QUYỂN
THỨ 20
PHẨM
TAM TUỆ THỨ 194
Tam-huệ:
huệ nghe, hệ nghĩ và huệ tu. Do trong kinh thảy mười hai bộ
mà sinh gọi là huệ nghe; vì nhờ đấy năng sinh vô-lậu thành-huệ
nên gọi là huệ. Như trong kinh nói:: “Tỳ-kheo La-Hầu-La nay
mới được thành-tựu hụê giải-thoát”. Tuy nghi Vi-đà thảy
các kinh điển thế-tục mà chẳng hay sinh vô-lậu-huệ nên
chẳng gọi huệ nghe. Nếu năng nghĩ lường nghĩa trong các
kinh gọi là huệ nghĩ; như nói: hành-giả nghe Pháp rồi suy
nghĩ nghĩa-thú. Lại nói: hành-giả nghe pháp suy nghĩ rồi phải
tùy thuận mà tu, hoặc năng hiện tiền biết thấy thấy gọi
là huệ tu; như nói: hành-giả ở trong Định tâm thấy ngũ-ấm
sinh diệt. Như trong kinh nói: Tỳ-kheo các ngươi! Tu tập thiền-định
sẽ được như thật hiện tiền biết thấy. Lại trong kinh
Thất-chính-trí nói: “nếu Tỳ-kheo biết pháp gọi huệ nghe;
biết nghĩa gọi huệ nghĩ; biết thời giờ thảy gọi huệ
tu. Lại như La-Hầu-La đọc-tụng bộ ngũ-thọ-ấm gọi huệ
nghe; riêng chỗ nghĩ nghĩa gọi huệ nghĩ, sau khi đắc Đạo
gọi huệ tu. Lại trong kinh nói ba món đồ gậy: gậy nghe,
gậy lìa và gậy huệ. Gậy nghe gọi là huệ nghe; gậy lìa
gọi là huệ nghĩ, gậy huệ gọi huệ tu. Lại trong kinh nói
nghe pháp có năm lợi: “chưa nghe thời nghe, nghe rồi rõ ràng,
dứt nghi chính-kiến, dùng huệ thông-đạt nghĩa-thú thẳm
sâu”. Chưa nghe thời nghe nghe rồi rõ ràng gọi huệ nghe;
dứt nghi chính-kiến là gọi huệ nghĩ; dùng huệ thông-đạt
nghĩa-thú thẳm sâu là gọi huệ tu. Lại trong Văn-pháp-lợi
nói: “Hành-giả đem tai nghe Pháp, đem miệng tụng tập là
gọi huệ nghe; đem ý nghĩ lường là gọi huệ nghĩ; đem thấy
thông-đạt là gọi huệ tu”. Lại trong bốn phần Tu-Đà-Hoàn
nghe chính pháp là gọi huệ nghe; chính nhớ nghĩa gọi huệ
nghĩ; tu theo pháp là gọi huệ tu. Lại trong năm giải-thoát
môn: Theo kẻ Tôn-trưởng nghe pháp là gọi huệ nghe thông đạt
ngữ nghĩa là gọi huệ nghĩ; sinh vui mừng thảy là gọi huệ
tu. Lại trong kinh nói: “Pháp Phật đã nói ra ba thời lành
thảy. Thiện nam tử! hoặc kẻ trưởng hoặc người ấu nghe
Pháp sinh nghĩ: tại-gia ồn-ào, xuất-gia vắng lặng. Nếu chẳng
xuất-gia thời chẳng năng tịnh tu hiện pháp. Liền bỏ sở-hữu
thân thuộc tài vật, xuất-gia trì-giới giữ hộ các căn;
oai nghi đường hoàng. Riêng chỗ suy nghĩ, xa lìa năm món che,
mới chứng được sơ-thiền thảy, cho đến hết lậu”. Trong
ấy trưởng ấu nghe Pháp là gọi huệ nghe; nghĩ tại-gia ồn
ào, xuất-gia vắng lặng là gọi huệ nghĩ; xa lìa năm món
che cho đến hết lậu là gọi huệ tu.
Lại
trong kinh nói: “Nhờ hai nhân-duyên mới năng sinh chính kiến:
theo người nghe Pháp; tự chính nghĩ nhớ.” Theo người nghe
pháp là huệ nghe; tự chính nghĩ nhớ là huệ nghĩ; năng sinh
chính kiến là huệ tu. Lại bài kệ nói: quen gần người lành,
nghe lãnh chính-Pháp, vui ở chỗ riêng, uốn đẹp tự tâm.
Trong ấy quen gần người lành, nghe lãnh chính-Pháp là gọi
huệ nghe; vui ở chỗ riêng là gọi huệ nghĩ, uốn đẹp tự
tâm là gọi huệ tu. Lại Phật dạy các Tỳ-kheo: “Các ngươi!
Mỗi khi nói năng phải nói tứ-đế; mỗi khi suy nghĩ nên nghĩ
tứ-đế”. Trong đây nếu nói tứ-đế thì huệ nghe; suy nghĩ
tứ-đế là huệ nghĩ; được tứ-đế là huệ tu. Như vậy
thảy nhiều chỗ trong kinh Phật nói ba món huệ.
Hỏi:
Ba huệ nầy mấy cõi Dục, mấy cõi Sắc và mấy cõi Vô-sắc?
Đáp:
Hai cõi Dục Sắc có tất cả. Như ông Thủ cư-sĩ sinh về
cõi trời vô nhiệt, nói Pháp trong ấy. Nếu người nói Pháp
phải nghĩ nghĩa. Nên biết cõi Sắc cũng có huệ nghĩ. Trong
cõi Vô-sắc chỉ có huệ-tu.
Hỏi:
Có người nói cõi Dục không huệ tu, cõi Sắc không huệ nghĩ.
Việc nầy thế nào?
Đáp:
Vì lý do nào mà cõi dục không huệ tu?
Hỏi:
Vì Đạo cõi Dục chẳng năng dứt các che, ngăn các buộc,
vì món khiến món buộc cõi Dục chẳng hiện tại tiền.
Đáp:
Trong Phật-Pháp không có lời nói nầy: Vì đạo cõi Dục chẳng
năng dứt các che, ngăn các buộc, hai món khiến buộc cõi Dục
chẳng hiện tại tiền. Mà lại nói vì Đạo cõi Dục năng
phá phiền não. Tại vì sao? Vì cõi Dục có bất-tịnh quán
thảy. Như trong kinh nói: “Khéo tu bất-tịnh quán năng phá
tham dục”. Lòng Từ thảy cũng như vậy.
Hỏi:
Cõi Dục nầy bất tịnh quán chẳng hay dứt hẳn phiền não?
Đáp:
Bất-tịnh quán thảy cõi Sắc cũng chẳng năng dứt các phiền
não rốt-ráo.
Hỏi:
Dùng thô trọng chẳng điều thích thảy các hành năng dứt
phiền não chứ chẳng phải bất-tịnh thảy?
Đáp:
Không có kinh nào nói thô thảy năng dứt phiền não mà bất-tịnh
thảy bất năng? Mà trong kinh nói dùng quán bất-tịnh thảy
năng dứt phiền não. Lại thô thảy có thế lực gì năng dứt
phiền não mà bất-tịnh thảy bất năng? Lại nếu cõi Dục
có thô thảy hành nếu dùng hành ấy để dứt các phiền não;
nếu không, phải nói lý do? Vì sao có bất-tịnh thảy mà không
thô thảy? Nếu có mà chẳng dứt phiền não? Cõi Sắc tuy có
cũng chẳng thể năng dứt ấy cũng nên nói lý-do? Vì sao cõi
Dục chẳng năng mà cõi Sắc lại năng?
Hỏi:
Cõi Dục tuy có thô thảy mà chẳng năng dứt các phiền não
là vì cõi tán-loạn vậy. Kẻ tán-loạn-tâm không thể năng
dứt như trong kinh nói nhiếp-tâm là Đạo, tán-tâm phi Đạo?
Đáp:
Cần nói lý do vì sao cõi Dục gọi cõi tán-loạn? Trong ấy
có bất-tịnh quán thảy, nếu là cõi tán-loạn làm sao năng
quán cốt thảy các tướng biến khác. Lại cõi Sắc nhiếp-tâm
có tướng gì khác mà cõi Dục không có?
Hỏi:
Vì Đạo cõi Sắc năng được ly-dục. Ở trong đây chết sinh
về cõi Sắc như lấy cái nêm để tháo nêm?
Đáp:
Sao gọi ly-dục?
Hỏi:
Dứt phiền não gọi ly-dục. Vì Đạo cõi Sắc năng dứt phiền
não chứ chẳng phải cõi Dục.
