TỰA
Trong
Thiền Luận quyển Hạ này tôi cố gắng ghi dấu mối liên
hệ giữa Thiền và hai bản kinh cốt yếu của Đại Thừa,
kinh Hoa nghiêm (Ganda vyùha) và kinh Bát nhã (Prajnàparamita), và
kế đó là sự chuyển mình phải có đối với Phật giáo
Ấn Độ khi thích ứng với tâm hồn người Trung Hoa, Trung
Hoa là một dân tộc thực tiễn khác hẳn với Ấn, một dân
tộc phú bẩm rất cao về khả năng trừu tượng cũng như
kho tàng tưởng tượng bất tận. Dĩ nhiên các học thuyết
của Đại thừa phải chuyển mình để thích ứng với Trung
Hoa, nghĩa là kinh Bát nhã và kinh Hoa nghiêm phải chuyển thành
những đối thoại của Thiền tông.
Về
những cống hiến của Thiền đối với văn hóa Nhật Bản
đã viết trong một tập sách riêng biệt[1]. Gạt đạo Phật
ra, và gạt cả Thiền tông sau thời đại Kiếm thương, lịch
sử văn hóa Nhật Bản không có nghĩa gì hết, vì đạo Phật
đã vào sâu trong mạch sống của dân tộc này. Ý định của
tôi ở đây chỉ có tính cách lược khảo. Phần nói về “Sinh
hoạt Thiền trong các Họa phẩm” cũng là một gợi ý;
tường thuật đầy đủ và có hệ thống hơn, dành cho một
dịp khác.
Một
ít những sự kiện mới, cần được nhắc đến chung quanh
chủ đề được trình bày trong bộ Thiền luận này, vốn
đã đăng tải trên báo. (a) Thủ bản Đôn hoàng về Thần
Hội ngữ lục ghi ở tr. 21 c.ch. và tr. 37 c.ch. đã được sao
chép lại, còn việc ấn hành dưới một ấn bản được hiệu
đính trọn vẹn sẽ cho ra mắt ngày gần đây. (b) Bác sĩ Keiki
Yabuki đã xuất bản một quyển sách với những giải thích
cặn kẽ về Thủ bản Đôn hoàng tuyển tập trong Echoes of
Desert của ông. Bác sĩ cung cấp cho chúng ta rất nhiều tài
liệu hữu ích đối với các Thủ bản ấy. (c) Tất cả những
trang tham khảo về kinh Hoa nghiêm hoặc theo Thủ bản Idzumi
hoặc theo Thủ bản R.A.S. (d) Thủ bản Đôn hoàng về Đàn
kinh của Huệ Năng (t.15 c.ch.) sẽ được ấn hành để lưu
hành rộng rãi, kèm theo bản của Koshoji (Hưng Thánh Tự). Đây
là bản trùng khắc cổ của Nhật, vào thế kỷ XV hoặc XVI,
nguyên bản Hán có lẽ được in khoảng thế kỷ X hoặc XI.
Có lẽ bản “khá xưa”xét theo bài thơ cho ấn bản lưu hành
của Đàn kinh. Vai trò lịch sử của nó khỏi phải nói.
Theo
thông lệ, tác giả nhờ Beatrice Lane Suzuki, người bạn đường,
đọc lại các Thủ bản, sửa lỗi ấn loát, và nhờ bà Ruth
Fuller Everett, ở Chicago, cũng đã hoan hỉ sửa các lỗi ấn
loát.
Ở
đây không quên nhắc nhở sự khích lệ lớn lao của Yakichi
Ataka, bạn của tác giả, vì ông luôn luôn sẳn sàng đáp ứng
ngay tất cá những điều cần thiết của tác giả để cho
các giáo pháp của đạo Phật Thiền tông được phổ biến
thích hợp trong những giới hạn của giải thích văn nghĩa.
DAISETZ
TEITARO SUZUKI
LUẬN
MỘT
TỪ THIỀN
ĐẾN HOA NGHIÊM
1
KHỞI
THỦY, Thiền đã không thắt chặt với Hoa nghiêm (Gandavyuha-sùtra)
như Lăng già (Lankãvatãra) hoặc Kim cương (Vajracchedikà). Bồ
Đề Đạt Ma trao truyền Lăng già cho người đệ tử Trung
Hoa tâm tủy của ngài là Huệ Khả, coi như kinh này chứa đựng
một nền giáo pháp quan hệ mật thiết với Thiền và sau Huệ
Khả kinh đã là tâm túy học tập của các môn đệ Thiền.
Họ biết đến kinh Kim cương vào thời Hoằng Nhẫn và Huệ
Năng, khoảng một năm rưỡi năm sau Bồ Đề Đạt Ma. Nhưng
Thần Hội, vốn là một trong những đệ tử chân truyền của
Huệ Năng, đi xa hơn nữa, khi tuyên bố rằng chính vị cha
đẻ của Thiền đã trao tay Kim cương cho Huệ Khả[2]. Dù quan
điểm này không đúng theo lịch sử, chúng ta có thể chấp
nhận hoàn toàn rằng kinh Kim cương đã thành ảnh hưởng lớn
lao trên việc học Thiền vào thời bấy giờ, khoảng cuối
thế kỷ VII. Mối liên hệ giữa kinh Hoa nghiêm và Thiền chưa
bắt đầu, cho tới thời Trừng Quán (738-839), Tứ tổ Hoa nghiêm
tông của Phật giáo Trung Hoa, học Thiền với Vô Danh, một
đệ tử của Thần Hội. Trừng Quán là một triết gia lớn
và đã cố công kết nạp Thiền vào hệ thống của riêng
mình. Sau sư, có Khuê Phong Tông Mật (780-842), cũng từng học
thiền và cho ra một bản đại sớ về kinh Viên giác mà sư
giải thích theo triết lý của tông phái mình. Sư cũng viết
một tác phẩm về các đường lối lãnh hội Thiền khác nhau;
không may, sách đã bị thất lạc, chỉ trừ phần tựa. Đại
ý là nêu những điểm cốt yếu của Thiền và tách biệt
chúng khỏi những ngộ nhận không chỉ đã từng xảy ra đối
với bản thân của Thiền mà còn đối với sự quan hệ của
nó trong nền triết lý của đạo Phật. Như thế, do Tông Mật,
thiền mới có liên lạc với những kinh điển khác ngoài Lăng
già và Kim cương, và nhất là Hoa nghiêm.
Trong
khi các luận sư của Hoa nghiêm tông vận dụng những lối
trực chỉ của Thiền theo cách riêng của họ, các Thiền sư
được lôi cuốn đến nền triết học Viên Dung Vô Ngại[3]
do Hoa nghiêm chủ xướng, và họ cố gắng kết nạp nó vào
trong những bài giảng của mình. Chẳng hạn, Thạch Đầu (699-790)
trong Tham đồng khế, miêu tả tính cách tương giao của
Sáng và Tối như là hạn chế lẫn nhau và đồng thời hòa
hợp nhau. Động Sơn (806-859), trong một đoản văn chỉnh cú
gọi là Bảo kinh tam muội ca, giảng giải về tính cách tương
giao của thiên (lệch) và chính (ngay), phần lớn có công dụng
như của Thạch Đầu, vì cả Thạch Đầu và Động Sơn đều
thuộc về phái Hành Tư (tịch 740) được gọi là phái Thiền
Tào động[4]. Ý tưởng này, về Tương giao và Nhất thể,
chắc chắn phát xuất từ triết lý Hoa nghiêm do Pháp Tạng
thiết lập rất khéo léo. Bởi vì Thạch Đầu và Động Sơn
đều là Thiền sư, nên lối trình bày của họ hoàn toàn không
giống như của một nhà huyền học. Có lẽ “Bốn liệu giản”
[5] của Lâm Tế đáng được lần về hệ thống Pháp Tạng
(tịch 712).
Ảnh
hưởng của Hoa nghiêm tông nơi các Thiền sư càng lúc càng
tăng gia theo với thời gian, và đạt đến cao độ của nó
ở thế kỷ X kể từ Tông Mật, tổ thứ năm của Hoa nghiêm
tông Trung Hoa. Chính Pháp Nhãn Văn Ích (885-958) người sáng
lập ngành Thiền Pháp nhãn, đã kết nạp triết lý Hoa nghiêm
vào trong pháp môn Thiền học của mình. Mặc dầu sư không
phải là người trong Hoa nghiêm tông, nhưng đã hẳn là có
ấn tượng sâu đậm về các tác phẩm của Đỗ Thuận (chết
640) và Pháp Tạng (chết 712), và những triết gia Hoa nghiêm
khác; vì sự thực hiển nhiên là sư đã dạy các môn đệ
mình nghiên cứu các sáng tác của họ coi như một trợ duyên
để thành tựu Thiền. Sư cũng viết một bản bình giải về
Tham đồng khế của Thạch đầu mà, như tôi đã nói ở trên,
vốn căn cứ trên siêu hình học của Hoa nghiêm.
Trào
lưu này, trào lưu hổn hợp Thiền với triết học của Hoa
nghiêm kinh (Avatamsaka) hay của Pháp hoa kinh (Saddharma - pundarika)
lên đến tột đỉnh khi Vĩnh Minh Diện Thọ (904- 975) viết
trường thiên Tông sách lục, gồm một trăm quyển. Trong tác
phẩm này, sư có ý hòa tan tất cả những dị biệt của tư
tưởng Phật học vào học thuyết Duy Tâm – “Tâm” theo
nghĩa là một thực tại cứu cánh tự giác sát, chứ không
phải là sở cứ của tâm thức thường nghiệm chúng ta. Đừng
nên nhầm lẫn học thuyết Duy Tâm này với nền triết học
Duy Thức (Vijnaptimàra) của phái Du già (Yogàcàra), vì Diên
Thọ theo dòng tư tưởng xuyên qua Lăng già (Lankàvatàra), Hoa
nghiêm (Avatamsaka) và Khởi tín luận (Sraddhotpàda), vân vân.
2
Nói
cho chí lý, Thiền có lãnh vực riêng, nơi đó nó thi hành theo
sự thuận tiện nhất của nó. Ngay khi vi hành ngoài lãnh vực
này, nó đánh mất sắc thái bản hữu của mình và đến mức
nào đó thì mất luôn cả bản tính. Khi có ý định tự xiển
dương bằng một hệ thống triết lý, nó hết còn là Thiền
thuần phác và đơn giản; và xen lẫn vào những cái không
liên hệ thiết tha. Dù có giải thích hợp lý, Thiền cũng
bị giả trang. Vì lý do đó, các bậc thầy của nó đã cố
thủ để khỏi bị chen chân với bất cứ tông phái siêu hình
nào, dù Phật hay Lão hay Khổng. Ngay cả khi Bồ Đề Đạt
Ma trao tay Lăng già cho Huệ Khả, mà Huệ Khả và các môn đồ
của ngài đã không chịu viết gì hết về kinh này trong bản
chất của một luận giải. Mặc dù Huệ Năng hình như đã
phô diễn kinh Kim cương theo sở đắc, các miêu duệ của ngài
lại hoàn toàn quên lãng nó, và những pháp thoại hay những
ngữ lục của họ diễn tiến trong một chiều hướng khác
hẳn. Dĩ nhiên, họ thường nhắc nhở đến tất cả các kinh
luận, tự do dẫn chứng các đoạn văn trong ấy, nhưng họ
luôn luôn cẩn thận để khỏi bị vướng mắc vào văn tự,
khỏi bị sơn phết với những ý tưởng siêu hình làm căn
bản cho nhưng sáng tác này.
