QUYỂN
THỨ 17
PHẨM
KHỔ-TƯỚNG THỨ 174
Nếu
pháp xâm hại đấy gọi là khổ. Khổ nầy có ba thứ: khổ
khổ, hoại khổ, hành khổ. Hiện tại thật khổ là dao gậy
thảy, gọi là khổ khổ. Nếu khi chia lìa ân ái sinh bao nhiêu
khổ vì vợ con thảy, gọi là hoại khổ. Nếu được không
vô ngã trí biết pháp hữu vi đều có thể xâm hại, gọi
là hành khổ. Tùy khổ tâm ấy gọi là khổ tưởng.
Hỏi:
Nếu tu khổ tưởng được những lợi gì?
Đáp:
Khổ tưởng nầy có quả nhàm lìa. Tại vì sao? Vì kẻ tu khổ
tưởng không nương tham mừng, vì không có mừng, vì không
có mừng nên không ưa. Lại hành giả nếu biết được pháp
ấy là khổ thời chẳng thọ các hành. Nếu pháp tuy vô thường
vô-ngã mà chẳng năng sinh khổ thời quyết chẳng bỏ. Vì
khổ nên bỏ, vì bỏ khổ nên với khổ được thoát. Lại
tất cả chúng-sinh chỗ rất sợ là khổ. Hoặc thiểu tráng,
lão niên, hiền ngu, sang hèn biết tướng khổ nầy đều sinh
nhàm lìa. Tất cả người tu hành đối với Nê-Hoàn năng sinh
tâm yên ổn tịch-diệt, đều ở trong sinh tử sinh khổ tưởng
vậy. tướng biết được? Vì nếu chúng-sinh bị khổ buộc
cõi Dục làm sao não hại, thời đối với sơ thiền sinh tưởng
tịch-diệt.
Như
vậy lần lữa cho đến bị khổ hại cõi hữu đảnh, thời
với Nê-Hoàn sinh tưởng tịch diệt. Lại trong sinh tử có
bao nhiêu tội lỗi là khổ vậy. Như trong kinh nói: “Lỗi
trong các sắc ấy là vì khổ tướng sắc vô thường bại
hoại.” Lại bởi vô-minh nên tham đắm khổ nầy. Tại sao
biết được? Vì chúng-sinh với trong thật khổ sinh tưởng
vui vậy. Nếu rất sinh khổ tưởng thời được nhàm lìa.
Vậy nên Phật nói: “Ta vì giác ngộ được khổ nên mới
thuyết ra khổ-Đế.” Trong ấy Phật nhân thế Đế mới dạy
nghĩa như vậy. tùy tất cả chỗ Thiên nhân thế-gian sinh tưởng
vui, thì nói đệ-tử Ta với trong ấy sinh tưởng khổ. Sinh
tưởng khổ rồi mới năng nhàm lìa. Lại chỗ rất ngu-si là
với trong khổ mà sinh tưởng vui. Vì tưởng nầy nên tất
cả chúng-sinh qua lại sinh tử, tâm thức não loạn. Nếu năng
tưởng khổ thời được giải thoát. Lại vì bốn lối ăn
nên gây thành thân sau; đem tưởng khổ này dứt được các
lối ăn kia như ăn thịt con, như ăn trâu không da, như ăn đống
lửa và như ăn trăm mũi mâu nhọn. Trong bốn lối ăn như vậy
đều là nghĩa khổ. Nhờ khổ tưởng nầy năng dứt các lối
ăn. Lại kẻ tu khổ-tưởng ý chẳng ưa ở trong bốn thức
xứ, vì đều thấy là khổ vậy. Như loại vi trùng si-nga nhào
mình vào lửa là vì tưởng vui. Kẻ trí biết lửa năng đốt
thời được tránh xa. Phàm phu cũng như vậy, vì vô-minh si
nên gieo báo thân đời sau vào lửa; kẻ Trí vì khổ tưởng
nên năng được giải thoát. Lại tất cả ba cõi đều là
khổ, là nhân duyên khổ: khổ thọ trong ấy là khổ; năng
sinh khổ thọ là nhân duyên khổ; khổ thọ trong ấy là khổ;
năng sinh khổ thọ là nhân duyên khổ. Tuy chẳng khổ liền,
nhưng sau chắc bị khổ nên phải quán thế gian tất cả đều
là khổ, sinh tâm nhàm lìa, chẳng thọ các pháp, thời được
giải thoát.
PHẨM
VÔ-NGÃ-TƯỞNG THỨ 175
Hành-giả
thấy tất cả pháp đều là hoại tướng phá-hoại: như chấp
sắc và ngã, khi sắc ấy bại hoại mới biết là tướng bại
hoại vậy thời lìa ngã-tâm. Thọ thảy cũng như vậy. Như
người bị nước hố núi làm trôi, gặp có chỗ nắm đeo
mà vật ấy đều bị trốc dứt mất. Hành-giả cũng như vậy,
chấp vật làm ngã, thấy vật ấy hoại thời biết vô-ngã.
Vậy nên ở trong vô-ngã, tu vô-ngã-tưởng.
Hỏi:
Tu vô-ngã-tưởng được, những lợi gì?
Đáp:
Tu vô-ngã-tưởng mới có thể đủ khổ-tưởng. Phàm phu vì
ngã-tưởng nên ở trong thật khổ mà chẳng hay thấy khổ.
Trái lại dùng vô-ngã-tưởng nên ở trong chút khổ đã biết
nó là hại. Lại ở trong vô-ngã-tưởng nên năng tu xả-tâm.
Tại vì sao? Vì ngã-tưởng nên lo sợ mất hẳn ngã. Nếu năng
thật biết chỉ mất khổ, không ngã khá mất thời năng tu
xả. Lại vì vô-ngã-tưởng năng được thường có vui. Tại
vì sao? Vì tất cả vô thường; trong ấy, nếu sinh tam ngã
và ngã-sở, thời bảo là ngã sẽ không còn và Ngã-sở cũng
mất luôn, thời thường có khổ. Nếu khởi nghĩ như vầy:
Không có ngã và ngã-sở. Thời khi các pháp bại hoại chẳng
sinh đau khổ. Lại hành-giả nhờ vô-ngã-tưởng nên tâm được
thanh-tịnh. Tại vì sao? Vì tất cả phiền não đều do ngã-kiến
mà sinh. Bởi cho rằng: việc nầy có ích lợi cho ngã ta nên
sinh tham dục; trái lại việc nầy có tổn hại cho ngã ta nên
sinh giận dữ, vì cho đấy là ngã, tức sinh kiêu-mạn.
Sau
khi mạng sống ta lâm chung sẽ tác chẳng tác? tức sinh nghi
kiến. Những lỗi như vậy đều bởi ngã nên khởi các phiền
não. Chứ dùng vô-ngã-tưởng thời các phiền não kia dứt.