Đáp:
Các ngoại-đạo dứt gút rồi, rồi khởi lại sinh về cõi
Dục. Vậy nên phàm phu chẳng gọi dứt gút tức là dứt phiền
não. Nếu dứt rồi lại sinh thời dứt gút vô-lậu lẽ cũng
sinh lại? Việc ấy chẳng thể được. Lại trong kinh nói ba
gút rồi mới năng dứt ba món độc. Phàm phu chẳng nnưg dứt
ba gút nên không được ly-dục. Lại phàm phu chẳng năng dứt
ba gút nên không được ly-dục. Lại phàm phu thường có ngã-tâm
thảy nên không có thể năng dứt thân kiến thảy. Nếu phàm
phu năng ly-dục ấy, tất cả phiền não lẽ đều chẳng có.
Tại vì sao? Vì tất cả phiền não đều do nhiều duyên mà
thành, như trong kinh nói do nhiều duyên thành ngã. Nếu phàm
phu nầy đối với ngũ-ấm cõi Dục chẳng khởi thân-kiến
mà lại chưa được các ấm cõi trên, vậy thời lẽ chẳng
phải không có thân-kiến? Có những lỗi như thế. Như vậy
phiền não phải cần dứt hẳn hết; phàm phu nầy lẽ là La-Hán?
Mà thật phiền não chẳng được dứt hết. Như trong kinh nói:
“Nghe tiếng sấm lớn hai hạng người chẳng sợ: Chuyển-luân
Thánh-Vương và A-La-Hán”. Nay phàm phu nầy lẽ cũng chẳng
sợ?
Lại
A-La-Hán sống chẳng mừng, chết chẳng sợ, như A-La-Hán Ưu-Ba-Tư-Na
bị phải rắn cắn, khi mạng sắp chung các căn chẳng đổi
khác nhau sắc chẳng biến. Người nầy lẽ cũng như vậy?
Lại A-La-Hán, tám pháp của thế-gian chẳng năng che tâm. Người
nầy lẽ cũng như vậy, vì đã ly dục. Mà thật phàm phu tuy
nói ly-dục đều không các tướng nầy. Nên biết chẳng dứt
phiền não.
Hỏi:
Phàm phu năng dứt phiền não, vì mạng chung nơi đây vãng-sinh
cõi Sắc, nếu chẳng dứt làm sao sinh kia được? Trong kinh
cũng nói có ngoại-đạo ly-dục. Lại nói A-La-La-Ca-La-Ma Uất-Đầu-Lam-Phất
bỏ lìa cõi Dục cõi Sắc sinh về cõi Vô-sắc. Lại nói dùng
Sắc lìa dục, dùng vô-sắc lìa Sắc, dùng Diệt lìa khởi
nghĩa nghĩ-niệm. Vậy nên ông nói phàm phu tuy dứt phiền não
mà sinh trở lại nên chẳng gọi là dứt. Việc ấy chẳng
phải lẽ. Ông cũng nói phàm phu có dứt bao nhiêu đều thật
là ngăn, chỉ gọi là dứt lìa, kỳ thật chẳng dứt thôi.
Thật chẳng ly-dục nói gọi ly-dục. Như trong kệ nói: Nếu
nghĩ ngã, ngã-sở, chết đến mới năng dứt; trẻ nít chơi
giỡn đất, khi còn yêu tham giữ; nếu khi lòng chán đã, liền
phá mà bỏ đi. Đấy cũng gọi ly-dục. Nhưng ngoại đạo dứt
cùng chết dứt có khác: Chết dứt chẳng sinh cõi Sắc, vô-sắc;
trẻ nít bỏ đất tuy là cúng-dường nhưng không quả-báo
lớn. Lời nói tuy đồng nghĩa mà nghĩa thời khác. Vậy nên
biết phàm phu thật có đoạn-ly?
Đáp:
Trong pháp ngăn chận có sai khác. Nếu năng ngăn phiền não
sâu thời sinh hai cõi Sắc, vô-sắc. Lại nếu năng ngăn thân-kiến
như trước đã nói lỗi; nếu chẳng năng ngăn thân-kiến cõi
Dục làm sao năng sinh cõi Sắc, vô-sắc. Chỉ năng ngăn tham
giận nên sinh cõi Sắc. Chẳng năng thân-kiến thảy. Nên biết
phàm phu thật chẳng năng dứt gút. Cõi Dục cũng có pháp lành
năng ngăn phiền não, nên biết cõi Dục cũng có tu huệ. Lại
trong kinh nói trừ bảy chỗ nương cũng hứa cho Đắc-Đạo.
Nên biết nương Định cõi Dục năng sinh chân-trí.
Hỏi:
Người nầy nương sơ-thiền cận địa được A-La-Hán chẳng
phải Định cõi Dục?
Đáp:
Chẳng phải. Nói trừ bảy chỗ nương là trừ cả sơ-thiền
và cận địa rồi. Lại trong ấy không có nhân-duyên năng
nương cận địa mà chẳng phải Định cõi Dục. Nếu hành-giả
ấy năng vào cận-địa tại sao chẳng năng vào sơ-thiền ư?
Việc nầy cũng không lý-do. Lại trong kinh Tu-Thi-Ma nói: “trước
pháp trụ-ttrí, sau Nê-Hoàn-trí”. Nghĩa nầy bất tất trước
được thiền-định mà sau mới hết lậu, chỉ quyết dùng
pháp-trụ-trí làm đầu, nhiên hậu hết lậu. Nên biết trừ
các thiền-định. Trừ các thiền-định nên mới nói kinh Tu-Thi-Ma.
Nếu thọ cận-địa, tức lỗi đồng các thiền. Lại không
có kinh nào nói tên cận địa. Đấy ngươi tự nhớ tưởng
phân-biệt mà thôi.
Hỏi:
Trước tôi nói dụ cái nêm. Nên biết lấy Đạo bực khác
năng dứt gút bực khác, như lấy nêm nhỏ năng tháo nêm lớn.
Như vây lấy Đạo cõi Sắc năng dứt cõi Dục. Hành-giả,
nếu trước dứt Dục và pháp ác bất thiện, nhiên hậu năng
vào sơ-thiền. Nên biết chắc có cận địa lấy Định dứt
Dục. Lại nói nhân sắc lìa dục. Nếu không cận địa làm
sao nhân sắc. Lại trong kinh nói: “Nếu hành-giả được vui
tịnh thời năng bỏ vui bất tịnh”. In như Nan-Đà nhân được
thiếu nữ yêu mới bỏ được vợ nhà. Lại nếu kẻ chẳng
được sơ thiền tịch diệt vị thời với ngũ dục chẳng
thể sinh tâm hèn tệ. Vậy nên biết trước được sơ-thiền
cận địa mới năng bỏ cõi Dục?
Đáp:
Được tịnh thiện cõi Dục năng dứt bất thiện, như năm
món xuất tính. Như Thánh đệ-tử hoặc niệm ngũ-dục mà
chẳng sinh vui mừng, tâm chẳng thông hòa như đốt gân lông;
nếu nghĩ xuất pháp là tâm thông suốt. Lại nói hành-giả
tùy khi sinh Giáo quán bất thiện liền lấy thiện-giác-quán
mà diệt. Vậy nên ngươi nói dụ tháo nêm cũng có thể là
cõi Dục. Ngươi nói nhân sắc lìa dục là việc sau cùng. Hành-giả
dùng Đạo cõi Dục dứt các phiền não, tùy theo thứ lần
dứt, cho đến năng được thiện pháp cõi Sắc, bấy giờ
mới dứt cõi Dục rốt ráo được pháp cõi Sắc, ngươi nói
diệt-tận-định A-La-Hán cũng được các Định. Đó chỉ
nói quả cuối cùng. Ngươi nói được vui tịnh-diệu và tịnh
diệt vị đều đã đáp chung. Lại nếu cõi Dục không Định
làm sao năng dùng tản tâm chứng được thiện cõi Sắc?
Hỏi:
Huệ giải-thoát A-La-Hán không Định cũng chỉ có huệ?
Đáp:
Trong ấy chỉ ngăn thiền-định; chắc phải có thời gian ngắn
nhiếp tâm, cho đến một niệm. Như trong kinh Phật nói: “Tỳ-kheo
khi lấy áo có ba độc, mặc rồi mới diệt”. Không có kinh
nào nói trong tán loạn, tâm năng sinh chân trí, mà đều nói
nhiếp tâm như-thật-trí.
PHẨM
BỐN VÔ-NGẠI-TRÍ THỨ 195
Hỏi:
Có thế-trí cận-pháp-vị, có phải vậy không?
Đáp:
Đấy là trí trong Noãn-Pháp thảy năng phá giả-danh. Trí nầy
dùng thế-tục thấy Đế-lý nên gọi thế-trí; cận Thánh
Đạo nên gọi cận-pháp-vị.
Hỏi:
Trong thấy Đế-Đạo là trí tu vị-lai thảy?
