QUYỂN
THỨ 16
PHẨM
TAM-THIỀN THỨ 167
Lìa
mừng, tu xả, nhớ nghĩ, an-huệ, thân thọ vui. Vui nầy Thánh
nhân cũng nói cũng xả. Nghĩ nhớ, tu vui vào Đệ-tam-thiền.
Hỏi:
Tại sao lìa mừng?
Đáp:
Hành giả thấy năng trôi nổi lên lìa. Lại mừng do tưởng
phân-biệt mà sinh. Tướng mừng động chuyển từ hồi nào
đến giờ khổ thường đeo bám luôn. Vì lẽ đó nên lìa.
Lại hành-giả được tịch-diệt tam-thiền nên xả nhị-thiền.
Lại từ mừng sinh vui cạn, mà lìa mừng sinh vui cạn, mà lìa
mừng sinh vui sâu; như người với vợ con thảy chẳng năng
thường mừng. Vì mừng do tưởng phân biệt mà sinh; vui chẳng
do tưởng phân biệt sinh nên năng thường có. Hành giả cũng
vậy, mừng mới đến thời cho là vui, sau là nhàm lìa.
Hỏi:
Như người bị nóng bức, thời lấy lạnh làm vui. Hành-giả
vì khổ nào đó làm bức, nên dùng tam-thiền làm vui?
Đáp:
Mừng trong nhị-thiền là tướng phát động, như chông gai,
hành-giả bị khổ nầy làm bức, nên với trong Định không
mừng mà sinh lòng vui.
Hỏi:
Tùy có khổ nóng thời lấy lạnh làm vui; nếu được lìa
nóng thời lạnh chẳng vui. Hành-giả, nếu vì lìa mừng, tại
sao trong tam-thiền còn sinh lòng vui?
Đáp:
Sinh vui có hai thứ: Hoặc bởi còn khổ, như có khổ nóng thời
lấy lạnh làm vui; hoặc bởi lìa khổ, như lìa kẻ oán-tắng.
Như Đức Phật lìa Câu-Xá-Di Tỳ-kheo nói Ta an vui. Việc nầy
chẳng như vậy, được lìa động-tướng nên ở tam-thiền
sinh vui, như lìa ngũ-dục lấy sơ-thiền làm vui.
Tu
xả: Vì lìa mừng nên tâm được tịch-diệt. Hành-giả trước
kia sâu đắm mừng tâm nhiều tán-loạn. Nay được lìa nên
tâm ấy được tịch-diệt. Nên nói tu xả. Nhớ nghĩ, an huệ:
đối với lỗi trong mừng, hai pháp nầy thường chuẩn bị
chẳng cho mừng đến phá rối. Lại nhớ nghĩ: là nhớ nghĩ
mừng; an-huệ thấy lỗi trong mừng. Thọ thân vui: là lìa mừng
tu-xả. Xả tức là vui, vì không vọng-động tìm cầu vậy.
Vui nầy chẳng do tưởng phân-biệt mà sinh, nên gọi thân thọ
vui. Thánh-nhân cũng nói cũng xả: Nói, gọi là tùy theo người
đời, nên nói gọi là vui, như nói: tâm phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ
chẳng tham đắm nên xả. Nghĩ nhớ tu vui: người nầy biết
xả, nghĩa là thấy lỗi mừng mà sinh nhàm lìa, nên được
xả nhiệm mầu. Lại nghĩ nhớ cũng mầu nghĩa là năng nhớ
lỗi mừng. Trong đấy cũng nên nói an-huệ với nghĩ đồng-hành
nên chẳng nói riêng. Vui: Là vui đệ-nhất. Vậy nên Thánh-nhân
cũng nói xả.
Hỏi:
Trong tham-thiền có thọ vui, tại sao nói xả vui?
Đáp:
Trong luận Tôi dây chẳng nói lìa thọ riêng có xả vui. Thọ
vui tức là xả vui.
Hỏi:
Nếu vậy trong đệ-tứ-thiền nên nói thọ vui, vì có xả
vậy?
Đáp:
Tôi nói tứ-thiền cũng có thọ vui chỉ vì diệt vui đệ-tam-thiền
nên nói như thế.
Hỏi:
Nếu đều là thọ vui, tại sao sơ-thiền nhị-thiền gọi mừng,
mà tam-thiền gọi vui?
Đáp:
Vì tưởng phân-biệt nên gọi mừng, không tưởng phân-biệt
nên gọi vui Hành-giả vì với đệ-tam-thiền tâm càng nhiếp
vậy, và không tưởng phân-biệt nên gọi là vui. Lại vì được
tịch-diệt tam-thiền càng sâu nên gọi là vui, như nói tâm
động-cầu Thánh-nhân gọi đó là khổ. Động là phân biệt,
nói đây là vui. Vậy.
PHẨM
TỨ-THIỀN THỨ 168
Dứt
trừ khổ, vui, trước diệt buồn, mừng chẳng khổ chẳng
vui, xả niệm thanh-tịnh vào đệ-tứ-thiền.
Hỏi:
Nếu trước dứt khổ, tại sao ở trong đây mới nói? Nếu
quyết muốn nói nên nói trước dứt, như nói trước diệt
buồn mừng?
Đáp:
Tứ-thiền gọi bất-động. Vì muốn thành tướng bất-động
nầy nên mới nói không bốn món thọ. Tại vì sao? Vì động
là phát động. Hành-giả bị khổ vui xâm lấn thời tâm động.
Tâm động thời sinh tham giận, nên phải dứt khổ vui, khiến
tâm chẳng động.
Hỏi:
Nếu đệ-tứ-thiền thọ lợi ích rất lớn, tại sao không
gọi là vui?
Đáp:
Thọ nầy tịch-diệt, nên nói chẳng khổ chẳng vui. Tùy tâm
niệm biết đây là vui. Được đệ-tứ-thiền lìa vui tam-thiền.
Nên chẳng cho là vui, thời gọi là vui. Xả niệm thanh-tịnh:
Trong đây xả thanh-tịnh, vì không cầu vậy. Tam-thiền có
cầu, nghĩa là cho đấy là vui. Lại trong Thiền nầy niệm
cũng thanh-tịnh. Tại vì sao? Vì trong tam-thiền đắm vui nên
nghĩ nhớ tán-loạn. Đến tứ-thiền nầy vì dứt tham vui,
nên nghĩ nhớ thanh-tịnh.
Hỏi:
Tại sao tứ-thiền chẳng nói an-huệ?
Đáp:
Nếu nghĩ nhớ thanh-tịnh, phải biết đã nói an huệ rồi,
vì hai pháp này chẳng lìa nhau vậy. Lại đây là Đạo thiền-định,
chẳng phải Đạo trí-huệ vậy, an-huệ là huệ nên chẳng
nói. Trong đệ-tam-thiền phần sau cũng chẳng nói an huệ, chỉ
nói vui hành xả nghĩ nhớ, mà chẳng nói vui hành xả niệm
huệ. Lại nghĩ nhớ nầy năng thành thiền-định, nếu người
khi Định chưa thành cần phải lấy tưởng nghĩ nhớ là năng
thành, sở dĩ được nói riêng. Lại được thượng công đức,
xả hạ công-đức, chẳng cần suy nghĩ, nên chẳng nói huệ.
