QUYỂN
THỨ 18
PHẨM
THIỆN-GIÁC THỨ 183
Xuất-giác:
Là tâm ưa xa lìa, như lìa ngũ-dục và hai cõi sắc, vô-sắc.
Ưa vui xa lìa nên gọi Xuất-giác. Vì ưa vui Xa lìa nầy là
không khổ mà tùy theo tham đắm mới có các khổ, không tham
đắm thời vui. Với trong các giác, hai món giác vui là: Vô-sân-giác
và vô-não-giác. Tại vì sao? Vì hai giác nầy gọi là an-ẩn
giác. Như trong phẩm Như-Lai nói: “Đức Như-Lai thường có
hai món giác hiện-tiền là an-ẩn-giác và viễn-ly-giác”.
An-ẩn-giác tức món giác bất sân não. Viễn-ly-giác tức là
giác xuất. Lại nghĩ ba giác nầy thời phước tăng-trưởng;
cũng năng thành Định tâm, và tâm được thanh-tịnh. Lại
nghĩ ba giác nầy có thể ngăn các trói buộc, vì dứt các
trói nên mau chứng được Đoạn Diệt. Lại hành-giả vì ưa
xa lìa với nhóm họp được nhiều pháp lành, nên có thể
mau được giải thoát. Tám bực đại nhân giác: Trong Phật-Pháp,
nếu kẻ thiểu dục mới năng được lợi ích, chứ chẳng
phải kẻ đa-dục: Kẻ tri-túc, kẻ xa lìa, kẻ tinh tiến, kẻ
chính nhớ, kẻ định tâm, kẻ trí-huệ, và kẻ không hí-luận.
Đấy gọi là tám. Thiểu dục mà gọi là hạnh vì muốn tu
Đạo nên phải muốn vật cần dùng, nhưng chẳng nên cầu
nhiều vật thừa không dùng, gọi là thiểu dục. Tri túc: Có
người hoặc vì nhân-duyên, hoặc vì trì-giới, hoặc muốn
người khiến người khác tâm chẳng cho là đủ. Nếu có người
lấy ít tâm cho là đủ, đấy gọi là tri-túc. Có người tuy
lấy ít vật mà tìm thứ tốt, đấy là thiểu dục mà chẳng
phải là tri túc vậy. Nếu lấy vừa được ít vật, gọi
là tri túc.
Hỏi:
Nếu lấy vật cần dùng gọi là thiểu dục, thời tất cả
chúng-sinh đều được gọi thiểu dục. Vì nó đều lấy vật
cần dùng cho nó vậy?
Đáp:
Hành-giả chẳng đem lòng tham đắm mà lấy, chỉ vì dùng mới
lấy nên chẳng lấy nhiều chẳng như người đời vì trang
điểm, tiếng khen, thường lấy mà lấy nhiều.
Hỏi:
Hành-giả vì sao phải thiểu dục và tri túc?
Đáp:
Với trong việc giữ-gìn thảy thấy có tội lỗi. Lại chứa
mà không dùng tướng ngu si. Lại người xuất gia chẳng nên
chứa đống đồng như người thế gian. Vì các lỗi ấy nên
phải thiểu dục tri túc. Lại hành-giả, nếu chẳng thiểu
dục tri túc thời lòng tham tăng dần; rồi vì của cải mà
tìm cầu những vật chẳng đáng tìm cầu. Lại tham vui tài
lợi trọn không yên ổn, vì quá tham đắm vậy. Lại người
xuất gia nầy ưa tu hạnh xa lìa, mà vì tham lợi nên quên mất
điều nên tu. Lại chẳng hay bỏ các phiền não được. Tại
vì sao? Vì ngoại vật còn chẳng bỏ được huống là nội
pháp ư? Lại thấy lợi dưỡng là nhân suy não, như mưa đá
hại lúa mạ. Vậy nên tu tập thiểu dục tri túc. Lại thấy
nhận của tín thí khó đền ơn, như mắc nợ chẳng hoàn vốn,
về sau phải chịu khổ não. Lại thấy lợi dưỡng là vật
bỏ của Đức Phật và người lành. Như Phật nói: Ta chẳng
gần lợi dưỡng, lợi dưỡng đừng gần ta. Lại hành giả
đầy đủ pháp lành, nên bỏ lợi dưỡng. Như Đức Phật
nói: “Chư Thiên hãy chẳng năng được vui xuất, vui ly, vui
tịch diệt và vui chân trí như Ta đã được”. Vậy nên bỏ
lợi dưỡng. Lại như ngài Xá-Lợi-Phất nói: “Tôi khéo tu
vô tướng, trì không tam muội quán tất cả muôn vật bên
ngoài, coi như đồ đàm mũi khạc ra”. Lại hành-giả chẳng
thấy kẻ nào thọ dục có nhàm đủ như uống nước mặn
không trừ khát được. Vậy nên siêng cầu trí-huệ mới là
đầy đủ. Lại thấy những kẻ đa dục thường phát nguyện
cầu, muốn cầu nhiều mà được ít, nên thường bị khổ.
Lại thấy những kẻ hành khất, bị người khinh hèn chẳng
chút cung kính như người thiểu dục. Lại người xuất gia
mà đa cầu là việc rất chẳng nên làm, mà người ta cho chẳng
lấy mới là đúng lẽ phải. Vậy nên cần phải tu hạnh thiểu
dục tri túc.
Viễn
ly: Như đối với những người tại-gia xuất-gia tu thân xa
lìa; với các phiền não tu tâm xa lìa. Đấy gọi là viễn-ly.
Hỏi:
Hành-giả tại sao phải xa-lìa?
Đáp:
Các người xuất-gia tuy chưa đắc-Đạo lấy xa lìa làm vui.
Ở trong các chỗ người thế-gian, nơi nữ-sắc, chỗ ồn ào
quyết không thể an vui được. Lại nếu xa lìa thời tâm dễ
vắng lặng, như nước chẳng bị quậy, tự-nhiên lắng trong.
Nên tu xa-lìa; Lại pháp xa lìa nầy đã được các Đức Phật
nhiều như cát sông Hằng ngợi khen. Tại sao biết được?
là Phật thấy Tỳ-kheo ngồi thiền-định gần nơi xóm làng
thời lòng Ngài chẳng vui; mà thấy Tỳ-kheo nằm ngủ ở chỗ
trống vắng thời Ngài lại mừng. Tại vì sao? Vì ngồi Thiền
gần xóm bị nhiều các nhân-duyên làm tán-loạn Định tâm,
khiến cho nên được chẳng loạn, đáng chứng chẳng chứng;
Chứ nằm ngủ chỗ vắng tuy có chút biếng-nhác, nhưng nếu
thức dậy cầu vào Định thời thu nhiếp được tâm tán-loạn.
Nhiếp tâm là năng được giải thoát. Lại bởi chấp lấy
tướng nên mới khởi tham thảy các phiền não; chứ chỗ trống
vắng không có sắc thảy các tướng là phiền não dễ dứt,
như lửa không củi, thời tự nhiên tắt mất. Lại trong kinh
nói: “Nếu Tỳ-kheo ưa ở với chúng đông; ưa nói những
lời xen tạp; chẳng rời chúng thời hãy chẳng giải thoát
được duyên ân-ái, huống là năng được bất-hoại giải
thoát”. Mà kẻ tu hạnh xa lìa thời chắc chứng được cả
hai. Lại như đèn lìa gió thời năng soi sáng. Hành-giả cũng
như vậy, nhờ tu hạnh xa lìa nên năng mau được chân-trí.
Tinh-tiến:
Hành-giả, nếu tu chính cần, dứt pháp bất-thiện, tu nhóm
thiện pháp. Trong ấy siêng năng tu nên gọi là tinh-tiến. Như
vậy thời năng được lợi Phật-Pháp. Tại vì sao? Vì nhóm
họp pháp lành ngày ngày tăng trưởng như hoa sen đỏ sen trắng
thảy tùy theo nước mà tăng trưởng dần lên. Còn kẻ hành
giả biếng nhác như khúc chầy gỗ từ khi thành đến nay,
ngày ngày mòn mõi dần đến hết. Lại kẻ tinh tiến, vì được
lợi ích nên tâm thường vui mừng; còn người biếng khác
bị ác che tâm hằng ôm khổ não. Lại kẻ tinh tiến với trong
từng niệm pháp lành tăng trưởng thường xuyên không có giảm
bớt. Lại thâm tu tinh-tiến được chỗ hơn hết là Đạo
của các Đức Phật. Như trong kinh Phật bảo A-Nan rằng thâm
tu tinh-tiến năng đến Phật Đạo. Lại kẻ tinh-tiến dễ
được định tâm. Lại kể độn căn mà tinh-tiến tuy tuy còn
ở trong sinh tử mà mau được giải thoát; còn người lợi
căn mà biếng nhác thời chẳng hay được. Lại có bao nhiêu
lợi ích đời nay, đời sau, thế-gian, xuất thế-gian đều
nhờ tinh-tiến. Trái lại tất cả thế-gian có bao nhiêu sự
suy não đều bởi biếng nhác. Như vậy thấy lỗi biếng nhác,
lợi ích tinh tiến, nên phải nghĩ nhớ tinh tiến.
Chính
nhớ: Thường đối trong: thân, thọ, tâm và pháp tu chính an
nhớ.
