HÒA
THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
(1905-1992)
Trích:
TIỂU SỬ DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX - TẬP I
Thích
Đồng Bổn Chủ biên
Thành
Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành
Phật
Lịch 2539 – 1995
Hòa
thượng pháp danh Trừng Nguyện, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời
thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần.
Ngài sinh vào ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ (16-2-1905) tại
làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Ngài
xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng
lại quy ngưỡng Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Văn Kỷ,
một vị lương y nổi tiếng, về sau ông xuất gia học Phật
với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn,
đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước
Điền, khai lập chùa Long An (Quảng Trị) và kế thế trụ
trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị
Cựu, mất sớm khi Ngài vừa lên 9 tuổi.
Năm
Ngài lên bảy, một hôm Tổ Tâm Tịnh về quê, đến nhà thăm,
thấy Ngài diện mạo khôi ngô bèn tỏ lòng ưu ái, huyền ký
cho Ngài con đường xuất thế. Nghe vậy cụ ông vui mừng khôn
xiết, đặc biệt lưu tâm đến việc học hành của Ngài,
liền mời thầy về nhà dạy riêng, để un đúc tương lai
cho Ngài với lòng ước mong được như lời Tổ dạy.
Năm
17 tuổi (1922 - Nhâm Tuất), sau mười năm đèn sách, Ngài đã
làu thông Nho học. Nhưng tư tưởng về nhơn sanh vũ trụ và
phương pháp lập thân xử thế của Lão, Nho đã không làm
thỏa mãn được lý tưởng của người thanh niên trí thức
ấy khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Phải chăng
còn có một chân lý, một lý tưởng cao siêu hơn các nguyên
lý Khổng Mạnh mà Ngài đã gặp? Cho đến khi được song thân
nhắc lại việc Tổ Tâm Tịnh đã huyền ký ngày xưa, Ngài
mới nghĩ đến con đường xuất gia học đạo.
Điều
này khiến cho chí xuất trần của Ngài trưởng thành. Năm
19 tuổi, ngày 19 tháng 6 năm Quý Hợi (1923) được sự chấp
thuận của phụ thân, Ngài vào chùa Tây Thiên đảnh lễ Tổ
sư Tâm Tịnh, xin được xuất gia tại đây.
Một
năm sau, cũng đúng vào ngày vía Quan Âm (ngày 19 tháng 6 năm
Giáp Tý - 1924), nhờ học hạnh kiêm toàn và chí nguyện xứng
đáng, Ngài được đặc cách cho thọ tam đàn Cụ Túc tại
Giới đàn chùa Từ Hiếu, do chính Bổn sư làm đàn đầu.
Thọ giới được hai năm thì Bổn sư viên tịch (1926), Ngài
bèn đến chùa Hồng Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa thượng
Giác Tiên.
Năm
1927, Ngài được 22 tuổi, trường Phật Học Thập Tháp tại
tỉnh Bình Định khai mở, do Tổ Phước Huệ - bậc danh Tăng
nổi tiếng làm Giáo thọ, Ngài cùng một số vị khác như
Hòa thượng Chánh Huy, Chánh Thống, Viên Quang vào đây tham
học.
Năm
1932, Hội An Nam Phật học ra đời, trường Trung học, Đại
học Phật giáo được mở tại Tây Thiên, Tổ Phước Huệ
được cung thỉnh từ Bình Định ra làm giáo thọ. Với tinh
thần hiếu học cầu tiến không ngừng, Ngài tiếp tục theo
học chương trình Đại học tại đây và được bầu làm
Thủ chúng cả hai trường. Ngài cũng làm Giáo thọ cho Phật
học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức - Huế.
Ngay
từ lúc còn ngồi ghế Đại học tại Tây Thiên, Ngài được
mời làm Giảng sư của Hội An Nam Phật Học. Năm 1936, tốt
nghiệp Đại học Phật giáo, với tuổi 32, Ngài được mời
làm Giáo sư cho Phật học đường Báo Quốc và Luật sư cho
Sơn môn Thừa Thiên, từ đó Ngài đã trở thành một hạt
nhân tích cực của phong trào chấn hưng Phật giáo, và là
giảng sư nòng cốt, tiền phong của Hội Việt Nam Phật Học.