Vì dứt phiền não nên tâm được thanh-tịnh. Vì tâm thanh-tịnh,
nên mới có thể sánh ngang với vàng đá, chiên-đàn, dao búa,
ngợi khen, mắng chưởi, tâm lìa ghét thương, yên ổn tịch
diệt. Nên mới biết kẻ vô-ngã-tưởng tâm được thanh-tịnh.
Lại trừ vô-ngã-tưởng lại không còn Đạo nào khác năng
được giải thoát. Tại vì sao? Vì kẻ nói có ngã, nếu khi
biết không ngã và không ngã sở hữu, thì năng tâm quyết
định như vậy, liền được giải thoát.
Hỏi:
Chẳng phải thế. Hoặc bởi vô-ngã-tưởng lại sinh lòng tham:
như tham nữ sắc, đều vì chẳng phải bà con với ta vậy.
Do đó tùy dùng kẻ chẳng phải ngã năng nhóm tội phước.
Tại vì sao? Vì tự mình làm tổn hay ích cho bản thân, đâu
có tội phước?
Đáp:
kẻ có ngã tâm năng sinh tham dục: với trong tự-thân sinh tướng
nam tử; với trong tha nhân sinh tướng nữ-nhân, nhiên hậu
tham đắm. Lại khởi tham đắm đều do giả-danh; tướng kẻ
kia tức là giả-danh. Nên chẳng phải vô-ngã mà sinh lòng tham.
Lại kẻ vô-ngã tâm chẳng nhóm các nghiệp. Vô-ngã-tưởng
nầy năng dứt tất cả phiền não và nghiệp, vậy nên cần
phải tu tập.
PHẨM
THỰC-YỂM-TƯỞNG THỨ 176
Sinh
tất cả khổ đều bởi tham ăn; cũng vì ăn nên giúp phát
sinh dâm-dục. Ở trong cõi Dục có bao nhiêu thứ khổ đều
bởi ăn uống dâm-dục mà sinh; nên dứt tham ăn mới tu được
tưởng nhàm chán. Lại như chúng-sinh ở thời kỳ kiếp sơ,
từ trên trời đến hóa sinh nơi đây, thân có yến sáng, bay
đi tự tại. Bắt đầu ăn vị đất. Kẻ nào ăn nhiều, liền
mất oai đức sáng. Như vậy dần dần có già đau chết. Đến
ngày nay sống chỉ trăm tuổi, nhiều các thứ khổ não bởi
đều tham ăn nên mất những lợi trên. Vậy nên phải chính-quán
việc ăn. Lại tham đắm ăn uống nên sinh dâm dục. Do dâm-dục
sinh các phiền não; do các phiền não gây các nghiệp bất-thiện;
do nghiệp bất-thiện năng tăng thêm ba ác thú, mà giảm bớt
chúng Thiên-nhân. Vậy nên tất cả suy não đều bởi tham ăn.
Lại tướng già đau chết đều bởi ăn uống. Lại ăn là
chỗ rất tham đắm. Dâm-dục tuy nặng nhưng chẳng hay não
người, như kẻ vì ăn. Hoặc thiểu-tráng, lão niên, tại-gia
hay xuất-gia không ai chẳng bị vì ăn mà làm não-hại vậy.
Lại nên ăn nầy thì tâm chẳng đắm, kẻ chưa ly-dục ấy
là rất khó, như chịu dao cắt, như uống thuốc độc, như
nuôi rắn độc, vậy nên Phật nói: “Phải tu tập, lấy đấy
mà ăn, thời chẳng bị khổ tham ăn làm não hoại”. Có các
ngoại đạo tu pháp đoạn-thực, vậy nên Phật nói: “Ăn
nầy chẳng phải dứt mà được lìa, phải suy nghĩ mà ăn”.
Nếu chỉ đoạn thực chẳng hết phiền não, thời chết uổng
vô ích. Vậy nên Phật nói: Với trong ăn nầy nên sinh tưởng
nhàm lìa, thời không các lỗi như trên.
Hỏi:
Làm sao với ăn nên sinh tưởng nhàm lìa?
Đáp:
Ăn nầy thể tính bất-tịnh ăn quả rất thượng vị cũng
đều bất tịnh.Vậy nên phải nhàm chán. Lại như tất cả
đồ ăn uống sạch sẽ thơm đẹp, khi bất tức tịnh năng
lợi ích cho thân; lấy răng ngậm nhai ngấm thấm nước miếng,
trạng như đồ mửa nhả; rồi cho xuống bao tử năng lợi
ích thân. Nên biết bất tịnh. Lại ăn uống nầy vì bất
trí nên ưa. Nếu người tuy ăn được dồ ăn ngon, rồi nhả
ra chẳng thể ăn lại được. Nên phải biết vì sức bất
trí nên cho là ngon đấy thôi. Lại vì nhân-duyên ăn uống
mà chịu bao nhiêu ơn khổ nhọc vất vả việc chứa để giữ
gìn của kẻ điền tác nông phu; do nhân-duyên nầy khởi gây
vô lượng tội lỗi. Lại có bao nhiêu đồ bất-tịnh đều
bởi ăn uống. Nếu không ăn uống do đâu mà có da thịt máu
xương và phấn uế thảy các vật bất tịnh? Lại có bao nhiêu
ác đạo như những loại trùng ở trong cầu tiêu, đều bởi
vì tham đắm hương vị nên mới sinh vào trong ấy. Như trong
nghiệp phẩm đã nói: Chúng-sinh chết vì đói khát thời sinh
làm loại trùng trong nước; chết chỗ ồn ào sinh vào loại
chim; chết vì tham dâm dục thời sinh trong bào thai. Đại khái
như thế thảy. Lại nếu lìa ăn nầy thời được vui lớn:
như sinh về cõi sắc và trong Nê-Hoàn. Lại tùy vì ăn nên
mới có khổ cày cấy. Như vậy quán ăn là khổ bất tịnh,
cho nên cần tu tưởng nhàm chán.