Đáp:
Không có trí tu vị-lai thảy ra sao sẽ nói tại vì sao? Vì
trong pháp-tướng không có tâm giả-danh, vậy nên trong thấy
Đế-Đạo chẳng tu thế-trí.
Hỏi:
Trong kinh có bốn vô-ngại-trí, có phải vậy không?
Đáp:
Như vô-ngại-trí trong danh-tự gọi là pháp-vô-ngại; vô-ngại-trí
trong ngôn-âm gọi là từ-vô-ngại nghĩa là khác phương khác
tục nên tiếng tăm và lời nói sai khác. Như trong kinh nói
“Hành-giả chẳng nên tham đắm tiếng tăm của cõi nước”.
Hoặc có lời tiếng nghĩa bất-tiện và khó hiểu. Nếu không
có danh-tự thời nghĩa chẳng rõ được. Cứ nơi ngôn-từ
nầy chẳng lưu-ngại chẳng cùng tận gọi là lạc-thuyết-vô-ngại.
Như trong kinh nói: “Có bốn lối thuyết-pháp: Hoặc thuyết
có nghĩa-thú mà không được vô-lậu; có được vô-lậu mà
không nghĩa-thú; có được cả hai; có cả hai đều hỏng.”
ba món nầy gọi là ngôn từ phương tiện. Trí vô-ngại biết
nghĩa trong danh ngữ gọi là nghĩa vô-ngã. Như nói có bốn
lối thuyết-pháp: Có nghĩa phương tiện không ngữ phương
tiện; có ngữ phương tiện không nghĩa phương tiện; có đủ
hai phương tiện; có cả hai đều không phương tiện. Nếu
người năng được bốn vô-ngại-trí đấy là đầy đủ phương
tiện. Bực Trung Thượng Thuyết-pháp khó đáp lạii khó gần
lạc-thuyết vô-lậu, cũng có nghĩa-thú trí-huệ vô cùng ngôn
từ không bị ngăn trệ.
Hỏi:
Làm thế nào sẽ được vô-ngại-trí nầy?
Đáp:
Nhờ nghiệp nhân-duyên đời trước nên được. Nếu có thể
đời đời khéo tu nhân-duyên trí-huệ và phương tiện các
ấm, vì sức tu tập nên đời nay tuy chẳng học tập văn-tự,
độc tụng kinh điển nhưng cũng có thể được như thiên
nhãn thông thảy.
Hỏi:
Hạnh người nào có thể được?
Đáp:
Duy thánh-nhân năng được. Có người nói chỉ A-La-Hán được,
chẳng phải kẻ học-nhân. Lời nầy bất tất vậy, học nhân
cũng năng được tám món giải-thoát, tại sao chẳng năng được
trí nầy?
Hỏi:
Bốn vô-ngại nầy ở cõi nào?
Đáp:
Hai cõi Dục Sắc có tất cả, trong cõi vô-sắc duy có nghĩa
vô-ngại. Vô-ngại có hai thứ hữu-lậu và vô-lậu. Học-nhân
đủ hai thứ, vô-học duy có vô-lậu. Nếu được thời nhất
thời được hết. Nữ nhân được được. Như Tỳ-kheo-ni
Đàm-Ma-Trần-Na vậy.
PHẨM
NĂM TRÍ THỨ 196
Năm
trí: Pháp-trụ-trí, Nê-Hoàn-trí, Vô tránh-trí, Nguyện-trí
và Biên-tế-trí. Biết các pháp sinh khởi gọi là pháp-trụ-trí,
như sinh duyên lão tử cho đến vô-minh gọi là pháp-trụ-trí.
Pháp nầy diệt gọi Nê-Hoàn-trí, như sinh diệt nên lão tử
diệt cho đến vô-minh diệt nên các hành cũng diệt theo.
Hỏi:
Nếu vậy là Nê-Hoàn-trí cũng gọi pháp-trụ-trí. Tại vì
sao? Vì nếu có Phật hay không Phật tính nầy vẫn thường
trụ vậy?
Đáp:
Diệt hết các pháp gọi là Nê-Hoàn. Trong diệt hết ấy còn
có pháp gì mà trụ được?
Hỏi:
Nê-Hoàn chẳng phải thật có sao?
Đáp:
Ấm diệt không còn nên gọi Nê-Hoàn. Trong ấy còn có gì nữa?
Hỏi:
Thật có Nê-Hoàn. Tại sao biết được? Diệt Đế gọi Nê-Hoàn.
Khổ thảy các Đế thật có, nên Nê-Hoàn lẽ phải có thật.
Lại trí trong Nê-Hoàn gọi diệt-trí. Nếu không có pháp làm
sao sinh trí? Lại trong kinh Phật vì các Tỳ-kheo nói; “Có
sinh khởi làm hữu-vi pháp, có chẳng sinh khởi làm vô-vi pháp”.
Lại trong kinh nói: “Duy có hai pháp: hữu-vi và vô-vi”. Hữu-vi
pháp có sinh diệt trụ dị; vô vi pháp không sinh diệt trụ
dị. Lại trong kinh nói: “Có bao nhiêu pháp hoặc hữu-vi hoặc
vô-vi diệt hết Nê-Hoàn, duy đấy là cao thượng”. Lại nói:
sắc là vô thường, diệt sắc nên Nê-Hoàn thường, cho đến
thức cũng vậy. Lại trong kinh nói: “Diệt cần phải chứng”.
Nếu không pháp chứng thứ gì? lại Phật nói ở trong Đa-tính
kinh: “Kẻ trí như thật biết tính hữu vi và vô vi”. Tính
vô-vi tức là Nê-Hoàn, dùng chân trí mà biết làm sao nói không?
Lại trong các kinh không quyết định nói Nê-Hoàn là vô-pháp.
Vậy nên biết ông tự nhớ tưởng phân-biệt bảo không Nê-Hoàn?
Đáp:
Nếu lìa các ấm lại pháp khác gọi Nê-Hoàn ấy, thời chẳng
nên gọi các ấm diệt hết cho là Nê-Hoàn. Lại nếu có Nê-Hoàn
cần nói ra thể nó là thế nào? Lại Định duyên Nê-Hoàn
gọi là vô-tướng, nếu pháp tướng vẫn còn ấy sao gọi
vô-tướng được? Như trong kinh nói: “Hành-giả thấy sắc
tướng dứt, cho đến thấy pháp tướng dứt”. Lại trong
kinh chỗ chỗ đều nói: “Tất cả hành vô thường, tất
cả pháp vô-ngã, tịch-diệt Nê-Hoàn”. Ngã trong ấy gọi
là thể tính các pháp. Nếu chẳng thấy thể tính của các
pháp mà gọi là thấy vô-ngã ấy, hoặc Nê-Hoàn thời pháp
ấy không có thể-tính chẳng thể thấy được, vì pháp nầy
chẳng diệt vậy. Như khi tùy có cái bình thời không pháp
bình hoại; nếu khi bình hoại thời mới được nói bình hoại.
Chặt cây thảy cũng như vậy. Như vậy nếu các hành hãy còn
bấy giờ chẳng gọi Nê-Hoàn, vì các hành diệt mới có tên
Nê-Hoàn. Lại khổ diệt chẳng gọi còn có pháp riêng, như
trong kinh nói: “Các Tỳ-kheo! nếu khổ nầy diệt khổ khác
chẳng sinh, không còn nối nhau, chỗ ấy là đệ-nhất tịch-diệt
yên-ổn”. Chỗ gọi bỏ lìa tất cả thân tâm lìa diệt hết
hẳn tham-ái Nê-Hoàn. Trong ấy nói dứt khổ nầy khổ khác
chẳng sinh, đâu còn có pháp gì gọi Nê-Hoàn ư? Lại cũng
không riêng còn có tận-pháp? Chỉ ái đã sinh diệt, ái chưa
sinh chẳng sinh, bấy giờ gọi Tận, lại đâu còn có pháp
gì nói gọi là Tận ư? Thật chẳng thể nói được! Lại
nữa, có pháp dị-danh nầy là ngũ-ấm pháp không có mà gọi
là Nê-Hoàn; trong ấy không mà gọi là có, đây là không thể
được, vì diệt hết nên nói là Nê-Hoàn. In như hết áo lại
không pháp riêng, nếu chẳng như vậy lẽ cũng phải riêng
có pháp hết áo thảy. Ngươi nói có diệt-trí ấy cũng không
hại gì, như với việc chặt cây thảy trí sinh cũng không
riêng có pháp chặt. Lại do các hành nên trí sinh trong ấy
nghĩa là tùy các hành không còn gọi là Nê-Hoàn, như tùy không
có vật ấy biết vật ấy không có.
Hỏi:
Nay không có Nê-Hoàn sao?
Đáp:
Chẳng phải không Nê-Hoàn, chỉ không thật pháp. Nếu không
có Nê-Hoàn thời thường ở trong sinh tử hẳn không mong ngày
giải-thoát. Như bình bị vỡ cây bị chặt, chỉ chẳng phải
thật có riêng. Nói các Đế khác thảy đều đã chung đáp.