Hỏi:
Nhớ bốn pháp nầy được những lợi ích gì?
Đáp:
Pháp ác bất thiện chẳng đến chun vào tâm, như khép giữ
đề phòng thời đứa khác chẳng vào được. Lại như bình
đầy thời nước chẳng vào nữa được. Như vậy người
nầy pháp lành đầy nhẫy nên chẳng dung các điều ác. Lại
nếu tu chính nhớ nầy thời tất cả pháp lành nghiệp vào
trong phần giải thoát như uống nước biển là uống đủ
các nguồn, vì tất cả nguồn đều chảy vào biển cả. Lại
tu chính nhớ nầy gọi là an trụ chỗ hành xứ tự tại; phiền
não ma dân không thể phá hoại được, như ví dụ chim ưng
chim đát. Lại người này tâm đã an trụ khó động như động
như chiếc bình tròn đã để vào đai. Lại người nầy chẳng
bao lâu sẽ được lợi ích, như trong kinh Tỳ-kheo-ni nói: “Các
Tỳ-kheo-ni hỏi Ngài A-Nan rằng: Thưa Đại Đức! Bọn chúng
tôi khéo tu niệm xứ, biết khác hơn trước kia? A-Nan bảo:
Khéo tu pháp ấy lẽ là vậy”. Định tâm: Nếu tu tập định
tâm được lợi ích mầu nhiệm. Như trong kinh nói: “Kẻ tu
định tâm năng như thật biết”. Lại vì người nầy thân
được pháp hơn người nghĩa là thân mình phun ra nước lửa,
bay đi tự do thảy. Lại người nầy được vui, cho đến Chư
Thiên và Phạm Vương thảy không thể nào bằng được. Lại
người nầy là kẻ làm việc đáng làm, việc chẳng nên làm
thời chẳng cần làm vậy. Lại khéo tu tập Định thiện pháp
thường tăng. Lại kẻ tu tập Định, về sau tâm chẳng ăn
năn; người nầy gọi là được quả xuất-gia. Cũng gọi là
kẻ thuận theo lời Phật dạy, chứ chẳng như những người
lương lãnh của tín thí cúng dường. Người nầy năng trả
ơn cho kẻ thí phước, người khác chẳng năng trả được.
Lại pháp định tâm nầy được các Đức Phật và Hiền-Thánh
đều gần gũi; lại năng kham thọ tất cả pháp lành. Lại
nếu Định tâm được thành tựu thời chứng Thánh Đạo,
mà chẳng thành thời sinh về Tịnh thiên là hai cõi Sắc và
Vô-sắc. Tại vì sao? Vì tu bố thí thảy chẳng thể được.
Việc như vầy là năng rốt ráo chẳng gây ác. Như trong kinh
nói: “ Nếu đứa nít tu tập lòng Từ từ lúc còn nhỏ bé,
về sau có thể khởi lòng ác nghĩ việc ác chăng? Bạch Đức
Thế Tôn! Không thể vậy”. Đấy đều là Định-lực. Lại
Định tâm gọi là nhân chân trí-huệ mới có thể diệt hết
các hành nghiệp. Các hành hết nên các khổ não cũng diệt
hết. Lại hành-giả nầy đối với việc tất cả thế-gian
và xuất thế-gian khởi nghĩ tức làm xong chẳng nhọc gia công;
còn các người khác hãy chẳng năng phát tâm lường chỗ sở
đắc của kẻ kia nên mới nói Định tâm năng được lợi
ích.
Trí-huệ:
Kẻ trí giả trong tâm chẳng sinh phiền não, nếu sinh liền
diệt, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng. Lại tâm
kẻ tréi chẳng khởi các tướng; nếu khởi liền diệt, như
sương trên cành liễu, gặp ánh nắng liền khô. Lại nếu
có trí nhãn năng xem Phật-Pháp, như người có mắt ban ngày
dùng được. Lại kẻ trí gọi là được phần Phật-Pháp,
như chính là con thời được hưởng phần của cha mẹ. Lại
trí huệ nói là có mạng sống kỳ dư là kẻ chết. Lại kẻ
trí huệ gọi chân đạo nhân, vì năng biết Đạo vậy. Lại
kẻ trí biết ý vị Phật Pháp, như căn lưỡi chẳng hư có
thể phân biệt năm vị. Lại kẻ trí-huệ với trong Phật-Pháp
tâm Định chẳng động, in như núi đá gió chẳng động được.
Lại kẻ trí-huệ gọi là Tín, vì tự được bốn pháp tin
mà chẳng theo kẻ khác mới được. Lại được Thánh huệ
căn gọi đệ-tử Phật, kỳ dư là ngoại phàm phu. Nên mới
nói trí-năng được lợi ích. Vô hí luận: như lối nghị
luận nhất, dị goi là hí-luận. Như A-Nan hỏi Xá-Lợi-Phất
rằng: “Nếu lục-xúc-nhập, ly dục diệt hết, lai có còn
thừa ư? Xá-Lợi-Phất.
Đáp:
Nếu lục-xúc nhập ly dục diệt hết rồi mà nếu có thừa
là điều bất khả luận mà người luận ư?” Hoặc luận:
Không có, cũng có, cũng không, chẳng phải có, chẳng phải
không hỏi đáp cũng như vậy.
Hỏi:
Việc áy vì sao bất khả luận?
Đáp:
Hỏi nầy là hỏi pháp thật ngã, hoặc nhất hoặc dị, vậy
nên chẳng đáp, vì ngã không quyết định. Chỉ trong ngũ ấm
giả thi thiết danh tự mà nói đó thôi. Nếu lấy có, không
mà đáp, tức là đọa về đoạn, thường. Nếu đem pháp nhân-duyên
mà luận nói ngã thời chẳng phải là hí luận. Lại nếu
người nhận thấy chúng-sinh trống không, pháp trống không,
thời không hí luận. Nên nói kẻ không hí luận mới được
lợi ích Phật-Pháp. Đấy gọi là đầy đủ thiện giác.
PHẨM
SAU NĂM ĐỊNH-CỤ THỨ 184
7-
ĐẦY ĐỦ THIỆN-TÍN-GIẢI: Nghĩa là như kẻ hành-giả có
thể ưa thích Nê-Hoàn mà ghét ớn sinh tử gọi là “Thiện-tín-giải”.
Tín-giải như thế chóng được giải thoát. Lại kẻ vui Nê-Hoàn
tâm không đắm gì cả. Lại vui Nê-Hoàn thời không sợ hãi.
Tại vì sao? Vì nếu là phàm phu mà tâm nghĩ Nê-Hoàn liền
sinh kinh sợ “ngã” sẽ mất hẳn.
Hỏi:
Do nhân-duyên gì mà tín-giải Nê-Hoàn?
Đáp:
Hành-giả nhận thấy thế-gian vô thường, khổ, không, vô-ngã
thời đối với Nê-Hoàn sinh tưởng tịch-diệt. Lại người
nầy bản tính phiền não nhẹ yếu, nghe nói Nê-Hoàn thời
lòng tin vui mừng. Lại hoặc theo vị thiện-sư, hoặc đọc
kinh sách, nghe sinh tử tội lỗi. Như vô-thủy kinh và ngũ-thiên
sứ-giả thảy các kinh nói thời nhàm lìa sinh tử tin vui Nê-Hoàn.
8-
ĐỦ HÀNH-GIẢ PHẦN: Như trong kinh nói có năm hành-giả phần:
một có tin, hai tâm chẳng dua dọc, ba ít bệnh, bốn tinh-tiến
và năm trí-huệ. Có tin: là tâm đối với Tam-bảo và tứ-đế
không nghi hối. Không nghi hối nên mau được thành Định.
Lại kẻ có lòng tin nhiều vui vẻ nên chóng được thành Định.
Lại kẻ có tin, tâm điều hòa dễ thu nhiếp nên chóng được
Định.
Hỏi:
Nếu do Định sinh huệ sau năng dứt nghi. Nay sao trước Định
rồi mới nói không nghi?
Đáp:
Vì nhờ đa-văn nên mới dứt nghi chứ chẳng phải được
Định. Lại sinh vào nhà rất có lòng tin; hoặc cùng làm việc
với những kẻ có lòng tin nên thường tu lòng tin, tuy chưa
được Định, nhưng chẳng sinh nghi. Những kẻ như thế thảy.
Chẳng dua dọc: là đem tâm chất-trực, không điều che giấu,
thế là dễ độ, như người thầy thuốc nói thật đủ bệnh
trạng thời dễ cứu chữa, ít bệnh: Có thể đầu đêm cuối
đêm tinh-tiến chẳng dứt. Nếu người tật bệnh thời trở
ngại sự hành-đạo. Tinh-Tiến: Vì cầu đạo nên thường
siêng-năng tinh-tiến, như dùi cây để lấy lửa mà chẳng
nghỉ thời chóng được lửa. Trí-huệ: Nhờ có trí-huệ nên
được quả tứ-sự chỗ gọi Thánh-Đạo.
Hỏi:
Pháp niệm-xứ thảy cũng là hành-giả-phần, tại sao chỉ
nói năm pháp nầy?
Đáp:
Tuy đều là phần, mà pháp nầy rất hơn, nên hành-giả phải
cần dùng, vậy nên nói riêng. Cũng lìa tất cả ác, nhóm tất
cả thiện, nên gọi hành-giả-phần, như trong kinh cù-ni-sa
nói.