Ngài đã đi giảng dạy khắp các tỉnh miền Trung, nhất là
tại Đà Nẵng và Quảng Nam.
Năm
1940 và 1942, Ngài hai lần sang thuyết giảng ở một số tỉnh
có đông Việt kiều tại Lào, đàm đạo với vua Sãi và tham
lễ tại một số nơi ở Vương quốc Phật giáo này.
Năm
1945, Ngài thay thế Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám giữ chức
Chánh Hội trưởng Hội An Nam Phật Học (Thừa Thiên). Cũng
trong năm này, Ngài nhận chức trụ trì Quốc Tự Linh Mụ -
một di tích lịch sử của cố đô Huế. Sang năm 1946, Ngài
làm Chủ tịch Phật giáo Liên hiệp Trung bộ.
Năm
1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật giáo
cả nước, chùa Linh Mụ cũng bị Pháp đánh phá và chiếm
đóng. Ngài bị Pháp bắt, tra tấn và sau cùng bắt tự đào
huyệt chôn mình và suýt bị bắn chết, may nhờ bà Từ Cung
(mẹ vua Bảo Đại) can thiệp mới được thả.
Năm
1948, Ngài làm cố vấn đạo hạnh hội Phật học Trung phần
và Tuyên luật sư Đại giới đàn Báo Quốc - Huế. Năm 1949,
Ngài thay cố Cư sĩ Chơn An Lê Văn Định giữ chức Chánh hội
trưởng Tổng Trị sự hội Phật học Trung phần.
Năm
1951, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Giới
đàn tại chùa Ấn Quang - Sài Gòn, sau đó được Sơn môn Tăng
già Trung phần mời làm Giám luật. Qua năm 1952, Giáo Hội Tăng
Già toàn quốc được thành lập tại Hà Nội, Ngài được
suy cử làm Giám luật.
Năm
1956, Ngài thành lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa văn tập. Năm
1958, Liên Hoa văn tập được chuyển thành Liên Hoa nguyệt
san cũng do chính Ngài làm chủ nhiệm.
Năm
1963, Ngài tham gia đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào
đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của
chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963,
Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành
lập, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.
Năm
1965, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê Đại giới
đàn Từ Hiếu tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.
Từ
năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài
lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.
- Tháng
1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và
Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn
Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
- Năm
1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc.
Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo
Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên
thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa
Bình.
- Năm
1975, miền Nam được giải phóng, Ngài trở về chùa cũ (Linh
Mụ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo
Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
- Năm
1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài
được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Từ
năm 1976 đến 1986, liên tục trong mười năm liền, Ngài giảng
dạy kinh luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo
Quốc và Linh Quang.
Năm
1977, Đại hội kỳ VII Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất tại Ấn Quang. Ngài được suy cử vào Hội đồng Trưởng
Lão của Giáo Hội và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng
Thống.
Năm
1979, đức Đệ nhị Tăng Thống - Hòa thượng Thích Giác Nhiên
- viên tịch, Đại hội kỳ VIII chưa tổ chức được, Hội
đồng Lưỡng Viện bèn cung thỉnh Ngài kiêm chức vụ Xử
lý Viện Tăng Thống.
Năm
1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam
tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, đã suy cử Ngài vào
Hội đồng Chứng minh với chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ
kiêm Giám luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm
1977, 1981 và 1983, ba lần Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu
Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Báo quốc và Trúc
Lâm - Huế.
Ở
tuổi ngoài bát tuần, sức khỏe của Ngài đã giảm sút rất
nhiều, thân ngũ uẩn như chiếc xe cũ, đèn dầu cạn, nhân
duyên hội họp đã mãn. Hóa duyên đã tròn, Hòa thượng an
nhiên thu thần hội nhập vào cảnh giới an lạc tịch tĩnh
vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình
Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An
cư kiết hạ...
Dù
Phật sự đa đoan và cuộc đời hành đạo gặp nhiều gian
truân, nghịch cảnh, Hòa thượng cũng đã để lại một số
tư liệu khiêm tốn nhưng rất có giá trị do chính Ngài dịch
giải, biên soạn như:
- Cách
thức sám hối các tội đã phạm.
-
Phương pháp tu quán.
-
Tứ nhiếp pháp.