Tại vì sao? Vì có khổ diệt nên mới nói có các pháp bất-sinh
bất-khởi bất-tác vô-vi thảy dều không hại gì. Vô-tránh-trí:
Tùy dùng trí nào đó chẳng tranh cãi cùng kẻ khác gọi là
vô-tránh. Có người nói chính là từ-tâm đó vậy. Vì từ-tâm
nên chẳng não hại chúng sinh. Lại có người nữa nói chính
là hành vậy. Vì không hành chẳng cùng với vật mà tranh.
Lại có người khác nữa nói chính là tâm vui Nê-Hoàn vậy,
vì tâm vui Nê-Hoàn nên không tranh cãi làm gì. Cũng còn có
người nói nữa: Ở trong đệ-tứ-thiền. Lời này bất tất
vậy. Vị A-La-Hán ấy dùng trí nầy tu tập nên không tranh
cãi làm vì. Nguyện trí: Đối với trong các pháp trí không
ngăn ngại gọi là nguyện trí.
Hỏi:
Nếu nói như vậy duy Phật Thế-Tôn độc-đắc trí nầy?
Đáp:
Chính như vậy. Duy Phật Thế-Tôn mới đầy đủ trí này.
Còn người khác tùy sức sở cập mà được không ngăn ngại.
Biên-tế-trí: Tùy kẻ hành-giả được trí tối thượng, nhờ
tất cả thiền-định huân tu tăng trưởng; như đối với
trong mạng sống lâu tăng tổn thảy được sức tự tại gọi
là biên tế trí tức trí có chừng ngăn.
PHẨM
LỤC-THÔNG-TRÍ THỨ 197
Có
sáu thông trí. SÁU THÔNG: Thân-thông, Thiên-nhãn, Thiên-nhĩ,
Tha-tâm-thông, Túc-mạng và Lậu-tận. Thân thông là thân hành-giả
luôn ra nước lửa, bay bổng lên nắm bắt mặt trời trăng
và ẩn hiện, bay đến cõi Phạm-tự-tại và các pháp biến
hóa. Các hành nghiệp như vậy thảy gọi là thần thông.
Hỏi:
Việc ấy làm sao thành công được?
Đáp:
Hành-giả tham tu thiền-định nên được. Như trong kinh nói
sức kẻ thiền-định bất-khả-tư-nghì. Có người nói biến
hóa là tâm vô ký. Việc nầy chẳng phải lẽ. Vì nếu hành-giả
ấy vì lợi tha mà hiện các món biến hóa thì làm sao gọi
vô ký được? Có người nói dùng tâm cõi Dục làm biến hóa
cõi Dục, tâm cõi sắc làm biến hóa cõi Sắc. Lời ấy cũng
chẳng phải lẽ. Mắt thảy lẽ cũng như vậy, có thể dùng
thức cõi Dục thấy cõi Sắc ư? Như vậy thảy nếu tâm cõi
Sắc làm biến hóa cõi Dục đâu có lỗi chi? Lại có người
nói thần thông sơ thiền năng đi đến cõi phạm thế, cho
đến thần thông tứ thiền năng đến cõi Sắc-cứu-cánh.
Đấy cũng chẳng phải lẽ. Tùy căn lực sở cập: nếu kẻ
lợi căn dùng thần thông sơ thiền năng đến tứ-thiền; kẻ
độn căn dùng thần thông nhị thiền chẳng năng dùng sơ thiền
như Đại-Phạm-Vương đến thiền trung gian, trong ấy không
thần thông, vì sức sơ thiền năng đến cõi phạm thiên, liền
dùng sơ thiền chẳng năng biết phạm vương ở chỗ nào. Lại
Phật dùng túc mạng nghĩ nhớ cõi vô-sắc, Như trong kinh nói:
“Nếu có chỗ sinh đời trước trong cõi Sắc và vô-sắc
Phật đều nhớ biết”. Vậy nên chẳng nhất định. Lại
có người nói thiên nhãn là huệ tính. Việc nầy cũng chẳng
phải. Thiên nhãn do ánh sáng, mà thành huệ chẳng phải như
vậy.
Hỏi:
Trong kinh nói tu tướng ánh sáng năng thành tri kiến. Tri kiến
tức là thiên-nhãn?
Đáp:
Chẳng phải. Cũng nói thiên nhĩ của dùng huệ-tính, gọi đó
là nhĩ, nên chẳng phải huệ vậy. Lại thiên nhãn duyên sắc
hiện tại, ý-thức chẳng vậy. Lại trong lời giải thiên
nhãn nói biết nghiệp báo chúng sinh. Nhãn thức không có sức
nầy, chỉ trong ý thức khi biết dùng nhãn thức mà sinh vậy,
như do thiền-định sinh sắc gọi là thiên nhãn.
Hỏi:
Hình chỗ thiên nhãn lớn nhỏ?
Đáp:
Chừng bằng tròng mắt.
Hỏi:
Người mù thế nào?
Đáp:
Cũng bằng chỗ mắt.
Hỏi:
Thiên nhãn là một hay hai?
Đáp:
Là hai.
Hỏi:
Tùy ngó hướng nào thấy hướng ấy sao?
Đáp:
Thấy khắp các hướng.
Hỏi:
Hóa nhân cũng có sao?
Đáp:
Không có. Kẻ tạo hóa có Luận thiên-nhĩ cũng như vậy.
Hành-giả
nếu biết tâm kẻ khác gọi là tha-tâm-trí.
Hỏi:
Tại sao chẳng nói biết tâm-số kẻ khác?
Đáp:
Vì nhân-duyên nầy nên không có tâm-số riêng là biết thọ
tưởng thảy của kẻ khác cũng gọi là tha-tâm-trí. Lại có
người nói: trí nầy đồng tính duyên, như dùng hữu-lậu,
vô-lậu biết vô-lậu. Việc nầy chẳng phải lẽ. Người
nầy chẳng nói nhân-duyên quyết định, vì nhân-duyên ấy
biết đồng-tính-duyên. Có người nói chỉ duyên hiện-tại.
Đấy cũng chẳng phải. Hoặc duyên vị-lai như người vào
Định vô-giác, biết từ Định nầy khởi, sẽ giác biết
những việc như thế như thế. Có người nói trí nầy chẳng
biết kiến-đế-đạo. Lời nầy cũng chẳng phải. Nếu biết
có lỗi gì? Cố thuyết nói: “Bích-Chi-Phật muốn biết kiến-đế-đạo
trong tâm thứ ba, tức thấy tâm thứ bảy; Thanh Văn muốn biết
tâm thứ ba, thức thấy tâm thứ mười sáu”. Đấy chẳng
gọi là kiến-đế-đạo ư? Lại có người nói trí nầy chẳng
biết thượng-căn của người trên ở bực trên. Đấy cũng
chẳng nhất định. Chư thiên cũng biết tâm Đức Phật, như
có một hôm Phật rất muốn đuổi Chúng-Tăng, rồi lại nghĩ
cho lại, Phạm-Vương đều biết. Lại có một khi tâm nghĩ
muốn làm vua để dùng chính-pháp mà trị hóa cõi đời. Ma-vương
liền biết đến mà khuyên mời. Lại Chư-Thiên cũng biết
vị nầy A-La-Hán, cho đến vị nầy đang tu Tu-Đà-Hoàn. Lại
các Tỳ-kheo cũng biết tâm Phật như khi sắp vào Nê-Hoàn thì
A-Na-Luật thứ lớp biết Phật đã vào các thiền-định. Lại
có người nói trí nầy chẳng biết cõi Vô-sắc. Đấy cũng
chẳng phải lẽ. Phật dùng túc-mạng năng biết vô-sắc; tha-tâm-trí
cũng như thế, biết có lỗi gì?
Hỏi:
Làm sao biết tâm kẻ khác?
Đáp:
Biết trong cảnh duyên. Như tâm đi trong Sắc gọi là tâm-duyên-sắc.
Như thế thảy.
Hỏi:
Nếu vậy thời tha-tâm-trí duyên tất cả pháp?
Đáp:
Chính như vậy. Nếu chẳng biết duyên làm sao biết tâm. Như
trong kinh nói: “Ta biết tâm ngươi như vậy “. Tức là duyên
sắc thảy. Biết tha tâm có ba thứ: một tướng biết; hai
báo được; ba tu được. Tướng biết: như dùng chú ương-già
thảy nên biết. Báo được: như Quỷ Thần thảy. Tu được:
sức tu thiền-định được tha-tâm-trí. Trong sáu pháp thông
nầy tu được hoặc nhờ các ấm-thân trong đời quá-khứ
gọi là túc-mạng-trí.
Hỏi:
Nhớ ấm của ai?