9-
ĐỦ CHỖ GIẢI THOÁT: Là năm chỗ giải-thoát-xứ: một là
như
Phật và những vị Tỳ-kheo tôn thắng vị đó nói pháp, theo
kia được nghe; riêng có năng tính thông đạt ngôn ngữ nghĩa-lý.
Nhờ thông đạt ấy nên sinh tâm vui mừng. Vui mừng thời thân
khoái; khoan khoái thời thọ vui. Mà thọ vui là tâm được
thu nhiếp. Đấy là chỗ giải thoát đầu tiên. Hành-giả an
trụ chỗ giải thoát nầy nên nhớ nghĩ mạnh mẽ thời tâm
nhiếp định, các lậu được diệt hết, chắc chứng được
Nê-Hoàn. Hai là siêng đọc tụng kinh điển. Ba là vì kẻ khác
nói pháp. Bốn là ngồi riêng một chỗ suy nghĩ các pháp. Năm
là lấy Định tướng là chín tướng thảy đều như trên
đã nói.
Hỏi:
Phật và Tỳ-kheo tôn thắng vì sao nói pháp cho hành-giả nầy?
Đáp:
Vì kham thọ pháp năng được đại lợi, vậy nên vì nói.
Lại Tỳ-kheo nầy nhờ Phật xuất gia các căn thuần thục,
nên vì nói pháp. Còn tôn thắng Tỳ-kheo vì chỗ đồng nghiệp
nên nói cho nhau. Lại kẻ hành giả nầy cần phải nghe pháp,
vậy nên vì nói. Lại người nầy có các công-đức tịnh
giới thảy đã thành tựu in như bát lành kham đựng đầy
tràn, nên vì nói pháp. Đấy gọi ba huệ: thông đạt ngôn
ngữ là đa-văn huệ; thông đạt nghĩa lý là tư duy huệ. Do
đạt hai huệ trên năng sinh tâm mừng, cho đến nhiếp tâm
sinh như thật trí, đấy gọi là tu huệ. Ba huệ nầy có ba
món quả là chán, lìa là giải thoát. Lại nữa, nghe pháp,
đọc tụng, vì người nói pháp là đa-văn huệ; nghĩ lường
các pháp là tư duy huệ; khéo lấy định tướng là tu huệ.
Hỏi:
Tâm giải thoát và hết lậu hai pháp ấy có sai khác chi không?
Đáp:
Dùng định ngăn phiền não nên nói tâm giải thoát; dứt hẳn
phiền não mới nói lậu hết.
Hỏi:
Như tu pháp trì-giới thảy cũng là chỗ giải thoát như nói
trì-giới thời tâm chẳng hối; tâm chẳng hối thời vui thảy.
Hoặc nhờ thí thảy cũng được giải thoát. Mà tại sao chỉ
nói năm pháp nầy ư?
Đáp:
Vì thắng nên được nói riêng.
Hỏi:
Pháp nầy có gì mà không thắng?
Đáp:
Là cận-nhân giải thoát; giới thảy vì viễn-nhân nên chẳng
nói.
Hỏi:
Làm sao biết được là cận nhân?
Đáp:
Hành-giả nghe pháp biết ấm, giới, nhập thảy chỉ các pháp
hòa hợp, trong ấy vì không ngã, là đã phá giả-danh. Phá
giả-danh là phá giải thoát, nên mới gọi đấy là cận nhân.
Lại trong kinh nói: “Công đức đa văn là chẳng theo kẻ khác
cầu nghe Pháp, tâm dễ thu nhiếp thảy”. Cũng do đấy nên
biết là cận. Lại Phật Pháp có đại công-đức năng diệt
phiền não, đến Nê-Hoàn thảy. Với trong pháp tịch-diệt
nầy, hoặc nghe hoặc tụng hoặc tự suy nghĩ thời chóng được
giải thoát. Nên gọi cận nhân. Lại thí được đại phú,
trì giới được tôn quý, đa văn được trí. .Nhờ trí-huệ
nên được diệt hết các lậu, chứ chẳng nhờ phú quí. Nên
biết cận nhân. Lại Xá-Lợi-Phất thảy được tôn xưng là
bực đại-trí, đều do đa văn.
Hỏi:
Nếu nhờ đa văn tâm dễ nhiếp ấy. Tại sao A-Nan cả đêm
đều chẳng được giải thoát?
Đáp:
Chiếc đầu A-Nan chưa đến gối đã được giải thoát. Vậy
nên thường ở trong pháp hiếm có, nói sao chẳng chóng? Lại
A-Nan ở trong đêm ấy tinh tiến có chút lỗi, vì quá mõi mệt
nên chẳng được giải thoát. Lại A-Nan tự thề: Tôi với
trong đêm nay quyết được hết lậu. Cũng như Đức Bồ-Tát
tự thề ở chốn đạo tràng. Thử hỏi ai có sức nầy? Kẻ
mà như A-Nan đều là nhờ sức đa-văn.
10-
KHÔNG BỊ CHƯỚNG NGẠI: Chỗ gọi ba chướng: nghiệp chướng,
báo chướng, và phiền não chướng. Nếu không có ba món ngăn
che nầy thời chẳng đọa chỗ nạn. Nếu lìa được các nạn
là kham thọ đạo pháp. Lại người ấy gọi là đầy đủ
tứ luân là: cõi nước tốt đẹp, nương ở người lành,
tự phát chính nguyện và phước đức đời trước. Lại năng
thành tựu bốn phần Tu-Đà-Hoàn là phần gần gũi người
lành, ưa nghe chính pháp, chính tự nghĩ nhớ và năng hành theo
pháp. Lại năng rồi bỏ tham thảy ba pháp, như trong kinh nói:
“Chẳng dứt ba pháp thời chẳng qua được già, đau và chết”.
11-
CHẲNG CHẤP MẮC: Là chẳng mắc bờ bên này, chẳng mắc bờ
bên kia, chẳng chìm giữa dòng, chẳng vọt lên đất bằng
chẳng bị người vớt lấy, và kẻ phi-nhân bắt lấy, chẳng
vào giữa dòng nước xoáy, chẳng tự mục nát. Bờ bên này
là nội lục nhập; bờ bên kia là ngoại lục nhập; giữa
dòng là tham mừng; đất bằng là ngã mạn; người lấy là
hòa h ợp với kẻ tại-gia xuất-gia; phi nhân bắt lấy là
trì giới được sinh lên trời; dòng xoáy là phá giới; mục
nát là phá trọng cấm. Nếu người đối với nội nhập chấp
ngã, tức với ngoại nhập sinh tâm ngã sở. Do nội nhập kia
sinh tham mừng nên mới chìm đắm trong ấy. Cũng do đấy sinh
ngã mạn. Tại vì sao. Nếu người đắm chấp thân thọ lãnh
có vui, nên người đến khinh hủy thời sinh kiêu mạn. Như
vậy vì ngã và ngã sở tham mừng, ngã-mạn loạn tâm, nên
mới gây thành các việc khác.
Hỏi:
Trong dụ này lấy gì làm nước, nếu lấy bát Thánh Đạo
làm nước, thời chẳng nên lấy nội ngoại lục nhập làm
bờ, tham mừng thảy làm giữa dòng cũng chẳng nên có dòng
xoáy, mục nát. Nếu lấy tham ái làm nước, lẽ đâu theo đấy
được đến Nê-Hoàn?
Đáp:
Lấy bát-thánh-đạo làm nước. Thí dụ bất tất khiến cho
giống hệt nhau hết. Như cây này lìa tám nạn quyết trôi
đến biển cả. Tỳ-kheo cũng vậy, lìa các dòng, nạn, thời
theo nước bát-thánh-đạo trôi vào Nê-Hoàn. Như nói sữa trắng
như vỏ sò, chỉ lấy sắc của sò mà chẳng lấy cứng mềm;
cũng như nói mặt như mặt trăng, chỉ lấy đầy đặn mà
chẳng lấy hình vậy. Lại hành-giả ra khỏi thánh đạo rồi,
lại mắt nội ngoại nhập, thời chẳng bằng cây này ở giữa
dòng nước mắc bờ bên này bờ bên kia và mục nát thảy.
Lại có ông Luận sư nói: “Như nước sông Hằng quyết chảy
đến đại hải. Như vậy bát-thánh-đạo chắc đến Nê-Hoàn”.
Nên mới lấy làm dụ.
Như
vậy lược nói mười một Định-Cụ. Nếu có pháp này tự
nhiên được Định.
PHẨM
XUẤT NHẬP TỨC THỨ 185
A-Na-Ba-Na
tức hơi thở, có mười sáu hạnh tất cả: là nghĩ nhớ ra
vào hoặc dài hoặc ngắn. Nghĩ thở khắp thân: trừ các thân
hành, giác hỷ, giác lạc, giác tâm hành, trừ tâm hành. Nghĩ
thở ra vào: giác tâm, khiến tâm mừng, khiến tâm nhiếp, khiến
tâm giải thoát. Nghĩ thở ra vào: tùy vô thường, quán tùy
đoạn, quán ly diệt. Cũng nghĩ thở ra vào hoặc dài hoặc
ngắn.
