LUẬN
BỐN
GANDAVYÙHA
NÓI VỀ MONG
CẦU GIÁC NGỘ
1
Chứng
giác ngộ tối thượng (anuttarasamyaksambodhi) là cứu cánh của
đời sống người theo đạo Phật; dù Đại thừa hay Tiểu
thừa, đó là một sự kiện mà hết thảy những người học
Phật đều biết rõ: bởi vì thành tố của Phật giáo chính
là sự giác ngộ, mà Phật đã đạt đươc dưới gốc cây
Bồ đề, bên dòng sông Ni liên thuyền (Nairanjana) trên 25 thế
kỷ về trước. Tất cả giáo thuyết của Phật giáo được
truyền dạy tại Đông phương ngày nay cùng bắt nguồn cảm
hứng nơi chân lý này, cái chân lý vừa có tính cách lịch
sử vùa mang chất siêu hình. Nếu không vì sự giác ngộ đó
thì không có Phật, không có đạo Phật, không có Thanh văn
(Sravaka), không có Duyên giác (Pratyekabuddha), không có A la hán,
không có Bồ tát. Giác ngộ là nền tảng của tất cả triết
học Phật giáo, cũng như tất cả hoạt dụng Phật giáo, đạo
đức và tâm linh.
Phật
tử nguyên thủy đi tìm sự giác ngô cho chính mình, cho lợi
lạc tâm tinh của riêng mình, và hiển nhiên không nghĩ đến
những kẻ khác, không nghĩ đến tất cả mọi người, mọi
loài. Ngay dù họ có nghĩ đến, thì họ đòi hỏi mỗi cá
nhân Phật tử phải tự nỗ lực cho sự giải thoát tức là
giác ngộ cho riêng mình, bởi theo họ, vô minh cản trở không
để họ thành tựu giác ngộ và nghiệp ràng buộc họ vào
luân hồi, hai thứ đó nương tựa trên khái niệm về những
thực tại cá biệt
Với
các nhà Đại thừa, ngược lại. Khát vọng giác ngộ của
họ trước hết là vì thế giới. Chính bởi họ mong cầu
sự giác ngộ và giải thoát của cả thế giới nên trước
hết họ nổ lực tụ giác ngộ, tụ giải thoát, tự mình
cởi bỏ sự ràng buộc của nghiệp và những chướng ngại
do tri thức (sở tri chướng). Chuẩn bị như thế rồi họ
mới cất bước đi vào thế gian và công bố chánh pháp của
Phật cho các loại hữu tình.
Vì
lý do đó, Đại thừa nhấn mạnh trên ý nghĩa tâm nguyện
đại bi (mahakaruna). Cứ giở bất cứ quyển kinh nào của Đại
thừa, lúc nào chúng ta cũng phải ghi nhận những chữ thuộc
loại bi (karuna), mẫn (anukampana) hướng đến hết thảy chúng
sinh (sarvasattva; jagat) hầu mang lại cho chúng sự nương tựa
(paritrana), hộ trì (samgraha), hứng khởi (paricodana), thành thục
(paripaka), luật nghi (vinaya), thanh tịnh (parisuddha),
Rồi
lý tưởng Bồ tát - một chúng sinh (sattva) đi tìm sự giác
ngộ (bodhi) - như tôi đã từng nói, bắt rễ trong đạo Phật;
và một thứ Phật giáo thế tục thay thế học phái cổ của
chế độ tăng lữ khổ hạnh và nghiêm khắc. Người tại
gia không chỉ để phục vụ cho vị bất sĩ vô gia đình; giáo
thuyết của Phật phải được thực hành không riêng cho tập
đoàn ưu tú, và khuynh hướng dân chủ xã hội đó đã làm
thay đổi rất nhiều tư tưởng Phật giáo. Một trong những
thay đổi đó là phân tích một cách thực tiễn quá trình
giác ngộ.
Các
nhà bác học Tiểu thừa chuyên tâm những vấn đề tinh tế,
về thế giới của sắc, hữu hình (rupaloka), về thuyết vô
ngã (anatmya), về nhân cách của Phật, về phân tích tâm, v.v...
Họ có xu hướng quá siêu hình, quá học thuật, quá duy lý,
với kết quả là những vấn đề thực tiễn liên quan đến
sự thành tựu giác ngộ và sự ứng dụng hiệu nghiệm của
nó trong môi trường sinh hoạt thường nhật của chúng ta bị
bỏ quên. Mối bận tâm chủ yếu của các nhà Đại thừa
là chính cái đời sống đó.
Khi
khảo sát về quá trình hiện thực của giác ngộ. Đại thừa
thấy ra rằng nó gồm có hai bước quyết định. Khởi đầu
cần phải tạo nên một khát vọng giác ngộ vì kẻ khác,
thì mục đích tối hậu mới có thể thành tựu được. Khát
vọng đó cũng quan trọng và rất có ý nghĩa như sự thành
tựu, vì không thể có thành tựu nếu không có khát vọng
kia; quả thực, sự thành tựu luôn luôn được xác định
bởi khát vọng; tức là, thời gian, nỗ lực, hiệu quả, .v.v..
của giác ngộ, hoàn toàn dựa trên phẩm chất của ý nguyện
ban sơ được phát khởi cho sự thành tựu chủ đích tối
hậu. Động lực xác định diễn trình, cá tính, và năng lực
của hành động. Mong cầu giải thoát được thúc bách kịch
liệt có nghĩa rằng, quả vậy, cái phần lớn và khó khăn
của sự nghiệp đã được làm xong. Người ta cũng nói, khởi
sự tức là hoàn tất.
Dù
vậy, các nhà Đại thừa ý thức rõ giá trị của tâm nguyện
ban sơ, khát vọng chứng thành giác ngộ. Sau cuộc phát tâm
lần đầu này, vẫn còn nhiều cuộc tu tập; nhưng khóa trình
mà Bồ tát bấy giờ phải hạ thủ đã được xác định
trọn vẹn và chắc chắn. Công trình quả là tân khổ, nhưng
ngài không còn ở trong bóng tối của nghi ngờ và ngu dốt.
Vì vậy, trong các kinh điển Đại thừa, sư trỗi dậy ban
sơ của khát vọng giác ngộ đó được coi là một biến cố
trọng đại trong đời sống của một Phật tử, và được
nhắc nhở một cách đặc biệt.
Coi
Bồ tát như một kẻ trên thì mong cầu giác ngộ, mà dưới
thì do tấm lòng lân tuất nhiệt tình muốn cho khắp cả thế
gian thọ hưởng pháp lạc, cái lý tưởng đó được kiên
trì trong tất cả những người theo Đại thừa giáo. Thượng
cầu Bồ đề, hạ hóa chúng sinh như thế đã là nguyên tắc
quy phạm của đời sống đạo Phật ở Viễn đông. Trong tất
cả các Thiền viện, người ta xướng lên bốn đại nguyện
vào mọi cơ hội, sau một công tác, sau một thời kinh, sau
một bữa cơm, sau một buổi giảng:
衆
生 無 邊 誓 願 度
Chúng
sinh vô biên, thệ nguyện độ;
煩
惱 無 盡 誓 願 斷
Phiền
não vô tận, thệ nguyện đoạn;
法
門 無 量 誓 願 學
Pháp
môn vô lượng, thệ nguyện nguyện học;
佛
道 無 上 誓 願 成
Phật
đạo vô thượng, thệ nguyện thành.
Không
rõ các “thệ nguyện” này được quy định và được nối
kết vào đời sống của thiền tăng vào lúc nào, nhưng cái
tinh thần sung mãn trong chúng là tinh thần của đại thừa
cũng như tinh thần Thiền, và hiển nhiên, kể từ khi đạo
Phật truyền vào Trung Hoa và Nhật Bản, nguyên tắc các thệ
nguyện đó đã ảnh hưởng đời sống văn hóa Đông phương
trong mọi ngành.
Ganda
có mô tả hai sắc thái của đời sống Phật tử. Thứ nhất,
phát Bồ đề tâm hay làm trổi dậy khát vọng mong cầu giác
ngộ tối thượng; thứ hai, thực hành đạo của Bồ tát,
tức là Bồ tát Phổ Hiền (Samantabhadra). Thiện Tài đồng
tử (.Sudhana) sau khi đã phát tâm (cittotpada) dưới sự chỉ
dẫn của ngài Văn Thù, từ đó cuộc hành hương hoàn toàn
nhắm vào việc hỏi thăm cách thức thực hành bồ đề hạnh
(bodhicaryà). Cho nên ngài Văn Thù nói với đệ tử của mình,
khi ngài chỉ thị Thiện Tài đồng tử ra đi cho một cuộc
lữ hành trường kỳ và gian khổ: “Lành thay, lành thay, thiện
nam tử! Sau khi đã phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng[1],
bây giờ lại muốn tìm học hạnh của Bồ tát, Thiện nam
tử, ít thấy có ai phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng,
mà những ai sau khi đã phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng
lại còn tìm học hạnh của Bồ tát, càng ít thấy hơn. Vì
vậy, thiện nam tử, nếu muốn thành tựu Nhất thiết chủng
trí, hãy tinh tiến thân cận các bậc thiện hữu tri thức
(kalyanamitra)...”
Trong
kinh Bát nhã Ba La mật, sắc thái thứ hai của đời sống Phật
tử, sau khi phát tâm Bồ đề, là thực hành Bát nhã Ba La mật.
Trong Ganda, sự thực hành đó được thắt chặt với công
hạnh của Bồ tát Phổ Hiền (Samantabhadra); và Bồ đề hạnh
(Bodhicaryà), sinh hoạt của sự giác ngộ, được đồng hóa
với Phổ Hiền hạnh (Bhadracaryà). Như thế, Phổ Hiền (Samntabnadra)
đứng đối với Văn Thù (Manjusri) trong Ganda. Có thể nói:
ý tưởng về nhân cách hữu ngã đã xâm nhập ở đây.
Trong
các kinh Bát nhã Ba La mật Bát nhã văn hoàn toàn vô ngã. Một
đoạn kinh nói như sau[2]: “Trong thế gian này ít ai có thể
nhận biết sáng tỏ Phật, Pháp, Tăng là gì, ít ai thành tín
bước theo Phật Pháp Tăng... ít ai có thể phát tâm vô thượng
bồ đề[3]... Tu hành Bát nhã lại càng ít nữa... Tinh tiến
tu hành Bát nhã cho đến địa vị Bất thối chuyển và an
trụ trong Bồ tát địa, lại càng ít gấp bội...”.
“Phát
bồ đề tâm” trong Phạn ngữ là bodhicittotpàda, mà nói đủ
là “anuttaràyàm samyaksambodhau cittam utpàdam”, tức là : Phát
khởi vô thượng chánh giác tâm.
Nếu
dịch thành: khởi cái tâm tưởng về giác ngộ, là sai và
lầm, như sẽ giải thích sau. Bởi vi nó tương đương vớI
“Anuttaram samyaksambodbim àkànksamàna”[4] Mong cầu giác ngộ
tối thượng; hay “anuttaràyam samyaksambodhau pranidhanam”[5]
Kiên trì khát vọng giác ngộ tối thượng. Trong Ganda, chúng
ta thấy có những diễn tả như trên đây, chúng cùng mang một
ý:
“vipula-kripa-karana-manasa,
paryesase' nuttmam Bodhim”,[6] phát khởi lòng từ xa rộng, rồi
tìm cầu giác ngộ tối thượng; “ye bodhiprarthayante”, những
ai mong cầu giác ngộ tối thượng[7]
“Anuttarayam
samyaksambodhau cittam utpadam”, mà hình thức rút gọn của nó,
như đã nhắc đến, là: “bodhicittotpadam”, cũng tương đương
với: “anuttarayam samyaksambodhau pranidadahanti.”.[8] Pranidadhàti
có nghĩa: “dồn hết chú tâm vào” tức là “quyết tâm
thành tựu công trình”. Cái Pranidhana (thệ nguyện) của Bồ
tát là cái quyết định cùng độ của ngài quyết thực hiện
kế hoạch cứu rỗi tất cả.
Dĩ
nhiên, ở đây cần phải có một cái biết chính đáng hay
một cái nhìn tri thức trọn vẹn về công trình mà ngài cố
thành tựu, nhưng một Pranidhàna còn xa hơn thế nữa, nó là
ý chí phải thực thi. Tri thức suông không phải là cứ địa
của năng lục ý chí; ý tưởng suông không bao giờ có thể
là một tác viên thực thi hữu hiệu. Cittotpàda (Phát tâm)
là một hình thái của Pranidhàna. “Hoài bảo một ý tưởng
hay “phát khởi một tâm niệm” là một chuyện, mà thực
hiện nó lại là một chuyện khác, nhất là khi nó được
thực hiện một cách hăng say và nhiệt thành.