PHẨM
NHẤT-THIẾT THẾ-GIAN BẤT-KHẢ LẠC TƯỞNG THỨ 177
Hành-giả
nhận thấy tất cả thế-gian đều khổ nên tâm không chút
vui. Lại hành-giả này du Định ly-hỉ: như vô thường tưởng,
khổ tưởng, vô ngã tưởng, thực yểm tưởng, tử tưởng
thảy, nên tâm chẳng vui với tất cả thế-gian. Lại người
nầy thấy kẻ sở ái thời tăng tham dục; thấy kẻ sở ố
thời tăng giận thấy kẻ sở ái thời tăng tham dục; thấy
kẻ sở ố thời tăng giận dữ thảy; thấy những kẻ nghèo
cùng có khổ thiếu thốn thảy. Lại thấy kẻ ở chỗ tốt
sẽ đọa chỗ xấu, thấy kẻ ở chỗ xấu đang chịu các
kổ. Lại thấy kẻ giàu sang hiện tại biết chắc sẽ đọa,
vì đó cũng là chỗ mà các tham sân phiền não tụ hội; còn
những kẻ nghèo cùng hiện biết không có cơ hội có thể
ra được. Vậy nên chẳng tham vui tất cả thế-gian. Lại ít
có chúng-sinh được sinh chỗ tốt, phần nhiều đọa ác đạo,
như trong kinh nói: “Í t sinh chỗ tốt, nhiều sinh chỗ xấu,
thấy lỗi ấy rồi, chỉ cầu Nê-Hoàn”. Lại người nầy
thấy lỗi tham thảy các phiền não thường bám theo chúng-sinh
như kẻ oán rình giết người được cơ hội là hạ thủ
ngay. Ở trong oán tặc ấy làm sao vui được? Lại thấy do
phiền não sinh nghiệp chẳng lành, nghiệp quả chẳng lành
thường theo dõi theo đuổi, quyết chẳng thoát được. Như
trong kinh nói: “Nếu người gây ác nghiệp: nay gây, đã gây
và sẽ gây, cho đến bay trên hư không, quyết chẳng có thể
giải thoát.” Vậy nên chẳng vui.
Lại
nữa, sinh thảy tám khổ hãy theo dõi người phước huống
là kẻ vô-phước? Như vậy làm sao mà vui với thế-gian. Lại
như một hòm rắn độc; kẻ giặc có năm con dao nhọn, giặc
phá trống không làng xóm. Các khổ bờ bên nầy thường theo
chúng-sinh làm sao mà vui được? Lại như bị trôi trong sông
ái-hà mặn đắng. Khổ ngũ-dục là mũi nhọn độc, vô-minh
đen tối và trong hầm lữa hừng, thường bám theo chúng-sinh,
thì làm sao vui được! Lại hành-giả biết vui yên ổn ít,
mà khổ suy não nhiều. Tại vì sao? Vì thấy các thế-gian:
ngày tốt, hội vui, cây rừng hoa nở sum-sê, trái xinh thịnh
mậu, quốc-độ an vui không được bao lâu, kẻ hưởng vui
ấy ít, mà người chịu khổ thời nhiều. Vậy nên chẳng
vui được với tất cả thế-gian.
Hỏi:
Tu tập với tưởng nầy được những lợi gì?
Đáp:
có thể đối với tất cả sự tướng của thế-gian lòng
chẳng tham đắm. Lại nhờ tu tưởng này nên mau được giải
thoát, vì với trong sinh tử chẳng còn ở lâu nữa. Lại hành-giả
nầy được lợi trí-huệ, vì thường học tập tất cả hành
tướng tội lỗi vậy. Lại tâm người này chẳng sinh phiền
não, nếu sinh cũng mau diệt như một giọt nước rơi trên
tấm sắt nóng. Hành-giả bởi chẳng vui thế-gian,thời với
tịch-diệt chẳng năng vui lắm. Vậy nên cần tu tập tưởng
tất cả thế-gian là chẳng đáng vui.
PHẨM
BẤT-TỊNH TƯỞNG THỨ 178
Hỏi:
tu bất-tịnh trong là thế nào?
Đáp;
Hành-giả nhận thấy hột giống thân bất tịnh nghĩa là từ
đường bất tịnh của cha mẹ sinh hai giọt đỏ và trắng
hòa hợp. Lại thân này do vật bất tịnh mà thành là đồ
ăn uống tan nát lòng chẳng thấm nhuần. Lại sinh ở chỗ
bất-tịnh là trong thai mẹ đầy nhẫy bất tịnh. Lại phân
uế thảy các vật bất tịnh họp lại mà làm thân; ở trong
chín lỗ thường chảy bất tịnh. Lại chỗ để thân là chỗ
chẳng tốt chẳng sạch.: Lại ăn uống áo mặc đắp đến
thân người đều thành bất tịnh, bị người ta nhờm gớm.
Lại vật dụng cho thân nầy đều là bất-tịnh, như nước
tắm gội, hoặc bàn tắm thảy. Lại từ thân sinh ra: móng,
tóc, mồ hôi và chất mũi dãi thảy đều là bất-tịnh. Lại
htấy những thây chết thật là bất tịnh, thì thân ta đây
khi chết đâu có khác gì? Phải biết xưa nay thường là bất
tịnh. Khi sống chỉ vì ngã tâm che lấp, cho đó là tịnh,
mà khi đụng thân người chết, cho đó là bất tịnh; mà tóc
móng thảy là các vật thường chết; nhiều loại trùng chết
cũng thường ở trong thân. Nên biết thân nầy xưa nay bất-tịnh.
Lại loài rận bất tịnh và ruồi muỗi thảy các loại trùng
chết cũng thường đến xúc thân. Nên biết bất tịnh. Lại
thân nầy như cầu tiêu thường đầy bất tịnh; bởi đấy
nên trong cầu tiêu sinh hàng ngàn thứ trùng, thân này cũng
như vậy. Lại thân này như cái mả. Tại vì sao? Vì chỗ để
thây nên gọi là mả; thân nầy cũng có nhiều trùng chết
đang nằm trong ấy. Lại thân nầy hay gây bất tịnh, như chỗ
sạch, hoa đẹp, quần áo, chuỗi anh lạc thảy, bởi thân nầy
nên đều bị bất tịnh. Lại các kẻ Bà-la-môn chẳng theo
thọ-thực những nhà đang có người chết và người đẻ,
vì bất-tịnh vậy. Mà ở trong thân nầy có hàng ngàn vạn
thứ trùng thường đẻ thường chết, thời không nên theo
nó mà thọ ăn uống. Nên biết bất tịnh. Lại chỗ bất tịnh
trong thế-gian là lao ngục. Thân nầy tức là ngục ngàn loại
trùng, nên gọi bất tịnh. Lại thân nầy thường tắm gội,
nếu nói là sạch cần tắm gội làm chi? Lại thấy hoa thường
màu đẹp chuỗi anh lạc trang nghiêm cho thân nầy, phải biết
thân nầy thể tính bất-tịnh, mới nhờ tịnh vật bên ngoài
để nhờ trang điểm. Lại thân người rất là bất tịnh,
như da, lông, móng, răng, gân, xương, thịt da của các chúng-sinh
khác, hoặc có cần dùng, mà với trong thân người không một
món khá lấy, vì là bất tịnh vậy.
Lại
như hoa ưu-bát-la, bát-đầu-ma các hoa sen từ chỗ bất-tịnh
mà sinh, nên gọi bất-tịnh, thân nầy chẳng như vậy, chẳng
bởi các vật khác khiến nó bất tịnh, mà chính là nó bất-tịnh.
Lại thân nầy nếu sạch, thời cần gì lấy áo quần che tủ?