Hỏi:
Thở dài ngắn là thế nào?
Đáp:
Như người trèo lên núi; hoặc gánh nặng bị mệt đừ nên
hơi thở ngắn. Hành-giả cũng như vậy, còn ở trong thô-tâm
bấy giờ là ngắn. Thô-tâm ấy chỗ gọi là tâm vội vả
tán-loạn vậy. Thở dài là nếu hành-giả đã ở trong tế-tâm
thời hơi thở dài. Tại vì sao? Vì tâm dịu nên nên hơi thở
cũng tùy theo đấy mà dịu dàng dần; như tức người ấy
quá mệt nghỉ nên thở cũng tùy mà dịu, bấy giờ thời hơi
thở dài. Khắp thân Hành-giả vì tin và hiểu thân trống không
nên thấy tất cả lỗ chân lông gió bay ra vào. Trừ-thân-hành:
Hành-giả được lực cảnh giới, vì tâm yên ổn nên hơi
thở thô diệt, bấy giờ hành-giả mới nhớ đủ chỗ trong
thân. Giác hỷ: Là người ấy từ Định pháp nầy tâm rất
sinh mừng, trước kia tuy có mừng nhưng chẳng bằng như giờ,
bấy giờ gọi là giác hỷ. Giác lạc: Từ mừng sinh vui. Tại
vì sao? Vì nếu tâm được mừng thời thân điều hòa thỏa
thích; thân điều-thích là được vui khoái. Như trong kinh nói:
tâm mừng nên thân khoái; thân khoái thời thọ vui..
Giác
tâm hành: Hành-giả thấy tội lỗi của mừng, vì năng sinh
tham. Tham là chỗ tâm đi, vì do tâm khởi thọ, nên trong thọ
sinh tham, nên thấy thọ là chỗ tâm đi. Trừ-tâm-hành: Hành-giả
thấy do thọ sinh lỗi tham, trừ diệt nên tâm yên ổn cũng
trừ diệt thô thọ nữa, nên nói trừ tâm hành. Giác tâm:
Hành-giả trừ thọ vị nên thấy tâm tịch diệt chẳng chìm
chẳng động. Tâm này hoặc khi lặn chìm, bây giờ lại sinh
mừng. Nếu tâm lại nổi động tức thì khiến nhiếp. Nếu
lìa được hai pháp nầy, bấy giờ nên xả bình thường, nên
mới nói khiến tâm giải thoát. Hành-giả như vậy tâm tịch
định nên sinh vô thường hành. Nhờ vô thường hành mới
dứt các phiền não, gọi là đoạn hành. Dứt phiền não nên
tâm nhàm lìa gọi là ly hành. Vì tâm lìa nên được được
tất cả diệt gọi là diệt-hành. Như vậy thứ lớp được
giải thoát, nên mới gọi là mười sáu hạnh nhớ hơi thở
ra vào.
Hỏi:
Vì sao nhớ thở ra vào mà gọi là Thánh hạnh, Thiên hạnh,
Phạm hanh, học hanh, vô học hạnh?
Đáp:
Gió bay trong hư-không, tướng hư-không hay mau mở đem đường
hoại-tướng; hoại-tướng tức là trống không không tức
là Thánh-hạnh, nên gọi Thánh-hạnh. Vì muốn sinh về cõi
tịch-thiên nên gọi Thiên-hạnh. Vì muốn đến tịch-diệt,
nên gọi Phạm-hạnh. Vì muốn học pháp nên gọi là học-hạnh.
Vì đã đến bực vô-học, nên gọi là vô-học-hạnh.
Hỏi:
Như quán bất-tịnh rất nhàm lìa thân, chóng được giải
thoát, chứ cần tu mười sáu pháp hạnh nầy làm chi ư?
Đáp:
Tu bất-tịnh quán mà chưa làm dục tự ghét nhàm tâm thời
sinh mê-muội, như uống thuốc quá phép thời lại gây thêm
bệnh. Như vậy bất-tịnh ưa ghét nhàm. Như các Tỳ-kheo tu
bất-tịnh quán bên bìa sông bạt-cầu-mạt, nên rất sinh ghét
nhàm, bởi đó mà gây ra các việc như uống thuốc độc, nhào
đầu xuống bực cao và tự sát thảy. Hạnh nầy chẳng có
như vậy, năng được lìa dục mà chẳng sinh nhàm ghét, nên
gọi là thắng. Lại hạnh nầy dễ được duyên tự thân,
chứ bất-tịnh dễ mất. Lại hạnh nầy nhỏ nhiệm, vì năng
tự hoại thân vậy, bất-tịnh-hạnh thô-kịch hoại cốt tướng
khó. Lại hạnh nầy năng phá tất cả phiền não, bất-tịnh
chỉ phá dâm-dục thôi. Tại vì sao? Vì tất cả phiền não
vì vì bởi giác mà sinh; nhớ hơi thở ra vào vì dứt các giác
vậy.
Hỏi:
Thở ra vào là thuộc thân hay thuộc tâm?
Đáp:
Cũng thuộc thân, cũng thuộc tâm. Tại vì sao? Vì ở trong thai
không có, nên biết do thân, như đệ-tứ-thiền thảy, và những
kẻ vô tâm không có nên biết do tâm.
Hỏi:
Thở chẳng cố ý khởi, như nghĩ các việc khác. Hơi thởi
thường ra vào, như món ăn vào bụng tự tiêu, như bóng tự
di chuyển, chẳng phải người làm?
Đáp:
Thở chẳng do cố ý khởi, chỉ do nhiều duyên hòa hợp mà
khởi. Nếu có tâm thời có, mà không tâm là không, nên biết
do tâm. Lại tùy theo tâm mà có sai khác: thô tâm thời ngắn,
tế-tâm là dài. Lại thở ra vào còn do cõi do tâm: như còn
tại cõi thở ra vào, cũng có cõi tâm thở ra vào, bấy giờ
thời có thở ra vào. Cõi chỗ gọi cõi Dục và tam thiền.
Nếu tại cõi thở ra vào, mà không cõi tâm thở ra vào và
tại vô-tâm, bây giờ thời không có. Nếu tại cõi không thở
ra vào bấy giờ cũng không có.
Hỏi:
Khi khởi thở trước ra hay trước vào?
Đáp:
Khi sinh trước ra, khi chết sau vào. Ra vào đệ-tứ-thiền cũng
như vậy.
Hỏi:
Nghĩ nhớ thở ra vào mà gọi đầy đủ là sao?
Đáp:
Kẻ hành-giả nào, nếu được mười sáu hạnh nầy, bấy
giờ gọi là đầy đủ. Có ông Luận sư nói: “Nhờ lấy
sáu nhân-duyên nên gọi đầy đủ”. Chỗ gọi SỔ, TÙY, CHỈ,
QUÁN, CHUYỂN và DUYÊN, THANH-TỊNH. SỔ: là đếm hơi thở ra
vào từ một đếm mười. Đếm có ba lối: hoặc thường chừng,
hoặc quá hơn, hoặc giảm bớt. Thường chừng: là mười thời
đếm là mười. Quá hơn: là một đếm cho là mười. Giảm
bớt: là đếm chín cho là mười. TÙY: là hành-giả theo dõi
hơi thở ra vào. QUÁN: là hành-giả thấy hơi thở chạy luôn
trong thân như chỉ luồn hạt châu. CHỈ: là khiến tâm đình
trụ theo hơi thở ra vào. CHUYỂN: là chuyển thân. DUYÊN: tâm
khiến thọ duyên tâm hiện tiền. Tâm pháp cũng như vậy.
THANH
TỊNH: là hành-giả lìa tất cả phiền não và các nạn, tâm
được thanh-tịnh. Đây bất-tất nhất-định. Tại vì sao?
Vì trong các hạnh nầy bất tất phải cần dùng hai pháp SỔ-TÙY;
hành-giả chỉ khiến tâm trụ theo trong hơi thở để dứt
các giác vậy. Nếu năng tu mười sáu pháp nầy gọi là đầy
đủ. Lại tướng đầy đủ nầy cũng chẳng quyết định,
vì chỗ sở hành của kẻ độn-căn mà đối với kẻ lợi
căn chẳng đầy đủ.
Hỏi:
Thở ra vào nầy, tại sao trong kinh nói gọi là ăn?
Đáp:
Nếu thở ra vào ngừng thảy, thân được khoái lạc như được
ăn món ngon, lợi ích hòa thích cho thân thể nên gọi là ăn.
Hỏi:
Trong mười sáu hành nầy, đều phải nhớ thở ra vào luôn
sao?
Đáp:
Người nầy dùng phương tiện xé rách ngũ ấm, từ giả-danh
rồi, đâu còn dùng nghĩ nhớ hơi thở làm chi nữa? Đấy gọi
là thân nhớ. Có bốn pháp nhớ thân nên gọi thân nhớ.
Hỏi:
Nhớ là duyên về quá-khứ, thở là hiện tại mà sao gọi
là nhớ?
Đáp:
Đấy là trí phá giả-danh, vì nhớ nên mới nói. Các tâm số
pháp thay nhau mà gọi như thập tưởng thảy, cũng nhớ chỗ
sở hành trước sau, nên gọi là nhớ.