Hỏi:
Thọ chẳng khổ chẳng vui là vô-minh phần, trong tứ-thiền
phần nhiều trái nhau với huệ, nên chẳng nói huệ?
Đáp:
Nếu như vậy, thọ chẳng khổ chẳng vui lẽ chẳng phải là
vô-lậu?
Hỏi:
Trong tam-thiền vì lỗi trái tự địa nên nói an-huệ; vì trái
tha-địa nên nói nghĩ nhớ. Tứ-thiền tự địa không lỗi
như vậy, nên chẳng nói an-huệ?
Đáp:
Tứ-thiền cũng có lỗi tham thảy nên phải nói an-huệ. Lỗi
tham trong ấy nhỏ nhiệm khó biết, nên quyết cần phải nói;
trong các địa khác cũng nên nói mà chẳng nói. Nếu biết
phải như Tôi mà đáp.
Hỏi:
Tại sao, tứ-thiền diệt thở ra sao?
Đáp:
Hơi thở nương thân tâm. Tại sao biết được? Tùy khi tâm
yếu, hơi thở cũng yếu. Tứ-thiền tâm chẳng động, nên
diệt-thở ra vào. Lại như người mỏi mệt, hoặc gánh gánh
nặng lên núi thời thở hơi mạnh, mà khi nghỉ thời hơi thở
yếu. Tứ-thiền cũng như vậy, vì không tướng động tâm
ngừng nghỉ, nên diệt thở ra vào. Có người nói hành-giả
được tứ-thiền, nên bít các lỗ chân lông nơi thân tứ
đại, vậy nên hết thở. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại
vì sao? Vì uống ăn mồ hôi chảy khắp cả mình thân, nếu
các lỗ chân lông bít lẽ chẳng chảy được? Mà thật chẳng
phải. Nên biết tâm lực tứ-thiền năng khiến diệt thở.
Hỏi:
Trong tứ-thiền không lạc thọ; trong ấy làm sao có ái-sử?
Vì trong kinh nói lạc thọ có ái sử?
Đáp:
Trong ấy có tế lạc thọ, chỉ dứt thô lạc thọ, nên mới
nói chẳng khổ chẳng vui, như gió xao đèn, nếu đèn để
trong nhà kín thời chẳng gọi xao; trong ấy chắc có chút giớ,
như gió không mạnh nên chẳng gọi xao. Tứ-thiền cũng vậy.
Chắc có chút vui, nhưng vì dứt khổ vui thô-bạo nên chẳng
gọi chẳng khổ chẳng vui.
PHẨM
VÔ-BIÊN HƯ-KHÔNG XỨ THỨ 169
Vượt
qua tất cả sắc-tướng, diệt hữu-đối tướng, chẳng niệm
tất cả tướng gì khác, vào vô-biên hư-không xứ, Sắc tướng:
là tướng sắc, hương, vị và xúc: Vì sao hành-giả phải
vượt? Vì trong sắc ấy có đối có ngại và các dị-tướng
là tiếng chuông trống thảy. Các tướng nầy là nhiều món
phiền não, nhiều món nghiệp và nhiều món khổ-nhân. Vì những
lẽ đó nên phải vượt qua. Nếu qua tất cả sắc-tướng
thời diệt hữu-đối-tướng. Diệt hữu-đối-tướng thời
không dị-tướng. Trong ấy lược bớt nên chẳng nói qua đây
nên đây diệt. Lại có người nói: “Tất cả sắc-tướng:
Là tức tướng chỗ nhãn-thức nương ở. Hữu-đối-tướng:
là tức tướng chỗ các thức nhĩ-tỉ-thiệt và thân nương
ở. Dị-tướng: là tức tướng chỗ ý-thức nương ở.”
Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì nếu nói diệt
hữu-đối-tướng thời đã thu nhiếp sắc rồi, cần gì nói
riêng? Lại lìa sắc-tướng, đối-tướng không riêng có sắc
làm chỗ nương cho ý-thức. Vậy nên chẳng cần nói riêng.
Dị-tướng nên nói như trước.
Vào
vô-biên hư-không-xứ: Hành-giả vì sắc-tướng bức bách,
ồn ào, mỏi mệt, nên quán trống-không không ngằn mé: bên
trong lấy tướng trống-không của mắt, mũi, yết-hầu thảy;
bên ngoài lấy tướng trống-không của giếng, hầm, cửa,
bộng trong cây thảy. Lại quán thân chết bỏ mồ mả, lửa
cháy tan hết; hoặc chim thú giành ăn, dòi trùng từ trong ấy
lúc-nhúc bò ra… Nên biết thân nầy trước có đã trống-không.
Hỏi;
Định hư-không, nầy lấy gì làm cảnh duyên?
Đáp:
Trước tiên duyên hư-không, thành rồi tự duyên các ấm, cũng
duyên các ấm kẻ khác. Tại vì sao? Vì lấy đức Bi làm đầu,
khởi nghĩ như vầy: Chúng-sinh đáng thương, vì bị sắc tứ
lành khổ,
Hỏi:
Định nầy duyên chúng-sinh nào?
Đáp:
Duyên tất cả chúng-sinh.
Hỏi;
Hành-giả ấy đã lìa sắc-tướng, làm sao duyên chúng-sinh
cõi Dục được?
Đáp:
Hành-giả nầy vẫn duyên sắc. Nhưng với trong sắc tâm chẳng
thông-hòa, chẳng vui chẳng đắm, như trong kinh nói: “Nếu
Thánh-nhân sâu nghĩ nhớ ngũ-dục, với trong ấy chẳng vui
chẳng thông chẳng đắm, vì sợ lui trụt lại như cháy gân
lông. Nếu nghĩ Nê-Hoàn thời tâm thông-hòa”. Người nầy
cũng như vậy, có thể duyên sắc, nhưng chẳng tham vui. Lại
như hành-giả tùy lìa sắc-tướng, do ngằn mé hư không năng
duyên tứ-thiền, như vô-sắc-định năng duyên Vô-lậu sắc.
Trong ấy không lỗi vì chẳng phải chỗ phân-biệt, nên kia
cũng phải như vậy.
Hỏi:
Hư không là sắc-nhập tính, làm sao duyên đấy năng vượt
qua sắc-tướng?
Đáp:
Định nầy duyên vô-vi hư-không, nên năng vượt sắc.
Hỏi:
Định nầy chẳng duyên vô-vi hư-không. Tại vì sao? Vì trong
phương tiện Định nầy nói duyên hư-không trong mắt thảy.
Nên biết duyên hữu-vi hư-không. Lại trong kinh chẳng nói tướng
vô-vi hư-không chỉ nói tướng hữu-vi hư-không, chỗ gọi
vô-sắc-xứ là hư-không. Vậy nên không có vô-vi hư-không?
Đáp:
Sắc tính chẳng gọi hư-không. Tại vì sao? Trong kinh nói: “Hư-không
không sắc chẳng khá thấy, chẳng khá đối”.
Hỏi:
Lại có kinh khác nói: “Nhờ sáng biết hư không”. Trừ sắc
không có pháp nào nhờ sáng khá biết?
Đáp:
Vô sắc gọi hư không; các sắc do sáng khá biết vậy.nên
cũng nhờ sáng thời biết không có sắc, chẳng phải có hư-không.