Như người láy áo che đống phân đại-tiểu để dối gạt
kẻ khác. Nữ nhân cũng như vậy, lấy đồ phục sức che đậy
tấm thân để dối gạt nam-tử, trái lại nam-tử cũng làm
như vậy. Phải biết là bất-tịnh. Lại khắp cả thân nầy
thường chảy ra bất-tịnh là chín lỗ cửa bất-tịnh và
các lỗ chân lông không một chút sạch. Nên biết bất-tịnh.
Hỏi:
Tu bất-tịnh tưởng được những lợi gì?
Đáp:
Bởi trong trai gái là sạch nên khởi tham dục, mới mở các
cửa tội lỗi. Tu tưởng bất-tịnh thời năng chế-phục tham-dục.
Tại vì sao? Vì thân nầy đều là hôi thúi bất-tịnh, chỉ
lớp da mỏng che khuất nên chẳng biết được, in như lấy
áo che đống bất tịnh; kẻ nào ưa sạch sẽ thời xin tránh
xa! Lại kẻ hành giả nầy, nhờ tưởng xanh-bầm thảy mà
phá hoại tất cả thân. Vì hoại thân nên chẳng sinh tham dục.
Lại cũng chỉ hiện thấy xanh-bầm các sắc.
Hỏi:
Như thật chưa xanh tại sao thấy xanh?
Đáp:
Hành-giả nhờ sức tín-giải lấy tướng xanh nầy rồi thấy
thấy tất cả sắc đều xanh-bầm.
Hỏi:
Quán nầy như thế là điên-đảo chứ gì?
Đáp:
Trong thân nầy có phần xanh-bầm. Như trong kinh nói trong nước
có tướng xanh. Lại thường tu tập tướng xanh-bầm nên năng
thắng các sắc khác, như ánh sáng viên ngọc thanh-châu năng
làm át sắc trắng. Như vậy tập lâu tướng xanh-bầm thảy,
vì tưởng bất-tịnh đầy đủ. Bất-tịnh đầy đủ thời
chẳng khởi dâm-dục. Chẳng khởi dâm-dục thời đóng bít
các cửa tội lỗi, tùy thuận Nê-Hoàn. Tu bất-tịnh-tưởng
được lợi như thế.
PHẨM
TỬ-TƯỞNG THỨ 179
Hành-giả
dùng tử-tưởng đối với trong thọ mạng tâm chẳng quyết
định, nên phải tu tập. Lại người nầy thường rất ưa
vui pháp lành, trừ dứt chẳng lành. Tại vì sao? Vì chúng-sinh
phần nhiều quên chết, nên mới khởi nghiệp chẳng lành,
nếu nghĩ nhớ chết thời năng trừ dứt. Lại thường nhớ
chết, nên đối với: cha mẹ, anh em, chị em, bà con, láng giềng,
bè bạn thảy, thời mỏng bớt sự tham ái. Lại tu tập tử-tưởng
thời được tự lợi nghĩa là năng nhất tâm nhóm các pháp
lành; chúng-sinh thế-gian nhiều vui lợi tha mà bỏ tự lợi.
Lại người nầy năng mau được giải thoát. Tại vì sao? Vì
kẻ thường theo qua lại trong thế-gian nên có chết chóc: người
nầy chán sự chết chóc nên mới cầu sự giải thoát.
Hỏi:
Nên tu tử-tưởng như thế nào?
Đáp:
Như trước đã tổng thuyết tất cả vô thường; nay chỉ
nói quán thân vô thường. Dứt ấm luôn nối nhau gọi là chết.
Tưởng thân này vô thường lắm hơn sự vật bên ngoài, in
như bình chén không có tướng bền chắc. Hành-giả quán thân
mong manh hơn các vật kia. Tại vì sao? Vì bình chén kia, nếu
gia tâm giữ gìn hoặc có thể còn lâu dài; mà thân nầy có
lâu hay chăng nữa không hơn trăm năm, vì không bền chắc như
vậy nên phải nghĩ nhớ tử-tưởng. Lại thân nầy nhiều
pháp trái hại nhau là: dao, gậy, mũi nhọn, oán giặc, hầm
hố, ăn uống chẳng tiêu hóa, các chứng bệnh lạnh, nóng,
gió. Tóm tắt mà quan-sát: tất cả chúng-sinh và vật phi chúng-sinh
đều là pháp trái hại của thân. Vậy nên phải tu tử-tưởng.
Lại hành giả nhận thấy thân, với trong mỗi niệm thường
là tướng hư hoại không bảo đảm được một niệm, nên
tu tử tưởng. Lại hành-giả hiện thấy: thiểu-tráng, lão-niên,
có bệnh, không bệnh, không ai năng đẩy lui được sự chết,
mới tự nghĩ thân mình cũng sẽ có như vậy. Vậy nên tu tử-tưởng.
Lại hành giả thấy có nghiệp báo bất định, chẳng phải
tất cả nghiệp đều chịu hết trong khoản tuổi thọ trăm
năm. Vì nghiệp bất định nên chết cũng bất-định nên phải
nghĩ nhớ chết. Lại trong vô thủy sinh tử có vô lượng nghiệp;
có những nghiệp năng làm hại các nghiệp khác. Ta cũng phải
có nghiệp chết phi thời; thì làm sao mà tin được mạng sống
nầy ư? Lại hành-giả nhận thảy cái chết nó có đại thế
lực, không thể lấy lời mềm mỏng mà dụ dỗ, hay dối gạt
bằng của cải, hoặc đuổi bắt và tranh kiện mà thoát được,
như núi Đại-sơn-thạch từ bốn pháp áp đến không chỗ
chốn tránh.
Hỏi:
Nếu người năng khiến vua Diêm-Vương hoan hỷ thời thoát
chết được chứ?
Đáp:
Nói thế là ngu si. Vua Diêm-Vương không có quyền lực tự
tại năng làm cái việc sinh sát ấy, chỉ năng khảo xét việc
làm thiện hay ác mà thôi. Vậy nên hành-giả nhận thấy thân
không chỗ nương nhờ và cầu cứu ở trong con đường chết.
Nên nghĩ nhớ tử-tưởng. Lại hành-giả thường thấy thân
nầy bị già đau làm não hai, vì không có tính bền chắc,
và niệm niệm sinh diệt nối nhau vì nghiệp thức trói buộc,
nên tu tử-tưởng. Lại hành giả nầy thấy chết là định
mệnh, thời bất định quyết thắng, vì bất định nên tu
tử-tưởng.
Hỏi:
Tại sao chẳng nói tưởng già bịnh thảy mà chỉ nói tưởng
chết?
Đáp:
Già bệnh cướp người chẳng hay hết được: bệnh cướp
mạnh khỏe; già cướp thiểu tráng mà giòng họ láng giềng
và thân vẫn còn nguyên. Chỉ có chết thời cướp hết sạch.