Đáp:
Nhớ ấm của mình, người và phi chúng sinh. Tuy chẳng năng
nhớ ấm kẻ hờn mình mà năng giới thảy các pháp của kẻ
hơn mình. Tại sao biết được? Như Xá-Lợi-Phất đáp Thế-Tôn
rằng tôi chẳng năng biết tâm Phật quá-khứ vị-lai mà năng
biết các pháp. Lại trời tịnh cư biết tâm Phật nên đến
thưa Phật rằng: Như vậy Thế-Tôn! Các Đức Phật quá-khứ
uy-nghi cũng như vậy”.
Hỏi:
Trong giải nghĩa túc mạng, tại sao nói cọng tướng cọng
tính?
Đáp:
Nghĩ nhớ rõ ràng nên nói tướng danh tự như vậy, như tên
người thảy. Lại vì biết việc nên gọi là tướng, họ,
danh, dòng tộc, như nói đây là nhà của ngươi, đây gọi
là dòng họ ngươi. Tướng tính hiệp nói, nên biết thảy
rõ ràng.
Hỏi:
Tại vì sao nhớ rõ ràng?
Đáp:
Pháp quá-khứ diệt hết tướng mà năng biết được, đấy
mới là lạ lùng. Có người dùng tướng nghĩ lường mà biết,
chẳng được rõ ràng, rồi bảo đệ-tử Phật cũng như vậy.
Vậy nên tính tướng hiệp lại mà nói. Có người dùng túc
mạng trí; hoặc dùng hữu-đạo tư-huệ mà biết đời quá-khứ,
như hành duyên thức; trong hai món nầy tư-huệ là hơn. Tại
vì sao? Vì người nầy tuy biết tám muôn đại kiếp, mà không
có tư-huệ nầy nên sinh tà-kiến cho rằng: từ trước đến
nay gọi là sinh tử, quá đây lại không có gì cả. Nếu có
đạo tư-huệ trọn không có tà tâm nầy. Có người nói trí
nầy thứ lớp nghĩ nhớ quá-khứ. Việc nầy chẳng phải lẽ.
Nếu như niệm niệm thứ lớp nhớ việc trong một kiếp hãy
còn khó biết hết huống là vô lượng kiếp.
Hỏi:
Tại sao trong kinh lại nói: “Ta từ ở trong chín mươi mốt
kiếp đến nay chưa hề thấy bố thí tốn kém mà không quả-báo?”.
Đáp:
Phật ở trong ấy lấy bảy Đức Phật làm chứng; lại cũng
có sống lâu trong cõi tịnh cư cùng với các Đức Phật kia
đồng thấy. Lại vì Phật được chân trí nên công đức
thanh-tịnh, nếu người cúng dường được phước hai đời
thời ngang với thuyết nầy. Có người nói trí nầy chẳng
biết thượng địa. Việc nầy chẳng phải lẽ. Trong thân
thông thảy ở trên đã đáp.
Hỏi:
Nếu đấy là tính nhớ tại sao gọi trí?
Đáp:
Nhớ tùy tướng sinh; quá-khứ không tướng mà năng nghĩ nhớ.
Nên phải biết thắng-huệ gọi đó là nhớ. Nhớ túc-mạng
có ba thứ một dùng túc mạng-trí; hai báo được; ba sinh ra
bèn tự nhớ. Túc-mạng-trí: gọi tu được. Báo được: như
Quỷ Thần thảy. Sinh ra tự nhớ: là trong nhân đạo.
Hỏi:
Do những nghiệp gì nên sinh ra bèn tự nhớ?
Đáp:
Nhờ nghiệp chẳng não hại chúng sinh nên mới được. Tại
vì sao? Vì những khi chết khi sinh khổ rất ép ngặt nên quên
mất nghĩ nhớ; trong khi ấy khó mà được chẳng quên mất,
nên phải nhờ nghiệp lành. Lại có người quá-khứ cùng tột
là bảy đời. Việc nầy chẳng nhất định. Có người đời
thâm tu pháp chẳng hại, nên năng được nghĩ nhớ lâu xa.
Chứng
lậu-tận trí-thông: Chính là kim-cương tam-muội vậy. Kim-cương
tam-muội là lậu-tận; vô-ngoại đạo tận-trí là vô học-trí.
Dùng kim-cương tam-muội mới diệt hết các lậu nên gọi chứng
lậu-tận trí-thông.
Hỏi:
Các thần-thông khác cũng nên nói nhờ pháp nào mà chứng được?
Đáp:
Trước đã nói thâm tu thiền-định chứng thần-túc-thông.
Lại tùy sở dụng chứng và việc sở chứng đều gọi thần-thông.
Có người nói tất cả Thánh Đạo đều là phương-tiện hết
lậu. Như trong kinh nói: “Nếu Phật ra đời nếu có người
lành, nghe pháp xuất-gia, phụng-trì cấm giới, bỏ năm món
ngăn che, tu Định thấy Đế…” Những điều ấy đều là
phương tiện để hết lậu. Lại có người nói bố thí thảy
các pháp lành cũng gọi là nhân-duyên hết lậu, như trong kinh
nói: “Hành-giả bố-thí để giúp thành hết lậu, không,
vô-ngã-trí”. Đấy là thật chứng lậu-tận trí-thông. Pháp
nầy có tên riêng là kim-cương tam-muội. Năng phá các tướng
nên gọi kim-cương. Các người ngoại đạo chỉ được gọi
ngũ-thông, vì đều chẳng được chân-trí nầy vậy.
Hỏi:
Lấy vô-ngã-trí mới phá ngã-kiến, tại sao lấy trí nầy
dứt tham nhuế thảy?
Đáp:
Vô-ngã-trí năng diệt các tướng, vì không còn tướng nên
các phiền não diệt.
Hỏi:
Vì ban đầu lấy vô-ngã-trí năng phá các tướng, còn trí
thứ hai thảy lại dùng để làm gì?
Đáp:
Các tướng tuy diệt mà sinh lại nên phải dùng trí thứ hai
thảy.
Hỏi:
Nếu tướng diệt rồi mà sinh lại là không ngằn. Vậy thời
không có đạo A-La-Hán?
Đáp:
Có ngằn. Như nay hiện thấy sữa diệt lại có sinh; có có
khi sữa diệt bơ sinh. Như vậy là ngằn, tướng cũng như vậy.
Như đốt sắt tướng đen diệt rồi sinh lại, đến tướng
đỏ sinh, bấy giờ là ngằn. Các vị dụ dọt sữa trong thái
tạng thảy cũng như vậy. Tùy đến khi nào các tướng diệt
hết không còn tướng sinh bấy giờ gọi là được đạo A-La-Hán.
Hỏi:
A-La-Hán đều không có các tướng sao?
Đáp:
Nếu còn ở trong tâm bất định, bây giờ cũng có sắc thảy
các tướng, nhưng chẳng sinh lỗi, như người thấy sắc, vì
tà-tâm, tà phân biệt, khi ấy tướng năng sinh lỗi.
Hỏi:
Không-vô-ngã-trí là thứ nào?
Đáp:
Nếu hành-giả đối trong ngũ-ấm chẳng thấy giả-danh chúng
sinh, dùng pháp không nên thấy sắc-thể diệt cho đến thức
diệt. Đấy gọi là không-vô-ngã-trí.
Hỏi:
Giả sử các pháp thường còn; ái thảy các phiền não cũng
có thể trừ hết, như nói muôn vật thường tồn tại, mà
kẻ tinh tiến năng trừ tham ái. Thì cần gì phải diệt tưởng?
Đáp:
Trong kinh nói: “Có bao sinh tướng, biết điều diệt tướng,
với trong các pháp, được pháp nhãn tịnh”. Như có diệt
đoạn là rốt ráo đoạn; có hành-giả lìa các sắc dục,
ngăn dứt tham nhuế; nên Phật nói vì đấy mà nói kệ như
vậy. Lại nói các hành tính rỗng không như huyễn, kẻ phàm
phu vô trí cho đó là thật có; kẻ học nhân rõ biết luống
dối như huyễn. Nên biết tùy dùng huệ nào đó mà chứng
các pháp diệt. Đấy gọi là chứng lậu-tận trí-thông.
PHẨM
NHẪN-TRÍ THỨ 198
Hỏi:
Trong kinh nói: “Nếu hành-giả có bảy phương tiện, ba món
quán nghĩa, đối với trong pháp ấy, chóng được hết lậu”.
Là trí nào ư?
Đáp:
Bảy phương tiện là huệ nghe huệ nghĩ. Tại vì sao? Vì kẻ
tâm chưa định khởi quán như vầy: Đây là sắc, sắc nhóm,
sắc diệt, và Đạo diệt sắc, sắc đắm vị, tội lỗi xuất
ly.
Hỏi:
Nếu là huệ nghe nghĩ ấy, cớ sao nói chóng được hết lậu.