-
Cảm ứng tự nhiên.
-
Đâu là con đường hạnh phúc.
-
Đồng mông chỉ quán.
-
Sinh mệnh vô tận hay là Thuyết luân hồi.
-
Luật Tứ Phần Tỳ kheo ni.
Ngoài
ra còn có một số bài đăng trên các báo Viên Âm, Liên Hoa.
Tài
Liệu 2
ĐỨC
ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
Chánh
Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN
(1905-1992)
Môn
đồ đệ tử cẩn lục
(Trích
báo Chân Nguyên, Hoa Kỳ)
I.Thân
thế :
Đức
Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống
GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu
Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ
cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn
chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác
Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
Thế
danh của Đức Đại Lão Hòa Thượng là Diệp Trương Thuần,
quê quán làng Xuân An, tổng An Đôn, phủ Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị (nay là thôn Xuân An, xã Triệu Thượng, quận Triệu
Phong). Ngài xuất thân trong một gia đình nề nếp nho giáo,
nhưng lại quy ngưỡng một cách thuần thành về Phật đạo.
Thân
phụ của ngài là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nổi
tiếng, về sau xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có
Pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn; đắc pháp với Tổ Tâm
Truyền, được Pháp hiệu là Phước Điền; khai lập chùa
Long An Quảng Trị, và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh
Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu mất sớm từ khi
ngài vừa lên 9 tuổi.
II.
Thuở ấu thời :
Đức
Đại Lão Hòa Thượng sinh ngày 13 tháng Giêng năm Ất T (16-02-1905).
Năm lên 7 tuổi, một hôm Tổ Tâm Tịnh về quê đến nhà thăm,
thấy diện mạo khôi ngô bèn tỏ lòng ưu ái, liền hỏi tên
tuổi ngày tháng năm sinh. Suy gẫm một lát, Tổ dạy rằng:
"Cháu Thuần diện mạo tuấn tú khác thường, lại thêm có
bốn tiên đạo. Nếu ngài ở đời thì sẽ làm quan cao chức
lớn, tỏ rõ thanh danh; nếu ngài xuất gia đầu Phật thì chắc
chắn trở thành người hữu dụng cho Phật pháp" - (Căn cứ
vào lời dạy này của Tổ Tâm Tịnh thì biết ngài sinh vào
giờ Toặc Hợi) - Nghe vậy, thân sinh của ngài vui mừng
khôn xiết, bèn đặc biệt lưu tâm đến việc học hành của
ngài, liền mời thầy về nhà dạy riêng để un đúc tư lương
cho ngài với ước mong được như lời Tổ dạy. Và cũng chính
từ đó, lòng ngưỡng mộ Tổ sư Tâm Tịnh đã phát xuất
ở ngài.
Năm
17 tuổi, sau 10 năm đèn sách ngài đã làu thông Nho học. Những
tư tưởng về nhơn sanh vũ trụ, phương pháp về lập thân
xử thế của Lão Nho không làm thỏa mãn lý tưởng của người
thanh niên trí thức khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời.
III.
Thời xuất gia học Đạo :
Chí
xuất trần đã đến hồi quyết định, ngày 19 tháng 6 năm
Quý Hợi (01-07-1923) được sự chấp nhận của phụ thân,
ngài vào chùa Tây Thiên đảnh lễ Tổ sư Tâm Tịnh xin được
xuất gia. Lúc bấy giờ ngài vừa tròn 19 tuổi.
Đúng
một năm sau, cũng chính vào ngày Vía Quan Âm Đại Sĩ (ngày
19 tháng 6 năm Giáp Tý 1924) nhờ học với hạnh đều khả
quan, chí nguyện đều xứng đáng, ngài được đặt cách cho
thọ tam đàn Cụ Túc tại giới đàn Từ Hiếu, do chính Bổn
sư của ngài làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
Thọ
giới được 2 năm thì Bổn sư viên tịch (1926), ngài bèn đến
chùa Hồng Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa Thượng Giác
Viên.
Năm
1927, trường Thập Tháp tại Bình Định khai mở do Tổ Phước
Huệ, bậc danh tăng nổi tiếng làm Giáo Thọ, ngài liền cùng
với một số vị khác như Hòa Thượng Chánh Huy, Chánh Thống,
Viên Quang... vào đây tham học.