Đối
với “anuttaràyam samyaksambodhau cittam utpadam”, các dịch giả
Trung Hoa có một câu mà nghĩa đen là “phát vô thượng bồ
đề tâm”. Tuy nhiên, đây không phải là một lối dịch chính
xác. Nghĩa đen nguyên thủy là “có một cái tâm được cất
lên cho sự giác ngộ” chứ không phải là cất lên “cái
tâm giác ngộ”: Nếu dịch như thế, chúng ta có thể nghĩ
rằng, có một tính chất tâm lý đặc biệt được gọi là
“cái tâm giác ngộ”, và nhờ khả năng đó mà tâm của
ta mở ra cho giác ngộ, hay chính cái tâm đó là sự giác ngộ.
Nhưng ý nghĩa của nó thực ra là “ấp ủ ước vọng mong
cầu giác ngộ”. Nó là một kiểu đảo ngược, quy hướng
về sự giác ngộ của tâm mà trước kia vốn dĩ đã bị khoác
cho một bản sắc trần tục; hay nó là sự trỗi dậy của
một khát vọng tâm linh mới đã từng yên ngủ; hay nó là
một sự định hướng mới của những hoạt động tinh thần
mà ta chưa hề mơ tưởng đến; hay nó là cái thấy về một
trung tâm mới của năng lực mở ra một viễn tượng tâm linh
hoàn toàn mới mẻ. Chúng ta có thể nói rằng, ở đây, người
ta đã nói tới sự giác ngộ, và sự giác ngộ đó giúp cho
xác định con đường hành xử ngày mai của mình; và rằng,
ở đây, một Bồ tát đang bước vào giai đoạn phát khởi.
Còn
có những ngộ nhận khác về hình thức giản lựợc của
anuttaràyàm samyaksambodhaucittam utpàdam; tôi muốn nói đến lối
diễn giải thông thường của các học giả, về thành ngữ
bodhicittotpàda trong tiếng Phạn. Nếu khinh suất, như người
ta thường mắc phải, nó dường như có nghĩa rằng: “làm
trỗi dậy cái tư tưởng về sự giác ngộ? Nhưng đó là nhầm,
bởi vì thành ngữ đó chỉ muốn nói rằng: “ấp ủ ước
vọng mong cầu giác ngộ”, nghĩa là, ấp ủ một khát vọng
tâm linh mong thành tựu giác ngộ tối thượng. Citta ở đây
không phải là “tư tưởng” hay “tâm tưởng” mà là “ước
vọng”….Và bodhicittotpàdam kỳ công là một lối tỉnh lược
của anuttarayàm samyaksambodhau[9] cittam utpàdam.
Làm
trỗi dậy hay cất dậy cái tâm tưởng về sự giác ngộ có
nghĩa là, nếu nó có một ý nghĩa nhất định nào đó, là
có khái niệm về sự giác ngộ, hay tìm thấy ra rằng giác
ngộ có nghĩa là gì. Nhưng citta như đã đề cập, không ẩn
ý một nội dung tri thức nào như thế, bởi vì nó được
dùng trong ý nghĩa tự phát của nó. Cittotpàda là một dòng
vận chuyển của ý chí được quyết định hướng tới sự
giác ngộ. Khi nào muốn nhắc đến trí năng, các nhà Đại
thừa dùng những chữ như jnàna (trí) mati (huệ) budhi (giác),
vìjnàna (thức), vân vân.... Citta, hay cittasya, hay adhyasaya, trái
lại, thường có một khả năng tự phát, và các dịch giả
Trung Hoa đã chấp nhận chữ tâm cho nó một cách rất chính
xác. Citta, hoặc được lấy từ ngữ căn ci “tính tập”,
hay cit “tri nhận”, cách dùng của Đại thừa không nhất
quyết có tính cách trí năng, mà là có tính cách hiệu nghiệm
và chí nguyện. Citta là một cái bản hữu, hay một thái độ
đặc sắc của tâm.
Do
đó, Bodhicittotpàda là một sự kích phát tâm linh mới mẻ,
nó thay đổi trung tâm năng lực của ta. Đó là sự trước
ý về một khát vọng tôn giáo mới mẻ, tạo ra một sự đột
biến trong cơ cấu tinh thần của ta. Một người trước kia
vốn là kẻ bàng quan đối với đời sống tôn giáo, nay y
ấp ủ một ước vọng nóng bỏng mong giác ngộ, hay mong cầu
nhất thiết trí (sarvajnatà), trọn cả dòng sống ngày mai của
y được xác định từ đó - đó là Bodhicittotpàda.
Luôn
tiện, tôi muốn thêm một lời cước chú sau đây: Kể từ
quyển Đại cương về Phật giáo Đại thừa được ấn hành
năm 1907, đến nay, những quan điểm của tôi về Đại thừa
có thay đổi một vài chi tiết, và có nhiều điểm trong đó
mà bây giờ tôi thấy khác đi, nhất là đối với việc giải
thích về rnột số từ ngữ Sanskrit. Chẳng hạn, khi trình
bày về Bodhicitta, tôi đã định nghĩa nó là “tâm minh mẫn”
và thêm rằng, theo lý thuyết, Bodhi hay Bodhicitta có sẵn nơi
mỗi chúng sinh và thiết định bản chất cốt yếu của nó,
chỉ có điều tâm đó bị bao phủ trong vô minh và vị kỷ.
Như thế Bodhicitta được hiểu là một hình thái của Tathagatagarbha
(Như lai tạng) hay Alayuvijnana (Tàng thức). Nếu xét lại, lối
giải thích Citta như vậy là bất xác; vì rằng, theo đó, giác
ngộ tối thượng là sự toàn thiện của Citta nghĩa là, khi
Citta được khai triển trọn vẹn, nó đưa đến giác ngộ.
Nhưng bây giờ tôi thấy rằng nó không chỉnh, nếu theo quan
điểm lịch sử mà coi Bodhicitta cùng một kiểu với các thành
ngữ như: Atmagrahacitta, atmaparananatvacitta, bodhimargavipravasacitta,
v.v... Bởi lẽ, theo như tôi nêu ra trong thiền luận này, bodhicitta
là cách tỉnh lược của anuttarayàm samyaksambodhau cittautpàdam,
và nó được dùng đồng nghĩa với sarvajnatàcitta (tâm nhất
thiết trí), nên bodhieittotpàda - sarvajnatàcitto tpàda. Bodhi là
cái tạo nên tinh thể của Phật nên nó là Sarvajnatà, nhất
thiết trí. Sự thực là về sau, mối quan hệ lịch sử đó,
giữa bodhicitta và anuttarayàm samyaksambodhua cit tam của utpàtam,
hoàn toàn bị quên lãng, hóa ra Bodhicitta mới được trình
bày như là có một giá trị thuật ngữ biệt lập. Đó là
lẽ tự nhiên, và không nhất thiết là không chính xác nếu
trình bày từ ngữ đó như vậy Nhưng, tốt hơn hết là hãy
nhớ lại những gì mà tôi đã giải thích ở đây.
Trong
Tathàgala-guhyaka hay Guhyasamàja, tôi thấy Bodhicitta được diễn
tả một cách khá trừu tượng và khá khúc triết. Bản kinh
đó nhất định xuất hiện trễ hơn kinh Gandavyùha. Nó pha
trộn khá nhiều Mật giáo (Tạntrism), vốn phải coi là một
sự thoát sáo của Đại thừa thuần túy. Rồi chúng ta sẽ
thấy sự trình bày về Bodhicitta theo Ganda. Dưới đây là những
định nghĩa về Citta theo các vị Phật khác nhau, các vị này
lập thành đại hội Kim cang bí mật: Vairochana (Đại Nhật
Như lai): “Thấy một chúng sinh như là không tự hữu, cái
đó kêu bằng không thấy, thấy một chúng sinh tức không phải
là chúng sinh cái đó kêu bằng bất khả đắc[10]
Một
đoạn khác, đức Vairochana nói: “Bồ đề tâm vượt ngoài
tất cả sự biến thành; Bồ đề tâm vừa hệ vừa không
hệ trong các Uẩn (shanđha), Xứ (àvatana) và Giới (dhâtu);
quán hết thảy các pháp vô ngã và bình đẳng, đó là Tâm
của chính ta, từ vô sinh nguyên thủy, và bản tánh là Không
(Sùnyatà).” .
Aksobhya
(Bất Động Như lai): “Bồ đề tâm thấy rằng tất cả các
pháp đều không sinh, không tự tánh, không tha tánh; Tâm như
hư không không ngã thể; và đây là chỗ thiết lập vững
chãi lý giác ngộ.”
Ratnaketu
(Bảo Sanh Như lai): “Bồ đề tâm thấy rằng tất cả các
pháp đều không sinh, vô tướng, chúng sinh ra từ pháp vô ngã;
và đây là chỗ thiết lập vững chãi lý giác ngộ.”
Amitàyus
(A Di Đà Như lai): “Các pháp không sinh, phi hậu, phi kiến;
như hư không (dù không có thực tại tính), cũng vậy mới
nói Tâm là hữu.”
Amoghasiddhi
bất Không Thành Tựu Như Lai): “Các pháp tự bản chất vốn
ngời sáng, chúng thuần tịnh như hư không; vì không có cái
giác ngộ, cái chứng đắc, nên mới thiết lập vững chãi
lý giác ngộ.”
2
Hoài
bão ước vọng giác ngộ không phải là biến cố bình thường
trong đời sống của một người theo Đại thừa, vì rằng
đó là buộc quyết định phải có để hướng tới cái mục
tiêu khác hẳn với đời sống của những người được mệnh
danh là Tiểu thừa.
Giác
ngộ không phải là một công việc riêng tư chẳng can dự
gì đến khối lớn cộng đồng; điểm tựa của nó được
đặt ngay trong lòng vũ trụ. Khi mà tôi giác ngộ, thì trọn
cả Pháp giới (Dharmáphàtu) cũng giác ngộ; thực sự , cái
lý giác ngộ của tôi là cái lý của Pháp giới (Dharmadhàtu),
cả hai buộc trói lẫn nhau rất sít sao. Vì vậy, nói rằng
tôi đã có thể thai nghén một hoài bão to tát cho sự giác
ngộ, cái đó nghĩa là cả thế gian đều muốn được giải
phóng khỏi vô minh và những dục vọng tội lỗi. Đó là ý
có nghĩa của những lời được dẫn dưới đây, phát ra từ
Hải Vân tỳ kheo (Sàgramegha), một trong những vị thầy mà
Thiện Tài (Sudhana) đến viếng trong cuộc lữ hành cầu đạo
trường kỳ của mình: “Hay thay, ông đã làm trỗi dậy ước
vọng mong cầu giác ngộ tối thượng; đó là việc không thể
có cho những ai chưa từng chứa nhóm đầy đủ thiện căn
trong những đời quá khứ.” Cái được gọi là “thiện
căn” chỉ có giá chừng nào nó làm ích lợi cho tất cả
thế gian. Nếu không thể phụng sự cho toàn thể môi trường
gồm những thân thuộc mà mình đứng trong đó nghĩa là, nếu
cái nhìn tâm linh của mình mà không trải ra đến bờ cõi
xa xôi nhất thì Thiện đức (kusala) của y không phải là “Thiện
đức” thứ thiệt, và chẳng có cái lối chứa nhóm nào như
vậy mà lại có thể làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ.
Hải
Vân tỳ kheo tiếp tục tán dương hoài bão khát vọng của
Thiện Tài, cái hoài bão chỉ có thể có cho những ai hội
đủ những đặc tính sau đây:
1.
Những hành vi công đức của họ mang tính cách phổ biến
và tỏa sáng (phổ môn thiện căn quang minh);
2.
Sự thành đạt Tam muội (samàdhi) của họ đầy đủ ánh sáng
của trí tuệ phát xuất từ bước đi trên con đường chân
chánh (chân thật đạo tam muội trí quang);
3.
Họ có thể làm phát sinh một đại dương công đức (phước
hải quảng đại thiển căn);
4.
Họ tích tập tất cả các pháp thanh tịnh không hề mệt mỏi
(tăng trưởng pháp bạch tịnh không hề mệt mỏi);
5.
Họ luôn luôn gần gũi những người bạn tốt và luôn luôn
thờ kính;
6.
Họ không phải là những người cất chứa tài sản và không
hề ngần ngại thí xả thân mạng của mình cho chánh pháp;
7.
Họ không còn cống cao ngã mạn, và giống như mặt đất,
đối xử bình đẳng với tất cả;
8.
Tim của họ đầy cả tình thương yêu và lân tuất, lúc vào
cũng nghĩ đến sự ích lợi cho kẻ khác;
9.
Họ luôn luôn đối xử thân thiện với tất cả chúng sinh
trong các nẻo luân hồi;
10.
Họ luôn luôn ước mong được tham dự chúng hội của chư
Phật. Rồi Hải Vân kết luận rằng chỉ có những tâm hồn
nào thụ bẩm những cảm hứng đó, những tâm tình đó, và
những thái độ đó, thì mới đặc cách có hoài bão ước
vọng giác ngộ. Bởi vì khát vọng giác ngộ đó thực sự
được khởi lên từ:
1.