Các
Thiền sư đã dẫn chứng kinh Hoa nghiêm (Avatamsaka) ngay cả
trước Đỗ Thuận, bởi vì, theo Lăng già sư tư ký, Huệ Khả
nhắc nhở rất nhiều về kinh này hậu thuẫn cho sở kiến,
theo đó, cái Một luân lưu toàn vẹn trong thế giới đa thù;
còn Đạo Tín, đồng thời với Đỗ Thuận, cũng dẫn chứng
một đoạn trong kinh này nói rằng một hạt bụi bao trùm trong
nó vô số thế giới. Là những Thiền sư, họ không có ý
hệ thống hóa những trực giác về Thiền của mình; họ bằng
lòng dẫn chứng những đoạn văn nào đồng điệu với những
ý tưởng của mình. Vì vậy, những dẫn chứng của họ không
giới hạn vào kinh Hoa nghiêm; họ tìm thấy đâu những câu
dùng được thì dùng liền; chẳng hạn, từ kinh Pháp hoa (Saddharma-pundarika),
Duy ma cật (Vimalakìrti), kinh Kim cương (Vajracchedikà), Lăng già
(Lankàvatàra), Bát nhã (Prajnàparamità), Pháp cú (Dharmapada),
vân vân. Nhưng trong trường hợp Hoa nghiêm, sự trích dẫn
có tính cách cục bộ và chuyên biệt hơn nhiều, nó được
đặt trong toàn thể tư tưởng cốt yếu của kinh này. Từ
chỗ đó hình như các Thiền sư ngay từ đầu đã coi đây
là một kinh văn hậu thuẫn những chứng nghiệm của họ ngang
tầm Lăng già và Kim cương. Nhưng vì lập trường của họ
là nặng về tâm mà nhẹ hẳn về văn tự, nên họ không tiến
xa đến chỗ thiết định một nền triết lý truyền theo Hoa
nghiêm. Luôn luôn họ cố thủ trên nhưng sự thật chứ không
ở trên những ý tưởng. Bởi vì họ nói, dẫn kinh Hoa nghiêm,
rằng:
“Như
một người nghèo ngày đêm nghĩ đến những kho tàng không
thuộc về mình, trong lúc y không có lấy một quan tiền làm
của. Học nhiều thì cũng vậy. Lại nữa, nhất thời các
người có thể đọc sách, nhưng hãy cẩn thận để sang một
bên ngay khi có thể. Nếu các người không rời bỏ sách, sẽ
trở thành thói quen chỉ luyện tập văn tự. Cái đó y như
tìm băng giá bằng cách hâm nóng dòng nước chảy, hay như
tìm tuyết bằng cách đun sôi nước nóng. Vì vậy, có lúc
chư Phật nói rằng (đạo lý tối thượng) khả quyết, có
lúc nói rằng là bất khả quyết. Sự thật, thì không có
ai khả quyết, hay bất khả quyết nơi Pháp tánh, vốn là cảnh
giới của các pháp hiện tiền. Khi một cái này mà nắm được
trọn vẹn, thì muôn nghìn cái khác cũng theo luôn. Cũng vậy
kinh Pháp hoa nói rằng (Thực tại) chẳng phải thực hay phi
thực, chẳng phải Như hay không Như”.[6]
3
Kinh
điển, nhất là kinh điển Đại thừa, là những phát lộ
trực tiếp của các kinh nghiệm tâm linh; chúng chứa đựng
những trực giác đạt được do đào sâu vào hố thẳm Vô
thức; và không có ý định trình bày những trực giác này
qua trung gian của trí năng. Nếu chúng không có vẻ hoàn toàn
duy lý hay thuyết minh hợp lý, đây chỉ là ngẫu nhiên. Hết
thảy kinh điển cốt cho ra những trực giác sâu xa của Phật
trí như đã từng bộc lộ cho các môn đệ Đại thừa ở
Ấn trong thời sơ khai. Vì vậy, khi kinh nói hết thảy các
pháp là Không, vô sinh, siêu việt nhân quả, lời nói ấy không
phải hậu quả của lý luận siêu hình; nó là một kinh nghiệm
Phật trí sâu xa nhất. Chính vì thế mà rất nhiều học giả
và triết gia của đạo Phật, tích cực để lãnh hội hay
quảng diễn những trực giác này theo các luật tắc của luận
lý, đã thất bại trong nhưng nỗ lực của họ; có thể nói,
chúng là cái ngoài lề, trong kinh nghiệm Phật tính, và do đó,
chúng phải chịu lệch lạc.
Những
trực giác của kinh điển và của Thiền sư cũng như nhau cả,
nếu tất cả còn tính cách Phật. Dù có khác nhau trong lối
phô diễn, đấy là do tâm lý của các thiên tài Hoa Ấn. Nếu
Thiền vẫn là một hình thức đạo Phật Ấn du nhập Trung
Hoa, những kinh nghiệm của nó tự căn bản thảy đều là
của đạo Phật như nhau. Nhưng tính cách dị biệt tâm lý
của dân tộc được thấy rõ, một khi những kinh nghiệm ấy
bắt đầu có vị trí trong mối đồng điệu với nhưng điều
kiện mới mẻ chi phối chúng để hầu phát triển. Quá trình
phân hóa này có thể thấy rõ trong những bài pháp của các
Thiền sư, khi họ, một lần nữa, được tách khỏi ảnh hưởng
trực tiếp của vị thầy đầu tiên từ Ấn Độ. Khi Thiền
thắt chặt với tâm tính Trung Hoa, những diễn đạt của nó
trở thành Trung Hoa một cách đặc trưng, và rồi có người
bắt đầu nghi ngờ tính cách đồng nhất cốt yếu của chúng
với nguyên khởi. Lúc mà sự phân hóa đã tiến xa đến độ
chừng như nó phản đối chính nó, các sư tổ gấp rút bù
đắp chỗ tổn thương và tái hợp nó với cội nguồn của
chính nó. Đây quả thực là ý nghĩa của trào lưu khởi sắc
ở thế kỷ XVIII và XIX, với Tông Mật hay Pháp Nhãn chẳng
hạn.
Xin
đề cử những điển hình về sự biến chuyển lần hồi
diễn ra trong lối diễn đạt của trực giác thiền suốt năm
trăm năm sau khi Bồ đề đạt ma dẫn Thiền vào Trung Quốc;
ngài là một nhà sư từ Ấn đến, có lẽ mất vào khoảng
528 sau T.L. Dưới đây là những trang dẫn chứng từ các bài
pháp của các Thiền sư thuộc nhiều chi phái khác nhau phát
khởi trong suốt thời gian này. Trong những bài pháp ấy, chúng
ta lưu ý sự biến thiên từ khuôn mẫu thuyết giảng của
kinh đến khuôn mẫu của Thiền tông Trung Hoa.
4
Chúng
ta hãy bắt đầu với Bồ đề đạt ma, cha đẻ của nền
Thiền Trung Quốc, viết về Vô tâm [7]
“Lý
rốt ráo vốn không lời, nhưng mượn lời để diễn Lý. Đạo
cả vốn không hình, nhưng để tiếp xúc với phàm ngu mà hiển
hiện thành hình. Bây giờ, giả sử có hai người đang bàn
bạc về Vô Tâm. Đồ đệ hỏi thầy:
“Đ.
(Lý rốt ráo) là hữu tâm hay vô tâm?
“T.
Vô tâm
“Đ.
Nếu là Vô tâm, ai đang thấy, nghe, nghĩ biết?[8] Cái người
nhận biết rằng vô tâm ấy là ai?
“T.
Chính do Vô tâm mà có thấy, nghe, nghĩ, biết; chính do Vô tâm
mà biết là Vô tâm.
“Đ.
Làm sao Vô tâm lại có thể thấy, nghe, nghĩ, biết? Lẽ ra
Vô tâm không thể làm được hết thảy việc này.
“T.
Dù rằng thuộc Vô tâm nhưng vẫn có thể thấy, nghe, nghĩ,
biết.
“Đ.
Nếu có thể thấy, nghe, nghĩ, biết thì không thể thuộc Vô
tâm, mà phải là một loại hữu tâm.
“T.
Thấy, nghe, nghĩ, biết, hết thảy chính là những hoạt dụng
của Vô tâm. Ngoài thấy, nghe, nghĩ, biết, không có Vô tâm.
Ta e rằng con không lĩnh hội điều đó, nên ta sẽ tìm cách
giảng giải vấn đề từng bước một để dẫn con hội diện
với chân lý. Thí dụ, khi đang thấy, tất nhiên có cái đang
thấy, như thế là vì có cái không thấy; cái đang thấy như
thế chính là Vô tâm. Khi đang nghe, tất nhiên có cái đang
nghe, như thế là vì có cái không nghe; nghe chính là của Vô
tâm. Khi đang nhớ nghĩ, tất nhiên có cái đang nghĩ, như thế
là vì có cái không nhớ nghĩ; nhớ nghĩ chính là của Vô tâm.
Khi đang biết, tất nhiên có cái đang biết, như thế là vì
có cái không biết; đang biết chính là của Vô tâm. Khi đang
làm, tất nhiên có cái đang làm, như thế là vì có cái không
làm; đang làm chính là của Vô tâm. Vì vậy, ta nói rằng thấy,
nghe, nghĩ, biết, hết thảy đều là Vô tâm?
“Đ.
Làm sao biết rằng của ấy là của Vô tâm?
“T.
Con cứ xét kỹ vấn đề thêm, rồi nói cho ta rõ Tâm có hình
tướng khả nghi nào không. Nếu có, như thế sẽ không phải
là Tâm chân thật. Phải nhìn nó có ở trong, ở ngoài hay ở
giữa. Tâm không ở đâu trong ba chỗ ấy. Cũng không phải
được trực nhận như là có ở những nơi khác nào đó. Vì
vậy, gọi là Vô tâm.
“Đ.
Bạch Thầy, nếu chính Vô tâm ở khắp mọi nơi, vậy lẽ
ra không có thiện ác. Tại sao mọi loài trôi lăn trong sáu
nẻo và mãi mãi trong vòng sống chết?
“T.
Đây là do chúng sinh điên đảo trong tâm ôm ấp ý tưởng
huyền hoặc về một thực tại (cá biệt) nơi Vô tâm, và,
khi tạo tác mọi hành vi, chấp trước mê lầm quan niệm cho
rằng quả thực có một cái tâm hữu tâm. Vì lý do đó, chúng
trôi lăn trong sáu nẻo và mãi mãi trong vòng sống chết.
“Như
một người khi thấy một cái bàn tay hay một đoạn giày trong
bóng tối mà tưởng là hồn ma hay con rắn, rồi sợ hãi. Cũng
vậy, chúng sinh chấp trước mê hoặc những tạo tác của
chúng. Ở chỗ Vô tâm, lầm tưởng là thực tại của một
tâm hữu tâm. Có bấy nhiêu hành vi tạo tác như thế, quả
thật có trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Vậy nên phải khuyên
dạy những chúng sinh như thế hãy đến kiếm một người
bạn tốt, (có đạo nhãn) rộng lớn và hãy tu tập Thiền
định, nhờ đó sẽ chứng ngộ được Vô tâm. Khi tu tập
như vầy, hết thảy nghiệp chướng của chúng tiêu trừ và
chuỗi dây sinh tử bị triệt đoạn. Như ánh mặt trời một
khi soi thấu vào chỗ tối tăm xô đuổi tất cả những gì
tối tăm, hết thảy tội lỗi của chúng đều bị diệt trừ
khi chúng chứng được Vô tâm.
"Đ.
Vì là ngu muội, tâm con chưa hoàn toàn tỏ rõ đối với công
năng của Lục tình đáp ứng (sự kích thích) ở mọi nơi
ra sao.[9]
“T.
Lắm nhiều mưu chước được tiếp diễn bằng lời.
“Đ.
Tham dục và Giác ngộ, Sinh tử và Niết bàn, phải chăng chúng
cũng là của Vô tâm?
“T.
Quả vậy, chúng thuộc Vô tâm. Chính vì chúng sinh chấp trước
sai lầm ý tưởng về một tâm hữu tâm nên có đủ tất cả
những Tham dục và Sinh tử, Giác ngộ và Niết bàn. Nếu tỏ
ngộ Vô tâm, không có Tham dục, không có Sinh tử, không có
Niết bàn. Bởi vậy, vì những người ôm giữ ý tưởng về
một cái tâm hữu tâm, nên Như lai nói về Sinh tử; Giác ngộ
đối đối với Tham dục, và Niết bàn đối đãi với Sinh
tử. Tất cả những danh tự đó đều là pháp nhân duyên.
Khi chứng đạt Vô tâm, không còn có Tham dục hay Giác ngộ,
Sinh tử hay Niết bàn.
“Đ.
Nếu không có Giác ngộ, không có Niết bàn, vậy nói sao về
sự giác ngộ mà chư Phật trong quá khứ đã chứng đắc?
“T.
Cái đó chỉ nói theo văn cú ước lệ. Đối với chân lý
tuyệt đối, chẳng có cái gì như vậy. Do đó, kinh Duy ma cật
(Vimalakìrti) nói rằng trong thân không có giác ngộ để mà
chứng, trong tâm không có giác ngộ để mà chứng. Lại nữa
kinh Kim cương nói rằng không có pháp cần phải chứng đắc,
sự chứng đắc của hết thảy chư Phật là không chứng đắc.