Lại già bệnh thảy là nhân duyên chết, nên chẳng cần nói
riêng và không ai cứu giúp, cũng không bè bạn, không chỗ
nương cậy, là chỗ rất đáng sợ”. Nên phải nghĩ chết.
Lại chúng-sinh vì nhân duyên chết nên sợ hãi đời sau. Lại
trong ba cõi tất cả đều có chết, mà già bệnh chẳng như
vậy.
Hỏi:
Nếu chẳng rời chúng-sinh có chết ấy. Chúng-sinh tức là
giả danh. Thì hành-giả tu tập tưởng mà làm chi?
Đáp:
Chẳng hoại tướng chúng-sinh sợ hãi nơi chết. Nếu tu tử-tưởng
thời chẳng sinh kinh sợ, nên cần phải tu tập. Lại vô thường
tưởng thảy gọi là cận đạo. Còn bất-tịnh, yểm-thực
và tử tưởng thảy gọi là viễn đạo. Kẻ chưa đắc đạo
nhờ các tưởng nầy mới có thể chế được tâm.
PHẨM
HẬU-TAM-TƯỞNG THỨ 180
Đoạn
tưởng: Như trong tứ-chính-cần nói: Vì muốn đoạn pháp ác
bất thiện đã sinh nên siêng-năng tinh-tiến. Các pháp ác bất-thiện
nầy là nhân-duyên khổ-não địa ngục thảy, và cũng là gốc
các điều khổ của các tiếng tăm xấu ác và tâm ăn-năn
thảy. Vậy nên phải đoạn.
Hỏi:
Đoạn bằng cách nào?
Đáp:
Đắc pháp bất-tác, bấy giờ là đoạn. Lại nghĩ nhớ tà
là nhân tham-dục thảy các phiền não. Đoạn nhớ tà ấy là
pháp nầy đoạn.
Hỏi:
Tu đoạn tưởng nầy được những lợi ích gì?
Đáp:
Người tu tưởng nầy thường chẳng theo ác pháp, mà làm những
việc đáng làm. Lại đây là lìa bát-nạn, làm thân người
lợi nghĩa là dứt phiền não. Lại ưa dứt phiền não là pháp-phục
hủy-hình lợi người xuất-gia. Nếu ai chẳng như vậy thời
luống uổng tự hổ thân. Lại nếu hành-giả vui tu đoạn-tưởng,
như dục hết chẳng sinh gọi là ly-dục. Nghĩ ly-dục nầy
mới gọi ly-tưởng.
Hỏi:
Nếu nói đoạn-tưởng tức là ly-tưởng, tại sao còn nói
lại?
Đáp:
Do đoạn được ly. Đoạn là diệt tham dục. Như trong kinh
nói: “Vì dứt tham-dục nên ngũ-ấm dứt”. Lại đoạn-tưởng
là ly-dục-tưởng. Tại vì sao? Vì nếu với pháp nầy không
tham gọi là đoạn pháp ấy. Vậy nên nếu được ly-dục,
thời dứt khổ não. Như trong kinh nói: “Kẻ ly-dục được
giải thoát”. Được giải thoát tức là đoạn. Nếu vào
được vô dư, đấy gọi là Diệt. Lại trong kinh nói cho ba
tính: Đoạn tính, ly dục tính, diệt tính. Nếu đoạn tính,
ly dục tính tức là A-La-Hán, đoạn tất cả phiền não, lìa
dục ba cõi, trụ hữu dư Nê-Hoàn. Như nói diệt tính tức
lâm chung xả thọ mạng dứt ấm nối nhau vào vô dư Nê-Hoàn.
Lại
có hai thứ giải thoát: Huệ giải thoát và tâm giải thoát.
Như nói Đoạn tức là Ly vô-minh, nên Huệ được giải thoát.
Như nói ly-dục tức là ái-tâm được giải thoát. Quả của
hai giải thoát nầy gọi là Diệt. Lại như nói dứt tưởng
tức là nói dứt vô-minh-lậu. Như nói ly-dục-tưởng tức
là nói dứt dục-lậu hữu-lậu. Như nói diệt-tưởng là hai
quả nầy. Lại như trong kinh nói: “Dứt tất cả các hành
nên gọi là Đoạn, lìa tất cả các hành nên gọi là Ly; diệt
tất cả hành nên gọi là Diệt”. Vậy thời ba pháp này nghĩa
một mà tên khác nhau. Nếu tu vô thường-tưởng cho đến diệt-tưởng
thời xong tất cả việc. Diệt các phiền não, Đoạn ấm kiết
nối nhau, vào Vô-dư Nê-Hoàn.
PHẨM
TRONG ĐỊNH-CỤ TRƯỚC NĂM ĐỊNH-CỤ THỨ 181
Hỏi:
Ông trước nói Đạo-Đế gọi Định-cụ và Định. Đã nói
Định, Định-cụ nầy nay cần phải nói. Tại vì sao? Vì nếu
có Định-cụ thời Định mới thành được, mà không là chẳng
thành?
Đáp:
Định-Cụ có tất cả mười một pháp: 1- Thanh-tịnh trì-giới;
2- Được Thiện-tri-thức; 3- Giữ-gìn căn-môn; 4- Ăn uống
biết lường; 5- Đầu đêm cuối đêm bớt phần ngủ nghỉ;
6- Đầy đủ thiện giác; 7- Đầy đủ tín giải; 8- Đủ hành
giả phận; 9- Đủ chỗ giải thoát; 10- Không bị chướng-ngại;
11- Chẳng chấp mắc.
1-
THANH TỊNH TRÌ GIỚI: Lìa nghiệp chẳng lành gọi là trì-giới.
Nghiệp chẳng lành: chỗ gọi sát, đạo, tà dâm là ba thân
nghiệp vọng-ngữ, lưỡng-thiệt, ác-khẩu, ỷ-ngữ là bốn
khẩu nghiệp. Xa lìa tội nầy gọi là trì-giới. Lại lẽ
kính rước đưa và cúng dường thảy, tu hành các pháp lành
cũng gọi là giới. Vì giới năng làm nhân cho Định. Nên phải
thọ-trì. Tại vì sao? Vì in như rèn vàng, trước trừ rét
to.Như vậy trước lấy trì-giới trừ lỗi to là phá-giới,
sau mới lấy Định thảy trừ các lỗi nhỏ.
Tại
vì sao? Vì nếu không trì giới thời không thiền-định. Nhờ
nhân-duyên trì giới thiền-định mới dễ được thành như
trong kinh nói: “Giới là gốc Đạo và cũng là nấc thang mầu”.