Tâm đại bi (mahãkarunãcitta), mong bảo bọc hết thảy chúng
sinh;
2.
Tâm đại từ (mahãmaitrĩcitta), luôn luôn muốn làm lợi ích
cho hết thảy chúng sinh;
3.
Tâm an lạc (sukhacitta), mong làm cho kẻ khác hạnh phúc, vì
thấy chúng chịu đựng đủ mọi hình thức khổ não;
4.
Tâm lợi ích (hitảcitta), mong làm lợi ích cho kẻ khác, cứu
rỗi họ thoát khỏi những hành vi sai quấy và tội lỗi;
5.
Tâm bi mẫn (dayàcitta), mong bảo bọc hết thảy chúng sinh thoát
khỏi những tâm tưởng khốn quẫn;
6.
Tâm vô ngại (asamgacitta), muốn dẹp bỏ tất cả những chướng
ngại cho kẻ khác;
7.
Tâm quảng đại (vaipulacitta) đầy khắp cả vũ trụ;
8.
Tâm vô biên (anantacitta), như hư không;
9.
Tâm vô cấu nhiễm (vimalacitta), thấy hết thảy chư Phật
10.
Tâm thanh tịnh (visuddhacitta), ứng hợp với trí tuệ của quá
khứ, hiện tại và vị lai;
11.
Tâm trí tuệ (jnànacitta), nhờ đó có thể bước vào biển
lớn nhất thiết trí.
Dẫn
chứng thêm, từ kinh Thập địa (Dsabhùmika)[11] sẽ soi sáng
thêm về những bước khởi đầu đưa đến ước vọng giác
ngộ, hay phát Bồ đề tâm, cho thấy những lý do sự giác
ngộ được ước vọng, cho thấy những yếu tố của giác
ngộ, và cho thấy công hiệu của giác ngộ. Cả Dasabhùmika
và Ganda đều thuộc vào một bộ kinh Hoa nghiêm trong Tam tạng
Đại thừa của Trung Hoa.[12]
Đâu
là những điều kiện khởi đầu đưa đến hoài bão ước
vọng giác ngộ tối thượng? Đó là:
1.
Đầy đủ các thiện căn (kusalamùla);
2.
Tu tập các hạnh (carana);
3.
Chúa nhóm đầy đủ các tu lơng (sambhàra);
4.
Cung kính cúng dường (paryupàsita) các đức Phật; 5. Thành
tựu đầy đủ các thiện pháp (sukladharma);
6.
Thân cận các thiện tri thức (kalyànamitra);
7.
Tâm hoàn toàn thanh tịnh (visuddhàsaya);
8.
Tâm quảng đại (vipulàdhyasaya) đợc kiên cố;
9.
Tín căn (adhimukti) được bền vững;
10.
Sẵn sàng tâm đại bi (karunà).
Theo
kinh Thập địa (Dasabhùmika), mười sự kiện này cần thiết
cho sự phát khởi Bồ đề tâm. Đó chính là một kinh nghiệm
vĩ đại của người theo đạo Phật. Kinh nghiệm này đòi
hỏi phải có sự chuẩn bị của tâm linh mới có thể xuất
hiện. Nó trào vọt từ hạt giống cắm sâu trong lòng đất
và được vun trồng kỹ lưỡng. Một trong những ý tưởng
cần phải đặc biệt lư ý trong bảng liệt kê ở đây là
các thiện tri thức, những người bạn tốt. Thiện chí và
trợ lực của họ là những dụng cụ đắc lực trong việc
gieo trồng khát vọng của người theo đạo Phật, Ganda nhấn
mạnh về khía cạnh này.
Tất
cả các kinh điển thuộc văn học Hoa nghiêm đều có khuynh
hướng cố ý là tính số thập phân, và ngay cả khi trông
có vẻ không cần thiết phải thỏa mãn cái công thức vạch
sẵn, mà tác giả hay soạn giả cũng cẩn thận tính đủ chuỗi
số mười. Như thế, trong bảng toát lượt trên đây, những
ý trung trực thuộc dưới một phạm trù được phân thành
nhiều thủ, dĩ nhiên không có mục đích nào khác hơn là để
giữ đúng pháp thúc. “Thiện căn”, “thiện hạnh”, “tư
lương”, “thiện pháp” có thể được tóm thâu vào dưới
thủ hành vi đạo đức. Nếu có thể làm thế, nhng điều
kiện tất yếu cho việc làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ
có thể được tóm tắt như vậy: 1. hành vi đạo đức, 2.
thân cận chư Phật và các thiện tri thức; và 3. tâm thanh
tịnh, chân thật, và từ bi. Khi làm tròn ba điều kiện này,
Bồ đề tâm (Bodhicitta) được coi là đã ngóc đầu đậy
và sẵn sàng để tăng tiến.
Vấn
đề tiếp theo là tại sao ước vọng giác ngộ tối thượng
lại quá cần thiết trong đời sống của một nhà Đại thừa
thành tín? Hoặc, một cách đơn giản. Sự giác ngộ của đạo
Phật có can dụ gì đến đời sống chúng ta? Dasabhùmika[13]
đưa ra các lý do sau đây:
1.
Vì để chứng được Phật Trí (jnàna);
2.
Vì để đạt được mười oai lực (dasabala);
3.
Vì để đạt được đại vô úy (mahàvaisaradya);
4.
Vì để đạt được pháp bình đẳng của Phật (samatabuddhadharma);
5.
Vì để hộ trì và cứu bạt cả thế gian (sarvajagatparitràna);
6.
Vì để làm thanh tịnh tâm từ bi (kritpàkaruna);
7.
Vì để đạt được vô phân biệt trí (asesajnâna) khắp mười
phương thế giới không gì là không biết đến;
8.
Vì để làm thanh tịnh Phật độ khiến cho tất cả không
còn vướng mắc (asamga);
9.
Vì để trong khoảng một niệm (ksanabodha) mà tri nhân cùng
khắp quá khứ hiện tại và vì lai;
10.
Vì để quay bánh xe lớn của Chánh pháp (dharmacakrapavarta) trong
tinh thần không khiếp sợ. Rồi từ đó chúng ta có thể hé
thấy đâu là những yếu tố của giác ngộ tối thượng,
vì trong đó sẵn chứa những lý do được nêu lên cho sự
thành đạt của giác ngộ, chúng như là những thành tố của
sự giác ngộ. Rồi, những thành tố đó là gì? Và đây:
1.
Trì tuệ nơi quả vị Phật, trí đó thấy hết mọi sự trong
không gian và thời gian; cái trí vượt ngoài cảnh giới tương
đối và sai biệt vì nó thâm nhập khắp mọi biên tế của
vũ trụ và trực nhận cái chân thường trong chớp mắt;
2.
Năng lực ý chí đốn ngã mọi chướng ngại nằm cản trở
đường đi khi nó muốn đạt tới mục đích tối hậu, nó
giải thoát tất cả thế gian ra khỏi sự trói buộc của sống
và chết;
3.
Đại từ và đại bi, song song với trí và lực không ngớt
thi thiết các phương tiện đem lại an lành cho hết thảy chúng
sinh.
Để
rõ thêm bản chất của giác ngộ theo nhận định của các
nhà Đại thừa, chúng ta lại dẫn thêm Dasabhùmika, theo đó,
ước vọng giác ngộ bao gồm trong các yếu tố như sau:[14]
1.
Tâm đại bi là yếu tố dẫn đầu;
2.
Trí siêu việt là yếu tố chỉ đạo;
3.
Phương tiện là yếu tố hộ trì ,
4.
Thâm tâm là chỗ nương tựa;
Và
thêm nữa, Bồ đề tâm là:
5.
Kho tàng đồng đẳng với oai lực của Như lai;
6.
Có khả năng phân biệt lực và trí của hết thảy chúng sinh
(sattvabalabuddhi);
7.
Hướng tới trí vô ngại (asambhinnajnàna);
8.
Tùy thuận với trí tự nhiên (svayambhùjnàna);
9.
Có thể giáo hóa Phật đạo cho hết thảy chúng sinh tùy thuận
với trí siêu việt;
10.
Trải rộng khắp biên tế của Pháp giới (Dharmadhàtu) rộng
lớn như hư không.
Rồi
ngay trong những đặc tính được quy định đó người ta có
thể thấy đâu là ý nghĩa của hoài bão ước vọng giác ngộ.
Cái hoài bão của ước vọng lập tức ấn chứng ai là Bồ
tát và thế là phân biệt người ấy với những người theo
đạo Phật khác; bởi vì y mang một tâm nguyện đại bi đối
với hết thảy chúng sinh và y cũng có cái nhìn trong sáng của
tâm linh soi thấy bản tính của hiện hữu, và y cũng có khả
năng phối hợp tình thương để có thể tự thích ứng với
những điều kiện biến đổi không ngừng của hiện hữu..
Bởi
vì cái ước vọng giác ngộ gồm tất cả những tính chất
như được mô tả đó, cho nên Bồ tát có thể tạo những
thành quả dưới đây, ngay khi uớc vọng ấy thấm sâu trong
lòng tánh thể của ngài.[15]
1.
Vượt qua khỏi địa vị phàm phu;
2.
Buộc vào ngôi vị Bồ tát;
3.
Sinh vào trong gia tộc Như lai;
4.
Không có chỗ chê và không có lỗi lầm trong vinh dự gia tộc
của ngài;
5.
Đứng ngoài tất cả dòng nước thế gian;
6.
Buộc vào đời sống xuất thế gian;
7.
Vững vàng trong pháp của Bồ tát;
8.
An trụ nơi trụ xứ của Bồ tát;
9.
được bình đẳng tham dự chủng tánh của các Như lai trong
quá khứ, hiện tại và vị lai;
10.
Quyết định hướng tới giác ngộ tối thượng.
Khi
đã an trụ trong những sự kiện như thế rồi, được coi
là đã đạt tới địa vị đầu tiên của Bồ tát. Đó là
Hoan hỉ địa (pramuditabhùmi). Vì rằng, kể từ bây giờ, tín
tâm không còn bị lay chuyển nữa.
Những
đoạn trên, dẫn từ Dasabhùmika xác định căn nguyên, bản
tính, chủ hướng và thành quả của Bồ đề tâm (Bodhicitta),
khá minh bạch. Chúng ta có thể nhận ra đâu là ý nghĩa trọng
đại của khát vọng này đối với các nhà Đại thừa. Nó
ngang tầm mức với sự chứng đạt. Khi nó được dựng dậy
một cách khá kiên quyết, thì đường đi của người theo
đạo Phật cũng được vạch ra từ đó. Nếu Phật Bồ đề
tâm (Bodhicittatpàda) hay Bồ đề tâm (Bodhicitta) mà chẳng có
gì khác với tư niệm suông về giác ngộ ngay dù với tư cách
là cái quan trọng bậc nhất trong đời sống của một người
theo đạo Phật. Citta như là “tư tưởng” không dễ gì thành
công lớn như đã nói trên. Citta không phải là một ý tưởng,
không phải là sự tư tưởng suông, nó là một ước vọng
hay một hứng khởi sôi nổi tạo nên một hoạch định mới
hay một kiến thiết mới của tất cả những kinh nghiệm từ
trước đã có sẵn nơi một Phật tử. Citta là lý tánh của
thể tánh ta, nó là ý chí nguyện khởi đặt để nền móng
cho cá tính. Ngoài ra thì, như những trang kế tiếp sẽ chứng
tỏ, khó mà hiểu nổi cái phương thế đắc lực, được
diễn giả của Ganda dùng để cố nói lên bản tính của Bồ
đề tâm (Bodhicitta).
3
Khi
Thiện Tài đồng tử khẩn cầu Bồ tát Di Lặc (Bodhisatta Maitreya)
giảng dạy cho, Bồ tát Di Lặc trước hết tán dương Thiện
Tài đã có quyết tâm tìm cầu đạo lý cứu cánh của Phật
pháp; và trước khi ngài mở tháp Tì lô trang nghiêm cho Thiện
Tài chiêm ngưỡng, ngài ca ngợi những đức tính của Bồ
đề tâm, mà chính cái đó đã thúc đẩy Thiện Tài đi tham
bái từ vị thầy này đến vị thầy khác cho tới cuối cùng,
hội kiến đức Di Lặc. Nếu không do ước vọng giác ngộ
nóng bỏng đó, Thiện Tài đã chẳng hề đảm đương sứ
mệnh du hành gian khổ giữa những đạo gia và triết gia, những
ông thức giả và những bà thức giả, những vị có lẽ là
đại diện cho những nhân vật lịch sử đương thời trong
một giới hạn nào đó. Ganda quả là một bản truyện ký
của những nỗ lực trí thức và tâm linh xuất hiện quanh
câu hỏi: “Hạnh của Bồ tát là gì?”, nghĩa là, “ý nghĩa
của đời sống con người là gì?”. Sự trỗi đậy của
Bồ đề tâm là cái chìa khóa mở vào bí ẩn muôn đời đó,
chính đó là chỗ ngài Di Lặc nói hết sức cặn kẽ và rộng
rãi về Bồ đề tâm.