Đáp:
Tuy là hệ nghe nghĩ như vậy phân biệt ngũ-ấm, năng phá được
ngã-tâm, nên mới nói chóng được hết lậu. Ba món quán-trí:
Nghĩa là quán hữu-vi vô thường, khổ, vô-ngã. Nếu dùng môn
ấm-giới-nhập mà quán pháp hữu-vi thời không nghĩa lợi.
Hỏi:
Nếu như vậy, trong lầm lỗi trước đã nói vô thường khổ;
trong xuất ly đã nói vô-ngã, thì tại sao còn nói ba món quán
nầy chi?
Đáp:
Học tập ba món quán, trước tiên là huệ nghe nghĩ, nhiên
hậu huệ tu. Trước với trong huệ nghe nghĩ nói bảy món,
sau trong huệ tu nói ba món. Tại vì sao? Nếu vô thường, khổ
hoại tướng là hoại vô thường, chứ chẳng phải hành vô
thường. Tuy nói trừ dục nhiễm mà chẳng nói trừ bằng cách
nào, sau mới nói nghĩa ba món quán.
Hỏi:
Sao gọi tám nhẫn?
Đáp:
Nếu có trí năng phá giả-danh, đấy gọi là nhẫn. Nhẫn nầy
ở trong pháp: Noãn, Đảnh, Nhẫn và Thế-Đệ-Nhất.
Hỏi:
Hành-giả cũng nhẫn trong Phật-Pháp-Tăng và giới thảy tại
sao chỉ nói tám ư?
Đáp:
Vì thắng hơn nên nói. Thắng gọi là cận-đạo. Huệ là trí
nên gọi Nhẫn. Như là khổ-pháp-trí gọi khổ-pháp-nhẫn.
Đại khái như vậy thảy. Tại vì sao? Vì trước dụng huệ
nghĩ thuận Đạo, sau mới được hiện-trí, như người chăn
voi trước xem dấu chân voi, dùng trí so sánh biết nó ở trong
ấy, rồi sau mới hiện thấy. Hành-giả cũng như vậy, trước
dùng nhẫn-trí so sánh nghĩ lường Nê-Hoàn, nhiên hậu lấy
trí hiện thấy. Cho nên kinh nói kẻ trí-giả là kẻ kiến
giả năng được hết lậu.
PHẨM
CHÍN-TRÍ THỨ 199
Hỏi:
Có ông Luận-sư nói? A-La-Hán khi chứng tận-trí được chín
món trí của thế-tục là: buộc cõi Dục, thiện, vô-ký cho
đến thiện, vô-ký cõi Phi-tưởng phi phi-tưởng-xứ. Việc
ấy thế nào?
Đáp:
Chẳng phải tất cả A-La-Hán đều được các thiền-định,
làm sao mà được hết chín trí.
Hỏi:
Tất cả A-La-Hán đều được hết thiền-định chứ? Nhưng
chẳng phải tất cả đều năng hiện vào?
Đáp:
Nếu chẳng năng hiện làm sao gọi được? như người nói
tôi biết kinh thơ. Mà chẳng biết một chữ, việc nầy cũng
vậy.
Hỏi:
Nếu người ly-dục mà chưa năng hiện sơ-thiền; người ấy
mạng chung chẳng sinh về kia sao?
Đáp:
Trong kinh nói: “Trước ở đây vào, sau mới sinh kia”. Nay
ở đây chẳng vào làm sao mà sinh về kia được?
Hỏi:
Như khi ly-dục các thiền quá-khứ vị-lai đều đã được;
mới được nhờ báo đấy mà sinh?
Đáp:
Nghiệp vị-lai không-tác không khởi nên chẳng có quả-báo
được; các thiền quá-khứ đã từng sinh nơi tâm, nếu cùng
với quả-báo thời không hại gì. Lại chẳng lẽ được các
nghiệp vị-lai, nếu có thể được ấy, tất cả vị-lai lẽ
đều phải được chứ vì ai ngăng mà cái chẳng được?
Hỏi:
Nếu pháp vị-lai chẳng thể được ấy. Thời kẻ học-nhân
chẳng nên thành-tựu tám phần, vô-học chẳng nên thành-tựu
mười phần. Tại vì sao? Vì nếu nương đệ-nhị-thiền thảy
vào chánh-pháp-vị, thời người nầy vị-lai mới được chính-tư-duy.
Lại nếu hành-giả tận-trí hiện-tiền bấy giờ vị-lai được
thế-chính-kiến. Lại có người nương Định vô-sắc được
quả A-La-Hán. Người nầy vị-lai được chính-tư-duy, chính
ngữ, chính nghiệp và chính mạng. Lại nếu người nương
đệ-tam-thiền thảy được Thánh-đạo được mừng vị-lai.
Những pháp như vậy thảy thời lẽ đều không. Nên biết
có pháp vị-lai. Lại nếu không kẻ tu vị-lai (làm) sao mà
được quả các thiền-định thảy? Hành-giả nếu ở trong
đạo trí so sánh đều được quả nhiếp về các trí các
Định nếu chẳng như vậy lẽ ra các quả ấy thường được.
Việc nầy chẳng thể được. Nên biết phải có kẻ tu trong
vị-lai?
Đáp:
Người nói không các phần ấy. Đấy không hại gì. Tại vì
sao? Vì tôi nói giới thảy các phần do thứ lớp mà được,
đâu phải đồng thời được. Nên chẳng nạn vấn được
vậy. Ngươi nói các được chủng loại ấy. Hành-giả khi
được khổ trí, các loại trí khác đều gọi là được,
như được nhân chủng nên gọi là được nhân tướng; cũng
chẳng gọi ở trong từng niệm lần lữa được nhân tướng.
Việc nầy cũng như vậy.
Hỏi:
Hành-giả có bao nhiêu khổ thảy các trí thứ lớp được
ấy, đều đã rời bỏ, lại đồng thời được quả Tu-Đà-Hoàn
nhiếp được cái trí?
Đáp:
Được các trí vô-lậu thời chẳng mất.
Hỏi:
Nếu trước được chẳng mất thời “được hành” không
riêng khác. Tại vì sao? Vì kẻ được quả tức là hành-giả.
Có những lỗi nầy?
Đáp:
Nếu không riêng khác đâu có lỗi gì? Như kẻ thành-tựu cũng
gọi hành-giả. Đấy cũng như vậy. Lại người nầy còn được
thắng pháp nên có sai biệt, vậy nên không lỗi. Như kẻ thọ
ngũ giới lại được luật nghi xuất gia cũng chẳng mất bổn-giới.
Lại kẻ đắc quả chẳng vì thấy Đạo nên có sai khác, như
người tuy biết việc trước lại vì việc hơn trước nên
có sai khác. Việc nầy cũng vậy, nên biết không có được
vị-lai. Lại hành-giả an-trụ trí không vô-ngã, bấy giờ
làm sao được pháp thế-gian? Nên biết khi được tận-trí
chẳng được thế trí?
Hỏi:
Các thế trí nầy cọng chung tận trí, được cùng với A-La-Hán
mà tác tâm xuất nhập Định?
Đáp:
Tâm A-La-Hán nối nhau mà sinh niệm niệm đều thanh-tịnh. Nếu
lại được chín trí. Lại nói kẻ tu vị-lai đều không nhân
duyên. Tại vì sao? Vì trong các thuyết thấy đế-đạo nầy
chỉ tu tương tợ và bất tương tợ. Trong thấy đạo chẳng
tu thượng địa; Trong tư-duy đạo thì tu. Trong tỉ trí đạo
chẳng tu thiện thế tục; Trong các trí khác thì tu. Trong vô-ngại
đạo chẳng tu tha tâm trí. Khi mà tạm thời giải-thoát chuyển
thành thấy ngược là tất cả trong vô-ngại giải-thoát đạo
chẳng tu thế-tục-đạo. Khi mà tạm thời giải-thoát là trong
chín vô ngại và tám giải-thoát đạo chẳng tu thế tục đạo;
mà trong giải-thoát đạo thứ chín tu: Trong vi tế tâm chẳng
tu tất cả vô lậu. Như vậy thảy đều không lý do. Vậy
nên ngươi nay hoặc nói chính nhân, hoặc nên tín thọ, hoặc
lấy học tập là tu, khi còn ở trong Noãn pháp thảy, các thiện
căn bực thượng tất cả đều tu, vì thảy đều tăng ích
vậy. Như tụng tập kinh sách thời đều sáng sủa. Vậy nên
khi còn ở trong Noãn pháp thảy, cho đến tận trí đều tu.
Nếu chẳng phải như vậy thời phải nói chính nhân?