Do đó, nên biết rằng tất cả các pháp khởi lên khi thấy
có hữu tâm, các pháp diệt mất khi chứng được Vô tâm.
“Đ.
Bạch Thầy, thầy nói rằng Vô tâm biến hành mọi nơi. Vậy
ra, gỗ đá đều thuộc Vô tâm, phải chăng (hết thảy chúng
sinh) đều như gỗ đá?
“T.
Nhưng Vô tâm được chứng ngộ trong tâm thức ta không phải
là của gỗ đá. Tại sao? Nó như cỗ trống trời, đang im
lìm bỗng chốc tự nhiên trỗi lên nhiều thứ âm thanh vi diệu
để giáo huấn hết thảy các loài. Lại cũng như hạt như
ý bảo châu (mai), tự nhiên đột khởi vô số hình sắc. Cũng
vậy, Vô tâm tạo tác ngang qua tâm thức của ta, khiến cho
nó thấu hiểu chân tính của thực tại; nó có cả trí tuệ
siêu việt chân thật, nó là chủ của Ba Thân, nó có công
năng tự tại. Như kinh Bảo Tích (Ratnakùta) có nói rằng tâm
tạo tác do Vô tâm mà không hay biết. Vậy sao lại có thể
như gỗ đá? Vô tâm là chân tâm, Chân tâm là Vô tâm.
“Đ
Vậy phải tự tu tập như thế nào với tâm (tương đối)
của chúng ta đây?
“T.
Chỉ cần tỏ ngộ Vô tâm trong tất cả các pháp, trong tất
cả các hành vi. Đây là con đường tụ tập, không có con
đường nào khác, như thế biết rằng khi ngộ Vô tâm thì
các pháp không còn nhiễu loạn chúng ta nữa.
“Khi
nghe điều này, đồ đệ tức thì chứng ngộ và nhận ra rằng
không có vật ở ngoài tâm, không có tâm ở ngoài vật, đạt
được tự do viên mãn trong tất cả cử chỉ và hành vi của
mình; hết thảy màng lưới nghi ngờ bị xé thành mảnh vụn
và không thấy còn có chướng ngại nào nữa”.
Đạo
Tín (tịch 651) thường được coi là Tứ tổ của Phật giáo
Thiền tông Trung Hoa, nói bài pháp sau đây về: “Xả bỏ Sắc
thân”:[10]
“Phương
pháp xả bỏ sắc thân trước hết do tư duy về tánh không,
nhờ đó mà tâm thức trở thành không. Hãy để cho tâm cùng
với thế giới của nó nghỉ yên nơi trạng thái hoàn toàn
trầm lặng; hãy buộc tư tưởng trong các nhiệm mầu của
tịch tĩnh, để cho tâm không còn dong ruỗi từ vật này đến
vật khác. Khi tâm được bình lặng trong chỗ sâu xa nhất
của nó, những triền phược của nó bị cắt đứt hết.
Sâu thẳm thay! Mịt mù thay! Trong thanh tịnh tuyệt đối của
nó, Tâm chính là Không. Nó tựa hồ dửng dưng thay! Nhưng cái
chết không còn có hơi thở. Nó an trụ trong chỗ thanh tịnh
rốt ráo của Pháp thân và không còn lệ thuộc vào một đời
sống tương lai nữa. Khi tâm thức bị khuấy động và mê
hoặc khởi lên trong nó thì không thể trốn khỏi khổ đau
phải chịu đựng một đời sống khác. Vì vậy, trước hết
hãy tự mình tu tập để chứng đắc trạng thái hoàn toàn
tịnh tĩnh trong tâm mình, và cả trong thế giới của nó. Đây
là con đường tu tập cần phải thực hiện.
“Thế
nhưng, trong sự tu tập này, quả thực không có gì để coi
là một thành tựu quyết định, và sự không thành tựu này
là cái được thành tựu bởi sự tu tập đó; bởi vì thực
tại đạt được do vô-tác, và vô tác chính là chân lý. Do
đó, kinh nói: “Không, Vô tác, vô nguyện, vô tướng, ấy
là giải thoát chân thật!”. Vì lý do đó, thực tại là vô
tác.
“Con
đường xả bỏ sắc thân là phải có một cái thấy sâu xa
soi vào bản chất giả tạm của nó khi tâm cùng với thế
giới của nó, trở thành trong suốt và những công năng của
nó bừng sáng.
“Thêm
nữa, nói như Trang Tử “Trời đất là một ngón tay, muôn
vật là một con ngựa (Nhưng điều đó không đúng); kinh Pháp
cú nói. “Đừng nghĩ cái một là một. Vì để diệt trừ
ý tưởng về đa thù nên cái một gọi là một, nhưng cái
đó chỉ cốt nói cho tâm hồn bịnh hoạn”. Vì lẽ đó, chúng
ta có thể nói rằng, Trang Tử không vượt ra ngoài cái Một
nổi.
“Lão
Tử nói: Hốt hê? hoảng hề? Kỳ trung hữu tượng. “Sâu
thẳm thay! Mịt mù thay! Trong đó có tượng!”. Với Lão Tử,
ngoại sắc bị trừ khử nhưng nội tâm vẫn còn ôm ấp. Kinh
Hoa nghiêm nói: “Đừng chấp vào hai tướng, vì một cũng
không, hai cũng không?”. Kinh Duy ma cật nói: “Tâm không ở
trong, không ở ngoài, không ở giữa - đó là chứng ngộ. Vì
lý do đó, chúng ta biết rằng Lão Tử vẫn còn đứng với
ý tưởng về một tâm tượng”.
Nơi
khác, Đạo Tín giảng giải ý nghĩa của tịch tĩnh và tánh
không như sau:
“Hãy
nhìn lại sắc thân của mình xem nó là cái gì. Nó là không,
bất thực như một bóng mờ. Nó được cảm nghiệm (như là
có thật), nhưng không có gì ở đó để mà nắm giữ. Trí
Bát nhã khởi lên ngay giữa những vật ủ bóng này, nơi nó
định cư, không có căn cứ rốt ráo. Tự mình mãi mãi bất
động, nhưng nó bước vào những mối tương quan không ngớt
chịu những thay hình đổi dạng.
“Từ
giữa lòng tánh không trỗi dậy lục tình và lục tình cũng
thuộc về tánh không trong khi sáu trần cảnh được cảm thọ
như một giấc mộng hay một huyễn tượng. Như con mắt khi
cảm thọ những đối tượng của nó, nhưng đối tượng này
không ở ngay trong nó. Như tấm gương soi mặt, mặt được
tiếp nhận toàn diện nơi đó rất tỏ rõ; những phản ảnh
ở đây hoàn toàn trống không, nhưng tấm gương tự nó không
giữ lại chút vật nào được phản chiếu nơi đó. Mặt người
không đi vào bộ phận của tấm gương, tấm gương cũng không
ra khỏi mình để đi vào mặt người. Nếu nhận ra mặt gương
và mặt người liên hệ nhau như thế nào, và nhận ra rằng
ngay từ đầu, không có đi vào, không có đi ra, không có đi
qua, không có đi đến trong mối liên hệ nhau, thì hiểu được
ý nghĩa của Chân như và Tánh không”[11]
5
Ta
có thể thấy ngay rằng Bồ Đề Đạt Ma và Đạo Tín cùng
nói về một chủ đề từ những góc cạnh khác nhau của hiểu
biết. Cái Vô tâm của Bồ Đề Đạt Ma là “Không”, “
Tịch tịnh “Hoảng hốt”, v.v... của Đạo Tín. Một người
dùng những từ ngữ tâm lý học, còn một người thì hướng
tới triết học Bát nhã. Trong khi bài giảng của Bồ Đề
Đạt Ma về Vô tâm có thể được coi như còn phù hợp với
lề lối tư tưởng Ấn Độ, thì Đạo Tín ít nhiều pha màu
tư tưởng Đạo giáo. Tuy nhiên, không có gì riêng biệt của
Thiền hiển lộ ở họ. Chính ở Huệ Năng và các môn đệ
của ngài, Thiền mới bắt đầu rõ rệt là Trung Hoa, cả trong
diễn đạt cũng như giải thích.
Ý
thức của Thiền, đặc sắc là sự đốn ngộ của Vô niệm,
trỗi dậy trong tâm trí của Huệ Năng. Nếu Bồ Đề Đạt
Ma đã dùng chữ Vô tâm để chỉ cho Vô thức, thì Huệ Năng
đã thay thế tâm bằng niệm. Niệm thông thường có nghĩa
là “nhớ nghĩ ”, “tưởng nhớ”, “suy về quá khứ”
vân vân, và được dùng tương đương với Smriti của Phạn
ngữ. Do đó, khi nó được sử dụng liên hệ với vô như
vô niệm, thì đây là asmriti, có nghĩa là “mất hết ý nghĩa”
hay “quên lãng” và trong các bản Phạn văn nó được dùng
theo nghĩa này. Tuy nhiên, việc dùng chữ Vô niệm theo nghĩa
“Vô thức” và hàm súc một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, theo
xét đoán của tôi, bắt đầu với Huệ Năng. Vô niệm ở
đây không chỉ là quên lãng không nhớ lại một việc làm;
nó không chỉ là một từ ngữ tâm lý học. Khi Huệ Năng lấy
vô niệm làm sự kiện căn bản nhất của sinh hoạt Thiền,
nó phù hợp với ba môn giải thoát: Không (Sùnyatà), vô tướng
(animitta) và vô tác (apranihita); vì đối với các môn đệ
Thiền, chứng vô niệm tức là chứng giải thoát. Và tự bản
chất, đây là từ ngữ Trung Hoa.
Một
ý tưởng đặc sắc khác ở Huệ Năng là Đốn giáo, trực
nhận về thực tại. Theo ngài , nét đặc sắc của chính Thiền
là đốn, vì đây là bản chất của chính tuệ giác Bát nhã.
Tiệm giáo của chính tuệ giác Bát nhã. Tiệm giáo do đối
thủ của ngài, Thần Tú chủ trương, không thể ứng dụng
cho trực giác diễn ra trong tư duy của Thiền. Bát nhã hoạt
dụng theo trực giác hiện tiền, và cái mà nó tiếp nhận
được tiếp nhận tức khắc, không có diễn trình của tư
duy, giải kết hay liên tục. Như Huệ Năng nói: trong giáo lý
của ta không có phân biệt Định và Tuệ; Định là thể của
Tuệ và Tuệ là dụng của Định. Khi các người có Tuệ ở
trong Định, chúng không phải là một, không phải là hai”.
Bằng cách lặn sâu vào hố thẳm của thực tại như thế,
Huệ Năng dạy các môn đệ của ngài hãy nhìn ánh sáng hiện
tiền của Tuệ giác Bát nhã chớp ngang qua lớp vỏ cứng của
ý thức thường nghiệm. Chỉ lặn chìm vào hố sâu ấy không
phải là chủ đích của pháp môn Thiền, nếu Định không
cùng đích trực giác hiện tiền, Vô niệm, trong nó không có
Thiền (Zen). Bây giờ, chúng ta hãy coi Huệ Năng nói gì về
Vô niệm:[12]
“Thiện
tri thức; giáo pháp của ta từ trước đến nay, dù Đốn hay
Tiệm, lập Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể và Vô trụ
làm gốc. Vô tướng là gì? Là đối với tướng mà lìa tướng.
Vô niệm là đối với niệm mà không niệm. Vô trụ là bản
tánh của người. Niệm niệm không dừng nghỉ. Niệm trước
rồi niệm sau, niệm niệm tiếp nối không có đoạn tuyệt.
Nếu một niệm đoạn tuyệt thì pháp thân lìa khỏi sắc thân.
Niệm niệm trong mọi thời không dừng nghỉ trên một pháp.
Nếu một niệm dừng nghỉ thì niệm niệm liền dừng nghỉ,
đây gọi là hệ phược. Nơi hết thảy các pháp, niệm niệm
không dừng nghỉ, tức là không hệ phược. Vì vậy, lấy
vô trụ làm gốc (của đời sống chúng ta).
"Thiện
tri thức; bên ngoài lìa hết thảy tướng, gọi là vô tướng.