Ngài
nói với Thiện Tài:
“Lành
thay, lành thay, thiện nam tử? Người đã phát tâm vô thượng
bồ đề, vì để làm lợi ích thế gian, vì để mang hạnh
phúc đến cho thế gian, vì để chữa trị những khổ não
cho hết thảy chúng sinh, và vì để tìm cầu tất cả đạo
lý của Phật pháp.
Này
thiện nam tử, ngươi đã có nhiều điều thiện lợi, vui sướng
được sinh làm thân người, được sống trong thế giới của
những loài có sống, và lại được sống trong thời gian có
Như lai xuất hiện, đã được tham bái thiện tri thức Văn
Thù (mãnjusrì). Nguơi quả là một pháp khí tốt đẹp, đã
gieo trồng đầy đủ các thiện căn, được vững bền bởi
các thiện hạnh, tri kiến đã được thanh tịnh, chánh quán
đã sâu xa, đã được hết thảy các chư Phật hộ trì, đã
được các thiện tri thức cảnh giác, bởi lẽ ngươi đã
thành khẩn phát tâm bồ đề. Ta sẽ nói cho ngươi biết đâu
là ý nghĩa của Bồ đề tâm đối với chúng ta những người
theo Đại thừa”.[16] Bồ đề tâm (nghĩa là, ước vọng giác
ngộ) như hạt giống vì từ đó sinh ra hết thảy Phật pháp.
Bồ đề tâm như ruộng tốt vì nơi đây sản xuất tất cả
các thứ thuần tịnh cho thế gian.
Bồ
đề tâm như cõi đất vì gìn giữ tất cả thế gian. Bồ
đê tâm như dòng nước vì rửa sạch tất cả cáu bẩn của
tham dục. Bồ đề tâm như ngọn gió vì thổi khắp thế gian
không có gì làm trở ngại. Bồ đề tâm như ngọn lửa
vì đốt cháy tất cả củi hí luận. Bồ đề tâm như mặt
trời vì chiếu sáng tất cả mọi thứ trên mặt đất. Bồ
đề tâm như trăng vì đầy đặn tất cả những pháp thuần
tịnh. Bồ đề tâm như ngọn đèn vì soi sáng hết mọi thứ.
Bồ
đề tâm như con mắt vì nhận ra con đường nào bằng phẳng
hay gập ghềnh.
Bồ
đề tâm như con đường cái vì dẫn đến thành trì trí tuệ.
Bồ
đề tâm như suối thiêng vì gột rửa hết thảy những gì
không sạch sẽ. Bồ đề tâm như cỗ xe vì chuyên chở hết
thảy các Bồ tát Bồ đề tâm như cánh cửa vì mở ra hết
thảy hành vi của Bồ tát
Bồ
đề tâm như gian nhà lớn vì là nơi trú ngụ để tụ tập
Tam muội (Samàdhi) và tư duy. Bồ đề tâm như khu vườn vì
là nơi thọ hưởng pháp lạc. Bồ đề tâm như nhà ở vì
là chỗ an ổn của thế gian. Bồ đề tâm như chỗ về vì
là chỗ nghỉ ngơi của hết thảy chúng sinh. Bồ đề tâm
như chỗ tựa vì là nơi nương tựa của hạnh Bồ tát.
Bồ
đề tâm như cha lành vì bảo hộ hết thảy các Bồ tát. Bồ
đề tâm như mẹ hiền vì dưỡng dục hết thảy các Bồ tát.
Bồ đề tâm như nhũ mẫu vì chăm sóc hết thảy các Bồ tát.
Bồ đề tâm như người bạn tốt, vì khuyên bảo hết thảy
các Bồ tát. Bồ đề tâm như quốc vương vì vượt lên
các tâm của Thanh văn (Sràvaka) và Duyên giác (Pratyekabuddha).
Bồ đề tâm như đại đế vì đầy đủ tất cả các ước
muốn tuyệt diệu.
Bồ
đề tâm như đại dương vì chứa tất cả các hạt ngọc
công đức Bồ đề tâm như núi Tu di (Sumeru) bình đẳng đứng
cao trên tất cả mọi vật. Bồ đề tâm như núi Thiết vi
(Cakravada) vì bảo trì hết thảy thế gian. Bồ đề tâm như
núi Tuyết (Himàlaya) vì sản xuất đủ tất cả cây thuốc
trí tuệ. Bồ đề tâm như núi Hương (Gandhamàdana) vì xuất
sinh
tất cả các thứ hạng công đức Bồ đề tâm như hư không
vì trải rộng vô biên phước đúc.
Bồ
đề tâm như hoa sen vì không hề bị nhiễm ô các pháp thế
gian. Bồ đề tâm như voi vì tánh thuần hậu. Bồ đề tâm
như ngựa chặt cương vì xa lìa tánh ác. Bồ đề tâm như
người đánh xe vì canh giữ hết thảy pháp Đại thừa.
Bồ
đề tâm như thầy thuốc vì chữa trị hết thảy các bịnh
phiền não. Bồ đề tâm như hố sâu vì làm sụp hết thảy
các ác pháp. Bồ đề tâm như kim cương (vajra) vì xuyên thủng
hết thảy mọi thứ.
Bồ
đề tâm như trập hương vì chứa hương công đức. Bồ đề
tâm như hoa đẹp vì ai nhìn thấy cũng ưa thích. Bồ đề tâm
như đàn hương vì làm nguội lạnh hơi nóng tham ái. Bồ đề
tâm như hắc trầm hương (Kàlapa) vì hương thơm của nó xông
khắp tất cả Pháp giới (Dharmadhàtu). Bồ đề tâm như Thiện
kiến được vương (Sudarsana) vì hủy diệt tất cả những
bịnh khởi lên từ phiền não (klésa). Bồ đề tâm như thuốc
cao Vigama vì nhổ ra hết thảy các mũi tên tham dục (anusaya).[17]
Bồ
đề tâm như trời Indra vì là Chúa của hết thảy thánh thần.
Bồ đề tâm là trời Vaisravana vì hủy diệt hết thảy đau
khổ của bần cùng. Bồ đề tâm như trời Srì vì trang điểm
bằng tất cả các công đức.
Bồ
đề tâm như một phẩm vật trang nghiêm vì hết thảy các
Bồ tát được trang điểm bởi nó. Bồ đề tâm như lửa
thời kiếp thiêu vì đốt cháy hết thảy các thứ bại hoại.
Bồ đề tâm như dược thảo lớn Anirvritamula (vô sinh căn)
vì nuôi lớn hết thảy Phật pháp.
Bồ
đề tâm như long châu vì tiêu diệt tất cả các độc phiền
não. Bồ đề tâm như thanh thủy châu vì làm thanh tịnh tất
cả các phiền não trược. Bồ đề tâm như như ý châu (cintamàni)
vì cung cấp tất cả tài sản mong muốn. Bồ đề tâm như
cây như ý vì tuôn xuống tất cả các trang nghiêm công đức.
Bồ
đề tâm như áo lông ngỗng vì không bao giờ nhiễm bụi bặm
sinh tử. Bồ đề tâm như hoa tơ bạch diệp (Karpảsa) vì bản
lai trong sáng.
Bồ
đề tâm như lưỡi cày vì dọn sạch ruộng tâm của hết
thảy chúng sinh. Bồ đề tâm như những mũi tên sắt Na la
diên (Nàràyana) vì bắn hạ kiến chấp bản ngã. Bồ đề
tâm như một mũi tên vì bắn thủng cái đích khổ não. Bồ
đề tâm như một ngọn mâu vì chinh phục kẻ địch phiền
não. Bồ đề tâm như giáp cứng vì thủ hộ tâm như lý. Bồ
đề tâm như dao bén vì chặt đầu phiền não. Bồ đề tâm
như lưỡi gươm vì chặt đứt khôi giáp cống cao ngã mạn.
Bồ đề tâm như một lưỡi đao vì cắt đứt các phiền não
(anusaya). Bồ đề tâm như kỳ hiệu của một dũng tướng
vì khuất phục kỳ hiệu của Ma vương (Mà ra). Bồ đề tâm
như của bén vì cưa xẻ cây vô minh. Bồ đề tâm như búa
vì đốn ngã những cây khó. Bồ đề tâm như khí giới vì
bảo vệ cho khỏi bị bức hiếp.
Bồ
đề tâm như một cánh tay vì nó gìn giữ thân thể Ba la mật.
Bồ
đề tâm như chân vì nó chống giữ giới đức và tri kiến.
Bồ đề tâm như một dụng cụ ngoại khoa vì diệt trừ màn
che và bụi bặm của con mắt vô minh. Bồ đề tâm như một
cái kềm vì nó tháo gỡ tấm ván ngã chấp. Bồ đề tâm như
giường nằm vì nó đem lại sự dừng nghỉ cho những cùng
quẫn của tham dục (anusaya).
Bồ
đề tâm như một người bạn tốt vì nó cởi bỏ tất cả
sự trói buộc của sinh tử. Bồ đề tâm như tư hũu vì nó
dứt trừ sự nghèo khốn.
Bồ
đề tâm như một đại đạo sư vì nó chỉ con đường hành
đạo của Bồ tát. Bồ đề tâm như một kho chứa trân bảo
vì nó chứa tâm công đức không bị hủy hoại. Bồ đề tâm
như một dòng suối vì nó tuôn trào trí tuệ không bị khô
cạn.
Bồ
đề tâm như gương sáng vì nó ảnh hiện tất cả hình ảnh
của chân lý. Bồ đề tâm như hoa sen vì nó không bị nhiễm
ô. Bồ đề tâm như dòng sông lớn vì chảy ra các Ba la mật
(Paramità) cũng như pháp nhiếp thọ. Bồ đề tâm như Long vương
vì nó giăng bủa những đám mây của chân lý. Bồ đề tâm
như mạng căn vì nó gìn giữ tâm đại bi của Bồ tát.
Bồ
đề tâm như nước cam lộ vì nó làm nơi nương tựa cho cõi
bất tử.
Bồ
đề tâm như tấm lưới giăng khắp vì nó thâu thập và nâng
cao tất cả chúng sinh dễ điều phục.
Bồ
đề tâm như hộp đựng trầm hương vì nó chứa đựng tất
cả hương thơm của công đức. Bồ đề tâm như thuốc Agada
(a già đà) vì nó giữ gìn sức khỏe đầy đủ cho người.
Bồ đề tâm như thuốc trừ độc vì nó trừ khử chất độc
của dục lạc. Bồ đề tâm như thần chú vì nó làm vô hiệu
hiệu năng nhiễm độc của điên đảo, tà vạy
Bồ
đề tâm như gió lốc vì nó quét sạch mọi chướng ngại
cản trở trước mặt. Bồ đề tâm như hải đảo châu báu
vì nó sản xuất trân bảo của yếu tố giác ngộ. Bồ đề
tâm như gia phong tốt vì nó làm nảy sinh mọi pháp thanh tịnh.
Bồ đề tâm như nhà ở vì là nơi trú ngụ của mọi pháp
công đức. Bồ đề tâm như một thị tứ vì nơi đó hết
thảy Bồ tát như những thương gia thi hành nghiệp vụ của
mình
Bồ
đề tâm như thuốc luyện vàng vì nó gạn sạch tất cả những
cặn bã của nghiệp và phiền não. Bồ đề tâm như mật tốt
vì nó làm đầy đủ những lương thực cho sự thành tựu
giác ngộ.
Bồ
đề tâm như đường cái vì nó dẫn hết thảy các Bồ tát
đến thành trì nhất thiết trí. Bồ đề tâm như kho lẫm
vì nó chứa đựng tất cả các pháp bạch tịnh. Bồ đề
tâm như một cơn mưa rào vì nó rửa sạch bụi bặm phiền
não. Bồ đề tâm như chỗ núp vì nó cung cấp cho hết thảy
các Bồ tát những lời dạy cần thiết. Bồ đề tâm như
đá nam châm vì nó không chịu hút quả giải thoát của Thanh
văn (Sravàka).
Bồ
đề tâm như tịnh lưu ly vì bản tánh vốn không nhơ bợn.
Bồ
đề tâm như ngọc xanh vì nó hơn hẳn tri kiến mà các hàng
Thanh và Duyên giác cũng như tất cả mọi người trong
thế gian, có thể chứng được.
Bồ
đề tâm như trống tan canh vì nó đánh thức hết thảy chúng
sinh tỉnh khỏi giấc ngủ say trong phiền não. Bồ đề tâm
như nước sạch vì tự tánh trong suốt không cáu bợn. Bồ
đề tâm như vàng diêm phù đàn (jambùnada) vì nó chói sáng
tất cả pháp lành có thể có trong thế giới của các pháp
hữu vi này. Bồ đề tâm như núi chúa lớn vì nó đứng cao
trên tất cả thế gian.