Lại nói: Giới là xe đầu tiên, nếu chẳng lên xe đầu làm
sao kêu được xe thứ hai thảy. Lại nói: Giới là đất bằng;
đứng đất bằng xem được bốn Đế. Lại nói: Hai sức:
sức nghĩ và sức tu. Sức nghĩ tức là trì giới; sức tu là
Đạo. Trước suy nghĩ so lường tội lỗi phá giới, lợi ích
trì giới nên mới có thể trì giới. Sau khi đắc Đạo tự
nhiên lìa ác. Lại nói: Giới là rễ cây Bồ-Đề, mà không
rễ là không cây. Nên phải trì tịnh giới. Lại lẽ pháp
là phải như vậy. Nếu không trì giới thời không thiền-định,
in như pháp được trị bịnh, phải dùng như thế trị bịnh
phiền não; nếu không trì giới thời pháp được chẳng đủ.
Lại nói: Kẻ tịnh trì giới thời tâm chẳng ăn năn, cho đến
ly dục tâm được giải thoát, các công đức nầy đều nhờ
trì giới. Nên gọi Định cụ. Lại có nghiệp chướng, phiền
não chướng, quả hai món chướng nầy gọi là báo chướng.
Nếu tịnh giới thời không có ba chướng nầy. Nếu tâm không
có bị chướng thời năng thành Định; lại kẻ tịnh trì
giới chẳng bại hoại, chắc đến Nê-Hoàn, như gỗ trôi trong
dòng sông Hằng. Lại tịnh trì giới nên năng an lập: Trì
giới năng nghiệp chẳng lành nơi thân miệng. Thần định
năng ngăn nghiệp chẳng lành nơi ý. Ngăn các phiền não như
vậy phải được thật chân-trí mới rốt-ráo đoạn. Lại
lầu đài của Đạo phẩm lấy giới làm cột-trụ; đô-thành
của tâm thiền-định lấy giới làm hồ trì chung quanh; qua
biển sinh tử lấy giới làm rường cầu. Vào trong đám đông
người lành lấy giới làm ân; ruộng bát thánh đạo lấy
giới làm bờ cõi; như ruộng kko bờ thời nước chẳng còn.
Cũng như thế, nếu không tịnh giới nước Định chẳng tồn
tại.
Hỏi:
Làm sao gọi tịnh trì giới?
Đáp:
Nếu hành-giả thật thâm tâm chẳng ưa làm ác, sợ hãi đời
sau và tiếng xấu, gọi là tịnh trì giới. Lại hành giả
đem tịnh tâm nên trì giới thanh-tịnh. Như trong kinh thất
dâm dục nói: “Thân tuy chẳng phạm, mà tâm chẳng tịnh nên
giới chẳng tịnh”. Lại nhân-duyên phá giới là các phiền
não, nên năng chế phục là trì giới được tịnh. Lại Thanh-Văn
trì giới chỉ vì Nê-Hoàn; kẻ cầu Phật Đạo đem lòng đại
bi vì tất cả chúng-sinh chẳng chấp giới tướng, năng khiến
giới ấy, như tính Bồ-Đề. Trì giới như vậy gọi là thanh-tịnh.
2-
THIỆN TRÍ THỨC: Trong kinh nói nhờ hai nhân-duyên sinh chính
kiến: một theo người nghe pháp; hai tự chính nghĩ nhớ pháp
đã được nghe. Đấy gọi là thiện tri thức.
Hỏi:
Nếu như vậy, mà sao chỉ nói Thiện tri thức thôi?
Đáp:
Trong kinh nói: “A-Nan hỏi Đức Phật: Tôi ngồi yên một chỗ,
khởi nghĩ như vầy: Gặp được Thiện tri thức, thế là được
một nửa phần nhân-duyên Đắc-Đạo? Phật dạy rằng: Đừng
nói lời ấy. Thiện tri thức của nhân-duyên đầy đủ đắc-Đạo.
Tại vì sao? Vì chúng sinh lão bệnh tử mà được Ta làm Thiện
tri thức, thời với sinh lão bệnh tử mà được giải thoát.”
Lại chúng-sinh nhờ Thiện-tri-thức, được tăng trưởng giới
thảy năm pháp như cây sa-la đại-thọ nhờ núi Tuyết-Sơn
được năm sự tăng trưởng. Lại Phật hãy còn tự vui Thiện-tri-thức,
như khi Ngài mới đắc Đạo khởi nghĩ như vầy: “Nếu người
mà không thầy thời không có chỗ nào là không sợ hãi; không
lòng cung kính thường bị ác pháp che khuất, không hạnh yên
ổn. Ta nay phải lấy ai làm Thầy, nương ai mà trụ? Khởi
nghĩ như thế rồi mới khắp xem tất cả không ai hơn mình
được, liền nảy nghĩ rằng: Pháp mà Ta đã chứng được,
nhờ đó mới thành Phật, nay phải trở lại nương pháp ấy”.
Các Phạm-thiên cũng khen rằng: Vậy không ai bằng Phật. Tất
cả đức Phật đều lấy Pháp làm Thầy. Lại Thiện-tri-thức
in như đèn sáng; có mắt mà không đèn thời chẳng thấy gì
được. Như vậy hành-giả tuy có lớn căn phước đức nhân-duyên
mà không Thiện tri thức thời không được ích gì.
Hỏi:
Kẻ như thế nào là Thiện tri thức?
Đáp:
Tùy theo năng khiến người tăng-trưởng pháp lành gọi là
Thiện-tri-thức. Lại tất cả những người lành là kẻ an-trụ
nơi chánh-pháp, đều là Thiện-tri-thức của thiên-nhân và
thế-gian.
3-
GIỮ-GÌN CĂN-MÔN: Là chính nghĩ nhớ. Hành-giả chẳng nên
nhắm mắt mà xem, chỉ nên nhất-tâm chính nghĩ hiện-tiền.
Lại gọi là chính-huệ, lấy chính-huệ nầy mới năng phá
cảnh-duyên hiện-tiền. Năng phá tiền-duyên nên mới có thể
chẳng chấp lấy tưởng. Chẳng chấp lấy tưởng nên chẳng
chạy theo giả-danh. Nếu chẳng giữ các căn, để chấp lấy
tướng thời các phiền não, rồi lưu lộ ra năm cửa tức
thì phá giới thảy pháp lành. Nếu năng giữ gìn căn-môn thời
giới thảy được bền chắc.
4-
ĂN UỐNG BIẾT LƯỜNG: Chẳng vì sức mạnh, dâm dục, tham
vị mà ăn, chỉ vì nuôi thân vậy.
Hỏi:
Hành-giả nuôi thân để làm gì?
Đáp:
Để tu pháp lành vậy. Nếu bỏ pháp lành thời không đạo
pháp. Không đạo pháp thời làm sao mà lìa khổ được! Nếu
người chẳng vì tu hành mà ăn, thời là luống uổng nuôi
kẻ oán-tặc, và cũng phá hư phước của thí-chủ, tổn hại
người cúng dường. Như vậy chẳng đáng ăn vật ăn của
người.
Hỏi:
Lấy gì mà lường ăn uống?