Nếu lìa được tướng, tánh và thể (của vô niệm) vốn
là thanh tịnh. Do đó lấy vô tướng làm thể.
“Nơi
tất cả ngoại cảnh mà không bị nhiễm - đó gọi là một
với vô niệm, nghĩa là, lìa khỏi các cảnh dù chúng
hiện tiền trong niệm, bởi vì niệm không sinh ra trong những
niệm đối cảnh. Khi tất cả những tư tưởng (tản mác)
như vậy bị trừ khử, thì tất cả những nhiễm ô bị quét
sạch khỏi niệm. Khi một niệm này được hoàn toàn lau sạch,
sẽ không còn có sự thọ sinh nữa, kẻ học đạo hãy dụng
tâm đừng sao lãng vấn đề này. Khi không nắm vững ý nghĩa
này, không chỉ tự mình nhầm lẫn mà còn khiến kẻ khác
mê lầm theo và lại còn huỷ báng kinh pháp. Do đó mà lập
vô niệm làm tông.
“Khi
người ta chỉ lệ thuộc vào danh tự, họ cố tạo ra niệm
về trần cảnh, và những tư tưởng ấy đưa đến tà kiến.
Hết thảy trần lao vọng niệm từ đó sinh ra .Vì vậy giáo
pháp này lập vô niệm làm tông. Mọi người hãy nên loại
trừ những thiên kiến của mình đừng để làm nảy sinh những
tư tưởng hệ lụy. Nếu không có niệm, thì cái vô niệm
không lập.
“Nói
là vô, vậy thì vô cái gì? Niệm là Niệm vật gì? Vô là
lìa khỏi hai tướng, các trần lao. Niệm khởi lên từ Chân
Như; Chân Như là thể của Niệm, và niệm là dụng của Chân
Như. Niệm, cố khởi lên từ Chân Như, tuy tức thấy nghe,
nhớ hiểu, mà Chân Như không nhiễm vạn cảnh, thường thường
tự tại. Vậy nên kinh Duy ma nói:
“Bên
ngoài khéo hay phân biệt các pháp tướng mà nguyên lý cứu
cánh nội tại vẫn không lay động”.
Vô
niệm, theo Huệ Năng, là cái tên không những chỉ cho thực
tại cứu cánh, mà còn chỉ cho trạng thái ý thức trong đó
cái cứu cánh tự hiện tiền. Bao lâu ý thức cá biệt của
chúng ta còn bị ly khai thực tại ở đằng sau nó, những nỗ
lực của nó vẫn là ngã mạn một cách hữu ý hay vô ý, và
hậu quả là một cảm giác cô liêu và đau khổ. Phải làm
sao có ý thức liên lạc với vô thức, nếu nó không là vô
thức; còn nếu là vô thức, sự liên lạc phải được thể
hiện, và sự thể hiện này được gọi là vô niệm.
Những
Hán ngữ hay Phạn ngữ một khi được dịch thẳng thường
bị hiểu lầm to tát. Vô niệm là một; vì vô niệm mà được
hiểu là trạng thái “không tư tưởng” chắc chắn sẽ là
một tâm trạng quá nhàm tởm đối với mục đích của Thiền
học, hay với mục đích của bất cứ thực tập tâm linh nào.
Chúng ta hãy nghe Huệ Năng thêm; ngài tiếp tục giảng giải
ý nghĩa Vô niệm:
“Thiện
tri thức, một lần ngộ là biết ngay Phật là gì. Một khi
ánh sáng của Trí tuệ soi thấu vào tự tánh tâm địa, thì
trong ngoài thảy đều sáng tỏ; mọi vật trở thành trong suốt,
và biết được bản tâm của mình. Biết bản tâm tức là
giải thoát. Chứng giải thoát tức là chứng Bát nhã tam muội
(Prajna- samadhi). Ngộ Bát nhã tam muội tức là Vô niệm.
“Vô
niệm là gì? Là thấy tất cả các pháp mà không chấp trước
pháp nào; hiện diện khắp nơi mà không trước nơi nào; tự
tính thường tịnh; khiến cho sáu tên giặc chạy ra khỏi sáu
cửa mà vào trong sáu trần, nhưng không lìa, không nhiễm; đi
và đến tự do. Đấy là chứng Bát nhã Tam muội, tự tại,
giải thoát, gọi là hạnh Vô niệm. Nếu không có tư tưởng
khởi lên trên bất cứ vật gì, đây là sự đoạn tuyệt
của niệm, và như thế là ở trong sự ràng buộc của Pháp,
tức là biên kiến.
“Ai
ngộ pháp Vô niệm thì thấu suốt hết thảy vạn pháp. Ai
ngộ pháp Vô niệm thì thấy được cảnh giới của Chư Phật.
Ai ngộ đốn pháp Vô niệm là đi đến chỗ quả vị của
Phật”.
Giáo
pháp Vô niệm cùng với Đốn ngộ đã là đề tài lôi cuốn
nhất trong thời đại Huệ Năng và các môn đệ của ngài.
“Đốn ngộ” là Hán dịch của chữ Prajna, và “Vô niệm”
là cách diễn tả sự chứng ngộ về tánh không (Sùnyata) và
Vô sinh (anutpàda) của người Trung Hoa. Trong một chiều hướng
nào đó, thuyết Vô vi của Lão Tử có thể được coi
là đang sống trong cái Vô niệm của Huệ Năng. Tất nhiên,
nền triết lý của đạo Phật có Vô sinh (anutpàda), Vô nguyện
(apranihità), vô tác (anabhisamkara), vô công dụng (anàbhogà),
v.v....và vô niệm có thể được coi là xuất xứ từ những
khái niệm đó[13]. Tuy nhiên, điều chắc chắn rằng Đạo
giáo có góp công trong việc thiết lập Phật giáo Thiền tông
mà chúng ta quả quyết là sự kiến thiết của thiên tài Trung
Hoa.
6
Thần
Hội[14] là một trong những đệ tử lớn của Huệ Năng, và
chính môn phái ngài nảy nở ngay sau khi thầy mất, vì ngài
mạnh dạn đề khởi tiêu chuẩn của “đốn môn” đối
nghịch “tiệm môn” của Thần Tú, đối thủ của Huệ Năng.
Những trang dưới đây trích từ ngữ lục của Thần Hội.[15]
“Trương
Viễn Công[16] hỏi : Đại sư thường nói về pháp vô niệm,
khuyên mọi người hãy tu tập theo đó. Vây vô niệm ấy là
hữu hay vô?
“Đ.
- Vô niệm không phải là hữu, không phải là vô.
“H.
- Tại sao không phải hữu hay vô?
“D.
- Khi nói là hữu, đây không nói theo nghĩa thế gian thường
tình. Khi nói là vô, cũng không theo nghĩa thế gian thường
nói. Vì vậy không thể nói vô niệm là hữu hay vô.
“H.
- Vậy đại sư gọi nó là vật gì?
“Đ.
- Không thể nói là “vật” gì.
“H.
- Nếu vậy, phải nói là gì?
“Đ.
- Chẳng thể chỉ là gì hết. Vì vậy nói là vô niệm. Nó
vượt ngoài sự miêu tả. Cái cớ nó được nói đến ở
đây hoàn toàn là vì có những câu hỏi đặt ra cho nó. Nếu
không nêu lên câu hỏi nào cả, thì sẽ không có nói năng
gì về nó. Chẳng khác như tấm gương sáng khi không có vật
gì trước nó thì không có ảnh tượng trong nó. Nay những
ảnh tượng có thể thấy nơi nó là bởi cớ rằng nó đứng
trước vật. Vì vậy mà có các ảnh tượng.
“H.
- Nếu gương không có vật trước nó, vậy nó có chiếu sáng
hay không?
“Đ.
- Ta vừa nói về những vật chiếu sáng của nó, nhưng dù
có đứng trước vật hay không, luôn luôn nó vẫn chiếu sáng.
“H.
- Nếu nó không có hình tượng, không thể diễn tả bất cứ
theo nghĩa nào, vì nó vượt hẳn ngoài hữu và vô, nhưng nếu
nó có chiếu sáng, thì chiếu cái gì?
“Đ.
- Khi nói gương có chiếu sáng, là vì tự tính của nó có
tính sáng ấy. Khi Tâm của chúng sanh trong sáng, thì bản tính
sáng đầy của trí tuệ sẽ chiếu sáng khắp cả thế gian.
“H.
- Nếu đúng vậy, bao giờ có thể có?
“Đ.
- Chỉ khi nào nhìn thấy cái vô.
“H.
- Phải chăng vô không phải là vật để thấy?
“Đ.
- Dù có hành vi thấy, cái được thấy không thể nói là “vật”
gì
“H.
- Nếu không thể nói là “vật gì”, vậy cái thấy là gì?
“Đ.
- Thấy chỗ không có “vật gì”; đấy là cái thấy chân
thật, cái thấy “vĩnh cửu”.
Thần
Hội tiếp tục thêm một đoạn nữa:
“H.
- Vô niệm nghĩa là gì?
“Đ.-
Không niệm hữu và vô, không niệm thiện và ác, không niệm
cùng và vô cùng, không niệm cân lường, không niệm Bồ đề
(giác) không hệ niệm nơi Bồ đề, không niệm Niết bàn,
không hệ niệm nơi Niết bàn. Đây là chứng đạt vô niệm.
“Vô
niệm ấy không khác Bát nhã Ba la mật, và Bát nhã Ba la mật
không khác với Nhất hành tam muội (Ekavyuha- Samadhi). Các thiện
tri thức; nếu có kẻ trong hàng hữu học ôm giữ một niệm
trong tâm, niệm ấy có thể dẫn tới chỗ tỏ ngộ nhưng khi
cả đến một niệm như thế không còn khuấy động trong tâm,
tỏ ngộ cũng sẽ không còn nữa, và đấy chính là vô niệm.
Trong vô niệm không có cảnh trí. Nếu có, không tùy thuận
với vô niệm...Ai quán vô niệm, kẻ ấy lau sạch những ô
nhiễm của lục tình. Ai quán vô niệm, kẻ ấy đang hướng
đến Phật trí. Ai quán vô niệm, kẻ ấy ở trong con đường
giữa, trong chính chân lý cứu cánh. Ai quán vô niệm kẻ ấy
tức thì tăng trưởng phước đức nhiều như cát sông Hằng.
Ai quán vô niệm, kẻ ấy có thể thấy vạn vật. Ai quán vô
niệm, kẻ ấy ôm trọn vạn vật trong lòng mình...
“Nếu
có người chứng ngộ rốt ráo, người ấy bất động và
kiên cố như kim cương, và vì người ấy đã quán thấy vô
niệm, nên dù ở giữa rừng gươm oán tặc đe dọa phanh thây
vẫn hoàn toàn ngồi yên lặng. Ngay cả khi Hằng hà sa số
chư Phật hiện đến chào đón, tâm y cũng không gợn lên một
niệm hoan lạc. Bởi vì bậc tinh tấn dũng mãnh này đã đạt
đến không tánh (Sùnyatà) và tâm-bình-đẳng tánh (Samacittatà)”.
Đại
Vương Szu tao (?) muốn biết pháp môn vô niệm dành cho thánh
nhân hay phàm phu. Rõ ràng ông nghi ngờ giá trị của pháp môn
siêu thoát như vây đối với phàm phu. Đại sư Thần Hội
đáp: “Pháp môn vô niệm thuộc hàng thánh nhân, nhưng nếu
phàm phu tự tu tập theo đó, họ không còn là phàm phu
nữa”.
Từ
ngữ vô niệm không chỉ dành cho bản thân của thực tại
cứu cánh, ở đó tâm thức cá biệt tìm thấy căn cơ tối
hậu của nó, mà còn dành cho công dụng của thực tại trong
tâm chúng ta. Chính nhờ công dụng này mà ý thức tâm lý thường
nghiệm của chúng ta có thể lặn sâu vào hố thẳm uyên áo
của thực tại. Và công dụng này không tách rời thực tại,
cái Vô niệm. Ý thức được gọi như thế vốn có thể được
coi như là lãnh vực hoạt dụng của Vô thức (Vô niệm). Nhưng
nếu chúng ta dứt mình ra khỏi cội nguồn ấy, tưởng rằng
ý thức của mình là một thực tại độc lập và cứu cánh,
chúng ta lạc lối và không biết đi hay đứng nơi nào; kết
quả là một trạng thái vô cùng ngưng trệ của tâm linh. Dù
vậy, Đại Vương Szu-tao muốn biết vô và niệm có nghĩa là
gì.