Lại trong tối cũng biết hư-không; người đui dùng tay cũng
biết hư-không. Lại dùng gậy cũng biết đáy là hư-không.
Vậy nên biết hư-không chẳng phải sắc tính. Sắc chẳng
lấy các nhân-duyên nầy mà biết được. Lại sắc là hữu-đối,
hư-không là vô-đối. Lại dùng lửa thảy hay diệt hết sắc,
mà chẳng hay diệt hư-không. Nếu hư-không diệt lại gọi
là pháp chi?
Hỏi:
Nếu có sắc sinh thời hư-không diệt, như khởi xây thành,
vách trong ấy thời không còn hư không?
Đáp:
Sắc sinh trong ấy, sắc nầy trọn không có bị diệt. Tại
vì sao? Vì không có sắc gọi hư không. Pháp “không có”
chẳng khá lại không có nữa? Vậy nên sắc chẳng diệt hư-không.
Lại ngươi nói hư-không là sắc. Trong ấy không có lý do khá
khiến sắc nầy.
Hỏi:
Hiện thấy hư không trong cửa, bọng cây thảy; trong việc
hiện thấy chẳng cần lý do?
Đáp:
Hư không chẳng hiện thấy được. Như trước đã phá rồi,
chỗ gọi trong tối cũng có thể biết thảy.
Hỏi:
Nếu hư không chẳng phải sắc, vậy là pháp chi?
Đáp:
Hư không gọi vô pháp. Những chỗ không có sắc gọi là hư
không.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Nhân sáu món nên chúng-sinh thọ thân”. Lại
nói “Hư không gọi bất khả kiến, vô sắc vô đối”. Nếu
vô pháp, thời chẳng được khởi nói như vậy. Không có ai
nói sừng thỏ gọi bất-khả-kiến vô sắc vô đối?
Đáp:
Nếu thật có pháp đều có chỗ nương, như danh nương sắc,
sắc lại nương danh. Hư không không nưong, nên biết vô pháp.
Ngươi nói hư không sáu món ấy. Đấy cũng chẳng phải lẽ.
Tại vì sao? Vì sắc ngăn ngại sắc: sắc nầy được, sắc
khác mất nên được tăng thêm. Vì nghĩa nầy nên Phật nói
nhân sáu món chúng-sinh thọ thân. Ngươi nói hư không vô sắc
vô hình, vô đối. Cũng vì phá các vật, nên mới nói như
vậy, chứ chẳng nói có tướng hư không. Ngươi nói không
có ai nói sừng thỏ và bất-khả-kiến, vô sắc vô đối.
Đấy cũng chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì đều do hư không
được có những việc sở tác khứ lai thảy. Trong sừng thỏ
thảy không có nghĩa như thế.
Hỏi:
Tâm cũng như thế. Vô-sắc, vô hình, vô đối mà có thể nói
không được không?
Đáp:
Tâm có tác-nghiệp nghĩa là năng lấy cảnh duyên, hư không
vô nghiệp, chỉ vì “không” nên được có chỗ tác dụng.
Nên biết vô-pháp. Vậy nên Định nầy trước tiên duyên hư-không.
Hỏi:
Định nầy năng duyên bực nào?
Đáp:
Định này duyên tất cả bực, và duyên Diệt và Đạo nữa,
nhưng duyên tỷ-trí phần Diệt, chẳng duyên hiện trí phần
Diệt. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Duyên tất cả Diệt, lấy hiện pháp-trí duyên Diệt hiện-tại
tự-địa; lấy tỷ-trí duyên các Diệt khác. Đạo cũng như
vậy, năng duyên tất cả pháp vậy.
Hỏi:
Chúng-sinh cõi vô-sắc năng khởi tâm các địa không?
Đáp:
Năng khởi tâm các địa và tâm vô-lậu nữa.
Hỏi:
Nếu vậy làm sao khởi lui chìm?
Đáp:
Trụ trong nghiệp quả-báo nên chẳng lui, như sức thần-thông
trong hai cõi Dục Sắc vậy. Trụ sắc khác tâm khác mà năng
chẳng lui. Trong đấy cũng vậy.
Hỏi:
Định vô-biên hư-không cùng hư-không-xứ nhất-thiết-xứ
có sai khác gì?
Đáp:
Muốn vào Định hư-không phương tiện đạo gọi là nhất-thiết.
Vào Định thành rồi gọi là hư-không-Định. Trong đây nhân-quả
của Định là bực và tất cả hữu-lậu vô-lậu, hoặc Định
hoặc phi Định, hoặc cấu hoặc tịnh đều gọi vô-biên hư-không
xứ.
PHẨM
BA VÔ-SẮC ĐỊNH THỨ 170
Qua
tất cả vô-biên hư-không-xứ, mới vào vô-biên-thức-xứ.
Hành-giả rất nhàm sắc, nên cũng bỏ luôn pháp đối trị
sắc, như người đã qua sông bỏ luôn cả thuyền mà đi; như
được ra khỏi giặc muốn bỏ đi cho xa. Hành-giả cũng vậy,
tuy nhờ không phá sắc, cũng muốn bỏ không mà đi xa. Vô-biên-thức:
Hành-giả dùng thức năng duyên hư-không không ngằn mé, thời
thức cũng không ngằn. Vậy nên bỏ không duyên thức. Lại
như sắc vì mỏi mệt nên duyên hư-không. Như vậy bị hư-không
làm mỏi mệt, muốn ngăn dứt nên mới duyên nơi thức. Lại
người nầy dùng thức năng duyên hư không vì cho thức là
thắng, nên chỉ duyên thức. Hành-giả dùng thức tùy duyên
tùy lúc, nên sinh mệt nhọc, vô cùng nhàm lìa, lại muốn phá
thức, nên mới vào vô sở hữu xứ, khởi nghĩ như vầy: Tuy
có thức thời khổ, nếu ta có thức vô biên. Vậy nên thu
nhiếp tâm duyên thức lại. Vì tâm nhỏ nhiệm nên cho là vô
sở hữu, lại nghĩ như vầy: “Vô sở hữu tức là tưởng.
Mà tưởng là khổ-não, như tật bệnh, như ung thư. Mà nếu
không tưởng lại là ngu si. Nếu ta thấy vô sở hữu tức
đấy là hữu, nên đối với các tưởng chưa được giải
thoát”. Hành-giả thấy tưởng là suy hoạn mà vô-tưởng
là ngu si. Tịch diệt mới là mầu nhiệm, chỗ gọi Phi-tưởng
phi phi-tưởng-xứ. Kẻ phàm phu thường e sợ vô-tưởng, vì
cho là ngu si, vậy nên trọn không có kẻ nào diệt-tâm. Có
người nói chúng-sinh vô-tưởng cũng năng diệt tâm. Việc
nầy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì nếu những kẻ trong
cõi Sắc năng diệt tâm, thời trong cõi vô-sắc sao lại năng?
Hỏi:
Cõi Sắc có sắc nên năng diệt tâm. Trong cõi vô-sắc trước
đã diệt sắc nay lại diệt tâm. Nếu thấy cả sắc tâm đều
diệt thời kinh sợ mê-muội?
Đáp:
Nếu kẻ ở trong kia chẳng năng diệt mà sinh về trong đây
thời nên năng diệt, như Diệt-tận-Định.