Năm
1932, Hội An Nam Phật Học ra đời, mở trường Trung học,
Đại học Phật giáo tại Tây Thiên, cung thỉnh Tổ Phước
Huệ từ Bình Định ra làm Giáo Thọ. Với lòng hiếu học
không ngừng, ngài tiếp tục theo học chương trình Đại học
tại đây và được bầu làm thủ chúng cả hai trường. Cũng
trong năm này, ngài dạy bậc trung học tại Phật Học Đường
Tây Thiên. Sau đó làm Giáo Thọ cho Phật Học Đường Báo
Quốc và Ni Việ Diệu Đức, Huế.
Năm
1936, ngài tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo.
IV.
Sự nghiệp hoằng dương chánh Pháp :
1.-
Những trọng trách trong xã hội :
Ngay
từ lúc còn ngồi ghế Đại học tại Tây Thiên, ngài đã
được mời làm giảng sư của Hội Phật Học. Khi tốt nghiệp
Đại học Phật giáo, với tuổi 32, ngài đã trở thành một
trong những hạt nhân tích cực của phong trào Chấn Hưng Phật
Giáo. Là giảng sư nòng cốt, tiên phong của Hội Phật Học,
ngài đi giảng dạy khắp các tỉnh miền Trung nhất là tại
Quảng Nam, Đà Nẵng.
Năm
1940 và 1942, ngài đã hai lần sang thuyết giảng ở một số
tỉnh có đông Việt kiều tại Lào; đàm đạo với Vua Sải
và tham lễ tại một số nơi ở Vương quốc Phật giáo này.
Năm
1945, ngài thay thế cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giữ chức
Chánh Hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên. Cũng trong năm
này, ngài nhận chức trụ trì Quốc Tự Linh Mụ, một di tích
lịch sử đã bị đổ nát hoang tàn.
Năm
1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật giáo
danh tiếng trên cả nước bị đánh phá tiêu tàn, chùa Linh
Mụ cũng bị Pháp chiếm đóng, ngài bị Pháp bắt, tra tấn
và sau cùng bị bắt tự đào huyệt chôn mình, suýt bị bắn
chết thì nhờ bà Từ Cung can thiệp mới được thả.
Năm
1948, ngài làm Cố Vấn đạo hạnh Hội Phật Học Trung phần
và làm Tuyên Luật Sư Giới Đàn Báo Quốc, Huế.
Năm
1949, ngài thay thế cụ Chơn An Lê Văn Định giữ chức Chánh
Hội Trưởng Tổng Trị Sự Hội Phật Học.
Năm
1951, ngài làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại chùa Ấn Quang mà
trong giới đàn này, quý Hòa Thượng Nhật Liên, Thượng Tọa
Nhất Hạnh... là giới tử.
Năm
1952, ngài được suy cử làm Giám Luật Tăng Già toàn quốc.
Năm
1956, ngài thành lập và làm chủ nhiệm Liên Hoa Văn Tập.
Năm
1958, đổi tên Liên Hoa Văn Tập thành Liên Hoa Nguyệt San và
cũng chính ngài làm chủ nhiệm.
Năm
1963, ngài tham gia hàng ngũ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống
chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô
Đình Diệm. Đêm Pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963 ngài bị bắt
tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.Năm 1964, Đại
Hội Thống Nhất Phật Giáo tại Sài Gòn, ngài được bầu
làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.
Năm
1965, ngài làm Yết Ma Đại Giới Đàn Từ Hiếu, Huế.Năm 1966,
ngài hướng dẫn tăng ni tín đồ miền Trung tranh đấu cho
Pháp nạn lần thứ hai dưới chế độ Thiệu, Kỳ.
Năm
1968, ngài đứng lên vận động Chư Tôn Đức như Hòa Thượng
Thích Mật Hiển, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, và cố Hòa
Thượng Thích Mật Nguyên thành lập lớp chuyên khoa Phật Học
4 năm tại chùa Linh Quang, Huế, và chính ngài dạy Luật cho
lớp chuyên khoa này. Cũng trong năm này, ngài bị Cộng sản
bắt tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế vào lúc 01 giờ khuya ngày
20 tháng Giêng năm Mậu Thân (17-2-1968) trong khi ngài đang bị
bệnh xuất huyết dạ dày một cách trầm trọng.