Bồ
đề tâm như chỗ về vì không hề từ chối những ai có thể
về đến.
Bồ
đề tâm như chất thể chân thật vì trong nó không thứ gì
là bất thực. Bồ đề tâm như ngọc như ý vì nó thỏa mãn
tất cả tấm lòng.
Bồ
đề tâm như tế khí vì nhờ nó mà tất cả thế gian được
thỏa ý.
Bồ
đề tâm như một vật được rọi sáng vì không có thứ gì
trong tâm niệm thế gian sánh bằng. Bồ đề tâm như một sợi
dây vì nó kéo lên tất cả chân lý của Phật pháp.
Bồ
đề tâm như người buộc giỏi vì buộc lại hạnh và nguyện
của Bồ tát. Bồ đề tâm như người thủ hộ vì nó thủ
hộ trọn cả thế gian.
Bồ
đề tâm như người tỉnh thức vì đẩy lui tất cả cái xấu
xa.
Bồ
đề tâm như lưới trời Indra vì nó khuất phục những quỷ
phiền não a tu la. Bồ đề tâm như lửa trời Indra vì nó đốt
cháy tất cả công năng tập quán, tham dục (anusaya), và phiền
não bất tịnh (klesa). Bồ đề tâm như Tháp thờ xá lợi (Caityà)
vì hết thảy thế gian, loài người và loài a tu là kính ngưỡng.
Rồi
Bồ tát Di lặc kết luận:
“Này
thiện nam tử, Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công đức
tuyệt diệu như vậy.
“Tóm
lại Bồ đề tâm cũng đồng như Phật pháp và các công đức
của quả Phật. Tại sao thế? Bởi vì, chính từ Bồ đề
tâm mà hạnh của Bồ tát bắt đầu khởi hành, và cũng chính
từ đó mà hết thảy các Như lai (Tathagata) trong quá khứ,
hiện tại và vị lai xuất hiện ở thế gian. Vì vậy, này
thiện nam tử, một khi ước vọng giác ngộ tối thượng được
phát khởi, thì vô số công đức cũng được phát sinh, và
cả đến ý thức ẩn áo nhất của nhất thiết trí cũng phát
khởi từ đó”
4
Bồ
tát Di Lặc lại nói thêm với Thiện Tài đồng tử:
Cũng
như thuốc thiêng vô úy nó tống khứ năm thứ sợ hãi: với
người có thuốc đó lửa không thể đốt cháy thuốc độc
không thể giết hại, gươm bén không làm tổn thương, nước
không nhận chìm đuốc, và khói không làm ngộp được. Cũng
vậy, khi Bồ tát được thuốc. Bồ đề tâm của nhất thiết
trí, lửa tham dục không thể đốt cháy, thuốc độc sân hận
không thể giết hại, gươm bén phiền não không thể làm tổn
thương, biển luân hồi không thể nhấn chìm và khói tà kiến
không làm ngộp thở.
Như
một người có thuốc thiêng giải thoát nhờ đó mà hết thảy
hoạn nạn không bén mảng tới, Bồ tát khi là kẻ sở hữu
thuốc Bồ đề tâm của nhất thiết trí tránh xa được ngoài
vòng sống chết.
Như
một người có thuốc Maghi mà tránh khỏi tất cả các thứ
rắn độc do mùi vị của nó tỏa ra, Bồ tát mà có Bồ đề
tâm thì tránh được các rắn độc phiền não do hương thơm
tỏa ra từ tâm (Citta).
Như
một người có chú thuật Vô năng thắng nên không bao giờ
bị quân thù chế thắng. Bồ tát khi có thần chú Bồ đề
tâm vô năng thắng của nhất thiết trí thì không bị quân
địch Ma vơng hàng phục.
Như
một người nhờ có chú Vigama khiến cho hết thảy mọi mũi
tên bắn tới mình đều rơi xuống đất. Bồ tát có thuốc
Vigama của Bồ đề tâm nên làm rơi mọi mũi tên tham dục,
sân hận và ngu si, và cả mọi mũi tên huý luận, nhắm mình
bắn đến.
Nhu
một người có bùa Sudarsma (Thiện kiến) trừ được mọi
thứ bịnh tật, Bồ tát có đại thần chú Sudarsana Bồ đề
tâm nên tránh khỏi bịnh tật tri kiến cũng như bịnh tật
phiền não.
Có
một cây thuốc lớn tên Santàna, vỏ của nó có công dụng
lớn chữa trị tất cả các thứ bệnh ghẻ lở, nhưng cây
ấy không hề biến dạng chút nào vì ngay khi bóc lớp vỏ
này thì mọc ngay lớp vỏ mới. Cũng vậy, từ nơi Bồ đề
tâm hoài bão của Bồ tát sinh ra cây nhất thiết trí, và những
ai thấy nó và tin nó thì chữa trị lành hẳn các ghẻ lở
nghiệp và phiền não; những cây nhất thiết trí từ đầu
đến cuối vẫn không hề suy giảm hiệu lực.
Có
loại cây thuốc tên Anirvrittamùla (vô sinh căn, nhờ nó mà
hết thảy cây cối trong cõi Diêm phù (jambùdvipa) được lớn
mạnh. Cũng vậy, cây Anirvritamùla của Bồ đề tâm mà Bồ
tát hoài bão có công năng làm lớn mạnh tất cả các pháp
lành cho hết thảy các bậc hữu học, A la hán (Arhat), Bích
chi Phật (Pratyekabuddha) và Bồ tát (Bodhisattva)
Có
loại cây thuốc tên Ratilambhya, nếu dùng thoa thân thể sẽ
làm cho tâm và thân được mạnh khỏe. Cũng vậy, khi Bồ tát
thoa cây thuốc Ratilambhya của Bồ đề tâm, thân và tâm của
Bồ tát sẽ tăng trưởng khang kiện.
Có
một loại cây thuốc tên là Thiện niệm. Ai được cây thuốc
này, sự ghi nhớ được tăng trưởng cũng vậy, khi được
cung cấp cây thuốc thiên niệm của Bồ đề tâm, Bồ tát
sẽ ghi nhớ trong tâm hết thảy pháp lành của Phật pháp.
Có
cây thuốc tên Đại liên hoa khiến cho mạng sống được một
kiếp (kalpa). Cũng vậy khi Bồ tát có cây thuốc Đại liên
hoa của Bồ đề tâm, đời sống sẽ kéo dài theo ý muốn,
dài đến vô số kiếp.
Có
cây thuốc tên là ẩn hình khiến cho các loài nhân vì phi nhân
đều không thể thấy. Cũng vậy, khi có cây thuốc ẩn hình
của Bồ đề tâm, Bồ tát dù ở trong bất cứ điều kiện
nào, các loài ma đều không thể thấy.
Có
một hạt châu, vua của các loại châu, ở trong biển cả gọi
là Phổ tập chúng bửu (sarvamaniratnasamuccayam). Khi hạt châu
nay hiện hành, ngay dù lửa của thời kiếp tận có thể hủy
diệt hết thảy các thế giới khác nhưng không thể đốt
cháy nó ngay dù là một giọt nước trong biển cả đó. Cũng
vậy, khi Bồ tát nuôi dưỡng Bồ đề tâm trong tâm như hạt
châu chúa tể Phổ tập chúng bửu (sarvamaniratnasamuccayam), thì
những đại nguyện hướng tới nhất thiết trí không hề
biến mất một mảy may. Nhưng nếu để cho khát vọng nhất
thiết trí (sarvajnãtàcittotpãda)[18] của mình bị mất hết,
thì hết thảy công đức của mình cũng tiêu tan.
Như
có hạt châu tên Phổ tập quang minh (sarvaprabhsaasamuccaya), hoàng
tử của hết thảy các loại châu, khi được đeo nơi cổ,
nó chói khuất hết thảy các ngọc ngà trang sức khác. Cũng
vậy, châu Phổ tập quang minh (sarvapâbhâsasamuccaya) được
ôm ấp nơi Bồ tát, như một vòng trang súc tâm linh nơi cổ,
nó chói khuất hết thảy các thứ trang nghiêm tâm của hàng
Thanh văn và Duyên giác.
Như
có hạt châu, khi ném vào nước đục, làm cho nước hoàn toàn
trong suốt, Bồ đề tâm được ấp ủ nơi Bồ tát cũng như
hạt châu tịnh thủy này nhờ đó mà hết thảy cáu bợn của
nước phiền não đều được lắng trong.
Như
có hạt châu giữ cho người có nó không bị chìm trong biển
cả dù khi bị ném vào trong đó. Khát vọng nhất thiết trí
của Bồ tát cũng như hạt châu trụ thủy này; khi có hạt
châu đó Bồ tát không bị nhận chìm trong biển luân hồi.
Khi
một người thợ chài mang hạt long châu mà đi vào dưới những
lớp sóng thì hết thảy cửa ngõ của long cung sẽ mở ra,
và y sẽ không bị các loài hải tộc làm hại. Cũng vậy,
khi Bồ tát đã sẵn có khát vọng nhất thiết trí như hạt
long châu tâm linh, thì có thể tự tại đi vào trong tất cả
các cõi của dục giới.
Như
vị trời Sakra đội mão ma ni chói khuất hết thảy các mão
trên đầu của các thiên chúng, cũng vậy, mão ma ni của Bồ
tát đuốc đội lên làm dấu hiệu cho khát vọng nhất thiết
trì trên trán đại nguyện của mình, nó chói sáng hơn hết
thảy cả ba cõi.
Như
một người có hạt Như ý châu (Cintamani), trừ khử được
mọi khả hữu của bần khổ, cũng vậy. Bồ tát khi ấp ủ
khát vọng nhất thiết trí như là đại như ý châu, thì sẽ
tránh khỏi những đe dọa của đời sống.
Như
hạt châu nhật quang khi hướng về phía mặt trời sẽ phát
sinh ra lửa. Khát vọng nhất thiết trí của Bồ tát cũng giống
như hạt châu nhật quang này, vì khi nó được huống tới
mặt trời Bát nhã, nó sẽ phát sinh ra lửa Bát nhã.
Như
hạt châu nguyệt quang khi hướng tới mặt trăng sẽ phát sinh
ra nước. Khát vọng nhất thiết trí của Bồ tát cũng như
hạt châu nguyệt quang này, vì khi hướng tới mặt trăng công
đức, nó sẽ phát sinh ra nước đại nguyện và công đức.
Như
hạt châu như ý trang sức trên đầu Đại long vương (Màhanàga),
ngăn ngừa tất cả những khủng bố của các oán địch.
Bồ
đề tâm nảy sinh tâm nguyện đại bi của Bồ tát cũng giống
như hạt châu như ý trang sức trên đầu mình, và sẽ cản
ngăn hết thảy tai họa có thể khởi lên từ ác đạo.
Như
có hạt đại bửu châu tên Trang nghiêm thế gian, nếu ai được
châu này thì có thể thỏa mãn tất cả những ước mong. `Cũng
vậy, Bồ tát có đại bảo châu Bồ đề tâm nên có thề
thành tựu tất cả tâm nguyện, mà tâm đó không bao giờ bị
tổn giảm.
Như
đại bảo châu của Chuyển luân vương, để ở đâu thì phá
tan bóng tối ở đó, tỏa rạng khắp mọi phía. Cũng vậy,
đại bảo châu vương giả Bồ đề tâm phá tan tất cả bóng
tối vô minh đang bao trùm lên mọi con đường của hiện hữu,
vì nó tỏa rạng ánh sáng vĩ đại của trí tuệ trong thế
giới của dục vọng.
Như
hạt châu đế thanh đại ma ni rọi vào đâu thì biến đổi
màu sắc của các sự vật ở đó theo màu của nó. Cũng vậy,
đại ma ni đế thanh Bồ đề tâm chiếu lên trên hết thảy
chúng sinh đồng thời chuyển tất cả công đức của chúng
cùng một màu với châu đế thanh của Bồ đề tâm.
Như
hạt châu lưu ly có thể vứt vào giữa chỗ dơ bẩn qua trăm
nghìn năm mà vẫn hoàn toàn không bị nhiêm sự dơ bẩn.Cũng
vậy, bảo châu Bồ đề tâm không bị nhiễm ô bởi các tội
cấu của thế giới dục vọng dù bị vùi lấp trong đó bao
lâu vì hạt tâm châu đó bản lai thanh tịnh.
Như
hạt châu có tên Tịnh quang minh, ánh sáng của nó chói khuất
tất cả các thứ châu khác. Bảo châu Bồ đề tâm chói khuất
tất cả mọi công đức của hạng phàm phu, hạng Thanh văn
và Độc giác.