Hỏi:
Trong thở dài ngắn thảy chẳng nói Thánh hành, tại sao vô
hành lại gọi chỗ nhớ? Trong kinh nói: “Nếu hành-giả học
thở ra vào, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc khắp thân, hoặc trừ
thân-hành. Bấy giờ gọi là chỗ nhớ thân?”.
Đáp:
Đấy là phương tiện đạo đầu tiên. Vì muốn tâm thanh-tịnh
nên về sau gọi là Đoạn đạo. Lại trong đây có vô thường
thảy các hạnh. Chỉ kinh ấy chẳng nói, các kinh khác có nói.
Hành-giả ở trong thở ra vào quán thân: sinh tướng, diệt
tướng, và sinh diệt tướng. Lại nói quán thân vô thường
thảy. Chỉ trong đệ tứ vô thường thảy các hành đầy đủ
nên mới nói.
PHẨM
ĐỊNH-NẠN THỨ 186
Định
nầy, nếu lìa ngăn ngại và các nạn là thành-tựu được
đại-lợi. Định-nạn: Chỗ gọi mừng thô-kịch. Như trong
kinh nói: “Ta sinh mừng thô là pháp tâm nạn”. Hành-giả
chẳng nên sinh mừng thô ấy, vì sẽ có các lỗi tham đắm
làm loạn Định-tâm vậy.
Hỏi:
Do pháp sinh mừng, làm sao chẳng cho sinh được?
Đáp:
Hành-giả nhớ trống không thời chẳng sinh mừng. Vì tưởng
có chúng-sinh nên mới sinh mừng, chứ ngũ-ấm trống-rỗng
không có chúng-sinh thời sinh mừng làm chi? Lại hành-giả nên
khởi nghĩ như vầy: Vì nhân-duyên nên các pháp mới sinh nghĩa
là ánh sáng thảy; trong ấy có gì đáng mừng ư? Lại hành-giả
thấy pháp được mừng đều liền bại hoại, thời diệt
thô mừng. Lại hành-giả lại còn cầu đại-sư, chẳng dùng
ánh sáng thảy các pháp làm gì, vậy nên chẳng sinh mừng.
Lại hành-giả vì thấy diệt tướng là lợi, nên chẳng cho
ánh sáng thảy các tướng là đáng mừng. Lại hành-giả nầy
tu tập tịch-diệt để muốn dứt hết phiền não, nên
chẳng sinh mừng, nhờ các điều kiện nầy nên mới năng diệt
được mừng thô. Lại có Định-nạn sợ hãi: Hành-giả thấy
duyên đáng sợ nên sinh sợ-hãi. Thế-gian có bao nhiêu
điều đáng sợ-hãi hành-giả đều thấy hết. Đối với
trong những việc ấy đều phải nghĩ kỹ vô thường bại
hoại, chẳng nên tùy theo nó vậy. Tại vì sao? Vì trong pháp
tọa-Thiền có thấy những nhân-duyên nầy là việc khá sợ,
chẳng nên vì đó mà sinh sợ hãi, vì việc ấy đều hư-vọng
trống-không, như huyễn-thuật có thể gạt phàm phu chứ chẳng
phải chân thật vậy. Suy nghĩ như vây là lìa được sợ-hãi.
Lại nương không pháp thời không sợ-hãi. Lại khởi nghĩ
như vầy: Do sức ta tu nên mới cảm hiện tướng lạ nầy,
chẳng nên sợ hãi. Và tự nghĩ thân có các công-đức trì-giới
đa-văn đầy đủ, không nhân-duyên nào có thể gia hại ta
được, nên chẳng sợ hãi. Lại hành-giả nầy vì vui Đạo-vị,
nên chẳng tiếc thân mạng nào còn sợ gì nữa? Lại tâm người
nầy thường ở trong chánh-niệm, vậy nên việc sợ hãi chẳng
thể chen vào được. Lại nghĩ tướng mạnh mẽ nên chẳng
sợ-hãi. Sợ hãi là tướng khiếp-nhược. Dùng những pháp
như vậy để diệt trừ sợ-hãi.
Lại
có Định-nạn chẳng điều thích; Là hành-giả có bệnh nóng
lạnh thảy; hoặc các nhân-duyên mệt mỏi mất ngủ khiến
thân chẳng điều thích. Hoặc có các phiền não tham buồn
ganh-ghét thảy khiến tâm chẳng điều thích, nên mất thiền-định.
Vậy nên hành-giả phải tự lo hộ-vệ thân tâm cho được
điều hòa thỏa-thích. Lại có Định-nạn dị-tướng: Chỗ
gọi tướng nhớp và tướng chẳng nhớp hay làm loạn thiền-định,
như tướng bố-thí thảy. Lại có Định-nạn chẳng bình đẳng:
chỗ gọi tinh tiến, hoặc mau hoặc chậm. Mau thời thân tâm
mỏi mệt; chậm thời chẳng lấy được Định-tướng, đều
trụt lui mất Định, như bắt chim, mau thời mỏi mệt, chậm
thời bay mất. Lại như điều hòa giây đàn, hoặc thẳng hoặc
dùng thời chẳng thành tiếng. Lại tinh tiến nếu mau thời
mỏi khó rốt ráo. Như Phật bảo ông A-Na-Luật rằng: “Ngươi
tinh tiến thời việc chẳng thành trở lại biếng nhác”.
Tại vì sao? Vì nếu quá tinh tiến thời việc chẳng thành
trở lại biếng nhác, tinh-tiến nếu chậm việc cũng chẳng
xong. Vậy nên chẳng bình-đẳng cũng gọi là Định-nạn. Lại
có Định-nạn vô-niệm: là chẳng nghĩ pháp lành; dù có nghĩ
pháp lành lại chẳng phải chỗ sở thọ. Lại chẳng nghĩ
Định-tướng mà nghĩ ngoại sắc. Đấy gọi là chẳng nghĩ.
Hành-giả nên nhất tâm tinh-tiến nghĩ pháp sở-thọ như tay
bưng bát dầu đầy. Lại có Định-nạn điên đảo: Là người
nhiều tâm dục chịu tu pháp từ-tâm; người nhiều giận dữ
tu tập pháp bất tịnh. Hai mạng người trên quán mười hai
nhân-duyên. Lại trong tâm chìm mà tu CHỈ., trong tâm động
mà tu Tinh-tiến. Trong hai tâm này lại tu XẢ. Đấy gọi là
điên đảo. Lại có Định-nạn nhiều lời: Là nhiều giác-quán.
Giác-quán là nhân của lời nói vậy. Lại vì tâm chẳng vui
bắt buộc ở tại cảnh duyên. Lại có Định-nạn chẳng lấy
tướng: Tướng có ba thứ, chỗ gọi: Chỉ tướng, tiến tướng
và xả-tướng. Lại có ba tướng nữa: Là định tướng, trụ
tướng và khởi tướng. Hành-giả chẳng rành phân biệt những
tướng như thế, nên mất thiền-định. Lại có định nạn:
như nói ta đây vào Định được, mà kẻ kia chẳng vào được,
gọi là kiêu mạn. Hoặc nói kia năng mà đây bất năng, gọi
là bất như mạn. Hoặc chưa được Định mà tự bảo là
đã được, là tăng thượng mạn.đối với Định bất diệu
mà sinh tưởng diệu, gọi là tà-mạn. Lại pháp tham thảy
cũng gọi định nạn. Như trong kinh nói: “Nếu hành-giả một
pháp thành-tựu thời chẳng năng quán mắt vô thường”. Chỗ
gọi tham đó vậy .
Hỏi:
Tất cả những người chưa ly dục, đều chẳng năng quán
mắt vô thường sao?
Đáp:
Lời ấy có chút lỗi. Nên nói hiện tại khởi tham chẳng
năng quán mắt vô thường. Lại trong thành tựu mà có sai khác:
Có người tham thảy dày nặng thường đến ở tâm, thời
hay chướng Định; hoặc mỏng mà chẳng thường, thời chẳng
lấy làm khó. Lại trong kinh nói mười ba ác pháp đều gọi
Định-nạn. Mười ba bạch pháp đều là thuận-Định. Chỗ
gọi Phật nói: “Nếu chẳng dứt ba pháp thời độ già, đau,
chết chẳng được”. Là tham, nhuế, si. Nếu chẳng dứt ba
pháp ấy thời chẳng năng dứt tham, nhuế, si là thân
kiến, giới thủ, nghi. Lại có ba pháp là tà-niệm, tà –hành,
tâm chìm lại có ba pháp nhớ quấy chẳng an huệ loạn tâm.
Lại có ba pháp là điệu hý, chẳng giữ các căn, phá giới.
Lại có ba pháp là bất tín, tà giới, biếng nhác. Lại có
ba pháp là chẳng mừng người lành, ghét nghe chính-pháp, ưa
xoi lỗi người. Lại có ba pháp là chẳng cung kính, khó cho
lời phải, quen ác tri thức. Nếu chẳng dứt ba pháp thời
chẳng dứt được chẳng cung kính, khó cho lời ác tri thức,
nghĩa là không hổ, không trẽn, buông lung, nếu dứt được
không hổ, không trẽn, buông lung thời dứt được chẳng cung
kính khó cho lời phải quen ác tri thức, cho dến dứt được
thân kiến, giới thủ, nghi thời dứt được tham, nhuế, si
độ già, đau, chết. Trong đây độ già, đau chết là vô dư
Niết-Bàn; dứt tham, nhuế, si là quả A-La-Hán. Hữu-dư Nê-Hoàn.