“Đ.
- “Vô” có nghĩa là vô nhị tướng. “Niệm” tức là niệm
Chân như.
“H.
- Giữa người niệm và Chân Như có sự khác biệt nào ?
“Đ.
- Không khác biệt giữa hai bên.
“H.
- Nếu không có sự khác biệt, tại sao có niệm về Chân Như
ấy?
“D.
-“Niệm” là dụng của Chân Như, và Chân Như là thể của
niệm. Vì vậy, vô niệm chính là đạo lý (của pháp môn thiền).
Khi chứng đạt (vô niệm) với tất cả sự thấy, nghe, nghĩ,
biết của nó, vẫn mãi mãi là tịch tĩnh không hư.
7
Với
Đại châu Huệ Hải[17], vô niệm vẫn tiếp tục là một trong
những đề tài thảo luận lôi cuốn nhất. Dù không có gì
đặc sắc nơi quan niệm của ngài, ta cũng nên trích một đoạn
dưới đây, rút ra từ tác phẩm của ngài nhan đề Đốn ngộ
nhập đạo yếu môn luận[18]. Huệ Hải phân biệt tà niệm
với chính niệm và nói rằng trong vô niệm có chính niệm
chứ không có tà niệm.
“H.
- Chánh niệm là gì?
“Đ.
- Chánh niệm là niệm Bồ-đề, giác ngộ.
“H.
- Bồ đề có thể chứng đắc?
“Đ.
- Không thể chứng đắc.
“H.
- Nếu không thể chứng đắc, làm sao có thể niệm?
“Đ.
- Bồ đề chỉ là giả danh, và không có (thực tại cá biệt
tương ứng làm đối tượng) chứng đạt. Trong quá khứ chưa
từng có ai chứng đạt, trong vị lai không hề có người chứng
đạt; vì nó là cái vượt ngoài tính cách chứng đạt. Như
thế không có gì để niệm, ngoại trừ chính Vô niệm. Đây
gọi là niệm chân chính.
“Bồ
đề không có nghĩa là có một tư tưởng gì về một vật
nào đó (nghĩa là, không bận tâm đến cái chi hết): Không
bận tâm đến cái chi hết tức là vô tâm trong mọi trường
hợp... Khi đã hiểu như vậy, chúng ta đạt được Vô niệm,
và khi đã chứng đạt vô niệm, tức là đã giải thoát”.
Trong
đoạn này, rõ ràng Huệ Hải đồng nhất vô tâm với vô niệm,
và vì cả hai là một, có thể dịch là “vô thức” hay “không
bận tâm” tùy theo trường hợp. Bồ đề đạt ma dùng chữ
Vô tâm. Huệ Năng và Thần Hội dùng chữ Vô niệm. Huệ Hải,
ở đây coi cả hai đồng nghĩa, căn cứ theo đó giải thích
Bồ đề và giải thoát. Dù sao, mục đích tối hậu của Thiền,
nói một cách bình thường hơn, cốt yếu ở chỗ không chấp
trước, bởi vì tất cả mọi cái nằm trong thế giới sai
biệt này đều có thể miêu tả bằng cách này hay cách khác
nhưng không cách nào rốt ráo. Thực tại rốt ráo vượt lên
hết thảy mọi phạm trù, và do đó, vượt ngoài khả năng
tư duy và sở đắc, hóa cho nên, không thể diễn tả, ngoại
trừ gọi nó là “vô tâm” với hai ý nghĩa, như là hình
dung và danh tự. Dưới đây là một thí dụ, nói lên đường
lối mà Huệ Hải vận dụng để khai thị cho môn đồ và
nhưng người hỏi đạo về thuyết lý “Vô tâm” hay “vô
vi” của ngài.
“Sư
thường nói với các đệ tử: “Ta chẳng hiểu Thiền, và
cũng chẳng có giáo thuyết đặc sắc gì dành cho các người.
Vì vậy các người khỏi cần phải đứng đây lâu lắc. Hay
nhất là các người hãy tự mình thanh toán vấn đề”. Nhưng
các môn đồ càng ngày càng đến sư đông hơn, hỏi han sư
suốt cả ngày đêm. Sư chẳng có cách nào hơn là phải trả
lời hết câu này đến câu khác. Một cuộc biện luận khá
lạ lùng như sau:
“Một
hôm, có một bọn thầy tu học rộng gọi sư, bảo: Chúng tôi
muốn hỏi ngài một câu; ngài có thật tâm khơi sáng cho chúng
tôi chăng?
Sư:
Trăng lồng đáy nước, quý vị cứ tự tiện mà vớt lên.
Bọn
học rộng: “Phật là ai?”
Sư:
Nhìn thẳng vào đây xem. Nếu chẳng là Phật, thì ai vào đấy?
Bọn
học rộng không hiểu làm gì sư nữa.
Sau
một đỗi, họ lại hỏi: Ngài giáo hóa quần chúng bằng pháp
gì?
- Tôi
chẳng có pháp gì để giáo hóa quần chúng.”
Hết
thảy các Thiền sư đều theo kiểu đó.
“Bấy
giờ sư mới hỏi: Này quý thức giả, quý vị dạy thứ gì
để giáo hóa quần chúng?
- Chúng
tôi giảng kinh Kim cương.
- Quý
vị giảng đã bao nhiêu lần?
- Trên
hai chục lần.
- Ai
thuyết kinh này?
Một
thầy tăng bác học cất tiếng: “Này thầy, tôi mong thầy
không đùa đấy chứ. Thầy biết rõ là chính Phật thuyết
mà”.
Sư:
“Kinh nói, nếu bảo rằng Phật có thuyết pháp, ấy là hủy
báng ngài; và không hiểu pháp của ngài. Nếu bảo kinh này
không do Phật thuyết, ấy là hủy báng kinh. Thưa các thức
giả xin khơi sáng cho tôi chỗ này”.
Các
nhà bác học không đáp.
Một
lát sau, sư lại hỏi: “Kinh nói: Nhược dĩ sắc kiến ngã,
dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến
Như lai. Thưa chư Đại đức, xin cho biết ai là Như lai?”
- Chỗ
này, chúng tôi thấy lờ mờ.
- Trong
khi chẳng có cái gì đáng gọi là “tỏ ngộ”, tại sao quý
vị bảo là lờ mờ?
- Mong
ngài giảng cho chúng tôi cái này.
“Chư
Đại đức, quý vị nói là đã giảng kinh này trên hai chục
lần, nhưng quý vị không hiểu Như Lai sao?
Thầy
tăng bác học làm lễ một lần nữa, va khẩn cầu sư chỉ
giáo.
Sư:
“Như lai là các pháp Như thực (tathàta). Sao các ngài lại
quên?
- Vâng,
tôi biết rằng Như lai là các pháp Như Thực.
- Nhưng
thưa chư Đại đức, cái “vàng” của các ngài chưa nhất
thiết là rốt ráo.
- Tại
sao không thể là rốt ráo?. Kinh công bố trọn vẹn sự gì?
- Các
ngài có phải là pháp Như Thực không?
- Thưa
phải.
- Gỗ,
đá có phải là pháp Như Thực không?
- Thưa
phải.
- Như
Thực của các ngài cũng đồng với Như Thực của gỗ, đá
chăng?[19]
- Thưa,
không khác.
- Nếu
vậy, các ngài và gỗ, đá khác nhau chỗ nào?
Thầy
tăng bác học không trả lời được, và phải công nhận là
không thắng nổi sư. Sau một lúc, ông lại hỏi :
- Làm
thế nào chứng Đại Niết bàn ?
- Không
có hành nghiệp sinh tử luân hồi.
- Hành
nghiệp sinh tử luân hồi là gì?
- Mong
cầu Đại Niết bàn, dứt trừ ô nhiểm, thành tựu vô nhiễm,
cho rằng có sở đắc và sở chứng, không thoát khỏi biên
chấp, đấy là hành nghiệp sinh tử luân hồi.
- Làm
sao để được giải thoát ?
- Không
triền phược ngay từ đầu, thì mong cầu giải thoát làm chi?
Làm theo ý muốn, đi theo sở thích, không tạp niệm nào, đây
là con đường tối thắng.
- Sư
quả là một nhân vật kỳ lạ.
Nói
như vậy xong, họ làm lễ và rút lui.
8
Bởi
vì đây không cốt đề cập đến lịch sử nào đó của tư
tưởng Thiền tông trong triều đại nhà Đường (A.D 618-922),
tôi sẽ không dẫn chứng nhiều Thiền sư khác, ngoại trừ
một Triệu Châu Tòng Thẩm (778-897), một Lâm Tế (chết 867)
và một vài vị nữa. Vì lẽ, những vị này sẽ tự chứng
tỏ chỗ thiên hướng của giáo pháp Thiền, và cuối cùng
các Thiền sư đã nỗ lực như thế nào để phối hợp với
cách ngữ của Ấn và con đường tư tưởng trong các kinh luận.
Sau
đây là một đoạn trong bài pháp của Triệu Châu Tòng Thẩm:
“Đừng
để Phật đồng vào lò, đừng để Phật gỗ vào lửa, đừng
để Phật đất vào nước. Phật thứ thiệt ngồi ở bên
trong. Bồ đề và Niết bàn, Chân như và Phật tánh, tất cả
là chiếc áo ngoài buộc siết thân thể. Chúng cũng được
coi như là phiền não (klesa). Một khi không có vấn đề phải
hỏi, không có phiền não.
Trong
giới hạn của thực tại, trong căn cơ của chân lý tuyệt
đối, không có gì cả để cho các ngài bám vào. Một khi,
không có tạp niệm bên trong các ngài, thì không có lỗi lầm
sai quấy nào hết.
Muốn
đạt đến chỗ sâu thẳm của thực tại, chỉ yên lặng ngồi
xuống, cứ gì mà hai hay ba chục năm, nếu mà các ngài không
thấu hiểu nổi, cứ cắt cái đầu của lão tôi đi. Tất
cả như hoa đốm giữa trời, đuổi bắt chúng thật là một
việc làm vô tích sự. Khi các ngài có thể giữ cho tâm niệm
không buông lung, muôn pháp đều thành nhất như. Không có vật
gì từ ngoài đến, tại sao phải bận rộn? Ích gì mà quanh
quẩn, như dê thọc mũi bất cứ vật cũ nào, rồi bỏ vào
miệng? Khi ta ở với Thạch Đầu, mỗí khi có ai hỏi, ngài
thường nói: “Câm mồm lại, đừng sủa như chó!” Ta theo
gương đó, và nói: “Câm mồm lại, đừng sủa như chó!”.
Hễ thấy ngã là có phiền não; không chấp, là thanh tịnh.
Các ngài như một con chó săn, chỉ muốn có cái gì bỏ vào
mõm. Vậy đến bao giờ mới hiểu Phật pháp? Một nghìn, cho
đến hàng chục nghìn người, tất cả đang muốn làm Phật.
Thực tình, không ai đáng gọi là một người đứng đắn.
Nếu các ngài muốn là đệ tử của Không Vương, hãy lưu
tâm căn bệnh bất trị trong tâm. Ngay trước khi có thế gian,
Tánh này đã có; khi thế gian này không còn nữa, Tánh vẫn
bất diệt. Hễ khi ta tham vấn lão già này, Ta là ta chứ không
ai khác. Ta là chủ của ta. Các ngươi khỏi cần tìm kiếm
người đó ở thế giới bên ngoài. Khi người đó ở ngay
đây đừng bỏ lỡ cơ hội, vì quanh quẩn sai lạc thẩm vấn
y”.
Ngữ
lục của Triệu Châu phần lớn gồm nhưng “vấn đáp” chứ
không có nhiều bài pháp. Nếu có, thì rất ngắn và nói thẳng.
*
Một
hôm, sư đăng đàn thuyết pháp, sau một đỗi, vẫn im lặng.
Cuối cùng, sư nói: “Tất cả có ở đây hay không”
- Bẩm,
tất cả ở đây.
- Ta
vẫn không nói pháp cho đến khi có một kẻ khác đến
- Tôi
sẽ nói cho ngài hay khi nào không có ai đến; một thầy tăng
nói
- Thật
khó mà biết người đó, sư nói.