Hỏi:
Quả diệt tâm là vô-tưởng, vậy nên nếu diệt cả sắc
lẫn tâm thời là mất hẳn?
Đáp:
Diệt-tận-Định cũng có hữu tâm quả, việc nầy cũng như
vậy. Lại nếu quả chẳng dứt cũng gọi trụ ở quả, như
ở sắc biến hóa. Trong tâm biến hóa lại sinh quả, nên chẳng
gọi mất hẳn được. Vậy nên trong cõi sắc chẳng nên nói
diệt tâm. Nếu nói là trong cõi vô-sắc mới cần phải nói.
Lại trong vô tưởng định tâm chẳng nên diệt. Tại vì sao?
Vì hành-giả cần nhàm lìa tâm, nên năng diệt tâm. Nếu kẻ
chán tâm, hãy chẳng sinh trong cõi vô sắc huống sinh cõi Sắc.
Lại kẻ phàm phu với tâm sinh ngã tưởng. Như trong kinh nói:
“Phàm phu suốt đời tham đắm tâm nầy, cho đó là ngã”.
Vậy nên chẳng hay có chút nhàm lìa. Lại trong kinh nói: “Ngoại
đạo năng nói diệt ba món thủ mà chẳng năng nói đoạn ngã-ngữ-thủ”.
Vậy nên chẳng năng diệt tâm. Lại nếu chính biết pháp nhân
duyên năng được tâm không, như trong kinh Viên hầu dụ nói:
“Phàm phu hoặc năng lìa thân, mà chẳng năng lìa tâm”. Thà
quán thân thường, đừng quán tâm thường. Tại vì sao? Vì
mắt thấy thân nầy, hoặc sống còn mười tuổi cho đến
trăm tuổi chỗ gọi hoặc tâm hoặc ý hoặc thức, việc nầy
niệm
niệm sinh diệt biến khác, như con khỉ đột chuyền cây: buông
một nhánh, vin liền một nhánh, chẳng đeo một chỗ. Nếu
Thánh đệ tử với trong ấy chính quán pháp nhân-duyên thời
năng biết vô thường.
Lại
kẻ biết pháp nhân-duyên, vì thọ sai khác nên năng phân biệt
Thức. Các bọn ngoại đạo vì không có trí phân-biệt nhân-duyên,
nên chẳng năng diệt tâm. Lại kẻ phàm phu lìa sắc mà chẳng
lìa tâm nên chẳng được giải thoát. Nếu cả hai đều năng
diệt thời tại sao chẳng được giải thoát? lại kẻ phàm
phu khiếp sợ diệt, nên đối với Nê-Hoàn trọn chẳng năng
sinh tưởng tịch diệt yên ổn. Như trong kinh nói: “Vô-ngã
và vô-ngã-sở là chỗ phàm phu rất khiếp sợ”. Lại trong
vô tưởng sinh tâm ngu si. Nếu kẻ đối với Nê-Hoàn chẳng
sinh tâm tưởng tịch diệt yên ổn, làm sao mà năng diệt tâm.
Lại pháp phàm cần nhờ bực trên, mới năng xả bực dưới,
vậy nên không có nhân-duyên năng diệt tâm; chỉ nhờ sức
Định tế tưởng tâm hiện tiền bất giác nên tự cho là
vô tưởng. Nếu khởi thô tưởng tức thì trục lui; như người
thiểu trí gọi vô trí, như thức ăn ít mặn gọi là không
mặn; như mê ngất mất nhớ; loại sâu nằm lâu năm dưới
đất; loại cá nằm trong băng. Như trong đây nói Phi-tưởng
phi phi-tưởng-xứ cũng vậy. Tuy thật có tưởng, nhưng vì
tùy theo thế tục, nên nói là vô tưởng.
PHẨM
DIỆT-TẬN-ĐỊNH THỨ 171
Qua
tất cả Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ, thân chứng tưởng thọ-diệt.
Hỏi:
Tại sao trong các Thiền chẳng nói qua tất cả. Trong vô-sắc
Định chẳng nói diệt?
Đáp:
Tôi nói trong các thiền-định đều có các pháp giác-quán
hỷ-lạc, vậy nên chẳng nói qua tất cả.
Hỏi:
Vô-biên hư-không-xứ có sắc tâm, việc này đã rõ, nên trong
vô-sắc cũng chẳng nên nói qua tất cả.
Đáp:
Như vào trong vô-biên-hư-không-định thoát được sắc tâm,
mà chẳng thoát được các pháp giác-quán. Lại có người
nói: Nếu nói qua-diệt-lui đều là nghĩa một mà danh khác.
Lại trong vô-sắc-Định tâm kiên-cố; trong các bực dưới
tâm, tán loạn làm hoại, vậy nên chẳng nói qua tất cả.
Hỏi:
Nếu đều nói có chông gai nghĩa là sắc tưởng thảy, tại
sao lại nói tâm kiên-cố?
Đáp;
Tuy đều nói chông gai, nhưng cũng gọi đệ-tứ-thiền là không
động. Như vậy trong vô-sắc-Định. Định lực lớn nên được
kiên-cố.
Hỏi:
Học nhân chẳng nên được diệt-tận-Định, vì chưa qua tất
cả Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ vậy?
Đáp:
Học-nhân năng thấy tất cả hành-diệt của phi-tưởng phi
phi-tưởng-xứ, nhưng chưa có thể khiến nó chẳng sinh, nhưng
cũng được nói là qua.
Hỏi:
Nếu ý trong đây lấy Nê-Hoàn cho là diệt ấy. Ông trước
nói trong chín thứ lớp diệt là tâm và tâm số diệt, vậy
thời trái nhau?
Đáp:
Diệt-Định có hai thứ: Một diệt hết các phiền não, hai
diệt chưa hết. Kẻ hết phiền não ở trong giải thoát; kẻ
phiền não chưa hết ở trong thứ lớp. Lại một diệt phiền
não nên gọi diệt-định; hai diệt tâm, tâm số, pháp cũng
gọi diệt-định. Diệt phiền não là giải thoát thứ tám,
cũng gọi là quả A-La-Hán. Quả A-La-Hán là diệt tất cả
tưởng khiến chẳng sinh lại nữa. Trong đây tuy diệt các
tưởng, nhưng còn thừa kiết-sử, nên chẳng năng khiến chẳng
tái sinh.
Hỏi:
Nếu hành-giả dùng chín thứ lớp Định năng diệt tâm thời
Tu-Đà-Hoàn thảy làm sao năng chứng pháp tâm diệt?
Đáp:
Trong chín thứ lớp diệt gọi là đại-diệt. Như người khéo
tu các thiền-định, nhờ sức mạnh đạo tâm nên năng được
Diệt nầy. Nếu không sức ấy, thời chỉ được có diệt,
chẳng năng được đại-lực như thế, nên mới nói thứ lớp
Định. Các chỗ khác cũng có tâm diệt, nhưng trong đệ-tứ-thiền
năng diệt tâm, tâm số pháp, mới vào vô-tưởng, thời trong
sơ-thiền thảy cớ sao không diệt? Lại chỗ khác cũng phải
có nghĩa diệt tâm, như trong kinh nói: “Tu-Đà-Hoàn thảy đều
năng chứng diệt”. Chỉ tâm diệt mới gọi là diệt. Lại
không có pháp nào khác diệt. Nên biết lìa chín bực này cũng
có tâm diệt.