Dứt thân kiến, giới thủ, nghi là ba quả Sa-môn. Dứt tà-niệm,
tà-hành, tâm chìm là ở trong Noãn thảy dạt phần thiện căn.
Dứt nghĩ nhớ quấy, chẳng an huệ, loạn tâm là tu tứ-ức-niệm-xứ.
Dứt diệu hý, chẳng giữ các căn, phá giới là thọ giới
xuất-gia. Dứt chẳng mừng người lành, ghét nghe chính pháp,
ưa xoi lỗi người, chẳng tin tà-giới, biếng nhác, chẳng
cung kinh, khó cho lời phải, quen ác tri thức, không hổ, không
trẽn, buông lung tại là tại gia thanh-tịnh.
Tại
vì sao? Vì nếu người ở chỗ riêng làm ác mà chẳng biết
xấu hổ, gọi là không hổ, người nầy về sau ác tâm càng
tăng ở giữa chúng mà làm các cũng không chút trẽn trùa,
gọi là không trẽn. Mất gốc pháp lành của hai bạch-pháp
nầy nên thường đuổi theo ác-pháp gọi là buông lung. Bởi
thành tựu ba ác pháp nầy nên chẳng chịu vâng lãnh những
lời giáo-huấn của các bậc Sư-trưởng Tôn-quí, gọi là
không cung kính. Chống trả lời Thầy dạy, gọi là khó cho
lời. Như thế xa lìa Sư-trưởng, gần gũi ác-nhân gọi là
quen ác-tri-thức. Với trong ấy từ không hổ sinh không cung
kính: từ không trẽn sinh khó cho lời; từ buông lung sinh quen
ác-tri-thức, nên sinh bất-tín, mà thọ pháp tà giới, thường
quen người ác, rồi họ mới dạy cho điều bất tín rằng:
“làm ác là quả báo”. Hoặc nghe nói làm ác bị quả-báo,
liền chịu thọ hành giới pháp gà chó thảy, mong chóng hết
tội. Thọ hành giới pháp nầy chẳng ngờ có chút lợi lại
sinh biếng nhác, vì biếng nhác nên chẳng ưa người lành,
cho rằng không phải kẻ hành-giả chân-thật hành chính. Cũng
ghét nghe chính pháp, cho rằng tu chính-pháp đều như tà-pháp
không được lợi ích. Bởi tâm vẩn đục nên ưa xoi lỗi
người, cho rằng pháp mà kẻ kia tu đều như pháp mình trọn
không được gì cả. Như vậy chẳng uốn dẹp được phiền
não nên tâm hý-điệu. Vì hý-điệu nên chẳng nhiếp các căn
thời có thể phá-giới, vì phá giới nên sinh nghĩ nhớ bậy,
mà hành chẳng an huệ tâm chí tán loạn liền sinh tà niệm,
nên liền tu tà-đạo. Khi tu tà-đạo chẳng được lợi ích,
nên tâm mê-mờ. Tâm chẳng sáng suốt, nên chẳng dứt được
ba gút. Chẳng dứt ba gút, nên chẳng dứt được tham thảy
các phiền não, bệnh thảy các suy kém. Cùng với những thứ
vừa kể trên trái lại nhau, thời gọi là bạch pháp tức
là pháp trắng sạch.
Lại
có Định nạn buồn rầu: Hành-giả sinh ý nghĩ: Ta đã duyên
tâm cũng chẳng vui. Lại tham thảy các phiền não che, cũng
đều gọi Định nạn. Tóm tắt mà nói: cho đến áo mặc,
ăn uống, hết thảy các pháp nó làm giảm bớt thiện căn,
tăng-trưởng bất-thiện đều gọi là Định nạn tức khó
khăn tu Định. Nên cần phải giác sát tìm biết siêng năng
cầu mong bỏ lìa.
PHẨM
CHỈ-QUÁN THỨ 187
Hỏi:
Nhiều chỗ trong kinh Phật thường bảo các Tỳ-kheo: “Hoặc
ở chỗ vắng vẻ, hoặc ở chỗ dưới cây, hoặc ở trong
nhà trống vắng, nên nghĩ hai pháp là CHỈ và QUÁN.” Nếu
tất cả các pháp thiền-định đều nên nghĩ nhớ, tại sao
chỉ nói CHỈ-QUÁN thôi?
Đáp:
CHỈ là ĐỊNH, QUÁN là HUỆ. Tất cả pháp lành nào do tu mới
sinh thì đều nhiếp thuộc trong hai pháp ấy. Và còn ở tản
tâm mà có các tuệ nghe nghĩ cũng nhiếp trong pháp nầy, vì
hai pháp nầy năng thành xong đạo pháp. Tại vì sao? Vì quả
có thể ngăn gút; QUÁN có thể dứt, CHỈ như nắm cỏ, QUÁN
như liềm cắt, CHỈ như quét đất; QUÁN như trừ phấn. CHỈ
như cào nhớp; QUÁN như nước rửa. CHỈ như nước làm thấm;
QUÁN như lửa làm chín. CHỈ như mụt phụ ung; QUÁN như dao
khoét, CHỈ như khơi mạch; QUÁN như chích máu. CHỈ là ngăn
tâm động; QUÁN như khơi tâm chìm, CHỈ như vẩy nước vàng;
QUÁN như đem lửa nướng, CHỈ như giây buộc dắt; QUÁN như
dùng dao nạo. CHỈ như lấy nhiếp nhổ gai; QUÁN như kéo dao
cắt tóc. CHỈ như áo giáp; QUÁN như gậy binh. CHỈ như đứng
bằng; QUÁN như lảy tên. CHỈ như uống dầu; QUÁN; như uống
thuốc. CHỈ như nhồi đất; QUÁN như ấn in; CHỈ như rèn
vàng; QUÁN như đúc đồ. Lại chúng-sinh thế-gian đều đọa
hai bên hoặc khổ hoặc vui. CHỈ năng bỏ vui; QUÁN năng lìa
khổ. Lại trong bảy Tịnh: Giới-tịnh, tâm tịnh là CHỈ;
còn năm pháp kia là QUÁN trong tám đại nhân giác: sáu giác
là CHỈ; hai giác là QUÁN. Trong bốn ức-xứ, ba ức-xứ là
CHỈ; ức-xứ thứ tư là QUÁN, Bốn như-ý-túc là CHỈ; bốn
chính cần là QUÁN. Trong năm căn: bốn căn là CHỈ; huệ căn
là QUÁN. Năm lực cũng vậy. Trong bảy giác phần: ba giác phần
là CHỈ; ba giác phần là QUÁN; còn niệm-giác-phần chung cả
hai. Trong tám chính đạo phần: ba phần là giới; hai phần
là CHỈ, ba phần là QUÁN. Giới cũng thuộc CHỈ. Lại CHỈ
năng dứt tham; QUÁN trừ vô-minh. Như trong kinh nói: “Tu CHỈ
là tu tâm; tu tâm là dứt tham thọ. Tu QUÁN là tu huệ: Tu huệ
thời vô-minh dứt”. Lại vì lìa tham nên tâm được giải
thoát; Vì lìa vô-minh huệ được giải thoát. Giải thoát được
hai món ấy lại không còn việc gì nữa nên chỉ nói hai pháp
ấy.
Hỏi:
Nếu CHỈ-QUÁN năng tu tâm tu huệ; vì tu tâm huệ nên dứt
tham và vô-minh. Mà sao Định nói CHỈ năng tu tâm, năng dứt
tham ái; QUÁN năng tu huệ năng dứt vô-minh?
Đáp:
Kẻ tản-tâm các tâm nối nhau đi trong sắc thảy. Tâm nối
nhau nầy được pháp CHỈ thời dứt, nên nói CHỈ năng tu
tâm. Do dứt tâm sinh trí nên nói QUÁN năng tu huệ. Vì sinh
QUÁN rồi sau mới có tu, nên đều gọi tu huệ. Sơ huệ gọi
là QUÁN, sau mới gọi là huệ. Như trong kinh nói: “Tu CHỈ
năng dứt tham”. Là nói ngăn dứt. Tại vì sao? Vì với trong
sắc thảy ngoại-dục sinh tham, nếu được thuốc CHỈ thời
chẳng năng sinh lại. Như trong kinh nói: “Hành-giả khi được
tịnh-hỷ, la bỏ bất-tịnh-hỷ”. Nếu nói vô-minh dứt là
dứt rốt ráo. Tại sao biết được? Vì vô-minh dứt nên tham
thảy phiền não dứt hẳn không còn. Trong kinh cũng nói lìa
tham nên tâm được giải thoát gọi là ngăn-dứt. Lìa vô-minh
nên huệ được giải thoát, gọi là rốt ráo dứt. Có hai
món giải thoát: thời gian giải thoát và bất hoại giải thoát.
Thời gian giải thoát là ngăn dứt; bất hoại giải thoát là
rốt-ráo dứt.
Hỏi:
Thời giải thoát là ngũ-chủng A-La-Hán vô lậu giải thoát
bất hoại giải thoát là bất-hoại pháp A-La-Hán vô-lậu giải
thoát. Mà tại sao chỉ nói ngăn dứt ư?