PHẨM
MƯỜI TRÍ THỨ 200
Mười
trí: Pháp trí, tỉ-thí, tha-tâm-trí, danh-tự-trí, tứ-đệ-tứ-trí,
tận-trí và vô-sinh-trí. Biết pháp hiện tại gọi là pháp
trí. Như trong kinh nói: “Phật bảo A-Nan rằng ngươi đối
với pháp nầy thấy biết như vậy thông-đạt như vậy; quá-khứ
vị-lai cũng biết như vậy”. Lẽ ra phải nói hiện-tại pháp-trí.
Nay chẳng nói hiện-tại chỉ nói pháp-trí. Như trong kinh nói:
“Kẻ ngu quý pháp hiện-tại, mà người trí quý vị-lai”.
Lại nói các dục hiện tại, các dục vị-lai đều là lưới
mà bị ma trói buộc. trong những như vậy thảy đều nên nói
lời “hiện” vì lược bớt lời hiện nên chỉ nói pháp-trí.
Biết pháp còn thừa tàn gọi là tỉ-trí. Còn thừa là các
pháp quá-khứ vị-lai. Kế pháp hiện tại sau mới biết nên
gọi tỉ-trí. Tại vì sao? Vì trước hiện biết rồi nhiên
hậu mới so sánh biết. Pháp-trí gọi hiện-trí. Tùy theo pháp-trí
nầy mà nghĩ lường so sánh biết gọi là tỉ-trí.
Hỏi:
Tỉ-trí nầy là vô-lậu-trí; vô-lậu-trí làm sao gọi tỉ-trí
được?
Đáp:
Thế-gian cũng có tỉ-trí. Tại vì sao? Vì pháp-trí, tỉ-trí,
tha-tâm-trí, khổ-trí, diệt-trí và đạo-trí đều có hữu
lậu, vô-lậu. Các trí nầy ở trong pháp Noãn thảy là hữu-lậu
mà vào trong pháp-vị mới được gọi vô-lậu.
Hỏi:
Có người nói biết các hành cõi Dục: các hành tập, các
hành diệt, các hành diệt đạo gọi là pháp-trí; biết các
hành hai cõi sắc, vô-sắc bốn món gọi là tỉ-trí. Việc
ấy thế nào?
Đáp:
Trong kinh nói Phật bảo A-Nan rằng trong đời quá-khứ vị-lai
cũng biết như vậy chứ không có kinh nói biết các hành trong
hai cõi Sắc, và vô-sắc gọi là tỉ trí. Lại trong kinh nói:
“Hành-giả nên nghĩ: ta nay đang bị hiện sắc lấn ăn quá
khứ cũng đã từng bị sắc lấn ăn; trong vị-lai cũng sẽ
bị nói lấn ăn nữa!” Lại trong kinh nói: “Sinh duyên gì
chết trong hai đời khứ-lai cũng lại như vậy”. Như Mã-Minh
Bồ-Tát nói kệ: Như hiện tại lửa nóng, khứ lai lửa cũng
nóng; hiện tại ngũ-ấm khổ; khứ lai ấm cũng khổ. Khổ
như thế thảy các vị Đại-Luận-Sư cũng đều nói như thế.
Lại biết pháp đời quá-khứ vị-lai gọi là tỉ trí, cũng
có đạo lý. Tại vì sao? Vì hành-giả đối với trong khổ
ba đời đều nhàm lìa; nhàm lìa là với trong pháp ấy sinh
chân-trí-huệ. Như hành khổ hiện tại, thì các hành khứ
lai cũng khổ như vậy. Nay lấy trí nào biết pháp quá-khứ
vị-lai? Nếu là pháp trí các hành cõi Sắc, vô-sắc cũng có
khứ lai, với trong ấy biết cũng nên gọi pháp trí. Vậy thời
duy là pháp trí không có tỉ trí vậy. Nếu hành trong khứ
lai cõi Sắc Vô-sắc riêng có trí ấy, hành khứ lai trong cõi
Dục lẽ cũng phải riêng có trí ấy, hành khứ lai trong cõi
Dục lẽ cũng phải riêng có trí? Vì những nghĩa nầy nên
các Luận-Sư nói: “Có được chưa được nên thứ lớp thấy
Đế”. Khổ cõi Dục gọi được; khổ cõi Sắc và Vô-sắc
gọi chưa được. Vậy nên chẳng thể đồng thời đều biết
hết. Như khổ chưa được, dùng tỉ trí mà biết. Nay trong
cõi Dục chỗ chưa được khổ, tức khổ đế cũng nên dùng
tỉ trí mà biết.
Hỏi:
Lấy trí nào để mà dứt kiết đạo?
Đáp:
Chỉ nên dùng pháp trí, Tỉ trí ở trong phương-tiện-đạo.
Hỏi:
Sao lại dùng pháp trí?
Đáp:
Dùng khổ pháp trí diệt pháp trí. Tại vì sao? Vì hành-giả
khi quán vô thường, khổ thấy không, vô-ngã, bấy giờ chứng
các hành diệt. Các trí khác đều là phương tiện.
Hỏi:
Quán khổ nào diệt?
Đáp:
Quán các thọ khổ. Trong ấy năng sinh ngã tâm; Vậy nên cũng
ở trong ấy thấy diệt. Như nói nội giải-thoát nên các ái
diệt hết, tự nói được A-La-Hán.
Hỏi:
Trong kinh chẳng nói tất cả hành đoạn gọi đoạn tính ư?
Đáp:
Hành-giả nầy vì chứng nội diệt, nên nhàm lìa tất cả,
lại hành-giả quyết cần phải chứng nội diệt kỳ dư bất
tất nhất đinh.
Hỏi:
Với trong các Đế trí làm sao sinh?
Đáp:
Biết sinh khổ thảy sinh.
Hỏi:
Đấy chẳng phải Định tâm làm sao sinh trí được?
Đáp:
Có phép quán như vậy. Cũng có ấm vô thường các lỗi sinh
khổ vô-ngã-tưởng. Như trong kinh nói: “Nếu pháp vô thường
tức là vô-ngã”. Tại vì sao? Vì mắt thảy các căn có sinh
có diệt; nếu ấy là ngã, ngã tức sinh diệt, nên biết chẳng
phải ngã. Khi mà mắt thảy sinh không từ đâu đến, vì có
sở tác mới gọi là ngã, mà trong kinh nói không có tác-giả.
Nên biết, nếu pháp vô thường tức là vô-ngã. Như vậy hành-giả
khéo tu vô thường và vô-ngã, nên thân tâm được tịch-diệt,
có sinh bao nhiêu hành đều giác biết não hại thời mới sinh
khổ-tưởng, như trâu không da đụng chút biết đau, Hành-giả
cũng vậy, nhờ vô-ngã-tưởng nên thành thượng-khổ-tưởng.
Kẻ ngu vì ngã-tưởng nên dù có bị đại-khổ vẫn chẳng
giác biết nó là não hại. Đấy gọi là khổ trí. Thấy các
hành sinh gọi là tập-trí. Thấy các hành diệt gọi là diệt
trí. Niệm Đạo thủy chung gọi là đạo-trí:
Hỏi:
Tận-trí là thế nào?
Đáp:
Hết tất cả tướng nên gọi là tận-trí. Tại vì sao? Vì
kẻ học-nhân tướng dứt rồi sinh lại; đây dứt rốt-ráo
nên gọi tận-trí. Như trong kinh nói nếu biết vọng-tướng
chỉ là vọng tưởng thời các khổ hết. Tâm trí học-nhân
lấy vọng tưởng làm ngã; dứt hẳn tâm ấy gọi là tận
trí.
Như
trong kinh nói: “A-La-Hán ở trước Đức Phật tự nhờ lời
Thế-Tôn nói gút tôi không còn nữa. Tôi đối gút ấy chẳng
còn sinh nghi. Tôi thường nhất tâm nhiếp chánh niệm chính-hành,
tham thảy bất-thiện chẳng lọt vào tâm”. Trong ấy lấy
tướng nên sinh các gút; các tướng dứt nên các gút dứt.
Học nhân hành nơi tướng và vô tướng, nên ngã tâm thỉnh
thoảng phát khởi; như thấy cây trụ nghi cho là người, nên
chỉ A-La-Hán độc-đắc vô-nghi, vì tâm thường hành trong
ngũ-ấm chẳng thấy thần ngã: sau do pháp-không nên chẳng
thấy sắc-tính cho đến thức-tính. Nên biết tất cả tướng
gọi là tận trí. Biết các tướng chẳng sinh gọi vô-sinh-trí.
Kẻ học-nhân dứt tướng hết rồi sinh lại. Kẻ vô-học
tướng hết rồi chẳng sinh nữa. Nếu năng khiến các tướng
diệt hết chẳng còn sinh lại. Bấy giờ gọi vô-sinh-trí.
Hỏi:
Học-nhân cũng biết có tận-trí vô-sinh-trí, như nghĩ: Tôi
hết ba gút chẳng còn sinh lại. Cớ sao chẳng nói mười phần
thành tựu?