Một
lần khác, sư bảo chúng tăng: “Một niệm khởi, vạn pháp
cùng khởi; niệm không khởi, vạn pháp biến mất. Thế thì
các ông nói cái gì?”
Một
thầy tăng thắc mắc: “Nếu tâm không khởi, cũng không diệt
thì sao nhỉ?”.
Sư
bảo “Tôi đồng ý thầy câu hỏi này”[20]
Có
lần, sư bảo: “Khi các ngươi nói, mọi thứ sáng trưng, nhưng
không hoàn toàn thế, lối đi vẫn tối như lúc hoàng hôn.Các
người ở đâu?”.
Một
thầy tăng nói: "Tôi không ở bên này, tôi không ở bên kia”
“Vậy
là ông ở giữa”.
“Ở
giữa là ở cả hai bên”.
“Dường
như ông đã ở lại với tôi một lúc, bởi vì ông đã học
nói một câu như vậy. Nhưng ông chưa vượt ngoài câu ba. Dù
ông nói vượt, tôi quyết rằng ông chưa; ông nói sao?
‘Tôi
biết dùng câu ba”.
Sư
nói: “Tại sao ông không bảo trước?”.
Một
lần khác, Triệu Châu nói: “Đường lớn ngay trước mắt,
nhưng khó thấy”.
Một
thầy tăng hỏi: “Nó có hình thù gì để tôi có thể thấy”
“Hồ
Nam hay Hồ Bắc mặc tình ông”.
“Ngài
không có phương tiện nào (làm cho tôi hiểu rõ hơn)
“Ông
vừa hỏi cái gì đó?”
Một
lần Triệu Châu bước vào Thiền đường, bảo chúng tăng:
“Đạo lý của cái này khó mà nắm được, và ngay cả một
nhân vật dị thường không bị ràng buộc những ý tưởng
đối đãi cũng thấy khó vượt những cản trở. Khi ta ở
với Tổ Quy Sơn, có một thầy tăng hỏi Tổ: “Ý Sơ Tổ
đông du là gì?” Tổ bảo: “Đưa cái ghế lại đây!”.
Khi một chân sư xuất hiện, ngài đánh thẳng vào mọi người
bằng kiến giải siêu việt của mình”.
Bấy
giờ, một thầy tăng bước lên hỏi Triệu Châu: “Ý Tổ
Tây là gì?”.
Sư
bảo: “Cây bách trước sân”
“Xin
ngài đừng chỉ vật bằng một sự kiện khách quan”.
“Không,
ta đâu có”.
“Ý
Tổ từ Tây lại là gì?.
Sư:
“Cây bách trước sân”.
Sư
nói thêm: “Đã chín chục năm rồi kể từ khi ta ở bên Mã
Tổ đại sư. Mỗi đệ tử đầy đủ căn khí của Tổ, khoảng
hơn 80, đều quả là một chân sư. Nhưng bây giờ ra sao? Những
người gọi là sư đó giống như những ngọn ngành, càng sinh
trưởng càng bỏ xa gốc chính. Vì họ càng lúc càng rời xa
các bậc đại hiền, mỗi thế hệ trở thành tệ hơn trước.
Nam Tuyền thường nói: “Hãy đi thẳng vào giữa những cái
không giống nhau”. Này các thầy, các thầy hiểu như thế
nào? Hôm nay tôi quan sát những kẻ xấu miệng, vô tri mà lại
công nhiên xuất hiện và giảng đủ chuyện. Họ nhận những
cúng dường cung kính của môn đồ, nhiều khoảng đến ba
hay năm trăm, họ tự cho là danh sư và gọi kẻ khác là đồ
đệ”…
Một
hôm, Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Xin một lời siêu tứ cú
tuyệt bách phi”[21]
Nam
Tuyền không nói gì hết, rút lui về chỗ. Triệu Châu nói:
“Thầy chúng ta thường thì nói một lời”.
Thị
giả bảo: “Tốt hơn, ông đừng có nói cái đó”.
Triệu
Châu tát cho một cái.
Bây
giờ, Nam Tuyền đóng cửa phòng, và rải tro chung quanh, bảo
chúng tăng: “Nếu các ông nói được một tiếng, cửa này
sẽ mở”.
Có
nhiều người bày tỏ sở kiến, nhưng Nam Tuyền không thích
ý ai hết.
Triệu
Châu kêu lên: “Trời ơi?”.
Nam
Tuyền bèn mở cửa.
9
Lâm
Tế là một trong những bậc thầy lớn nhất của thế kỷ
XIX; tông phái của ngài vẫn còn phát triển tại Nhật Bản
và Trung Hoa, dù ở Trung Hoa Thiền bây giờ đang hồi gần như
tàn tạ. Ngữ lục của Lâm Tế được nhiều người coi là
quyển sách Thiền mạnh bạo nhất mà chúng ta hiện có. Một
trong những bài pháp của ngài nói:
“Điều
cốt yếu trong việc học hỏi Phật pháp bây giờ là phải
có kiến giải chân chính. Nếu có được kiến giải chân
chính, người ta không bị nhiễm sinh tử; đi đứng được
tự do. Khỏi cần tìm cầu cái thù thắng, mà thù thắng tự
nó đến.
“Này
các đạo lưu, các đấng tiên đức xưa thảy đều có con
đường nhiếp dẫn mọi người; riêng lối chỉ dạy người
của sơn tăng đây, chỉ cốt giúp mọi người không bị mê
hoặc. Nếu các ngài muốn dùng, thì cứ dùng, đừng có chần
chờ thắc mắc. Ngày nay kẻ học vì bất ổn nào mà không
thể chứng đắc? Bất ổn chính ở chỗ họ không đủ tự
tin. Khi các ngài không đủ tự tin, tức thì bị những ảnh
ngộ chung quanh dày xéo. Khi bị ngoại cảnh sai sử và lôi
kéo, các ngài hết còn có tự do nào nữa. Nếu các ngài không
còn mãi miết theo ngoại cảnh, các ngài sẽ được như các
đấng tiên đức xưa.
“Các
ngài có muốn biết các đấng tiên đức xưa như thế nào
chăng? Họ chẳng khác những người đang đứng ngay trước
mặt các ngài nghe ta giảng pháp. Chỉ vì thiếu niềm tin mà
mải miết đuổi theo ngoại vật. Và những gì mà các ngài
bắt được bằng sự đeo đuổi ấy chỉ là cái hay ho của
văn tự, xa vời cuộc sống của các tiên đức xưa. Mong thay
các đạo lưu đừng nhầm lẫn chỗ này?
“Đời
này mà không gặp gỡ, muôn kiếp nghìn đời sẽ lăn tròn
trong ba cõi. Đua đòi và ôm ấp những điều vui thú, rồi
sẽ phải tái sinh vào bụng dạ của trâu bò.
“Các
đạo lưu theo chỗ thấy của sơn tăng đây, cùng với đức
Thích Ca không khác. Ngày nay, trăm đường ứng dụng còn thiếu
chỗ nào đâu? Sáu nẻo thần quang, chưa từng trắc trở.
Nếu
thấy được như thế, quả thực là kẻ một đời vô sự.
“Các
Đại đức ba cõi bất an, y như ngôi nhà rực lửa. Đây không
phải là nơi dừng nghỉ lâu dài của các ngài. Con quỷ vô
thường dữ tợn đến từng khoảnh khắc, chẳng lựa sang
hèn, già trẻ. Nếu các người muốn cùng Tổ và Phật không
khác, đừng săn đuổi bên ngoài. Ánh sáng thanh tịnh trên
một niệm tâm của các ngài, chính là Pháp thân Phật ngay
trong mình đó. Ánh sáng vô phân biệt trên một niệm tâm của
các người, chính là Báo thân Phật ngay trong mình đó. Ánh
sáng vô sai biệt trên một niệm tâm của các ngài, chính là
Hóa thân Phật ngay trong mình đó. Ba thân này không gì khác
hơn là kẻ đang nghe pháp của ta ngay trước mặt của các
ngài bây giờ đó. Chỉ cần đừng dong ruổi tìm ở bên ngoài
thì có công dụng ấy.
“Cứ
như kinh luận gia, họ lấy Ba thân làm cực tắc. Theo chỗ
thấy của sơn tăng thì không phải vậy. Ba thân ấy chỉ là
danh ngôn. Và rồi mỗi thân đều có cái khác nó để mà nương
tựa. Cổ nhân nói: “Thân tựa nghĩa mà lập, quốc độ tựa
thể mà luận”. Vậy Pháp tánh thân và Pháp tánh độ rõ
ràng là những phản ảnh của ánh sáng (bản hữu). Các Đại
đức, mong sao các ngài hãy là kẻ biết đùa với những phản
ảnh ấy. Vì kẻ ấy là cội nguồn của hết thảy chư Phật
và là quê nhà các đạo lưu khắp nơi. Cái sắc thân tứ đại
của các ngài không biết nói pháp và nghe pháp. Tì, vị, gan,
mật cũng không biết nói pháp và nghe pháp, chính là cái sờ
sờ trước mắt của các ngài đấy: cái đó không có hình
dạng, trọn không nhất định.
“Nếu
thấy được như thế, thì cùng với Tổ và Phật không khác.
Chỉ điều, trong mọi thời đừng để gián đoạn; chạm mắt
đến đâu là thấy nó ở đó. Bởi vì tình bị khuấy, trí
bị ngăn, tưởng bị biến, thể bị lay, nên lăn lóc trong
ba cõi mà chịu đủ khổ não. Nếu theo chỗ thấy của Sơn
tăng, đâu chả là (Đạo lý) sâu xa, đâu chả là giải thoát.
“Các
đạo lưu, Tâm pháp vô hình nhưng thông suốt cả mười phương.
Ở mắt gọi là thấy; ở tai gọi là nghe; ở mũi gọi là
ngửi; ở miệng gọi là bàn bạc; ở tay là bắt nắm; ở
chân là chạy nhảy. Vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu
hòa hiệp. Một tâm đã không, tùy chỗ mà giải thoát. Sơn
tăng nói thế, cốt ý đâu? Chỉ cốt mong các ngài thôi dong
ruổi theo ngoại cảnh; chỉ vì lẽ đó mà cổ nhân đặt bày
cơ cảnh cho các ngài.
“Các
đạo lưu, nếu các ngài nhận được chỗ thấy của Sơn tăng
đây, các ngài có thể ngồi ngay trên Báo Phật, Hóa Phật;
chư Bồ tát trọn vẹn chứng tâm Thập địa văn còn như khách;
hàng Đẳng giác, Diệu giác tợ hồ những gã mang gông; La
hán, Bích chi vẫn còn như hầm phẩn; Bồ đề, Niết bàn như
cọc trói lữa. Tại sao? Bởi vì, này các Đạo lưu, chỉ vì
các ngài chưa đạt đến ba tăng kỳ không kiếp, nên mới
có những chướng ngại đó. Nếu là hàng Đạo nhân chân chính,
trọn vẹn không như vậy. Chỉ những ai có thể tùy duyên
làm tiêu nghiệp cũ, thì cứ mặc tình mặc áo mang quần, muốn
đi là đi, muốn ngồi là ngồi, không một tâm niệm mong cầu
Phật quả. Duyên đâu ra thế? Cổ nhân nói: “Nếu muốn tác
nghiệp mà cầu Phật, thì Phật là cái triệu lớn sinh tử”.
“Chư
đại đức, hãy biết tiếc cái thời gian. Đừng có làm thói
lần mò lê lết mà học Thiền học Đạo, tìm chữ tìm câu,
cầu Phật, cầu Tổ, cầu thiện tri thức. Hãy đắn ý đừng
sai. Đạo lưu, chỉ có một thứ cha mẹ, cầu cái gì nữa?
Các ngài hãy tự xét soi xem. Cổ nhân nói: Diễm-nhà-đa (Yajnàdatta)
mất đầu, nóng lòng tìm kiếm, nhưng khi biết đầu mình chưa
hề mất, thành ra người vô sự. Chư Đại đức, hãy cứ
bình thường, đừng bắt chước trò hề. Có một bọn trọc
điên khùng chẳng biết tốt xấu gì hết, nhìn đâu cũng thấy
toàn là quỷ, là thần, chỉ Đông trỏ Tây, cầu mưa cầu
tạnh. Cái bọn đó, chắc chắn có ngày mang nợ đến trước
mặt Diêm vương mà nuốt cục sắt nóng. Con trai con gái nhà
lành bi một bọn chồn hoang yêu quái làm bại hoại mất tinh
khí. Thật là lũ mù khốn khổ! Có ngày chúng phải nhẵn hết
tiền gạo”.