Như
đại bảo châu được gọi là Thiên hỏa diệm mà ánh sáng
xóa tan mọi vết tối tăm nhỏ nhặt. Cũng vậy, đại bảo
châu Bồ đề tâm cũng ngời sáng như châu Thiên hỏa diệm
có thể diệt trừ mọi tối tăm do vô minh tạo ra.
Như
có vô giá bảo châu ở trong biển lớn, khi thương gia bắt
được và mang về kho tàng thì tất cả trăm ngàn hạt châu
ở đó trở thành một đống đá tối tăm vô nghĩa. Cũng vậy,
đại bảo châu Bồ đề tâm, khi đang nằm yên trong biển lớn
sinh tử, Bồ tát chèo thuyền đại nguyện, tín tâm sâu và
vững, mà vào thành trì giải thoát; hết thảy các công đức
của Thanh văn và Độc giác trở thành hoàn toàn vô nghĩa.
Như
có đại bảo châu được gọi Thiên Hoả Diệm ở Diêm phù
đề (Jambudvipa) cách mặt trời và mặt trăng đến 40.000 do
tuần (yojana), thế mà bao nhiêu cảnh vật trang nghiêm của
mặt trời và mặt trăng đều được phản chiếu nơi đó.
Cũng vậy, hạt châu Tự tại vương Bồ đề tâm ở giữa
cõi luân hồi mà đầy đủ các công đức thanh tịnh và phản
chiếu tất cả nhtững cảnh vật trang nghiêm cảnh giới của
Bồ tát rộng lớn vô biên như Pháp giới hay hư không giới
và trí tuệ vô thượng của Như lai chiếu vào đó như mặt
trời và mặt trăng.
Giá
trị của hạt châu Tự tại vương này có thể vượt xa, bằng
với mức độ của ánh sáng mặt trời và mặt trăng, vượt
lên tất cả kho tàng tích lũy của thế gian như vàng, bạc,
ngọc, ngà, hương hoa, tràng hoa, y phục, vân vân. Cũng vậy,
giá trị của hạt châu Tự tại vương Bồ đề tâm đó, tất
cả công đức hữu vi hay vô vi của Thanh văn và Độc giác
mà ánh sáng của nhất thiết trí rọi đến, đều không thể
hơn nổi.
Như
có đại bảo châu Hải tạng mà tất cả mọi vẻ lộng lẫy
của đại dương đều được phản chiếu trong đó. Cũng vậy,
đại bảo châu Hải tạng Bồ đề tâm phản chiếu tất cả
vẻ huy hoàng tráng lệ của đại dương vô thượng trí vốn
là cảnh giới của bậc nhất thiết trí.
Cũng
như vàng diêm phù đàn (Jambudana) trên trời có giá trị vô
song, chỉ trừ đại ma ni tâm vương. Cũng vậy, vàng diêm phù
đàn Bồ đề tâm (có giá trị tâm linh) vô song, chỉ trừ
tâm vương vô thượng trí của bậc nhất thiết trí.
Như
người có tài nghệ chế phục được rồng có thể đi lại
tự do không sợ hãi giữa các loại rồng và rắn. Cũng vậy,
ai có Bồ đề tâm có thể đi lại tự do không sợ hãi giữa
các loại rồng và rắn của tất cả phiền não, vì đã thành
thục Bồ đề tâm như là nghệ thuật chế phục rồng.
Như
một dũng sĩ mặc áo giáp cầm binh khí thì tất cả oán địch
không thể chế phục nổi. Cũng vậy, Bồ đề tâm chẳng hề
bị các thứ oán địch phiền não chế phục, vì đã được
bảo vệ bằng khí giới Bồ đề tâm .
Khi
một nhúm bột trầm hương của cõi trời được đốt lên,
khói hương lan tỏa khắp cả tiểu thiên thế giới, giá trị
vượt xa tất cả các trân báo đầy bằng ba đại thiên thế
giới. Cũng vậy, loại trầm hương cõi trời của Bồ đề
tâm, dù chỉ một nhúm tín tâm sâu, cũng đủ lan tỏa khắp
toàn thể Pháp giới (Dharmadhatu) với khói thơm vượt xa hết
thảy sở đắc và sở chứng của Thanh văn và Độc giác
Như
có loại trầm hương quý giá, gọi là trầm hương trắng (bạch
chiên đàn), nếu thoa lên mình, trừ diệt tất cả các chứng
bịnh nhiệt và làm cho thân tâm được an ổn mát mẻ. Cũng
vậy, trầm hương trắng Bồ đề tâm làm mát dịu chứng bịnh
nhiệt của phiền não, lý luận, tham, sân, si và mang lại hạnh
phúc cho ngồi dưỡng đường vô thượng trí.
Như
núi Tu di (Sumeru), vua của tất cả các núi, tất cả những
gì ở gần núi đều biến hình đồng với màu sắc của nó,
cũng vậy, Bồ đề tâm làm cho Bồ tát nào ở gần nó biến
hình thành màu sắc của nhất thiết trí.
Cũng
như không có loại cây nào mọc ở cõi Diêm phù đề (Jambudvipa)
này mà bông hoa của chúng có thể tỏa mùi hương sách nổi
với vỏ cây Kovidara đợc gọi là Pariyatraka, cũng vậy, hương
thơm tỏa ra từ những thiện pháp, những vô vi tâm, những
giới, những định, những huệ, những giải thoát, những
tri kiến của các hàng Thanh văn và Độc giác, tất cả không
sao sánh được với hương thơm tỏa ra từ hạt giống Bồ
đề tâm, từ các loại cây đại nguyện, từ công đức và
trí tuệ của các Bồ tát.
Trong
khi đài hoa Pàriyàtraka, một loại cây Kovidàra, chưa nở trọn
vẹn, nhưng biết rằng chính nơi này sản xuất hằng trăm
nghìn đóa hoa. Cũng vậy, trong khi đài hoa Pàriyatraka Bồ đề
tâm hàm chứa các công đức dù chưa nảy nở trọn vẹn, nhưng
biết rằng nơi này tụ tập vô số bông hoa chư thiên và loại
người.
Hương
thơm của hoa Pàriyàtraka nếu được dùng để uớp y phục
dù chỉ trong một ngày, mà mùi thơm của nó sực nức vượt
hẳn y phục được ướp hằng trăm nghìn ngày bằng các thứ
hoa Campaka, Vàrshia hay Sumana. Cũng vậy, hương thơm công đức
và trí tuệ của Bồ tát, dù chỉ được huân tập trong một
đời mà thôi, cũng lan vào khắp cả mười phương cõi Phật.
Loại hương thơm này không thể tìm thấy trong mọi thiện
hạnh vô vi và trí tuệ nơi các hàng Thanh văn và Độc giác,
dù lâu dài trải qua hằng triệu kiếp xông ướp.
Như
có loại cây được gọi là Gia tử (Nàdìkerì) mọc trong bài
đảo ở giữa đại dương bất cứ thứ gì nơi cây đó từ
rễ cho đến hoa, trải, v.v... , luôn luôn được dùng làm đồ
ăn cho dân chúng, mà không bao giờ cùng tận. Cũng vậy, Bồ
đề tâm, từ lúc sơ phát đại bi tâm và đại nguyện cho
đến lúc thành tựu giác ngộ và thiết lập Chánh pháp, không
lúc nào ngừng cung cấp thực phẩm cho thế gian.
Như
có loại nước thuốc tên là Hàtakaprabhàsa chỉ một lượng
nước (pala) của nó biến đổi một nghìn lượng (pala) đồng
thành vàng ròng, trong khi một nghìn lượng đồng không thể
làm thay đổi loại thuốc nước thần diệu này. Cũng vậy,
một lương dung dịch của Bồ đề tâm hướng tới chỗ thành
tựu nhất thiết trí bằng công đức, có thể biến đổi
tất cả mọi sự vật màu đồng như là phiền não chướng
và nghiệp chướng thành màu vàng ròng nhất thiết trí; thế
mà phiền não chướng không thể biến đổi Bồ đề tâm thành
màu sắc của nó.
Như
lửa bắt đầu từ một đốm nhỏ nhưng nó càng cháy sáng
khi càng bỏ thêm nhiên liệu vào; lúa Bồ đề tâm cứng vậy.
Nó có thể bắt đầu một nhúm nhỏ, nhưng càng thêm nhiên
liệu, ngọn lửa trí tuệ càng cháy mạnh hơn.
Cũng
như từ một ngọn đèn mà trăm nghìn ngọn đèn khác được
thắp sáng lên những ngọn đèn nguyên thủy không hề bị
tắt không hề bị suy giảm. Ngọn đèn Bồ đề tâm cũng vậy,
không hề bị tắt, không hề bị suy giảm khi được đem thắp
sáng tất cả các ngọn đèn Bồ đề tâm; chúng được thắp
sáng từ ngọn đèn tâm nguyên thủy nơi tất cả các Như Lai
trong quá khứ, hiện tai và vị lai.
Khi
một ngọn đèn được mang vào căn nhà tối, bóng tối ngự
trị hằng trăm nghìn năm ở đây bị xóa tan và được thay
thế bằng ánh sáng. Cũng vậy, khi ngọn đề Bồ đề tâm
được mang vào căn nhà tối trong nội tâm của chúng sinh,
thì bóng tối của những phiền nao chướng tụ tập hằng
trăm nghìn vô số kiếp nơi căn nhà đó lập tức được ngời
sáng bằng ánh sáng của trí tuệ
5
Bồ
tát Di Lặc không dừng lại ở những thí dụ nhiều vô tận
này, mà ngài đưa ra để gợi cho chúng ta thấy sự quan trọng
vô cùng của việc phát Bồ đề tâm. Bởi vì ngài vẫn không
ngừng diễn tiếp dòng khởi thủy cho đến bao giờ cùng tận
khả năng tưởng tượng nơi một vị Bồ tát. Ngài nói tiếp:
Cũng
như ánh sáng của ngọn đèn tùy theo tim đèn lớn hay nhỏ:
nếu thêm dầu vào sẽ giữ được ánh sáng đó lâu dài. Cũng
vậy đèn Bồ đề tâm, nếu dùng tim đại nguyện sẽ tỏa
ra ánh sáng chiếu khắp Pháp giới (Dharmadhàtu), nếu dùng dầu
đại bi tâm thì sẽ thành tựu hết thảy Phật sự, giáo hóa
chúng sinh và tịnh Phật quốc độ.
Như
Tha hóa tự tại thiên vương đội thiên quan, được làm bằng
loại vàng Jambudana tuyệt hảo, hơn hẳn mọi thiên quan đội
trên đầu các thiên thần. trong thế giới dục lạc. Cũng
vậy, Bồ tát đội thiên quan Bồ đề tâm, được làm bằng
đại nguyện, hơn hẳn những thiên quan đội trên đầu hạng
phàm ngu, các hàng hữu học và vô học, các hàng Độc
giác.
Như
lúc sư vương, vua các loài thú, gầm rống, thì các sư tử
con được tăng thêm sức mạnh và nhờ đó mà được lớn
thêm, trong khi các loài thú khác sợ hãi, bỏ chạy. Cũng.vậy
khi Như Lai, sư tử của loài người, cất lên tiếng rống
nhất thiết trì tán dương Bồ đề tâm, tất cả các Bồ
tát, những người con của sư tử Phật, được tăng trưởng
trong Phật đạo, trong khi các hạng khác vì căn tính thấp
kém, nghe đến liền bỏ chạy
Như
một giọt sữa của sư tử được thêm vào biển bò sữa,
sữa dê, vân vân, nó xuyên qua tất cả mà không chút trở
ngại. Cũng vậy khi một giọt sữa Bồ đề tâm chảy ra từ
Như Lai, đăng sư tử của loài người, được thêm vào biển
sữa nghiệp và phiền não chứa đựng trải qua trăm nghìn
kiếp; giọt sữa Như Lai thâm nhập trong biển sữa đó và
làm biến hoại tất cả; không bao giờ trụ trong quả giải
thoát của tất cả Thanh văn và Độc giác, cũng không bận
tâm đến.
Như
chim Ca lăng tần giá (kalavinka) dù chưa ra khỏi vỏ trứng,
mà khả năng ca hát tuyệt vời của nó đã hơn hẳn tất cả
đàn chim trên Hi mã lạp sơn biết ca sành sỏi. Cũng vậy,
khi Bồ tát Ca lăng tần già (Bodhisattva Kalavinka) bắt đầu
công hạnh lúc đang ở giữa cõi luân hồi mà không lui sụt,
nếu có khả năng của tâm đại bi và Bồ đề tâm; không
hề bị thoái hóa vào tất cả các thành tựu của Thanh
văn và Duyên giác.