Hỏi:
Nếu diệt-tận-định năng diệt tất cả tâm, tâm-số pháp
tại sao chỉ nói tưởng thọ diệt?
Đáp:
Tất cả tâm đều gọi là thọ. Thọ nầy có hai thứ: Một
tưởng thọ; hai huệ thọ. Tưởng thọ là hữu-vi duyên tâm,
vì tưởng đi trong pháp giả-danh vậy. Giả danh có hai thứ:
một do hòa họp giả-danh; hai pháp giả danh. Vậy nên tất
cả hữu-vi duyên tâm đều gọi là tưởng. Huệ thọ là vô
vi duyên tâm. Vậy nên nếu nói tưởng thọ diệt là nói tất
cả diệt
Hỏi:
Trong tất cả tâm, tâm số pháp thọ tưởng rất thắng vậy
nên nói riêng. Tại vì sao? Vì phiền não có hai phần: một
ái phần; hai kiến-phần. Thọ sinh ái-phần; tưởng sinh kiến-phần.
Lại trong hai cõi Dục, sắc thọ thắng; trong cõi vô-sắc tưởng
thắng. Vậy nên chỉ có hai thứ. Lại trong các thức xứ chỉ
nói thọ tưởng. Thức xứ từ tâm khởi nên gọi là hành.
Lại nếu nói thọ tưởng diệt, thời nói tất cả tâm, tâm
số diệt, vì các tâm số chẳng rời nhau vậy?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Ngươi nói thắng nên nói riêng. Cần phải
nói tâm. Tại vì sao? Vì trong kinh nhiều chỗ nói tâm là chủ
mà cũng là chỗ nương của hai phần phiền não. Và cũng vì
tâm sai khác nên gọi là thọ tưởng, nên phải nói tâm. Lại
nói tâm thời dễ. Vậy nên lời ngươi nói chẳng phải lẽ.
Hỏi:
Định nầy tại sao nói thân chứng?
Đáp:
Tám giải thoát đều nói thân chứng. Lại đây là Diệt-pháp
chẳng phải dùng lời nói mà thấu rõ được, nên nói thân
chứng, như kẻ đụng nước mới biết tướng lạnh, chứ
chẳng phải nghe nói mà năng biết được. Việc nầy cũng
vậy. Lại đây là pháp vô-tâm, nên phải nói lấy thân chứng?
Hỏi:
Ông nói diệt-định là pháp vô-tâm. Nghĩa nầy chẳng phải
lẽ. Tại vì sao? Vì kẻ vào định nầy là chúng-sinh; thế-gian
không có chúng-sinh vô-tâm. Vậy nên phi lý. Lại trong kinh nói:
“Mạng, nóng, thức, ba pháp nầy thường chẳng rời nhau”.
Nên không diệt tâm. Lại tất cả chúng-sinh đều nhờ bốn
lối ăn mới được tồn tại. Mà kẻ vào diệt-tận-định
thời không còn lối ăn nầy nữa. Tại vì sao? Vì người chẳng
ăn lối ăn vò nát, ăn chạm xúc thảy cũng đều diệt mất.
Nên không ăn vậy. Lại tâm từ tâm sinh, nếu tâm nầy diệt,
các tâm khác chẳng sinh, vì không thứ lớp duyên vậy, thời
hậu tâm làm sao sinh nữa được? Lại tâm chỉ vào vô-dư
Nê-Hoàn, khi dứt tương-tục mới diệt, chẳng phải ở các
chỗ khác mà diệt được. Như trong kinh nói: “Lấy sắc vượt
qua các dục; lấy vô-sắc vượt qua sắc. Lấy diệt vượt
qua các tác-niệm tư-duy”. Tâm là tác-niệm tư-duy, cần lấy
Diệt mới năng vượt qua. Được hữu-dư Nê-Hoàn thời tâm
bẩn diệt. Được vô-dư Nê-Hoàn thời tâm không cần bẩn
diệt. Đấy chính là nghĩa Phật-Pháp. Lại kẻ vào diệt-định
chẳng gọi là chết. Tâm diệt gọi chết. Nếu diệt tâm sống
lại, kẻ chết cũng nên sống lại, thời kẻ vào Nê-Hoàn
cũng nên sinh lại. Vậy thời trọn không ai giải thoát. Mà
thật chẳng phải như vậy. Nên tâm chẳng diệt?
Đáp:
Ngươi nói không có chúng sinh vô tâm. Tuy đồng là vô tâm,
mà khác với kẻ chết. Như trong kinh hỏi rằng: “Kẻ vào
diệt tận định với người chết có khác gì không?
Đáp
rằng: Kẻ chết mạng, nóng, thức ba món đều diệt; người
vào diệt-tận-định chỉ tâm diệt mạng và nóng chẳng lìa
nơi thân”. Nên biết lẽ phải có chúng-sinh vô tâm. Lại
người này tâm thường còn, vì đắc lực nên cũng gọi có
tâm chẳng đồng gỗ đá. Ngươi nói ba việc chẳng rời nhau.
Là vì chúng-sinh hai cõi Dục sắc vậy. Trong cõi vô-sắc có
mạng có thức mà không nóng. Lại kẻ vào diệt-tận-định,
có mạng có nóng mà không có thức tức là trong kinh ấy cũng
nói thức rời nơi thân. Vậy nên, nếu nói ba việc chẳng
rời nhau là tùy có chỗ mà nói. Ngươi nói tuy không ăn làm
sao còn sống ấy. Trước dùng ý tư thực nên tồn tại. Hiện
tại dùng lạnh thảy các xúc nên có thể chi trì thân. Ngươi
nói tâm bởi tâm sinh ấy. Tâm làm nhân cho tâm khác, làm nhân
rồi diệt, vậy nên năng sinh tâm khác.
Hỏi:
Tâm diệt làm sao năng sinh tâm khác? Như mắt đã diệt là
chẳng năng sinh thức?
Đáp:
Như nghiệp diệt rồi, quả báo mới sinh được. Việc này
cũng thế. Lại ý tùng ý thức hai việc ngại nhau, mà nhãn
cùng nhãn thức chẳng phải như thế. Vậy nên phi nhân. Ngươi
nói khi dứt tương tục tâm diệt. Việc này chẳng phải lẽ.
Diệt có hai thứ: sắc diệt và tâm diệt. Hoặc sắc diệt
tâm chẳng diệt, như trong vô sắc, trái lại tâm diệt cũng
chẳng diệt như vào diệt định. Hoặc sắc tâm đều diệt,
như khi diệt tương tục. Ngươi nói vào diệt-tận-định chẳng
gọi kẻ chết ấy. Người nầy mạng và nóng chẳng diệt,
mà kẻ chết ba món đều diệt. Đấy là chỗ sai khác. Lại
người nầy nhờ mạng và nóng nên tâm năng sinh lại, mà kẻ
chết chẳng phải vậy. Ngươi nói nếu diệt tâm lại sinh
thời không ai giải thoát. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tại
vì sao? Vì kẻ vào Nê-Hoàn nghiệp trước chiụ mạng, nóng,
thức đã diệt chẳng mong sinh lại; kẻ nầy mạng và nóng
chẳng diệt, trước mong tâm sinh, như trong phẩm diệt-tận-định
nói: Kẻ vào diệt-tận-định nhờ lục nhập nầy và thân
mạng nên được khởi lại, vậy nên tâm năng sinh lại. Kẻ
vào Nê-Hoàn tâm chẳng sinh lại. Nên mới biết Định nầy
vô-tâm.