Ở
đây, chúng ta thấy Lâm Tế như một tay phá hoại thứ đạo
Phật ước lệ với những ý tưởng được sắp xếp trật
tự trong cách ngữ Ấn Độ. Ngài không thích con đường loanh
quanh của các triết gia, bác học khi họ tường trình kinh
nghiệm của đạo Phật. Ngài muốn đi thẳng tới đích, phá
hủy mọi chướng ngại trên đường dẫn về thực tại; huơ
chày Kim cang tả hữu, không những chống lại bọn phân biệt
trí, mà chống luôn các thiền sư đương thời. Ngài đứng
vòi vọi giữa thời nhân, mà thái độ hẳn nhiên nêu cao tâm
hồn Trung Hoa, Tâm lý Trung Hoa vốn thực tiễn, không thích
bị kìm hãm bởi quá nhiều ước lệ, trí thức các thứ.
Nó tạo ra Lão tử và Trang tử, và lại được tái xác nhận
bởi Thiền, nhất là trong phương pháp trao Thiền của Lâm
Tế. Rất mới mẻ và rất sôi động, người ta thấy Lâm
Tế hoàn toàn trần truồng, lột bỏ các thứ hoa hòe trong
cuộc vật lộn với Thiền.
Nhưng
cùng lúc, nên nhớ kỹ rằng cái thái độ Thiền đối với
truyền thống, và triết lý đạo Phật, như thế có khuynh
hướng coi nhẹ việc học hỏi theo thứ lớp của nó, lơ là
kinh điển và các thứ siêu hình trong kinh.
10
Những
tiết dưới đây sẽ trích dẫn từ các Thiền sư sống khoảng
cuối nhà Đường và đầu nhà Tống. Chủ đích là để xem
thiên hướng phát triển của giáo pháp Thiền khi nó thay thế
lần hồi các tông phái Phật giáo khác ở Trung Hoa. Đồng
thời chúng ta sẽ ghi nhận có tương quan nào giữa những bài
pháp của chúng và nhưng vấn đáp đặt ra cho kinh pháp đặc
trưng của Ấn Độ.
Trí
Thường[22] bảo tăng chúng: “Ta sắp giảng Thiền; các ông
hãy bước tới đây cả”. Khi họ bước tới, sư tiếp: “Các
ông có nghe nói : Quan âm diệu trí lực, năng cứu thế gian
khổ?”
Một
thầy tăng hỏi: “Thế nào là Quan âm diệu trí lực?”.
Sư
búng ngón tay và nói: “Ông có nghe không?”.
Thầy
tăng nói: “Có nghe”.
Sư
căn dặn: “Một bọn ngây ngô; các ông muốn khám phá cái
gì ở đây?”
Nói
xong, sư lấy gậy dạt họ ra, rồi cười lớn và bỏ đi vào
trú phòng của mình.
Lượng[23]
là một nhà bác học, thông các kinh luận. Khi tham bái Mã Tổ,
Tổ hỏi: “Nghe nói tòa chủ học thông các kinh luận, phải
không?”
Lượng
đáp: “Không dám”.
Mã
Tổ: “Giảng kinh như thế nào?”
“Đem
tâm (citta) mà giảng”.
“Tâm
như diễn viên, ý như thằng hề[24]; làm sao tâm biết giảng?”
Lượng
lớn tiếng cãi: “Tâm không biết giảng, hư không giảng được
chắc?”.
Tổ
nói: “Quả nhiên, hư không giảng được”.
Dĩ
nhiên là Lượng không chịu, muốn bỏ đi; vừa mới bước
ra, Mã Tổ gọi lại: “Tòa chủ !”.
Lượng
bác học này quay lại, thì hoạt nhiên đại ngộ, liền làm
lễ Tổ.
Nhưng
Mã Tổ lại bảo: “Gã chậm lụt này, lễ bái chi thế?”.
Lượng
bác học trở về chùa nói với các đồ đệ: “Ta tưởng
mình giảng kinh luận không ai bì kịp; thế mà ngày nay, bị
Mã Tổ hỏi, bình sinh công phu tiêu tan như băng rã hết!”
Đại
Tử Hoàn Trung[25] một hôm thượng đường bảo: “Sơn tăng
này không biết trả lời; chỉ biết chỗ bịnh”.
Một
thầy tăng bước tới; sư hạ tọa và biến mất về phòng.
Pháp Nhãn bình: “Giữa đám đông bảo mình là thầy thuốc,
giờ nhận ra ai đứng trước mặt mình”.
Huyền
Giác nói: “Có thiệt Địa Từ biết bịnh? Hay không biết
bịnh? Thầy tăng bước tới trước, thầy ấy có thiệt bịnh,
hay không bịnh? Nếu bịnh, không thể đi đứng như vậy được.
Nếu không bịnh, tại sao bước tới trước thầy thuốc?”
Bạch
Mã Đàm Chiếu thường nói: “Sướng thay! sướng thay!”.
Khi gần chết, kêu: “Khổ thay?” hoặc có khi: “Diêm la vương
bắt ta rồi?”. Viện chủ hỏi: “Hòa thượng sao vậy? Trước
kia ngài bị tiết độ sư bắt liệng xuống nước, lúc ấy
thần sắc không động, nay cái gì quấy phá thế?”. Sư cất
đầu lên và nói: “Thầy nói thử lúc ấy tôi phải, hay bây
giờ phải?”
Nghĩa
Đoan trong một buổi thuyết pháp, nói như thế này: “Nói
tức là huỷ báng, im lặng tức là lừa dối. Không nói không
lặng, có đường đi lên, Nhưng miệng của lão tăng hẹp,
không nói với các ông được.” Nói vậy xong, sư hạ đường.
Trong một buổi pháp khác, sư nói thế này: “Dù cho các người
nhiều lần lột bỏ cho thật sạch, các người vẫn không
hề ngừng nghỉ. Dù có tạm thời thi thiết luôn luôn thảy
là phương tiện tiếp người. Nếu ở bên kia, không có chỗ
đó”.
Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch thượng đường thị chúng:
“Các
người hết thảy hãy hồi quang phản chiếu đừng nhớ đến
những lời ta. Kể từ vô thủy đến nay, các người đã quay
lưng chỗ sáng mà đâm đầu vào chỗ tối. Gốc rễ vọng
tưởng đã kết sâu, rốt lại khó mà nhổ trốc. Vì vậy
tạm bày các phương tiện để tước đoạt những vọng thức
thô thiển của các ngươi. Chẳng khác nào đem những chiếc
lá vàng để dỗ trẻ đừng khóc. Chẳng có giá trị gì hết.
Lại cũng như đem cả trăm thứ hóa vật và vàng báu bán chung
ở một gian hàng. Hóa vật cân nặng hay nhẹ chỉ tùy theo
đòi hỏi của khách hàng. Vì vậy ta nói. Thạch Đầu quả
là một cửa tiệm vàng thật, còn ta là cửa tiệm tạp hóa.
Có người đến kiếm phân chuột, ta cũng đưa ra cho. Kẻ khác
đến kiếm vàng thật, ta cũng đưa cho.”
Một
thầy tăng bước ra và nói: “Tôi không muốn phân chuột,
xin cho một cục vàng ròng”.
Ngưỡng
Sơn nói: “Kẻ nào ngậm mũi tên mà lại cố mở miệng thì
chẳng bao giờ hiểu”.
Thầy
tăng không đáp.
Sư
tiếp: “Tìm tôi kêu gọi thì có giao dịch. Không tìm tôi
kêu gọi thì không có giao dịch. Khi ta giảng Thiền thứ thiệt,
muốn cần một người bên mình làm bạn cũng không, há đến
năm trăm bảy trăm sao. Nhưng khi ta nói Đông nói Tây, họ tụ
tập trong phòng ta đua nhau lượm lặt đồ rơi rớt. Như đem
nắm tay trống mà lường gạt trẻ con; kỳ thực chẳng có
gì hết. Nay ta phân minh nói rõ cho các người về cái chỗ
của thánh nhân. Đừng có đem tâm tưởng tượng rập rình.
Hãy cứ thực tình nhắm đến biển tánh của mình mà tụ
tập. Không cần tam minh lục thông. Cớ sao không? Vì đó chi
là mép rìa của thực tại. Như các người muốn biết Tâm,
hãy đi tận nguồn gốc của mọi vật. Chỉ cần đạt gốc,
đừng lo đến ngọn. Rồi một ngày các người sẽ chứng
đạt và hiểu chỗ ta nói. Nhưng nếu chưa tới được gốc,
mọi thứ đều không đáng gì cho các người; tất cả chỗ
học và hiểu đều chưa đúng chỗ. Các người há không thấy
hòa thượng Quy Sơn nói: “Phàm Thánh tình tận, thể lộ chân
thường, sự lý bất nhị, tức Như Như Phật”.
Dược
Sơn Duy Nghiễm[26], một hôm, có thầy tăng đến hỏi: “Tôi
có chỗ ngờ, xin sư giải quyết”. Sư đáp: “Đợi khi thượng
đường tôi sẽ giải quyết cho”.
Chiều
đến, sư thượng đường, đại chúng đã tập họp xong. Sư
nói:
“Hôm
nay có thầy muốn quyết nghi ở đâu?”
Thầy
tăng bước ra khỏi chúng và đứng trước sư. Tức thì sư
bước xuống thiền sàng nắm thấy tăng, bảo: “Này đại
chúng, thầy này có chỗ nghi đây”. Rồi buông thầy ấy ra,
sư lui về phương trượng.
Một
đêm, sư leo núi kinh thành. Bỗng chốc mây rẻ trăng lộ sư
cười lớn. Tiếng cười vang dội về phía Đông của Lễ
đường, cách tăng viện sư gần chín mươi dặm. Dân cư tưởng
rằng tiếng cười từ nhà láng giềng. Sáng ra, họ hỏi chuyền
nhau, đến tận tăng viện, và cư dân kết luận: “Đem qua
hòa thượng cười hết bình sinh trên đỉnh núi”. Lý Cao,
Lãng châu Thứ sử, vốn là đệ tử của Dược Sơn, làm một
bài thơ về vụ này gởi cho sư:
Tuyển
đắc u cư khiếp giã tình
選
得 幽 居 愜 野 情
Chung
niên vô tống diệc vô nghinh
终
年 無 送 亦 無 迎
Hữu
thời trực thượng cô phong đỉnh
有
時 直 上 孤 峰 頂
Nguyệt
hạ phi vân khiếu nhất thanh.
月
下 披 雲 叫 一 聲
Chọn
chốn cô liêu thỏa dạ quê
Quanh
năm nào biết đón đưa gì
Có
khi lên tận đầu non vắng
Điểm
nguyệt khơi mây lớn giọng kỳ.
Triều
Châu Đại Điên[27], đồ đệ của Thạch Đầu. Sau khi lui
về ẩn cư ở Linh Sơn, tăng đồ tụ tập đông. Sư thượng
đường thị chúng:
“Người
muốn học Đạo trước hết phải biết bản Tâm của chính
mình. Đem tâm ra mà bày tỏ cho thấy, mới là thấy đạo.
Nhưng nay lắm kẻ vì không thể thâm nhập tánh thể của vạn
vật nên bị mê hoặc coi một cái nhướng mày, một cái chớp
mắt, một nói, một lặng, là tâm yếu của Thiền. Kỳ thực,
chưa phải là trọn vẹn. Ta nay sẽ vì các người mà phân
minh nói rõ ra. Ai nấy hãy lắng nghe. Chỉ cần trừ bỏ những
vọng tưởng, vọng niệm, kiến lượng, tức là Chân tâm của
các ngươi. Tâm ấy cùng với trần cảnh toàn không giao thiệp,
khi các người câm lặng, giữ gìn tịch tĩnh. Tức Tâm là
Phật, không đợi tu tập đòi trị. Cớ sao vậy? Ứng theo
cơ, tùy vật chiếu, lạnh lùng hoạt dung, tự khởi.
Cội
nguồn thăm thẳm của tất cả những hoạt dụng này vượt
ngoài khái niệm. Cái diệu dụng ấy ta gọi là Bản Tâm. Này,
hãy nên giữ gìn, đừng để rong ruổi”.