Khi
chim Kim súy (Garuda), vua lớn của loài chim, vùa mới sinh ra
mà đã có thể bay liệng nhanh nhẹn và có mắt sáng quắc
các chim khác dù trưởng thành trọn vẹn cũng không sao hơn
được. Cũng vậy, khi Bồ tát vừa phát khởi Bồ đề tâm
lâm vương tử của đức Như Lai kim súy (Tanh ga ta Garuda) trong
chủng tộc cao quý, mà đã hiểu hiện năng lực dũng mãnh
của Tâm (Citta), đã khơi dậy tâm đại bi từ cõi lòng sâu
thẳm, và có tuệ nhãn sáng quắc soi chiếu rất xa; tất cả
những thành tựu của Thanh văn và Duyên giác sở đắc trải
qua trăm nghìn kiếp cũng không thể sánh nổi.
Khi
dũng sĩ cầm một ngọn giáo nhọn trong tay, sẽ không có giáp
trụ cứng nào mà không bị chọc thủng. Cũng vậy, ngọn giáo
Bồ đề tâm được đặt vào cánh tay mạnh bạo của Bồ
tát, nó đâm thủng giáp trụ tà kiến và phiền não (anusaya).
Khi
đại lực sĩ Mahànagna nổi cơn thịnh nộ, trước trán sẽ
nổi lên một cục bướu; và chừng nào cục bướu vẫn còn
đó, thì không ai trong cõi Diêm phù đề này có thể xứng
tay. Cũng vậy chừng nào trước trán của Bồ tát chưa tan
mất cục bướu Bồ đề tâm, được kích thích bởi tâm đại
từ và đại bi; thì tất cả xe ma và ác nghiệp đang khuất
phục thế gian cũng không sao đấu thắng nổi.
Cũng
như trong việc học bắn cung, đệ tử nào ở lại nhà thầy
để chuyên tâm học, sẽ vượt xa các đệ tử khác cùng học
nghệ thuật này; hơn về sự khéo léo, về sự chăm chỉ,
về sự áp dụng và về sức mạnh. Cũng vậy, thánh giả Bồ
tát, tự tu tập để chứng nhất thiết trí, bỏ xa tất cả
các hàng hữu học và Duyên giác chưa phát Bồ đề tâm; hơn
về thệ nguyện, trí tuệ, giải thoát, các hạnh và năng lực.
Trong
việc tập bắn cung lão luyện, trước hết phải học cách
trụ chân cho vững, sau đó mới học đầy đủ cách bắn.
Cũng vậy, khi Bồ tát tự tu tập để chứng nhất thiết trí,
việc cần thiết trước hết là phải trụ vững nơi Bồ đề
tâm, vì đó là bước tiên khởi hướng tới chỗ thấu triệt
tất cả đạo lý của Phật.
Trong
việc luyện tập các huyễn thuật, bước thứ nhất là phải
học thuộc nằm lòng tất cả các câu thần chú, sau đó mới
có thể thi hành tất cả các loại huyễn thuật. Cũng vậy,
khi Bồ tát muốn đạt tới đời sống và các hành vi kỳ
diệu của chư Phật và chư Bồ tát trước phải phát khởi
Bồ đề tâm và hoài bão các thệ nguyện của Bồ tát bởi
vì nhờ đó mới có thể thâm nhập đời sống của hết thảy
chư Phật và Bồ tát.
Cũng
như các thứ được tạo ra bởi huyễn thuật đều hoàn toàn
vô hình nhưng được thấy như là hữu hình. Cũng vậy Bồ
để tâm vốn vô tướng, nhưng lại thấy được Pháp giới
(Dharmadhàtu) vô biên trang nghiêm đầy đủ tất cả các công
đức bởi vì tâm của Bồ tát đã được nhất thiết trí
đánh thức dậy.
Cũng
như khi vừa thấy một chú mèo đang đến gần, tất cả các
chú chuột đều bỏ chạy trốn vào hang. Cũng vậy, khi Bồ
tát vừa phát khởi Bồ đề tâm từ chỗ thâm sâu của tự
tánh để quan sát thế gian, tất cả nghiệp và phiền nào
đều bỏ chạy và lẩn trốn vào hang.
Như
có người trang điểm bằng vàng ròng chiêm phù đàn (Jambùnada),
tất cả các loại trang sức khác trở thành mờ nhạt. Cũng
vậy, khi Bồ tát mang vào những trang sức bằng vàng ròng chiêm
phù đàn Bồ đề tâm, tất cả các công đúc trang nghiêm của
hàng Thanh văn và Duyên giác đều trở nên mờ nhạt.
Cũng
như đá nam châm dù chỉ một lượng nhỏ cũng sẽ chẻ hai
một chuỗi xích sắt; Bồ đề tâm dù chỉ một chút mà được
trỗi dậy trong tâm để cũng sẽ chẻ hai những chuỗi xích
sắt của tà kiến, tà hạnh, vô minh và tham dục.
Nơi
nào có mẫu từ thạch, tất cả sắt ở gần đó bị rã,
không đứng im, không dính chặt nhau. Cũng vậy, bất cứ nơi
đâu có từ thạch Bồ đề tâm dấn bước tới nghiệp hay
phiền não, tới giải thoát của Thanh Văn hay của Duyên giác,
nghiệp, phiền não và giải thoát kế cận đó đều mất hút,
không đứng im, không hợp nhất.
Nhu
một người đánh cá rất thân thiện với các sinh vật ở
biển cả, không cảm thấy có đe dọa chết chóc nào dưới
các ngọn sóng dù khi phó thân vào mõm cá Makara. Cũng vậy,
khi Bồ tát phát tâm Bồ đề ở giữa luân hồi vẫn thoát
khỏi nghiệp chướng và phiền não chướng; thâm nhập vào
chỗ sở đắc và sở chứng của hàng Thanh văn và Duyên giác
mà vẫn không bị nhiễm.
Như
một người uống một chén nước cam lộ thì không bị các
thứ độc dược xâm hại; Bồ tát khởi tâm cầu nhất thiết
trí cũng không bao giờ bị xâm hại bởi quả vị Thanh văn,
không ngưng trệ nơi đó, vì có đại bi tâm và các thệ nguyện.
Như
có người dùng thuốc Anjana thoa lên đôi mắt, thì không ai
có thể trông thấy y được dù có đi ngang qua giữa họ. Cũng
vậy khi Bồ tát khởi tâm cầu nhất thiết trí thì các ác
ma sẽ không trông thấy dù có đi ở giữa bọn chúng; vì đã
được hộ trì bởi trí siêu việt và các thệ nguyện.
Khi
một người được đặt duới sự bảo vệ của một quốc
vương có uy thế, sẽ không bị bất cứ phàm nhân nào đe
dọa. Cũng vậy, khi Bồ tát được Pháp vương Bồ đề tâm
bảo vệ, sẽ không bị kinh sợ bởi bất cứ chướng ngại
và hiểm trở nào.
Như
một người sống trong các rặng núi được đất che chở
khắp bốn phía, không bị lửa đe dọa. Cũng vậy, Bồ tát
sống trong sự che chở bởi công đức của Bồ đề tâm sẽ
không bao giừ bị đe dọa bởi lửa giải thoát của Thanh văn
và Duyên giác.
Như
một người dưới sự bảo vệ của một dũng sĩ sẽ không
kinh sợ bởi kẻ thù, Bồ tát dưới sự bảo vệ của dũng
sĩ Bồ đề tâm không bao giờ bị kinh sợ bởi kẻ thù ác
nghiệp.
Khi
thiên chủ Sakra cầm khí giới Kim cương (Vajra), toàn thể bộ
đội tu la (Asura) bị hủy diệt: Cũng vậy, khi chúng Bồ tát
nắm giữ Bồ đề tâm được khơi dậy từ trong sâu thẳm
của tự tánh, toàn thể bộ đội Ma vương và A tu la được
thiết lập do các ác sư đều bị hủy diệt.
Nhu
một người uống thuốc Rasayana kéo dài tuổi thọ của mình
và không. bao giờ trở nên yếu đuối; Bồ tát sẵn có thuốc
Rasayana, Bồ đề tâm không bao giờ cảm thấy cũng kiệt dù
thọ sinh trải qua vô số kiếp luân hồi và cũng không hề
bị ô nhiễm bới các ô nhiễm do luân hồi.
Như
khi điều hòa thuốc rượu, trước hết phải giữ nó trong
điều kiện hoàn hảo, không bao giờ để nó tiếp xúc với
các thứ bất tịnh. Cũng vậy, Bồ tát khi chuẩn bị cho đời
sống hành đạo và các đại nguyện của mình, trước hết
phải phát khởi Bồ đề tâm không bao giờ bị ô nhiễm
Như
một người muốn thành tựu một công nghiệp nào trước hết
là phải giữ gìn mệnh sống của chính mình. Cũng vậy, khi
Bồ tát quyết tâm tu tập các đạo lý của Phật, trước
hết phải gìn giữ Bồ đề tâm.
Khi
một người đánh mất mệnh sống của mình, thì không sao
thành tựu nổi bất cứ công nghiệp nào cho cha mẹ và quyến
thuộc. Cũng vậy khi Bồ tát bị dứt khỏi Bồ đề tâm thì
sẽ đoạn tuyệt hết công đức của nhất thiết trí và không
thể thành tựu Phật trí để cứu vớt chúng sinh.
Như
biển cả không thể bị thứ độc dược nào xâm hại; Bồ
đề tâm của Bồ tát cũng như biển cả không hề bị xâm
hại bởi nghiệp và phiền não, bởi Tâm của hàng Thanh văn
và Duyên giác. Như ánh sáng mặt trời không bao giờ có thể
bị các tinh tú che mờ; ánh sáng mặt trời Bồ đề tâm cũng
không bao giờ bị che khuất bởi các tinh tú công đức vô
vi của hàng Thanh văn và Duyên giác.
Như
vương tử khi vừa thọ sinh đã được kính trọng ngay, không
bao giờ bị các bậc trưởng thượng hay đại thần coi rẻ,
vì là sinh trong chủng tộc quyền quý cũng vậy, ngay khi Bồ
đề tâm vừa được phát khởi. Bồ tát đã thác sinh ngay
vào chủng tộc Như Lai, ngài là Pháp vương; chắc chắn không
thể bị coi rẻ bởi các hàng Thanh văn và Duyên giác đã tụ
tập các thiện nghiệp trải qua thời gian lâu dài vì Bồ đề
tâm sinh ra tử chủng tộc quyền uy của đại bi.
Vương
tủ dù đang trẻ dại vẫn được các bậc trưởng thượng
và đại thần hết sức kính trọng, dù vương tử không kính
mến họ đúng mức. Cũng vậy, các hàng Thanh văn và Duyên
giác dù đã tu tập các thiện nghiệp lâu đời, nhưng vẫn
phải phủ phục trước vị Bồ tát đã phát khởi Bồ đề
tâm, ngay dù Bồ tát không kính trọng họ đúng mức.
Dù
vương tử chưa trưởng thành đủ để làm vua mà vẫn không
mất sự quý hiển của hoàng gia, vì dòng dõi cao quý không
thể đặt ngang hàng với các đại thần. Cũng vậy, Bồ tát
vừa phát tâm cầu nhất thiết trí, vẫn còn bị trói buộc
trong nghiệp phiền não và chấp trước, nhưng không mất sự
quý hiển của giác ngộ, và không bị coi ngang hàng với Thanh
văn và Duyên giác, vì thuộc chủng tộc cao quý của hết thảy
Như Lai.
Đối
với kẻ mắt lòa và loạn tâm, hạt nhãn châu trong sáng lại
thấy như là bất tịnh. Cũng vậy hạt châu Bồ đề tâm không
chút tì vết lại chừng như bất tịnh đối với những ai
ngu dốt và không tín tâm, vì họ như người lòa mắt và loạn
tâm.
Như
người ta cầm nắm, hoặc nhìn, hoặc sờ hoặc mang bùa chú
thì chữa trị được các thứ tật bịnh. Cũng vậy, trong
viên thuốc ma thuật của Bồ đề tâm, tất cả công đức
chứa nhóm trước kia được gìn giữ cùng với trí siêu việt
và các phương tiện, và nuôi dưỡng thân thể cho các nguyện
và trí của Bồ tát; khi chúng sinh nghe, hoặc thấy, hoặc nhớ
tưởng, hoặc sống chung với bùa chú Bồ đề tâm đó, sẽ
được chữa trị các thứ tật bịnh phiền não xấu xa.
Như
người mặc áo bằng lông ngỗng thì không bị bụi dính dơ;
Bồ tát mặc áo lông ngỗng Bồ đề tâm cũng không bị ô
nhiễm bởi bụi sinh tử và phiền não.
Như
con bù nhìn bằng gỗ được kết chặt các bộ phận, không
bị lỏng lẻo, và làm xong được nhiều công việc, ấy là
nhờ các bộ chốt. Cũng vậy, Bồ tát muốn thành tựu các
công hạnh Bồ tát đạo là do nuôi dưỡng Bồ đề tâm, như
là cái chốt giữ chặt thân thể nhất thiết trì và các thệ
nguyện, và chính nhờ thế mà Bồ tát không bị ly tán.