Hỏi:
Tại sao bố-thí kẻ do Định nầy khởi năng được hiện
báo?
Đáp:
Kẻ từ Định nầy khởi tâm rất tịch diệt. Như trong kinh
nói: “Kẻ vào diệt tận định là khởi tâm thuận với Nê-Hoàn”.
Lại người nầy sức thiền định mạnh, nương Định nầy
nên Trí huệ cũng lớn. Trí huệ lớn, nên mới năng khiến
kẻ thí được quả báo thù-thắng, như người cúng dường
trăm vị Thanh-Văn chẳng bằng một Đức Phật trong đấy đều
lấy trí tuệ làm thắng, thẳng bởi dứt gút. Việc này cũng
như vậy. Lại kẻ vào định nầy do huân-tu nhiều pháp lành
nơi tâm, nên mưói sinh đại quả như kẻ làm ruộng giỏi
chắc thu hoạch được nhiều. Lại kẻ thí năng nhàm đời
nhiều thời được báo lớn: Kẻ từ diệt đinh khởi rất
ghét thói đời, vậy nên cúng-dường là hơn hết. Lại thí
kẻ tịnh tâm mới được quả báo lớn chứ chẳng phải kẻ
cấu-tâm; người nầy chẳng dùng giả danh, cấu tâm, vậy
nên cúng được quả báo lớn. Lại người nầy thường trụ
đệ-nhất-nghĩa đế, bao người khác ở trong thế-đế. Lại
người nầy thường trụ trong pháp không tranh chấp. Tại vì
sao? Vì tâm duyên hữu vi thời có tranh kiện. Lại như trong
kinh nói: “Cỏ đế, có bại làm hại lúa, tham lam dục vọng
hại tâm”. Vậy nên thí người vô dục được quả báo lớn.
Nhân-duyên tham dục là tướng giả danh; kẻ khởi định nầy
vì duyên Nê-Hoàn nên lìa tướng giả-danh. Lại trong kinh nói:
“Nếu người thọ kẻ đàn-việt cúng rồi, vào vô lượng
Định; đàn-việt nầy nhờ nhân-duyên ấy được phước vô
lượng. Diệt-định nầy cũng là vô lượng, nên được vô
lượng phước, nên năng được hiện báo. Lại nhờ tám công
đức trang nghiêm phước-điền nầy; tâm duyên Nê-Hoàn là
chân chính kiến, các phước phần khác tùy tòng. Vậy nên
năng sinh hiện báo.
Hỏi:
Có người nói diệt tận định là tâm bất tương ưng hành,
cũng gọi thế gian pháp. Việc nầy thế nào?
Đáp:
Như trên đã nói kẻ khởi Định nầy có rất nhiều các công
đức tịch diệt thảy là những công đức mà thế-gian chẳng
bao giờ có.
Hỏi:
Diệt tận định gọi là pháp ngăn, vì nhờ pháp nầy khiến
tâm chẳng sinh. Vậy nên phải gọi tâm bất tương ưng-hành,
như sắt vào lửa thời không còn tướng đen, mà rời lửa
lại sinh. Việc nầy cũng như vậy?
Đáp:
Nếu là vậy, Nê-Hoàn cũng phải là tâm bất tương ưng hành.
Tại vì sao? Vì bởi Nê-Hoàn nên các ấm chẳng sinh. Nếu Nê-Hoàn
chẳng phải tâm-bất-tương-ưng-hành. Nhưng các kẻ hành giả
pháp phải như thế; Vào trong Định nầy tùy sở nguyện nên
tâm có thể chẳng sinh. Vậy nên chẳng nên nói gọi bất-tương-ưng-hành.
Hỏi:
Định nầy thứ lớp như thế mà vào; rồi cũng thứ lớp
như thế ra sao?
Đáp:
Cũng thứ lớp ra, rồi chậm rãi vào lại thô tâm.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Kẻ mới ở Diệt-tận-định ra đụng ba món
xúc chỗ gọi: vô-động, vô-tướng, vô-sở-hữu”. Tại sao
như thế?
Đáp
Trong vô vi duyên tâm, có bao nhiêu xúc gọi là vô-động, vô-tướng,
vô-sở-hữu. Vô động tức là trống không. Hữu vi duyên tâm
khinh nhẹ nên có động, chỗ gọi lấy sắc, thọ thảy. Trong
không vô tướng. Trong vô tướng không có tham thảy sở hữu.
Kẻ vô tâm nầy mới bắt đầu duyên Nê-Hoàn, sau duyên hữu-vi.
Nên mới nói khi ra xúc đụng ba món xúc.
Hỏi:
Có người nói vào diệt-tận-định tâm hữu lậu; ra Định
tâm hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Chẳng phải hữu lậu. Hành-giả muốn vào định nầy phải
phá hoại tất cả hữu vi từ trước. Phá có xong mới vào
được. Khi ra tâm duyên Nê-Hoàn hiện tiền. Nên biết đều
là vô lậu.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Hành giả vào diệt-tận-định chẳng tự
nghĩ vào; khi ra cũng chẳng tự nghĩ”. Nếu vậy làm sao năng
vào?
Đáp:
Thường tu tập nên Định lực kiên cường, tuy chẳng tự
nghĩ mà năng vào được. Lại hành giả nầy từ khi dứt hữu
vi đến nay đã từng vào Diệt; nếu chẳng ngăn nổi tâm để
cho duyên hữu-vi thời chẳng gọi là vào. Vậy nên kinh nói:
“Kẻ vào Định nầy, trước phải điều tập tâm”. Vậy
nên năng vào được.
Hỏi:
Nếu không có dị không khá được tu vô vi duyên tâm, lại
được ích gì?
Đáp:
Vì tu tập đã lâu thời định kiên cố, thấy biết rõ ràng
như tâm duyên hữu vi thấy niệm niệm diệt, cũng không khác
niệm niệm diệt, chỉ lâu tu tập thời tâm kiên cố, việc
nầy cũng vậy.
PHẨM
MƯỜI NHẤT-THIẾT-XỨ THỨ 172
Chẳng
phá hư duyên trước, tâm-lực tự tại gọi là nhất-thiết
xứ. Hành giả lấy chút tướng rồi, nhờ sức tín-giải khiến
nó thêm rộng lớn. Tại vì sao? Vì đấy là sức nhiếp tâm.
Nếu vào trong Thật, thời đều năng khiến trống không, mà
vào trong tín giải đều năng khiến tùy trước đã lấy tướng.
Hỏi:
Cái gì là tính tín giải?
Đáp:
Xanh thảy các màu sắc nhiều vô lượng. Lược nói căn bản
nó có bốn thứ: là địa thảy tứ-đại. Bốn sắc căn-bản
năng phá tan món nầy: Đấy là hư không. Vì thức năng biết
vô biên không, nên cũng gọi vô biên. Tại vì sao? Vì chẳng
phải pháp hữu biên năng lấy vô biên. Đấy gọi là mười.