Đáp:
Đấy chẳng phải vô-lậu giải thoát. Tại vì sao? Vì thời-giải
thoát là chỉ nhờ thượng lực chút thời ngăn gút mà chưa
năng dứt hẳn được, về sau phát sinh lại, nên chẳng phải
vô-lậu. Lại giải thoát nầy gọi là thời, là ái giải thoát,
chứ lậu-tận A-La-Hán không còn chỗ khả ái.
Hỏi:
Nếu vậylà không có Thánh sở-ái-giới?
Đáp:
Vì các học-nhân chưa hết lậu nên ngã-tâm thỉnh-thoảng
phát khởi, vậy nên đối với giới sinh ái, chứ chẳng phải
A-La-Hán ngã tâm đã diệt hẳn mà sinh ái lại vậy.
Hỏi:
Cù-Đề A-La-Hán với thời giải thoát sáu phen trụt lui mất;
lo sợ lui lần thứ bảy nên lấy dao tự sát. Nếu mất hữu-lậu
chẳng đến nỗi tự sát. Nên biết thời giải thoát chẳng
gọi hữu-lậu?
Đáp:
Người nầy lui mất sở-dụng dứt gút thiền-định ở trong
định ấy sáu phen lui mất, đến phen thứ bảy lại được
Định ấy lại, mới bèn muốn tự sát. Bấy giờ liền chứng
được Đạo A-La-Hán. Vậy nên ma-vương bảo nhau rằng kẻ
học nhân chết đi quanh bốn phía thây để tìm Thức nó chạy
ra. Rồi đến thưa Phật rằng: Bạch Thế-Tôn! Đệ-tử của
Ngài tại sao lậu chưa hết mà chết? Đức Phật nói: Người
ấy đã nhổ gốc ái, được vào Nê-Hoàn.
Hỏi:
Nếu dứt tham gọi ngăn dứt ấy. Trong kinh nói: Từ tham tâm
được giải thoát; từ nhuế si huệ được giải thoát.”
Lại nói: “Từ dục lậu tâm được giải thoát”. Như vậy
đều nên gọi là năm giải thoát, chứ chẳng phải thật giải
thoát?
Đáp:
Trong ấy cũng có nói dứt vô-minh, nên mới biết là rốt ráo
giải thoát. Như nói dứt tham: hoặc là ngăn dứt, hoặc rốt
ráo dứt. Nếu chẳng sinh chân trí thời là ngăn dứt; tùy
sinh chân trí là rốt ráo dứt. Chứ không có dùng pháp CHỈ
mà dứt rốt ráo dứt tham được. Nếu như vậy ngoại đạo
cũng có thể rốt ráo dứt tham? Mà thật chẳng phải vậy.
Nên chẳng phải vậy. Nên biết vẫn là ngăn dứt.
Hỏi:
Trong kinh nói: “Dùng CHỈ tu tâm nương QUÁN được giải thoát;
dùng QUÁN tu tâm nương CHỈ được giải thoát”. Việc ấy
thế nào?
Đáp:
Hành-giả, hoặc nhờ thiền-định sinh duyên diệt trí, đấy
là dùng CHỈ tu tâm nương QUÁN được giải thoát. Hoặc dùng
tản tâm phân-biệt ấm, giới, nhập thảy, nhờ đấy được
duyên diệt dứt; đấy là dùng QUÁN tu tâm nương CHỈ được
giải thoát. Nếu được niệm xứ thảy đạt phần nhiếp
tâm thời đều tu CHỈ QUÁN. Lại tất cả hành-giả đều
nương hai pháp nầy được diệt tâm giải thoát.
PHẨM
TU-ĐỊNH THỨ 188
Hỏi:
Ông nói tu tập Định. Định-tâm nầy là niệm niệm sinh diệt
làm sao tu được?
Đáp:
Hiện thấy thân nghiệp tu niệm niệm diệt, nhờ tu tập nên
có tài-năng khác thường, tùy tu tập lâu dần tăng tiến điều
lợi kiên-cố dễ nhớ, như đọc tụng thảy. Nên phải biết
ý nghiệp tuy niệm niệm diệt nhưng có thể tu tập, như lửa
năng biến sống thành chín; nước năng xoi đá; gió năng thổi
vật. Như vậy những pháp niệm niệm diệt đều có sức nhóm
họp. Lại tùy-tập phiền não thời tùy đó mà hừng thịnh,
như người đời lung quen dâm-dục thời tâm thành đa-dục.
Nhuế si cũng vậy. Như trong kinh nói: “Nếu người tùy nghĩ
việc gì, thời tâm hướng theo việc đó, như thường tùy
dục-giác, thời tâm hướng theo dục”. Hai giác kia cũng vậy.
Nên biết tâm nầy tuy niệm niệm diệt mà cũng có thể tu
tập. Lại tư gọi là tăng-trưởng. Hiện thấy các pháp đều
có tăng-trưởng. Như trong kinh nói:: “Hành-giả bởi tà niệm
nên dục thảy các lậu chưa sinh thời sinh; đã sinh tăng trưởng
nghĩa là từ hạ sinh trung, từ trung sinh thượng, như hột
giống, mộng cộng nhánh lá hoa trái và hột”. Hiện thấy
đều từ nhân lần-lữa tăng-trưởng; pháp định-huệ thảy
cũng nên như vậy. Lại hiện thấy ướp mè, hương nó càng
tăng: hương ấy và mè niệm niệm chẳng mà có sức ướp.
Nên biết pháp niệm niệm cũng có thể tu tập.
Hỏi:
Mè là pháp trụ hoa hương không có tâm trụ đến xông ướp.
Đem tứ niệm niệm diệt mà đến tu tập, thì làm sao ví dụ
được?
Đáp:
Không có trụ pháp. Tất cả các pháp đều niệm niệm diệt.
Điều nầy trước đã thành lập nên chẳng còn đem nạn được.
Lại nếu pháp chẳng niệm niệm diệt., thời không tu tập
được, tức thể thường trụ tu tập ích gì? Nếu pháp niệm
niệm sinh diệt do hạ, trung, thượng nên mới có tu tập.;
Hỏi:
Các hoa đến mè năng ướp; trí chẳng đến tâm nên không
tu tập?
Đáp:
Trong ví dụ trên nghiệp đã nói rõ việc nầy. Chỗ gọi hậu
nghiệp chẳng đến tiên nghiệp. Lời nói trước chẳng đợi
lời nói sau; mà thân-khẩu-nghiệp cũng vẫn có tướng tu.
Vậy nên ngươi nói chẳng đến chẳng tu, chẳng gọi là nạn
vấn được. Lại hiện thấy nhiều quả tuy chẳng đồng thời,
nhưng cũng được do nhân có quả. Như vậy tâm pháp tuy niệm
niệm diệt, mà vẫn có tu tập được. Lại như giống được
có nước tuy chẳng đến mộng thảy, nhưng cũng vẫn khiến
mộng thảy thấm nhuần tươi tốt. Như vậy tu tập trí-huệ
trước tâm sau tăng trưởng lẫn nhau.
Hỏi:
Nếu mè niệm niệm diệt thời sinh mè khác; mè nầy là ướp
mà sinh hay chẳng ướp sinh? Nếu chẳng ướp sinh, trọn không
có ướp. Nếu ướp mà sinh ấy lại cần gì ướp cho lâu?
Đáp:
Vì nhân ướp vậy. Như giống được nước thời mộng thấm
nhuần tốt tươi. Như nhân hoa trước hiệp lại mà sinh mè
khác, vậy thời do ướp sinh. Ngươi nói cần gì ướp lâu:
như trong kinh của ngươi nói: “Bởi lửa hiệp lại phát diệt
tướng đen vi trần sinh tướng đỏ”. Nếu lửa đầu mới
hiệp pháp diệt tướng đen ấy, lẽ chẳng nên sinh lại tướng
đen. Nếu lửa đầu mới hiệp pháp sinh tướng đỏ ấy, lại
cần gì lửa sau phải hiệp nữa? Nếu khi lửa đầu hiệp
tướng đen sinh, tướng đỏ lẽ trọn chẳng sinh; hoặc khi
thứ hai tướng đỏ sinh, lại cần gì lâu hiệp với lửa?
Nếu ý ngươi bảo tướng đỏ sinh dần. Tâm cũng như thế,
đâu có lỗi gì ư? Hư hoại thảy cũng như vậy. Lại các
pháp tuy có nhân-duyên nhưng cũng thứ lớp sinh, như thọ thai
thảy dần dần thành thân; như giống rễ thảy cũng lần lửa
mà sinh. Như vậy các pháp định huệ thảy tuy niệm niệm
diệt, nhưng cũng do pháp hạ trung thượng thứ lớp mà sinh.
Lại tu pháp mầu nhiệm dị tâm nối nhau, như mầu nhiệm của
móng lông tóc làm cho trứng biến dần; như vì nóng của da
tay nên cán búa mòn dần đến hết.
Tâm
cũng như vậy, định huệ mầu nhiệm nên lần nữa tu tập.