Nếu
không nhờ các bộ chốt, cái máy cùng với tất cả các bộ
phận của nó sẽ không bao giờ làm nổi công việc. Cũng vậy,
nếu Bồ tát không cho khơi dậy Bồ đề tâm thì sẽ không
bao giờ làm xong sự nghiệp thành tựu các đạo lý của Phật
hay từ các thành tố của giác ngộ.
Như
một loại trầm hương tên Tượng tạng (Hastigarbha) vốn là
sở hữu của một vị thế giới chủ; khi hương này được
đốt lên, hương thơm của nó đưa bốn binh chủng của vua
đó lên đến hư không. Cũng vậy, khi trầm hương Bồ đề
tâm được đốt lên, Bồ tát do công đức của mình có thể
thoát khỏi sự ràng buộc của ba cõi thế gian, và làm cho
trí tuệ vô vi của Như lai trải rộng đến vô hạn.
Như
chất kim cương chỉ sản xuất từ mỏ kim cương hoặc mỏ
vàng. Cũng vậy, Bồ đề tâm như kim cương chỉ sản xuất
từ mỏ công đức của kim cương đại bi, nơi Bồ tát hiện
thân để cứu vớt thế gian; hay từ mỏ vàng siêu việt trí
là cảnh giới thù thắng của Như Lai.
Như
có loại cây vô căn, không ai tìm thấy gốc rễ của nó, nhưng
tất cả cành, lá, cây trái và hoa đều thấy sinh sôi rậm
rạp. Cũng vậy, không ai có thể thấy gốc rễ của Bồ đề
tâm ở đâu, nhưng hoa công đức, trí tuệ và thần thông đều
sầm uất, và tâm đại bi của Bồ tát rợp bóng tất cả
thế gian, như một màng lưới.
Kim
cương không cất giữ trong bình sứt mẻ bất toàn, mà đuợc
cất giữ trong chiếc bình trong sáng kiên cố hoàn toàn. Cũng
vậy, Kim cương Bồ đề tâm không cất giữ trong bình của
các loài ít tín tâm, kém giới hạnh méo mó, trì trệ, tối
tăm, rạn vỡ; cũng không cất giữ trong chiếc bình dành cho
tâm thoái hóa và dao động vì thiếu tri kiến; mà chỉ được
cất giữ trong chiếc bình được dùng để phát khởi tâm
Bồ tát.
Như
Kim cương xuyên thủng mọi thứ cẩm thạch; Bồ đề tâm cũng
xuyên thủng kho tàng Chánh Pháp.
Như
kim cương có thể đập vở mọi núi đá; kim cương Bồ đề
tâm cũng đập vỡ mọi núi đá tà kiến.
Kim
cuơng dù bị vỡ vẫn thù thắng hơn tất cả các thứ đá
quý và quý hơn các thứ trang sức bằng vàng khác. Cũng vậy,
Bồ đề tâm dù khiếm khuyết và bất toàn vẫn thù thắng
hơn các thứ trang sức bằng vàng của công đức nơi các hàng
Thanh văn và Duyên giác.
Kim
cương dù rạn vỡ vẫn có thể trừ tuyệt tất cả sự bần
cùng. Cũng vậy, Kim cương Bồ đề tâm có thể trừ tuyệt
mọi bần cùng do sinh tử.
Một
mẫu kim cương dù nhỏ cũng đủ sức đập vỡ mọi thứ đá
quý hay tiện. Cũng vậy, một mẫu kim cương Bồ đề tâm dù
nhỏ và không đáng giá vẫn đủ sức diệt trừ vô minh.
Như
kim cương không ở trong tay người phàm; kim cương Bồ đề
tâm cũng vậy, không phải là sở hữu của các loài trời
và người có thiện căn thấp kém và thâm tâm hạ liệt.
Như
người không sánh giá trị của châu ngọc thì không thể nhân
ra công năng của hạt châu kim cương, và cũng không biết cách
dùng công năng tối thắng của nó. Cũng vậy, ai có tâm hạ
liệt thì không biết được giá trị của kim cương Bồ đề
tâm và giá trị của đại kim cương siêu việt trí, cũng không
định giá nổi công năng tối thắng của nó.
Như
kim cương không thể nào bị dùng cho hao mòn; kim cương Bồ
đề tâm cũng vậy, vì là căn nguyên và chân tánh của nhất
thiết trí, không bao giờ bị hao mòn.
Như
chày kim cương, người dù mạnh mẽ nhất cũng không thể mang
nổi, ngoại trừ sức mạnh siêu nhiên của Na la diên (Nàràyana).
Cũng vậy, cái chày kim cương vĩ đại của Bồ đề tâm, các
hàng Thanh văn và Duyên giác dù có uy lực mấy cũng không bao
giờ mang nổi, ngoại trừ sức mạnh Na la diên của các Đại
Bồ tát được hộ trì bởi nhân duyên và uy lực của nhất
thiết trí, đã hồi hướng thiện căn về nhất thiết trí,
và đã đạt được uy lực đại thị hiện.
Không
có khí giới nào có thể đập vỡ nổi Kim cương, nhưng Kim
cương có thể hủy diệt mọi thứ và mọi thứ mà tụ nó
vẫn toàn vẹn. Cũng vậy, các nguyện và trí của Thanh văn
và Duyên giác không thể trải qua vô số kiếp kiên trì sự
nghiệp cúu vớt giáo hóa và thành tựu tất cả chúng sinh
trong thế giới ác trược này, nhưng Bồ tát không bao giờ
kiệt sức trong công nghiệp đó, không bao giờ thối lui, vì
cầm chặt cái chày kim cương vĩ đại của Bồ đề tâm.
Ngoài
đất bằng kim cương, không có đất nào chịu nổi sức nặng
của kim cương; cũng chỉ có đất kiên cố của Bồ đề tâm
trong tự tánh của Bồ tát mới có thể chịu nổi sức kim
cương giải thoát, nguyện, và hạnh của Bồ tát đạo chứ
không phải do các hàng Thanh văn và Duyên giác.
Nước
được cất trong bình kim cương cứng chắc và không nứt nó
sẽ không bao giờ chảy rịn trong biển cả. Cũng vậy thiện
căn của Bồ tát được tích tập và được đổ vào bình
Bồ đề tâm cứng rắn và không nứt nẻ sẽ không bao giờ
bị hủy hoại trong các nẻo thọ sinh.
Như
cõi đại địa được nâng đỡ bởi lớp kim cương sẽ không
bao giờ bị vở vụn hay rụng xuống. Cũng vậy các nguyện
của Bồ tát được nâng đỡ bởi lớp kim cương Bồ đề
tâm sẽ không bao giờ bị vỡ vụn hay rụng xuống khi thọ
sinh vào tam giới.
Như
kim cương không bao giờ bị đẫm nước; kim cương Bồ đề
tâm không bao giờ bị đẫm nước nghiệp và phiền não, cũng
không hề bị biến đổi khi tiếp xúc với nghiệp.
Như
kim cương không bao giờ bị lửa đốt cháy , kim cương Bồ
đề tâm không hề bị lửa của khổ sinh tử thiêu đốt,
cũng không bị bốc cháy bởi hơi nóng của lửa phiền não.
Trong
cõi đại thiên thế giới này không có tòa nào xứng đáng
làm chỗ ngồi cho Như Lai, Ứng cúng Chánh biến tri cho bằng
tòa kim cương, lúc ngài chiến thắng Ma Vương, thành tựu nhất
thiết trí trên đài giác ngộ. Cũng vậy, chỉ có tâm kim cương
kiên cố của nguyện và trí phát sinh từ Bồ đề tâm mà
Bồ tát do giác ngộ vô thượng, thực hành các hạnh của
nguyện, viên mãn các Ba la mật, buộc lên các nhẫn vị, chứng
các Bồ tát địa, hồi hướng thiện căn, tiếp nhận sự
thọ ký, thi thiết phương tiện và các trợ đạo cho Bồ tát
đạo và chứa nhóm năng lực của thiện căn lớn.
Rồi
Di Lặc kết luận:
“Đó
là vô lượng vô biên công đức thù thắng khởi lên từ Bồ
đề tâm mà Bồ tát hằng nuôi dưỡng. Và quả thực nếu
ai phát tâm cầu vô thượng chánh giác thì chắc chắn sẽ
có đủ các công đức đó.
Này
thiện nam tử, ông đã gặp được thiện duyên, đã có các
công đức kỳ diệu đó, do phát tâm cầu vô thượng chánh
giác để thực hành Bồ tát hạnh. ông hỏi: “Làm sao để
học hỏi được Bồ tát hạnh? Làm sao để tu tập Bồ tát
hạnh?”. Vậy ông nên vào Lầu các Tì lô trang nghiêm tráng
lệ huy hoàng này và khi quan sát khắp cả, thì hiểu rõ làm
sao để học hỏi Bồ tát hạnh, và sau khi đã học hỏi, làm
sao để thành tựu tất cả vô số công đức này.
6
Hiển
nhiên Bồ tát Di Lặc (maitreya) trút hết biện tài của ngài
để tán dương sự quan trọng của Bồ đề tâm (Bodhicitta)
trong sự nghiệp của một bồ tát. Bởi vì, nếu Thiện Tài
đồng tử không in đậm sự kiện đó trong lòng, đã không
dễ gì bước vào Lầu các Tì lô (Vairochana). Cái Lầu các
đó tàng ẩn tất cả những bí mật trong đời sống tâm linh
của người Phật tử cao tuyệt.
Nếu
đồng tử đó chưa được dọn kỹ để bắt đầu, những
bí mật ấy không có nghĩa lý gì hết. Chúng có thể bị hiểu
lầm nghiêm trọng, và hậu quả cố nhiên là khốc hại. Vì
lý do đó, ngài Di Lặc chỉ cho Thiện Tài thấy đủ mọi góc
cạnh đâu là ý nghĩa đích thực của Bồ đề tâm. Cũng nên
ghi nhớ những điểm dưới đây, về Bồ đề tâm:
1.
Bồ đề tâm khởi lên từ tâm đại bi; nếu không vậy, chẳng
thể là Phật pháp. Coi nặng Đại bi tâm (Mahàkaruna) là nét
chính của Đại thừa. Chúng ta có thể nói, toàn bộ tính
chất của giáo thuyết đó quay quanh cái trụ chốt này. Nền
triết lý viên dung được miêu tả rất gợi hình trong Ganda
thực sự chính là cái bùng vỡ của công năng sinh động đó.
Nếu
chúng ta vẫn còn dây dưa trên bình diện trí năng, những giáo
thuyết của Phật như Tánh Không (Sùnyatà), Vô Ngã (Anatmya),
v.v... dễ trở thành quá trừu tượng và mất hết sinh lực
tâm linh vì không kích thích nổi ai cái cảm tình cuồng nhiệt.
Điểm chính cần phải nhớ là, tất cả giáo thuyết của
Phật đều là kết quả của một trái tim ấm áp hằng hướng
tới tất cả các loại hữu tình; chứ không là một khối
óc lạnh lùng muốn phủ kín những bí mật của đời sống
bằng luận lý. Tức là, Phật pháp là kinh nghiệm cá nhân,
không phải là triết học phi nhân.
2.
Phát Bồ đề tâm không phải là biến cố trong một ngày,
vì nó đòi hỏi một cuộc chuẩn bị trường kỳ không phải
trong một đời mà phải qua nhiều đời. Đối với những
người chưa từng tích tập thiện căn, Tâm đó vẫn đang ngủ
vùi. Thiện căn phải được dồn lại để sau này gieo giống
trở thành cây Bồ đề tâm rợp bóng. Thuyết nghiệp báo có
thể không phải là một lối trình bày có khoa học về các
sự kiện, nhưng các Phật tử Đại thừa hay Tiểu thừa đều
tin tưởng tác động của nó nơi lãnh vực đạo đức trong
đời sống của chúng ta. Nói rộng hơn, chừng nào chúng ta
tất cả còn là những loài mang sử tính, chúng ta không trốn
thoát cái nghiệp đi trước, dù đó có nghĩa là gì. Bất cứ
ở đâu có khái niệm về thời gian, thì có sự tiếp nối
của nghiệp. Nếu chấp nhận điều đó Bồ đề tâm không
thể sinh trưởng từ mảnh đất chưa gieo trồng chắc chắn
thiện căn.
3.
Nếu Bồ đề tâm phát sinh từ thiện căn, chắc chắn nó phải
là phì nhiêu đủ tất cả các điều tốt đẹp của các Phật
và các Bồ tát, và các loài cao đại. Đồng thời nó phải
là tay cự phách diệt trừ các ác trược, bởi vì không thứ
gì có thể đương đầu nổi sấm chớp kinh hoàng giáng xuống
từ lưỡi tầm sét Indra của Bồ đề tâm.
4.
Tính chất cao quý cố hữu của Bồ đề tâm không hề bị
hủy báng ngay dù nó ở giữa mọi thứ ô nhiễm; ô nhiễm
của tri hay hành