Năm
1975, ngài trở về chùa cũ. Cũng trong năm ngày ngài được
cung thỉnh làm Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo.
Năm
1977, Đại Hội kỳ VII của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất tại Ấn Quang, ngài được suy cử chức vụ Chánh Thư
Ký Viện Tăng Thống.
Năm
1979, Đức Đệ Nhị Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Giác Nhiên,
chùa Thuyền Môn, Huế viên tịch. Đại Hội kỳ VIII chưa tổ
chức được để suy cử Đức Đệ Tam Tăng Thống, do đó
Hội Đồng Lưỡng Viện cung thỉnh ngài kiêm nhiệm luôn chức
vụ Xử Lý Viện Tăng Thống.
Năm
1977 và 1981 đến 1983, ngài 3 lần làm Đàn Đầu Hòa Thượng
các Đại Giới đàn tại chùa Báo Quốc và Trúc Lâm.
Năm
1978, ngài chính thức lên tiếng phản đối Cộng sản Hà Nội
trong việc bắt bớ giam cầm trái phép những nhà lãnh đạo
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài đã một
mực cương quyết đòi Cộng Sản phải trả tự do cho các
nhà lãnh đạo Phật giáo trong đó có có Hòa Thượng Thích
Thiện Minh, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích
Quảng Độ...
Đặc
biệt từ năm 1976 đến 1986, ngài không ngừng giảng dạy Kinh
Luật cho tăng ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và
Linh Quang.Ngài đã có công nuôi dạy, tác thành cho tất cả
Tăng Ni, Phật tử trong đó có các vị học thức cao, hữu
dụng cho Phật pháp và xã hội như thầy Thích Chí Chơn (Hoa
Kỳ), thầy Thích Trí Siêu tức Lê Mạnh Thát đang còn bị
giam giữ trong ngục tù Cộng sản.
2.-
Công trình dịch giải và biên soạn :
Dù
Phật sự đa đoan và cuộc đời hành Đạo bao giờ cũng gặp
nhiều gian truân nghịch cảnh, ngài cũng đã để lại một
số tư liệu khiêm tốn nhưng có giá trị do chính ngài dịch
và chú giải. Biên soạn như:
-
Cách Thức Sám Hối
-
Phương Pháp Tu Quán
-
Tứ Nhiếp Pháp
-
Cảm Ứng Tự Nhiên
-
Đâu Là Con Đường Hạnh Phúc
-
Đồng Mông Chỉ Quán
-
Sinh Mệnh Vô Tận hay là Thuyết Luân Hồi
-
Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Sao
Ngoài
ra còn một số tác phẩm đăng trên các báo Viên Âm, Liên
Hoa... và các văn bản quan trọng khác...
V.
Những năm tháng cuối cùng :
Năm
1986, tình hình chính trị xã hội trong nước bước qua một
giai đoạn mới. Bao nhiêu ưu tư, thao thức của ngài đối
với tiền đồ Đạo Pháp có cơ may được thực hiện. Nhưng
khổ nỗi, ngài tuổi già sức yếu, xã hội vẫn còn lắm
khó khăn, người cộng sự thì thưa vắng... Bao nhiêu ưu tư,
dằn vật đã đưa đến cho ngài cơn bệnh trầm trọng vào
mùa thu 1986 mà tưởng rằng ngài đã không qua khỏi. Nhưng
sau ba tháng chữa trị, sức khỏe dần dần bình phục nhưng
thể trạng của ngài vẫn yếu hẳn so với trước. Sau đó
ngài đi tham lễ tại một số Tổ Đình như Tây Thiên, Thuyền
Tôn, Báo Quốc... và ngài về thăm lại chùa Long An Quảng Trị
nơi ngài sinh trưởng, rồi trở về an dưỡng, tịnh tu cho
đến giờ phút cuối cùng.
Đặc
biệt, vào những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, ngài
vẫn chưa yên lòng nghỉ ngơi khi nhận thấy nhiều tổ chức
Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại chưa kết hợp thành một
khối để hỗ trợ và phát triển cho đạo pháp tại quê hương
đất nước trước sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản
khắp nơi trên thế giới. Vào ngày 10 tháng 9 năm 1991, ngài
đã gởi một bức Tâm Thư đến Tăng Ni đang tu học và hành
đạo tại hải ngoại, kêu gọi toàn thể chư Tăng Ni hãy đoàn
kết hòa hợp để thực hiện trọn vẹn sứ mệnh của bậc
Chúng Trung Tôn mà Phật pháp và lịch sử đang giao phó.