Đáp:
Tùy có thể giúp nuôi thân, đấy gọi là lường.
Hỏi:
Nên ăn những món gì?
Đáp:
Nếu món ăn chẳng tăng thân bệnh lạnh nóng thảy, tâm bệnh
tham giận thảy, thế là nên ăn. Những món ăn nầy cũng phải
tùy thời: như biết món ăn ấy đối với thời nầy năng
tăng thêm các bệnh lạnh nóng tham giận thảy thời chẳng
nên ăn.
Hỏi:
Các ngoại đạo nói: “Nếu ăn món thanh tịnh thời năng được
tịnh phước, nghĩa là tùy ý thèm muốn sắc, hương, vị,
xúc; nước phải lọc lượt chúng nguyện nhiên hậu mới ăn.
Đấy gọi là tĩnh. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Đồ ăn uống không có quyết-định là tịnh. Tại vì sao?
Vì nếu cho đồ ăn thừa bất-tịnh, thời tất cả đồ ăn
uống không thứ nào chẳng phải thừa; như sữa là vật thừa
của bò con, mật là thừa của ong, nước là thừa của trùng,
hao là thừa của bướm ong, và trái là thừa của chim chóc.
Cứ suy nghĩ thế thảy. Lại thân nầy từ bất-tịnh mà sinh,
thể tính bất-tịnh, bất-tịnh đầy nhẫy. Đồ ăn uống
trước là bất-tịnh, sau vào trong thân không một chút tịnh.
Chỉ vì điên-đảo mê lầm quấy cho là tịnh mà thôi.
Hỏi:
Nếu đều là bất-tịnh, thời cùng hạng người hèn hạ,
Chiên-đà-la đâu có khác chi?
Đáp:
Lại nhờ bất-sát, bất-đạo, bất tà-mạn thảy; đúng như
pháp mà được ăn. Đem trí-huệ quán-tưởng lỗi ăn uống,
rồi lượt nước xong nhiên hậu mới ăn. Chứ chẳng phải
chỉ lượt nước mà cho là tịnh được.
5-
ĐẦU ĐÊM CUỐI ĐÊM BỚT PHẦN NGỦ NGHỈ:
Hành-giả
biết sự nghiệp do tinh-tiến siêng-năng mà thành nên chẳng
ngủ nghỉ. Lại thấy ngủ nghỉ luống-uổng không được
gì. Nếu người cho ngủ nghỉ là vui, chút vui hèn ấy chẳng
cần nói vậy. Lại hành-giả chẳng ưa đồng-cư với phiền
não, như người chẳng ưa ở chung với kẻ oán-tặc; đời
đâu có người đang ở trong trận giặc mà ngủ ngon lành?
Nên chẳng ngủ nghỉ.
Hỏi:
Ngủ nghỉ đến đòi làm sao mà xua đuổi?
Đáp:
Người nầy được ý-vị Phật-pháp, tâm rất vui mừng, nên
có thể trừ khiển được. Lại nghĩ tội lỗi già đau chết
trong sinh tử thời tâm sợ hãi nên chẳng ngủ nghỉ. Lại
hành-giả nhận thấy được làm thân người, các căn đầy
đủ, lại may được gặp Phật-Pháp, có thể phân biệt tốt
xấu, phải quấy là việc rất khó, mà nay chẳng cầu độ
còn đợi khi nào mới được giải thoát? Vậy nên phải siêng-năng
tinh-tiến để diệt trừ ngủ nghỉ.
PHẨM
BẤT-THIỆN GIÁC THỨ 182
6-
ĐẦY ĐỦ THIỆN GIÁC: Nếu người tuy chẳng ngủ nghỉ mà
khởi bất-thiện-giác, chỗ gọi: dục giác, sân giác, não
giác; hoặc thân lý giác, quốc độ giác, bất tử giác, lợi
tha giác, khinh tha giác thảy. Thà nên ngủ nghỉ, đừng khởi
những thứ bất-thiện giác nầy. Mà cần phải chính nghĩ
nhớ xuất thảy các thiện giác, chỗ gọi xuất giác, bất
sân não giác, tám bực đại nhân giác. DỤC GIÁC: là nương
lòng tham dục mà sinh giác với trong ngũ-dục thấy có hai lợi
vui, gọi là dục-giác. Làm suy hại chúng-sinh, gọi là sân
giác, não giác. Hành-giả chẳng nên nhớ nghĩ ba món giác nầy.
Tại vì sao? Vì nhớ nó thời bị tội nặng. Lại như trước
đã nói tội lỗi tham thảy. Bởi tội lỗi nầy chẳng nên
nghĩ nhớ.
Hỏi:
Tại sao chẳng nói si thảy giác?
Đáp:
Ba giác nầy thứ lớp mà sinh, còn các phiền não khác chẳng
phải như thế. Hành-giả hoặc nghĩ ngũ-dục nên sinh tham giác,
tham mà chẳng được mới sinh giận dữ; hoàn thành giận dữ
gọi là não. Vậy nên chẳng nói si thảy. Lại kết quả của
si là tham giận, như từ tham giận sinh nghiệp bất-thiện.
Ba món giác nầy là nghiệp nhân bất thiện. Như trong kinh nói:
“Ví như cục đất, đêm thời khói ra, ngày thời lửa cháy”.
Khói tức là giác; lửa gọi là nghiệp.
THẦN-LÝ-GIÁC:
Bởi bà con, xóm làng nên khởi nghĩ nhớ muốn khiến bà con,
xóm làng được yên ổn vui vẻ. Hoặc nghĩ suy hại thời sinh
buồn rầu; hoặc nghĩ muốn cùng làm các việc đồng sự với
bà con xóm làng gọi là thân lý giác. Hành-giả chẳng nên
nghĩ nhớ thứ giác nầy. Tại vì sao? Vì bản nguyện khi xuất
gia đã xả thân-lý, mà nay lại khởi giác nầy là điều chẳng
nên. Nếu người xuất gia lại nghĩ thân-lý thời luống bỏ
gia thuộc uổng công ích gì. Vì yêu thân-lý nên sinh tham đắm.
Vì tham đắm mới giữ-gìn. Vì nhân-duyên giữ gìn mà roi gậy
thảy các nghiệp thứ tự sinh khởi. Vậy nên chẳng nên sinh
thân lý-giác. Lại cùng thân-lý hòa hợp thời không thể tăng-trưởng
pháp lành. Lại hành-giả nghĩ tất cả chúng-sinh trôi lăn
trong sinh tử không một ai là chẳng phải thân-lý thời tại
sao chấp đắm chênh-lệch. Lại trong sinh tử vì thân-lý nên
buồn thương khóc lóc lệ chảy thành biển cả, mà nay lại
tham đắm nữa thời khổ vô cùng tận! Lại chúng-sinh vì nhân-duyên
lợi ích nên thân ái nhau không có nhất định. Lại kẻ hay
nghĩ thân-lý là tướng ngu-si; người ngu ở thế-gian chưa
có lợi mình mà muốn lợi người. Nếu nghĩ thân-lý thời
ít tự-lợi. Vì những lẽ trên đây nên hành-giả chẳng nên
khởi thân lý-giác.