Đáp:
Học nhân chẳng dứt tất cả tướng, nên chẳng nói có tận
trí vô-sinh-trí, như người khắp mình bị trói quấn, tuy được
mở một chỗ như chẳng gọi được thoát. Cũng có nghĩa nầy:
Xá-Lợi-Phất nói họ Cấp-Cô-Độc mười phần thành tựu.
Lại A-La-Hán được sức tự tại nên tự biết gút hết chẳng
còn sinh lại. Học nhân chẳng được như vậy. Lại A-La-Hán
khi được vô-học-đạo năng tự biết hết tất cả sinh,
gọi là tận trí. Kẻ thành-tựu phạm-hạnh là xả các học
hành. Kẻ việc làm đã làm xong là các việc đáng làm đều
đã làm xong; biết thân từ đây không còn nối nhau luôn nữa.
Nên biết duy A-La-Hán đối với tất cả việc sở-tác phải
được tự-tại thành-tựu tận-trí và vô-sinh-trí chứ chẳng
phải các kẻ học nhân, vì như người bị bệnh sốt tuy chẳng
thường phát khởi nhưng chẳng gọi là người lành mạnh.
Như trong kinh nói: “Lìa mừng tất cả chỗ; diệt lo tất
cả chỗ; chứng diệt tất cả pháp; thường tu tâm vô-lậu”.
Tha-tâm-trí như trong lục thông nói: ngũ-ấm hòa họp giả-danh
chúng sinh. Các tên trí trong đây gọi là danh-tự-trí, vô-lậu
trí, chân-thật-trí. Tương-tợ vô-lậu nầy được gọi là
trí, nên gọi danh-tự-trí.
Hỏi:
Có người nói tất cả chúng sinh thành-tựu các trí. Việc
ấy thế nào?
Đáp:
Nếu đệ-tử Phật năng biết các pháp do nhiều duyên sinh,
người ấy năng được, chứ đâu phải chúng sinh khác. Nhờ
được tên trí nên tất cả chúng sinh chỉ dùng tưởng mà
biết, nếu được trí nầy gọi là nội phàm phu.
PHẨM
BỐN MƯƠI BỐN TRÍ THỨ 201
Hỏi:
Trong kinh nói bốn mươi bốn trí là: Lão-tử-trí, lão, tử
tập-trí, lão tử diệt-trí, lão tử diệt đạo trí; sinh,
hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục-nhập, danh sắc, thức, hành
cũng như vậy. Vì sao nói như thế?
Đáp:
Nê-Hoàn là chân-pháp báu quí, nên dùng nhiều cửa để vào:
Có dùng cửa ngũ-ấm mà vào; hoặc quán giới, nhập, nhân-duyên
và các Đế. Những các cửa như vậy đều đến Nê-Hoàn được.
Tại sao biết được? Như trong kinh nói: “Vua ở trong thành,
có hai sứ-giả đến do mỗi người vào mỗi cửa. Đến rồi
yết-kiến nhà Vua và tâu bày sự thật; tâu xong lui đi kẻ
vào các cửa khác cũng vậy”. Trong ấy vua dụ cho hành-giả;
các cửa là quán ấm giới nhập thảy; hai sứ-giả là như
pháp CHỈ và QUÁN; kẻ tâu bày sự thật là thông đạt chân
không. Các sứ giả nầy tuy từ các cửa vào nhưng đều đến
một chỗ. Như vậy tuy quán ấm giới nhập thảy các môn phương
tiện nhưng đều vào Nê-Hoàn. Như La-Hầu-La nói: Khi ở riêng
chỗ vắng suy nghĩ pháp, biết pháp như vậy đều tùy thuận
quay về và ngợi khen Nê-Hoàn. Lại Phật nói trong tám pháp
rằng: Pháp nầy năng tắt lửa phiền não nên gọi là diệt;
năng khiến hành-giả tâm được yên ổn, nên gọi là yên
ổn; năng khiến hành-giả đến chánh biến tri nên gọi là
đến. Những nghĩa như vậy đều khen Nê-Hoàn. Lại phạm hạnh
là tám chính đạo. Trong tám chính đạo chính trí là cao hơn;
mà quả của chính trí là Nê-Hoàn. Lại Phật nói ra giáo pháp
đều vì Nê-Hoàn. Nên biết các cửa ngũ-ấm thảy đều đến
Nê-Hoàn.
Hỏi:
Có Luận-sư nói lão-tử trí là khổ trí. Việc ấy thế nào?
Đáp:
Chẳng phải vậy. Tại vì sao? Vì trong ấy chẳng nói khổ
hành, nên chẳng phải khổ trí.
Hỏi:
Vậy thì đấy là trí nào?
Đáp:
Đấy gọi là lão tử tính trí.
Hỏi:
Cũng nói biết lão tử tập, lão tử diệt, lão tử diệt đạo.
Nên biết là khổ trí?
Đáp:
Đấy là nhân-duyên nên chẳng phải chân đế môn. Vậy nên
trong ấy chẳng nên nói khổ hành, mà nên nói Tập thảy vì
thuận với nhau vậy.
Hỏi:
Trong ấy vì sao chẳng nói các trí vị, quá, xuất thảy?
Đáp:
Nghĩa ấy đều thu nhiếp chỉ kẻ kiết tập kinh lược bớt
nên chẳng nói.
PHẨM
BẢY MƯƠI BẢY TRÍ THỨ 202
Hỏi:
Trong kinh nói “bảy mươi bảy trí là sinh duyên lão tử, chẳng
rời sinh mà có lão tử; Trong hai đời quá-khứ vị-lai cũng
như vậy”. Đấy là pháp trụ-trí quán vô thường hữu-vi
tác-khởi do nhiều duyên sinh; tận-tướng, hoại-tướng, ly-tướng,
diệt-tướng cũng quán như thế. Cho đến vô-minh duyên hành
cũng như vậy. Vì sao trong ấy chẳng nói lão-tử-tính và diệt
đạo thảy?
Đáp:
Vì kẻ lợi trí nên nói như vậy. Chỉ mở cửa là có thể
biết, pháp khác cũng như vậy. Lại ngoại đạo phần nhiều
với trong pháp nhân-duyên nói lầm rằng muôn vật thế-gian
nhân thế-tính thảy, nên Phật đối với đây chỉ nói nhân-duyên.
Hỏi:
Đã nói sinh duyên lão tử, tại sao lại nói “chẳng rời”?
Đáp:
Là nói quyết định, vì trong các pháp có nhân bất định;
như bố-thí là nhân phước giàu, mà trì giới cũng được
phước, như nói trì-giới được sinh lên trời. Hoặc có kẻ
sinh nghĩ lão tử nhân-duyên sinh hoặc chẳng nhân-duyên sinh
nên phải nói quyết định.
Hỏi:
Tại sao trong đời khứ lai lại phải nói quyết định?
Đáp:
Hiện tại với quá-khứ có tướng khác nghĩa là chúng-sinh
đời quá-khứ thọ mạng vô-lượng thế-lực đồng các Chư-thiên.
Có những đều như vậy, sợ e người nghi rằng thọ-mạng
thảy khác với lão-tử, nên nhân-duyên cũng phải khác, nên
phải nói quyết định. Vị-lai cũng vậy. Sáu món nầy gọi
là pháp-trụ-trí, kỳ dư gọi Nê-Hoàn- trí. Năng khiến lão-tử
nối nhau luôn, nên gọi vô thường hữu-vi tác-khởi, do nhiều
duyên sinh. Tận-tướng, hoại-tướng tức là vô-thường hành;
ly-tướng tức là khổ-hành; diệt tướng tức là không vô-ngã
hành. Tại vì sao? Vì trong ấy sắc-tính diệt thọ-tưởng-hành-thức-tính
diệt tức là nghĩa ba món quán. Như trong kinh nói: “ Tỳ-kheo
có bảy chỗ phương tiện, ba quán nghĩa, chóng được hết
lậu”. Đấy đều là Nê-Hoàn trí. Như vậy thảy nhân-duyên
trí có trăm ngàn vô-lượng nghĩa là nhãn-trí thảy, như trong
kinh nói: “Mắt duyên nghiệp; nghiệp duyên ái; ái duyên vô-minh;
vô-minh duyên tà niệm; tà niệm duyên nhãn sắc, các lậu duyên
tà niệm các ăn duyên ái, ngũ-dục duyên ăn đoạn-thực thảy;
địa ngục đoản-mạng duyên sát-sinh thảy”. Nếu trước
khổ nay khổ đều duyên vọng-tưởng; vọng tưởng duyên thân
tâm tắng ái; tắng-ái duyên tham dục; tham dục duyên tà-tư-duy.
Cứ như vậy thảy các nhân-duyên trí vô-lượng vô-biên, tự
nên phải biết.
Thành
Thật luận hết quyển 20