Vào
ngày 31 tháng 10 năm 1991, sau khi chư Tăng Ni tại hải ngoại
đã đáp ứng tinh thần Tâm Thư, ngài nhân danh Chánh Thư Ký
Xử Lý Viện Tăng Thống thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện
thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã gởi
đến toàn thể Tăng Ni và Phật tử đang tu học và hành Đạo
tại hải ngoại một bức Thông Điệp gồm có 04 điều khuyến
thỉnh vô cùng khẩn thiết cho một nền Phật Giáo Thống Nhất
tại hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ.
Chỉ
trong vòng một tháng pháp thể khiếm an, ngài đã an tường
thị tịch vào lúc 8 giờ tối ngày 23 tháng 4 năm Nhâm Thân
1992, tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế, Việt Nam. Lễ nhập kim quan
sẽ được cử hành vào lúc 03 giờ chiều ngày 24 tháng 4 năm
1992, và lễ rước kim quan nhập Bảo Tháp bắt đầu vào lúc
07 giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1992, nhằm ngày Mồng Một tháng
Tư năm Nhâm Thân.
VI.
Những tư liệu cần biết thêm :
Vào
năm 1966, ngài đã mạnh dạn tuyên bố tại chùa Diệu Đế:
"Chúng tôi sẽ tổ chức di dư cho toàn thể Tăng Tín Đồ Phật
Giáo đến bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và sẽ trở
về tổ quốc khi nào có được một chế độ đàng hoàng
hơn, trong sạch hơn".
Trong
Thông Điệp Phật Đản năm 1982, Phật lịch 2526, ngài đã
viết: "Có sống hòa hợp mới mong làm tròn nhiệm vụ của
người con Phật đối với đại sự mở bày tri kiến Phật
của Đức Từ Phụ mới mong làm nên những sự nghiệp ích
nước lợi dân. Điều này có nghĩa rằng: sống hòa hợp là
điều kiện tối yếu cho sự tiến tu, và sự tiến tu chỉ
có thể được thực hiện nếu có sống hòa hợp".
Trong
lời giới thiệu Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Sao, ngài đã cẩn
trọng nhắc nhở: "Những ai thường thao thức cho sự giải
thoát của chính mình và sự tồn tại mãi mãi của Đạo Phật
ở thế gian, thì việc cần yếu nhất là phải luôn luôn tôn
trọng và nghiêm trì tịnh giới. Bằng ngược lại, tức là
chính chúng ta đã làm cho Chánh pháp bị lu mờ và bản thân
chúng ta bị sa đọa chứ không phải do một thế lực nào
có thể đày đọa chúng ta hoặc bắt chúng ta phải bỏ đạo".
Ngài
đã cảm tác bốn câu kệ sau đây:
Hành
thâm Tỳ Ni tạng
Giới
thể tịnh trang nghiêm
Định
lực tồi ma đạo
Tuệ
quang chiếu giác viên
Cố
Hòa Thượng Thích Trí Thủ đã ca ngợi công đức của ngài
bằng hai câu đối:
Thánh
giả thôn châm, thiên nhơn củng thủ
Không
sanh thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu.
Thầy
Tuệ Sỹ dâng ngài hai câu đối để tán thán công đức của
ngài như sau:
Thiên
chu mê vụ, cử trạo kích kinh đào, thanh đoạn cửu thiên,
trường xướng vô sanh vô ngã.
Kiều
mộc tằng nham, phất vân khuy hạo nguyệt, ảnh phù không dã,
thùy tri tứcvọng tức chơn.
Nam
Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế, Việt Nam Phật
Giáo Thống Nhất Giáo Hội Xử Lý Tăng Thống Viện Kiêm Trùng
Hưng Linh Mụ Quốc Tự, Húy Thượng Trừng hạ Nguyên hiệu
Đôn Hậu Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng thùy từ chứng giám.
Môn
đồ đệ tử cẩn lục