Hỏi:
Trong Địa thật có thảy thảy, tại sao hành-giả năng quán
chỉ là địa thôi?
Đáp:
Lâu tập quán nầy thường lấy địa tướng, về sau chỉ
thấy địa mà chẳng thấy vật gì khác.
Hỏi:
Hành-giả đã thấy địa tướng thật là địa không?
Đáp:
Vì sức tín giải nên thấy là địa kỳ thật chẳng thấy
phải địa.
Hỏi:
Nếu do sức biến hóa mà có, thời vật bị biến hoại chẳng
phải thật sao?
Đáp:
Vì sức Định biến hóa mà trở thành nên sở tác đều thật,
chỗ gọi ánh sáng và nước thảy.
Hỏi:
Có ông Luận sư nói vào nhất thiết xứ chỉ ở trong đệ
tứ thiền. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Nếu ờ cõi Dục và trong tam thiền có lỗi chi? Hai nhất thiết
xứ sau đều ở tự-địa. Mười pháp nầy đều là hữu-lậu,
vì chẳng phá hoại được cảnh duyên vậy.
Hỏi:
Tướng hư không chẳng phá hoại sắc sao?
Đáp:
Hành-giả cũng nhờ tín-giải lấy không tướng trong mắt mũi
thảy làm tướng trống không, chứ chẳng năng được trực
tiếp phá thật-sắc. Vậy nên cũng gọi là tín-giải.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Kẻ vào Định nhất thiết địa nghĩ; địa
tức là ngã, ngã tức là địa”. Tại sao khởi nghĩ như thế?
Đáp:
Hành giải nhận thấy tâm khắp đầy nên mới sinh ý nghĩ
nầy: tất cả là ngã.
Hỏi:
Có người nói Định nầy chỉ duyên địa thảy buộc cõi
Dục, Việc ấy thế nào?
Đáp:
Nếu duyên tất cả buộc hai cõi Dục Sắc địa thảy có lỗi
chi? Giả sử Định nầy lại duyên các pháp khác pháp lại
có lỗi gì? Lại Định này là tín giải quán duyên hư vọng,
không có chẳng vọng địa thảy.
Hỏi:
Đệ-tử Phật cũng quán địa thảy. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Những kẻ họcnhân, nếu quán đều vì để phá hoại.
Hỏi:
Thật chẳng phải tất cả đều là địa thảy. Làm sao Định
nầy chẳng phải điên đảo được?
Đáp:
Trong quán này có phần si, vì trong quán này khởi ngã kiến
vậy. Quán bất tịnh thảy tuy chẳng phải chân thật, nhưng
tùy thuận ly dục Quán nầy chẳng như vậy, nên có phần si.
Hỏi:
Tại sao chẳng quán thọ thảy vô-biên, chỉ quán thức ư?
Đáp:
Bị lấy là địa thảy, năng lấy là thức. Vậy nên thấy
thức, mà chẳng thấy thọ. Lạị như trước đã nói thọ
thảy đều là sai khác của tâm. Lại hành giả chẳng thấy
thọ thảy đều là sai khác của tâm. Lại hành giả chẳng
thấy thọ thảy đầy khắp, vì chẳng phải tất cả chỗ
thọ khổ vui vậy. Đệ tử Phật nếu tu Định nầy chỉ vì
phá hoại duyên vậy. Tại vì sao? Vì cảnh duyên ấy là chỗ
tham đắm của hành giả. Nếu chẳng phá hoại thời đồng
với những kẻ phàm phu.
PHẨM
MƯỜI TƯỞNG VÔ-TƯỚNG TƯỚNG THỨ 173
Vô
thường-tưởng khô-tưởng, vô-ngã-tưởng, thực-yểm tưởng,
nhất-thiết thế-gian bất-khả-lạc-tưởng, bất-định-tưởng,
tử-tưởng, đoạn-tưởng, ly-tưởng và diệt-tưởng. Vô thường
tưởng: là trong pháp vô thường quyết định vô thường.
Hỏi:
Tại sao tất cả vô thường?
Đáp:
Tất cả pháp ấy đều từ nhân-duyên sinh. Rồi bị nhân-duyên
hoại, nên quy về vô thường?
Hỏi:
Chẳng phải vậy. Có pháp tuy từ duyên sinh, mà chẳng phải
vô thường. Như kinh ngoại đạo nói Kẻ nào làm ba Đền thờ
được sinh chỗ thường. Lại cái thân ông Phạm-Thế thường?
Đáp:
Thì pháp ngươi cũng nói: Vì Thích-Đề-Hoàn-Nhân, năng làm
trăm Đền, cũng bị trụt lui. Lại bài kệ nói: Nhiều các
Đế-Thích thảy, tạo hơn trăm ngàn Đền, thảy đều vô thường
hết. Trăm ngàn Đền thờ hãy chẳng tồn tại? Nên biết ba
Đền cũng bị phi thường! Lại Thích-Đề-Hoàn-Nhân và các
Thiên-Vương thân phần cũng tiêu hết. Vậy nên pháp do duyên
sinh không có kẻ nào thường được. Lại trong pháp ngươi
lấy sách Vi-Đà làm quí. Trong Vi-đà nói do trí huệ nên được
phép chẳng chết. Như nói: “Thấy sắc mặt trời đại-nhân
hơn nơi thể-tính. Trước tùy-thuận ý người nầy, năng được
Đạo chẳng chết, lại không có Đạo nào khác. Tiểu-nhân
Thần nhỏ, đại-nhân Thần lớn, thường ở trong thân. Nếu
kẻ nào chẳng biết tướng Thân nầy tu có đọc tụng kinh
Vi-đà thảy cũng không ích gì? Vì trong pháp ngươi nói Phạm-vương
cũng thường cúng thờ, trì-giới, làm các công đức. Nếu
biết thân thường, cần chi phải làm phước? Lại nghe trong
kinh ngươi nói các vị Phạm Vương có ghét dâm-dục, Nếu
có Dâm-dục chắc có sân thảy tất cả phiền não. Nếu có
phiền não chắc có tội nghiệp. Như vậy người tội làm
sao mà năng được thường giải thoát. Lại chẳng phải tất
cả Thần tiên đều thờ Trời, cũng chẳng phải tất cả
tu Đạo Phạm-Thiên. Nếu Đấng ấy là thường thời có lẽ
phải đều nên thờ tu.
Lại
tất cả vạn vật thảy đều vô-thường. Tại vì sao? Vì
nếu khi đại-kiếp tận diệt thời đất nước gió lửa lại
không còn nữa. Lại thời gian chuyển như bánh xe, nên biết
vô thường. Lại thành-tựu giới-định-huệ thảy vô lượng
công-đức, các vị Đại Thánh-nhân Định-Quang Phật thảy
và Bích-Chi Phật, Ma-Ha-Tam-Ma-Già thảy, các vị vương kiếp
sơ, thảy đều vô thường thì đâu có vật là thường được!
Lại Phật tự nói tất cả sinh pháp đều vô thường định-tướng.