Lại pháp tu đến thời mới biết. Như lời kệ nói: một
phần theo Thầy lành; một phần nhờ Bạn được; một phần
tự suy nghĩ; một pần đợi thời chín. Nếu có người tuy
đọc tụng suốt ngày chẳng minh liệu được, như thời chín
ấy, như đem nhiều hoa một thời xông ướp mè, chẳng bằng
ít hoa dần dần ướp lâu. Dầu nước thấm nhuần vào tường
vách dày thảy cũng đều như thế. Hiện thấy giống rễ mộng
thảy tăng trưởng mầu nhiệm hãy chẳng thấy được, lớn
lên từng ngày chừng bằng đầu sợi lông. Thân trẻ nít thảy;
bơ sữa thảy chín mùi cũng lại như thế. Nên biết pháp tu
hành màu nhiệm khó mà hiểu biết được.
Hỏi:
Hoặc có pháp nhất thời gấp nhóm: Như có người xưa nay
chẳng thấy săc, mà thấy sắc là đắm nhiễm ngay. Cũng có
kẻ chút thời nhiều điều thông đạt. Mà tại sao chỉ nói
lần nữa tu tập?
Đáp:
Đấy đều là quá-khứ từng tu tập nên biết chứa nhóm sự
tu tập lần nữa. Việc nầy đã nói rõ. Lại chẳng chỉ phát
tâm mà có được thành xong sự nghiệp. Như trong kinh nói:
“Nếu đối với pháp lành chẳng năng siêng tu tập mà chỉ
mong muốn chẳng thọ các pháp, với trong các lậu tâm muốn
được giải thoát, thời ý nghĩ người nầy trọn chẳng mãn
nguyện, vì chẳng năng siêng tu pháp lành vậy”. Hành-giả,
nếu năng siêng tu-pháp lành dù chẳng phát nguyện, tâm cũng
được giải thoát các lậu vì do từ nhân sinh quả chẳng
cầu nguyện vậy, in như chim sẻ cần lo ấp trứng, chẳng
cần nguyện cầu chim con từ trứng vợ mà ra. Lại chẳng vì
nguyện nên đèn sáng trong trẻo, mà cần đầy đủ đều trong
tim sạch, không vật gì xúc động sáng mới trong trẻo. Lại
chẳng những nguyện nên năng được lúa tốt, mà quyết phải
ruộng mầu, giống tốt thời tiết thuận hòa, nông thôn đầy
đủ mới có thu hoạch.
Lại
chẳng những nguyện suông nên thân được sức mạnh, mà cần
phải uống thuốc bổ, ăn những thức ngon bổ thảy các duyên
mới được đầy đủ sức lực. Như vậy chẳng những nguyện
suông nên năng được hết lậu, mà cần phải trân-trí mới
được giải thoát. Có đâu kẻ trí nhận biết do nhân sinh
quả, mà bỏ nhân để chạy theo viễn vông để cầu quả.
Lại pháp tập hiện thấy được quả-báo. Như trong kinh Phật
nói: “Không cần bảy ngày, Ta dạy Đệ-tử cho đến tu tập
pháp lành chừng giây lát rồi ở trong nhiều đời thường
được hưởng vui”. Lại các Tỳ-kheo-ni thưa A-Nan rằng: “Bạch
Đại Đức! Chị em chúng tôi khéo tu-niệm-xứ nghiệm biết
khác hơn lúc ban sơ”. Lại trong kinh Phật bảo các Tỳ-kheo:
“nếu người không tâm dua dọc về đây với Ta, Ta vì nói
pháp ban mai, khiến cho ban chiều được lợi; nói pháp ban chiều
khiến cho sáng được lợi”. Lại nếu người được Đạo
A-La-Hán, thời không cùng kẻ khác, cũng chẳng cùng với phi-nhân.
Chỉ riêng tu chính-nhân nên được lợi ấy. Lại vô-thượng
Phật-Đạo còn phải cần chứa nhóm tu tập pháp lành mới
chứng được, huống là những việc khác! Như trong kinh Phật
bảo các Tỳ-kheo: “Ta nương nhờ hai pháp mới được Đạo
vô-thượng: một là vui tu hành không chán; hai là tu Đạo chẳng
mỏi”. Đức Phật đối với pháp lành trọn không hạn lượng.
Lại các vị Bồ-Tát dù chẳng được Định cũng chẳng biếng
mỏi. Tại vì sao? Vì nếu chẳng làm lành thời không được
gì hết. Làm lành cũng chẳng khoe nhau. Kẻ chẳng làm lành
quyết không yên-ổn. Suy nghĩ đấy rồi, thời siêng năng tinh-tiến
tu tập pháp lành. Nếu phát tâm tinh-tiến hoặc đắc hoặc
thất; kẻ chẳng tinh-tiến hẳn không có hy-vọng. Vậy nên
phải siêng năng tu tập, đừng sinh biếng-nhác.
Lại
kẻ trí cuối cùng phải được giải thoát. Nếu bỏ pháp
tu tập không còn phương-tiện nào khác. Vậy nên kẻ trí phải
siêng tu tập đừng sinh biếng nhác. Lại hành-giả nghĩ tu
chính-hành chắc có quả-báo, tuy chưa được liền chẳng lấy
làm lo. Lại hành-giả nên nghĩ: Ta đừng được quả-báo tu
tập, vì chúng-sinh xưa nay đều được tất cả thiền-định,
nay ta chính tu cũng chắc sẽ được. Nên chẳng biếng nhác.
Lại chính-hành ấy, lấy Phật làm chứng-minh: Ta nay chính-hành,
nên biết chắc được. Lại ta được đầy đủ nhân duyên
đắc Đạo là: được làm thân người, các căn đầy đủ,
rõ biết tội phước, cũng tin giải thoát, gặp thiện-tri-thức.
Đủ những duyên may nầy, làm sao tu tập chẳng được quả?
Lại chính hành tinh-tiến trọn chẳng luống bỏ, nên chẳng
nhàm mỏi. Lại phiền não mòn mỏi dứt khó biết như cán
búa lần mòn đến hết; các phiền não ta cũng phải dứt mòn,
nhưng vì nhỏ nhiệm nên không thể biết hết được. Nên
biết tu thiện tinh-tiến là hơn hết. Lại chút trí còn có
thể trừ tối. Như vậy chỉ được chút trí thời là xong
việc, nên chẳng nhàm mỏi. Lại lâu mà khó thành chỗ gọi
đắc Định. Nếu đắc Định rồi thời các công phu khác
chẳng bao lâu. Vậy nên tuy chẳng mau đắc, quyết chẳng nhàm
mỏi. Lại hành giả nên nghĩ đắc Định rất khó, như Bồ-Tát
xưa phước huệ sâu dày mà phải tinh-cần đến sáu năm mới
chứng được! Còn các Tỳ-kheo đắc Định cũng khó, huống
là chúng ta phàm phu bạc-phước độn-căn thiển-trí mà năng
mau được ư? Nghĩ như vậy rồi chẳng sinh nhàm mỏi. Lại
điều tất yếu của các hành-giả phải là tu Định, lại
không còn nghiệp khác hơn, nên dù được cùng chẳng được
vẫn cần phải tu tập. Lại kẻ tu tập dù chẳng được Định,
nhưng cũng gọi thân được xa lìa. Thân xa lìa rồi thời dễ
được Định. Lại nếu Định thời chẳng bỏ ơn Phật. Mà
cũng vì tu hạnh xa lìa mới được mang tên hành-giả.
Lại
tu tập thiện-pháp đã lâu thời thành thiện-tính, cho đến
chuyển mang thân khác thiện-pháp ấy vẫn thường đeo theo,
nên được thường cùng thiên-nhân gặp nhau, đấy là đại
lợi. Lại kẻ thường tu thiện hoặc ngay thân nầy chắc được
hết lậu; hoặc chính khi lâm-chung được hết; hoặc sau khi
mạng chung hóa sinh về thiên-xứ ở trong ấy được hết như
trong văn-pháp-lợi đã nói. Lại trong tâm hành-giả phát khởi
tướng dũng-mãnh nghĩ như vầy: Nếu ta chẳng phá nổi trận
giặc phiền não nầy quyết chẳng trở về không. Lại hành-giả
nương tâm kiêu-mạn mà sinh ý nghĩ nầy: Kẻ khác có tín thảy
các căn-lành nên năng được Đinh, ta nay tại sao lại có cái
chẳng được? Như Bồ-Tát xưa từ khi làm tiên-nhân A-La-Lạ
thảy nghe pháp khởi nghĩ như vầy: Người nầy có tín thảy
các căn lành, nên năng được Pháp nầy; Ta nay cũng có, mà
tại sao lại chẳng được? Lại hành-giả biết thế phiền
não yếu ớt, sức trí-huệ mạnh mẽ, diệt nó đâu khó gì?
Như nói Tỳ-kheo thành-tựu sáu pháp, có thể đem gió miệng
thổi tan núi Tuyết, huống là thứ vô-minh chết. Lại hành-giả
sinh nghĩ: Do đời trước ta chẳng tu Định, nên nay chẳng
thể được; nay nếu chẳng siêng tu sau lại chẳng được
luôn, nên phải siêng tu tập. Lại vì thường tu Định nên
tâm được trụ-xứ như chiếc bình lăn chẳng dừng chắc
phải có chỗ trụ. Lại hành-giả sinh nghĩ: Nếu ta thường
sinh tinh-tiến, hoặc được chẳng được, sau khởi ăn-năn.
Vậy nên phải nhất tâm siêng năng tu tập các Định.
Thành
Thật luận hết quyển 18