QUỐC-ĐỘ-GIÁC:
Hành-giả sinh nghĩ chỗ cõi nước nào đó giàu vui yên ổn
nên qua đến kia khá được an vui. Lại tâm nông nỗi muốn
dạo xem cho khắp. Hành-giả chẳng nên khởi ý giác như vậy.
Tại vì sao? Vì tất cả cõi nước đều có lỗi ác: có nước
rất lạnh; có nước rất nóng; có nước nhiều hiểm; có
nước nhiều bệnh; có nước nhiều giặc trộm. Có nhiều
lỗi trái khác nhau như thế, nên chẳng nên nghĩ tới. Lại
kẻ nông nổi thời mất thiền-định. Tùy theo chỗ ưa vui
năng được tăng thêm pháp lành thời đấy là tốt, chứ cần
gì phải xem khắp cõi nước ư. Tất cả các cõi nước chỉ
đẹp xa nghe, đến đó chưa chắc vừa lòng, vì người đời
phần nhiều lời nói quá sự thật. Lại những kẻ du ngoạn
các nước chịu nhiều sự khổ, vì thân nầy là nhân-khổ,
mà mang nhân khổ nầy theo đi đến chỗ nào cũng đều chịu
khổ. Lại hưởng chịu khổ vui do nghiệp nhân thì dù đi xa
đến đâu cũng không ích gì. Vậy nên chẳng nên khởi quốc-độ-giác.
BẤT
TỬ GIÁC: Hành-giả khởi nghĩ như vầy: Ta nên chậm sau sẽ
tu Đạo. Trước hết phải đọc tụng kinh tạng, luật tạng,
luận tạng, tạp tạng và Bồ-Tát tạng, rộng họp các sách
ngoại điển; nuôi nhiều đệ tử; dắt dẫn người lành cúng
dường bốn Tháp, khiến họ tu đại bố thí. Nhiên hậu mới
tu Đạo. Đấy là bất tử giác. Hành-giả chẳng nên khởi
nghĩ như vậy. Tại vì sao? Vì giờ khắc chết chẳng định
được, không thể dự biết trước được. Nếu trong khi đang
kinh doanh các việc không may mạng tận thời đâu kịp tu Đạo
được. Đến khi sắp chết lòng dạ ăn năn buồn rầu thốt
lời: Ta luống dưỡng thân nầy uổng không được gì hết,
đồng chết như loài súc sinh nào khác. Như trong kinh nói: “Phàm
phu nên dùng hai mươi pháp để uốn dẹp tự tâm nghĩa là
như vầy: Ta chỉ có hình phục khác với kẻ tục mà luống
không được ích gì hết. Cho đến sẽ đem việc chẳng ích
đến khi chết”. Lại kẻ trí chẳng làm những việc chẳng
nên làm. Như trong kinh Pháp Cú nói: “Việc chẳng nên làm
chẳng làm, việc nên làm thời thường làm; nghĩ nhớ tâm
an huệ, thời được hết các lậu”. Lại trong kinh nói: “Kẻ
chưa được tứ đế, phương tiện vì muốn được, phải
siêng thêm tinh tiến, rất hơn chữa lửa cháy dầu”. Vậy
nên chẳng nên khởi bất tử giác. Lại bất tử giác là tập
khí ngu si, có đâu kẻ trí biết nhân mạng vô thường như
hạt sương mai mong manh trên cành dương liễu, há dễ đâu
năng bảo tồn một khắc! Lại trong kinh nói: “Đức Phật
hỏi các Tỳ-kheo rằng: các ngươi tu tập tưởng chết như
thế nào, có vị thưa lại Phật rằng: Tôi chẳng bảo đảm
được bảy năm; có vị thưa thấp xuống sáu năm, cứ như
thế càng giảm bớt cho đến còn trong chừng giây lát, cũng
chẳng bảo đảm được. Phật quở rằng: các ngươi đều
là những kẻ buông lung tư tưởng chết vậy. Khi ấy có một
vị Tỳ-kheo vai áo bên hữu mới thưa Phật rằng: Tôi đối
với hơi thở ra lệch chẳng bảo đảm hít vào; hít vào chẳng
bảo đảm ra. Đức Phật mới khen: “Hay thay! Hay thay! Ngươi
mới là chân thật tu tưởng chết.” Vậy nên chẳng nên khởi
bất-tử-giác.
LỢI-THA-GIÁC:
Đối với trong chẳng phải thân-lý muốn khiến cho họ được
lợi. Hoặc khởi nghĩ như vầy: khiến kẻ nào đó giàu sang
an vui năng tu bố-thí, còn kẻ nào đó thời chẳng tu kịp.
Hành-giả chẳng nên khởi giác như vậy. Tại vì sao? Vì chẳng
bởi nghĩ mà năng khiến kẻ kia được khổ vi vậy. Chỉ có
tự đem nghĩ ấy làm hoại loạn Định tâm mà thôi.
Hỏi:
Chứ muốn khiến cho người lợi chẳng phải lòng Từ hay sao?
Đáp:
Hành-giả cầu Đạo nên nghĩ lợi Đệ-nhất-nghĩa là vô thường
thảy. Trong ấy tuy có ít được phước nhưng vì năng hại
Đạo, lợi ít hại nhiều, vì loạn Định tâm vậy. Nếu đem
tản-tâm nghĩ lợi người khác thời không thể thấy tội
lỗi tham đắm, nên chẳng nên nghĩ.
KHINH-THA-GIÁC:
Hành-giả, hoặc nghĩ người kia; giòng họ, sắc lực, giàu
sang, tài năng, trì giới, lợi căn, thiền-định và trí-huệ
thảy đều chẳng bằng ta. Hành-giả chẳng nên khởi giác-sát
như thế. Tại vì sao? Vì tất cả muôn vật đều vô thường
vậy, như thượng trung hạ đâu có sai khác? Lại tóc lông
móng răng của người ấy đều gọi là bất-tịnh, bình-đẳng
không có khác. Lại già bệnh chết thảy và suy não cũng vẫn
đồng đều. Lại tất cả chúng-sinh trong ngoài khổ-não đều
đồng không khác. Lại phàm phu mà giàu sang là nhân-duyên gây
tội lỗi. Lại giàu sang chẳng bao lâu rồi cũng nghèo cùng
lại. Vậy nên chẳng khởi giác-sát khinh dễ người khác.
Lại kiêu mạn là khí phần của vô-minh, kẻ Trí đâu khởi
lối giác-sát ấy.
Thành
Thật luận hết quyển 17