Như trong kinh Ngưu-phấn nói: “Đức Phật lấy chút phân trâu
giơ các Tỳ-kheo mà rằng: không có ngần ấy sắc thường
định chẳng biến”. Trong kinh nầy rộng nói quả-báo của
các vua Thích-Phạm chuyển-luân cũng bị hết. Nên biết tất
cả vô thường. Lại tất cả mức sống lâu của ba cõi đều
có hạng lượng: A-Tì địa ngục cực thọ mạng một kiếp;
tăng-già-đà-địa ngục thọi mạng nửa kiếp; kỳ dư hoặc
nhiều hoặc ít. Loài rồng thảy cực nhiều cũng thọ một
kiếp. Ngạ-quỷ cực nhiều thọ thảy bảy vạn năm. Phất-vu-đãi
thọ 250 năm; câu-da-ni thọ 500 năm, huyất đơn việt định
thọ ngàn năm; Diêm-phù-đề thọ hoặc vô lượng kiếp, hoặc
thọ 10 tuổi. Tứ Thiên Vương thiên thọ 500 năm, cho đến
cõi hữu-đảnh thọ tám vạn kiếp. Nên biết tất cả ba cõi
đều vô thường. Lại lấy ba điều tín tin biết vô thường;
Trong hiện thấy không có pháp tướng; trong lời Thánh nhân
đã nói cũng không pháp thường; và trong so sánh biết cũng
không có vô thường vì cần trước hiện thấy sau mới so
sánh biết vậy. Lại nếu có chỗ thường, có đâu kẻ trí
diệt tất cả pháp để cầu giải thoát? Ai chẳng muốn cùng
ái thường chung đồng đoàn-tụ để hưởng các khoái vui?
Mà thật kẻ trí đều cầu giải thoát. Nên biết sinh pháp
không thường còn được. Lại còn phải nói tất cả sinh
pháp đều niệm niệm diệt, hãy không tạm ngưng huống đâu
thường được.
Hỏi:
Tu tưởng vô thường năng làm xong việc gì?
Đáp:
Năng phá phiền não. Như trong kinh nói: “Khéo tu vô thường
tưởng, phá được tất cả Dục nhiễm, Sắc nhiễm và vô-sắc
nhiễm, trạo, mạn, vô minh”.
Hỏi:
Chẳng phải vậy. Tưởng vô thường nầy lại càng tăng tham
dục, như người tỉnh ngộ biết thời thịnh niên nên chẳng
được bao lâu, nên rất tham đắm dâm dục. Biết hoa đẹp
chẳng lâu, thời gấp dùng cho khoái; biết sắc mầu kẻ kia
chẳng phải thường có của mình, thời càng mau tăng dâm dục.
Như vậy tùy biết vô thường, thời sinh tham đắm. Nên vô
thường tưởng chẳng khá được tham dục. Cũng có người
vì biết vô thường nên mới thi hành sát đạo thảy. Và cho
đến loài súc sinh đều biết vô thường, mà cũng chẳng năng
phá các phiền não. Vậy nên tu vô thường-tưởng không lợi
ích gì cả?
Đáp:
Bởi vô thường nên mới sinh khổ ly biệt; mất tuổi xuân
xanh, sự an vui, mạng sống lâu, và giàu sang. Kẻ trí bởi
đấy mà chẳng sinh tâm vui mừng. Không tâm mừng nên chẳng
sinh lòng tham. Bởi thọ nên ái. Tho diệt thời ái cũng diệt
theo. Nên biết vô thường-tưởng năng bớt tham dục. Lại
nếu pháp vô thường tức là vô-ngã. Hành giả năng quán vô
thường vô-ngã thời chẳng sinh ngã-tâm. Không ngã-tâm nên
không ngã sở. Ngã và ngã sở không có, thời tham dục là
thứ gì. Lại kẻ tu tập vô-thường tưởng, đối với thân
mình và người thấy diệt chết từng mỗi niệm, làm sao sinh
tham? lại hành-giả tùy sự sở cầu đều vô thường bại
hoại là đã bị gạt nên chẳng sinh tham đắm. Lại chúng-sinh
chẳng mừng việc chẳng bền chắc, như người chẳng thích
khí vật hư cũ. Cũng như nàng nữ-nhân nghe chàng nam tử nào
đó sống chẳng hơn hảy ngày nữa, dù là lành trai đẹp đễ,
sang trọng thế lực, nào ai thèm đến? Người nầy chính nhờ
vô thường-tưởng nên chẳng sinh tham đắm. Lại kẻ trí thường
tập tưởng ly biệt, nên chẳng ưa hòa hợp. Tại vì sao? Vì
kẻ trí thường lo nghĩ khổ trụt lui thảy. Cho đến dục
lạc cõi Trời vẫn chẳng sinh tham, chỉ cần giải thoát. Ngươi
nói vô thường tăng thêm tham dục ấy. Việc nầy chẳng phải
lẽ. Nếu người chưa dứt ngã-mạn, thấy ngoại vật vô thường
mới sinh buồn rầu, vì mất chỗ yêu tiếc nên sinh tham cầu.
Kẻ phàm phu nầy trừ bỏ dục lạc, lại chẳng biết lìa
khổ, như tuồng con nít bị mẹ đánh cho lại chui vào lòng
mẹ. Kẻ trí biết khổ nhân còn, là còn khổ chẳng thể dứt,
nên lìa bỏ khổ nhân; chỗ gọi ngũ-ấm. Lại hành giả nầy
xé rách nội ấm, được vô-ngã-tâm dù mất ngoại vật chẳng
sinh buồn rầu. Kẻ ấy được vô-ngã lại cầu tìm gì nữa,
người tu vô thường-tưởng cũng chẳng cầu thi.
Lại
vô thường-tưởng nầy, nếu chưa có thể sinh khổ vô-ngã
tưởng thời chẳng gọi đầy đủ năng phá hoại phiền não.
Nên trong kinh nói: “Cần nhất tâm chính quán ngũ ấm vô thường”.
Nếu chẳng hoại nội ấm, thấy ngoại vật vô thường, vì
còn có ngã tâm nên sinh buồn rầu, đấy chẳng gọi là chính
quán. Lại người tuy thấy vô thường, mà chẳng sinh nhàm
lìa như bọn hàng thịt và thợ săn thảy; người ấy tuy biết
vô thường mà chẳng gọi khéo tu tập. Lại người tuy năng
chính quán mà chẳng năng thường siêng tu tập thời lòng tham
xen lẫn, nên phải nói “Nhất tâm”. Lại người ít tu vô
thường, mà nhiều phiền não thời chẳng năng trị, như thuốc
ít mà bệnh nhiều. Việc nầy cũng như vậy, nên mới nói
nhất tâm chính quán vô thường năng phá phiền não. Lại biết
pháp vô thường, mới gọi là chân trí huệ, trong chân trí
huệ không có tham thảy các phiền não. Tại vì sao? Vì vô-minh
nhân duyên nên có tham thảy.
Nên
biết vô thường chẳng phải tăng thêm tham dục. Lại vô thường
tưởng năng diệt tất cả phiền não. Hành-giả, nếu biết
vật ấy vô thường thời không có tham. Lại biết người
này chắc tự sẽ chết, sinh sân làm gì. Có đâu kẻ đại
trí lại sân với người sắp chết? Lại nếu pháp vô thường,
lẽ đâu lấy đó mà sinh tâm tự cao? Lại biết các pháp là
tính vô thường thời chẳng sinh si. Vì không si hết cũng không
nghi thảy. Nên biết vô thường trái lại với các phiền não.
Thành
Thật luận hết quyển 16