Viên
Trí và Vân Nham[28] đứng hầu Dược Sơn. Sơn nói:
“Cái
chỗ mà trí không với tới, cẩn thận đừng nói. Nói, đầu
mọc sừng. Trí đầu đà, ông nói sao?”.
Viên
Trí bỏ về phòng không nói một lời.
Vân
Nham hỏi Dược Sơn: “Huynh Trí sao không trả lời hòa thượng?”.
Dược
Sơn nói: “Hôm nay ta đau lưng. Hãy đi kiếm Trí mà hỏi, y
hiểu”.
Rồi
Vân Nham kiếm sư huynh Viên Trí và hỏi: “Vừa rồi sao sư
huynh không trả lời hòa thượng?”.
Viên
Trí bảo: “Chú cứ đi hỏi hòa thượng”.
Về
sau, có thầy tăng hỏi Vân Cư: “Ngài Dược Sơn muốn nói
gì khi bảo: “Cẩn thận đừng nói?”.
Vân
Cư: “Lời đó quá độc địa”.
Thầy
tăng lai hỏi: “Sao lại quá độc địa?”.
Vân
Cư đáp gọn: “Một gậy đập cả rồng cả rắn”.
Động
sơn Lương Giới[29], môn hạ của Vân Nham và là sáng tổ của
dòng Thiền Tào động, nói :
“Dù
có nói ngay rằng bản lai vô nhất vật, cũng chưa được trao
cho y bát. Ta muốn chỗ này có một chuyển ngữ. Nói sao?”.
Có
một Thượng tọa hạ chín mươi sáu chuyển ngữ mà không
vừa ý sư. Đến chuyển ngữ thứ chín bảy cuối cùng sư
mới vừa ý. Sư thốt: “Sao thầy không nói cho lớn?”.
Về
sau, một thầy tăng khác nghe vụ này, đến kiếm thầy tăng
nọ và yêu cầu lập lại câu trả lời cho sư. Ba năm thầy
này hầu hạ đợi chờ để mong được bí mật từ chính
miệng của thầy nọ. Nhưng chẳng có dịp nào cho thầy tăng
sốt sắng này. Thầy cố tình tìm đủ mọi cách, hoặc dịu
dàng, hoặc thô bạo, để nghe cho được câu trả lời mong
ước. “Ba năm qua, tôi xin nghe chuyện trước kia, câu trả
lời của thầy cho Tổ. Thầy khăng khăng không chịu đáp ứng
thỉnh cầu. Bằng lối ôn hòa không được, tôi làm theo lối
này. Nói rồi, thầy rút ngọn dao ra, và tiếp: “Nếu thầy
không chịu nói ra, tôi giết thầy ngay”.
Thầy
Tăng nọ ngồi như không, và nói: đợi một chút, tôi nói
cho. Thế này: “Dù có mang đến ngay, cũng không có chỗ để”.
Thầy
tăng hiếu sát kia cung kính làm lễ.
Nam
Thiền Khế Phan[30] nói: “Nếu là những lời hay câu đẹp
thì các ngài thảy đã có nói rồi. Hôm nay, trong chúng có
ai kiếm được một câu siêu đệ nhất nghĩa không? Nếu có,
đừng phụ rảy mong đợi chúng tôi”.
Một
thầy tăng hỏi: “Đệ nhất nghĩa là gì?”
“Sao
không hỏi Đệ nhất nghĩa?”.
“Đang
hỏi đây.”
“Đã
rớt vào Đệ nhị nghĩa rồi”.
Kim
Luân Khả Quán[31], sau khóa tối, hạ đường. Đại chúng đi
ra, sư gọi lại: “Đại chúng?”. Khi họ quay đầu lại,
sư nói: “Xem trăng kìa!” Họ nhìn lên trăng. Sư bảo: “Trăng
giống vòng cung, mưa ít gió nhiều”. Chúng tăng không đáp.
Huyền
Sa Sư Bị[32] thượng đường hồi lâu mà ngồi lặng lẽ không
nói. Đại chúng cho rằng không có thuyết pháp, nhất tề ai
nấy rút lui. Sư bèn quở: “Xem ra, một lứa như nhau cả.
Chẳng có lấy một người có trí tuệ. Khi thấy ta mở hai
miếng thịt này ra, ai nấy kéo đến tìm lời, dọ ý, tưởng
là chân thật. Đáng thương thay, chẳng một ai hiểu cái gì
là gì. Nếu cứ như vậy khó thay!”
Một
lần khác, sư thượng đường, im lặng giây lâu, rồi nói:
“Ta luôn luôn sẵn sàng vì các người, nhưng các người có
hiểu không?”.
Một
thầy tăng hỏi : Tịch tịch không lời ấy là ý gì?”.
Sư
nói: “Kìa, nói mớ!”.
“Xin
thầy giảng đạo Thiền”.
“Tại
sao phải ngáy?”.
“Có
lẽ tôi ngáy, còn hòa thượng ra sao?”.
Sư
bảo: “Sao lại không biết ngứa nhỉ?”.
Giữ
im lặng không nói trong một thời gian khi thượng đường là
một phương pháp được nhiều Thiền sư ưa thích.
Chẳng
hạn, trường hợp khác, Chí Phùng đã làm như vậy, và rồi
nói: “Đại chúng, xem kìa!”. Và bước xuống ghế.
Thụy
Nham Sư Tiến[33] thượng đường, để đại chúng đứng giây
lâu và cuối cùng nói: “Ta xấu hổ cho hôm nay không có gì
đặc biệt. Nhưng nếu các người chỉ theo lời, nghe tiếng
của ta, chẳng bằng lui về nhà mà đốt lửa sưởi ấm. Xin
chào”.
Tràng
Khánh Tàng Dụng[34] thượng đường, đại chúng tập hợp,
sư ném cái quật xuống đất và nói: “Người ngu cho vàng
là đất còn kẻ trí thì sao? Hậu sinh khả úy. Chẳng hay ho
gì mà giữ mãi cái ngu. Có ai bước ra trước đây không?”.
Một thầy tăng bước ra, làm lễ rồi đứng lui.
Sư
hỏi: “Còn gì nữa không?”.
“Xin
hòa thượng xét rõ cho”
Sư
nói như vầy: “Hạt đào nghìn năm!”
Vĩnh
long viện Ngạn Thụy thiền sư[35] thượng đường, đại chúng
vân tập. Sư đứng dậy khỏi chỗ ngồi, múa và bảo:
“Chúng
hiểu?”.
Đại
chúng đáp: “Không”.
Sư
nói: Sơn tăng không bỏ Đạo pháp mà hiện việc phàm phu.
Sao không hiểu?”.
La
Hán Tuyên Pháp[36], một lần, nói như vầy: “Trọn cả
mười phương thế giới, không mảy may một pháp, dù chi bằng
hạt bụi. để có chỗ mà thấy, nghe, hiểu, biết. Nhưng dù
như vậy phải ngộ mới được, chứ đừng coi nhẹ. Há không
nghe nói: “Chỉ sáng với riêng mình mà không tỏ với cái
trước mắt. Ngươi ấy chỉ có một mắt. “Bây giờ hiểu
chứ?”.
Một
thầy tăng hỏi: “Một mảy trần cũng không lập, làm sao
xấu tốt hiện tiền cả?”.
“Ghi
nhớ cho phân minh, rồi đi chỗ khác mà hỏi người ta”.
“Đại
chúng văn tập ở đây, ai là kẻ được?”.
Sư
hỏi ngược lại: “Có ai mất không?”.
Một
thầy tăng khác hỏi: “Phật là ai?”.
Sư
đáp: “Ông là một nhà lang thang”.
Đạo
Tiềm[37], ban sơ tham bái Tịnh Huệ hỏi: “Ngoài việc học
Thiền, con xem những kinh gì?”
“Xem
kinh Hoa Nghiêm”
“Sáu
tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại, thuộc vào pháp
môn nào?”.
Tiềm
đáp: “Văn thì ở nơi phẩm Thập Địa. Cứ lý thì hết
thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều đủ cả sáu
tướng”.
“Không
(Sùnyata) có đủ cả sáu?”
Tiềm
mang nhiên không biết trả lời sao.
Huệ
bảo: “Con hãy hỏi ta”.
“Không
có đủ cả sáu?”.
“Không!”.
Sư
hoát nhiên đại ngộ; phấn khởi tinh thần làm lễ bổn sư,
Bổn sư hỏi: “Con hiểu như thế nào?”.
Tiềm
đáp: “Không”.
Sau
này, khi Đạo Tiềm trụ ở đạo tràng Vĩnh Minh, thượng đường
thuyết pháp rằng:
“Phật
pháp rất tỏ rõ, cớ sao lại không hiểu. Các thượng tọa,
nếu muốn hiểu Phật pháp, hãy cứ hỏi Trương Tam Lý Tứ[38].
Nếu muốn hiểu thế pháp, hãy thăm hỏi cổ đức. Chúc an
lạc. Xin chào”.
Tùng
Hiển[39], Quan âm Viện, thượng đường, ngồi im lặng
giây lâu, rồi dẫn kinh Duy Ma Cật: “Văn thù rất khen ngợi
cư sĩ khi cư sĩ im lặng. Nay ta muốn biết: cư sĩ có nhận
lời khen không? Nếu nhận, đâu đáng danh cư sĩ. Nếu không,
Văn Thù mất công khen ngợi. Đại chúng hiểu chứ? Nếu hiểu,
đúng là kẻ học Thiền”.
Một
thầy tăng tiến lên nói: “Cư sĩ im lặng, Văn Thù khen ngợi,
ý ấy như thế nào?”
“Ông
hỏi, ta đáp”.
“Nếu
hạng người ấy xuất đầu ở đây, hậu quả sẽ ra sao?”
Sư
đọc kệ:
Hành
đáo thủy cùng xứ
行
到 水 窮 處
Tọa
khan vân khởi thời
坐
看 雲 起 時
Chỗ
đi tận ghềnh suối
Khi
ngồi xem mây lên.
11
Ở
đây chúng ta đã có khá nhiều các pháp thoại và các vấn
đáp của thiền để chứng tỏ Thiền phát triển như thế
nào trong đường lối đặc sắc của nó suốt ba trăm năm
sau Huệ Năng. Chúng ta có thể nói, sau khi khảo sát tất cả
những điển hình được lượm lặt từ các tiểu sử của
các Thiền sư dưới các triều Đường và Tống, rằng trong
một mức độ nào đó Thiền đã thành công trong công tác
tự lập trên cơ bản của kinh nghiệm tâm lý Trung Hoa. Điều
này không chỉ đúng trong thuật ngữ mà các Thiền sư đã
chấp thuận để tự diễn tả, mà còn trong cung cách truyền
thống kinh nghiệm của họ. Phật giáo Thiền tông đã hoàn
thành một dòng phát triển nhất trí trong lịch sử của tôn
giáo và của huyền học, nói chung.
Điều
duy nhất mà tôi muốn đặc biệt ghi nhận nơi đây là sự
kiện Thiền làm ngơ với huyền học và do đó luôn cả triết
học, sự kiện đó bắt đầu bày tỏ một khuynh hướng khó
ưa ở thế kỷ X. Tôi muốn nói rằng việc nghiên cứu Phật
học có tính cách bác học được các Thiền sư, và nhất
là các môn đệ của họ, coi như là đôi thảo hài rách nát,
đến độ quá mức cần thiết - một thái độ làm trở ngại
hơn là giúp cho việc chứng Thiền. Theo một y hướng nào đó,
thái độ như thế có thể biện minh được, nhưng khi nó được
thể hiện, có lẽ là trong trường hợp của môn đệ Thiền
thất học, Thiền chuyển hướng sang phản danh luận và sự
phóng đãng trở thành lẫn lộn với phong trào tự do của
tâm linh.
Một
tác phẩm Phật giáo sử Trung Hoa được viết vào đầu thế
kỷ XIII, theo lập trường của Thiên thai tông, Nhan đề là
Thích môn chính thống, trong đó tác giả nghiêm khắc chỉ
trích Thiền gần như là thứ giáo thuyết của ma vương.
“Khi
Phật pháp biến đổi, nó trở thành Thiền tông; khi Thiền
tông tăng trưởng sai lầm, nó trở thành ma thuyết; khi ma thuyết
được phép truyền bá, là có sự bại hoại của bản tính.
Cái nguy hiểm vì quá nương tựa kinh và luận cũng gần như
cái ngu