gần tản-tâm,
nên gọi là diệt. Lại như tam-thiền không khổ, mà cũng nói
dứt khổ-lạc mới vào tứ-thiền. Việc nầy cũng vậy. Lại
hành-giả với trong sơ-thiền, Định chưa đầy đủ, thường
bị giác-quán làm loạn, nên nói nhị-thiền diệt các giác-quán.
Nội
tịnh: Là nhị-thiền nhiếp-tâm sâu-sắc, nên tán-loạn chẳng
vào được. Vì trong không loạn-tâm gọi là nội tịnh. Thể
nhị-thiền là nhất-tâm. kẻ không giác không quán nhất-tâm
là tâm hành nhất-đạo cũng gọi là Thiền, tức là nội tịnh.
Được thâm-Định nầy nên giác quán chẳng sinh, chẳng phải
như sơ-thiền tâm-số ở giác-quán. Nếu nói không giác không
quán, Định sinh hỷ-lạc: là sơ-thiền vì lìa, nên được
hỷ. Trong đây Định thành-tựu nên được hỷ, nên gọi định
sinh.
Hỏi:
Hỷ trong sơ thiền và hỷ trong nhị-thiền có sai khác chi?
Đáp:
Sơ-thiền vì diệt ưu nên được hỷ; nhị thiền vì diệt
khổ nên hỷ. Lại hỷ trong sơ-thiền trái với hỷ-bất-tịnh
mà được hỷ trong nhị-thiền trái với hỷ-tịnh mà được.
Tuy đều bởi ái nhân-duyên nên được hỷ, mà hỷ sơ thiền
yếu ớt.
Hỏi:
Nghĩa như thế là hữu-lậu hay vô-lậu?
Đáp:
Là hữu lậu, vì có ngã-tâm là có mừng.
Hỏi:
Vô-lậu không mừng. Việc này chẳng phải lẽ. Trong thất-giác
Phật nói Hỷ-giác-phần. Giác phần chỉ là vô-lậu. Nên biết
có mừng vô-lậu. Lại trong kinh nói: “Kẻ tâm mừng, thân
không được khoan khoái”. Thân khoái thời thọ vui. Nếu không
mừng vô-lậu lẽ cũng không vui khoái vô-lậu. Lại Đức Phật
thấy chúng Tăng thâm tu pháp lành thời sinh hoan hỷ. Nên biết
rõ có mừng vô-lậu?
Đáp:
Ngươi lấy thất giác làm chứng vui mừng vô-lậu. Việc nầy
chẳng phải lẽ. Giác phần có hai thứ: hữu lậu và vô-lậu.
Như trong kinh nói: “Khi hành-giả nghe Pháp năng dứt năm món
che”. Tu thất giác phần, giác gọi là trí vô học như vì
giác tu bất tịnh thảy pháp, đều gọi là giác phần. Ngươi
nói lẽ cũng chẳng nên có khoái vô-lậu ấy. Trước sinh mừng
rồi sau mưói được vô-lậu, nghĩa là như thật tri-kiến.
Lại chẳng phải tất cả khoái đều nhân mừng sinh, như tam-thiền
trở lên không mừng cũng không khoái. Lại chúng tôi chẳng
nói lìa trí riêng có thọ-pháp. Vô-lậu-trí nầy mới đến
tại tâm nói tên là vui. Vậy nên có vui vô-lậu. Chỉ chẳng
bởi mừng mà sinh. Lại trong kinh nói: “Trừ bỏ thân tâm
thô nặng gọi là khoái”. Khi được vô-lậu thân tâm điều
hòa vậy nên có khoái vô-lậu. Lại Phật thường hành xả-tâm.
Vậy nên nói Phật có mừng. Việc này cần nói rõ. Lại nếu
người không ngã và ngã sở thời không mừng. Nếu A-La-Hán
có mừng, lẽ cũng có buồn, mà thật không buồn, nên biết
không mừng.
Hỏi:
Như sơ-thiền nhị-thiền có mừng không buồn, La-hán cũng
như vậy, có mừng không buồn, có lỗi chi sao?
Đáp:
Trong các thiền-định có buồn, như trong cằn nghĩa nói: Buồn
mừng cho đến cõi hữu đảnh; khổ vui tùy thân, cho đến
tứ thiền. Lại trong thú-tam-thiền nói: lìa mừng tu xả. Nên
biết không có mừng vô-lậu. Nếu có, tại sao nói lìa? Lìa
tâm vô-lậu chẳng nên có mừng. Vì mừng đều nương giả-danh
tưởng phân-biệt mà có.
Hỏi:
Nếu vậy thời sơ-thiền nhị-thiền không có vô-lậu thọ?
Trong kinh nói: “Sơ-thiền nhị-thiền chỉ có mừng, chưa có
tâm vui”. Mừng nầy cũng chẳng do nơi nào mà có?
Đáp:
Mừng nầy và lìa mừng nầy chẳng nói vô-lậu-thiền. Mà
lại có kinh nói vô-lậu-thiền. Chỗ gọi hành-giả do tướng
nào, duyên nào, vào sơ-thiền rồi chẳng nghĩ tướng ấy,
duyên ấy chỉ quán trong sơ-thiền có bao nhiêu sắc, thọ,
tưởng, hành và thức, như bệnh như ung, cho đến vô-ngã.
Hỏi;
Như bệnh như ung, như tên đau nhức. Bốn điều nầy là thế-gian
hành, chẳng phải vô-lậu. Vậy nên ông đem kinh ấy làm chứng,
không thể thành-lập được vô-lậu vậy?
Đáp:
Bốn hành nầy đều là tên khác của khổ, nên gọi vô-lậu.
Hỏi:
Học-nhân cũng không có mừng vô-lậu sao?
Đáp:
Nếu tâm tại Đạo, bấy giờ không mừng, mà tại Tục thời
có. Bực vô-học thường không có.
Hỏi:
Trong kinh nói nhờ tâm vui mừng năng được bốn Đế. Tại
sao nói không mừng vô-lậu?
Đáp:
Tâm vô-ngã tức là vui. Hành-giả tâm được vô-ngã phá hoại
điên đảo, vì biết chân thật nên được khoái lạc chứ
không riêng có mừng. Lại kinh nầy nói rõ chẳng dùng mừng
mà năng được thật-trí, nên mới nói như vậy.
Thành-thật
luận hết quyển thứ mười lăm.
Thành
Thật luận hết quyển 15