LUẬN
BẢY
VĂN HOÁ NHẬT
BẢN
VÀ
NHŨNG CỐNG HIẾN CỦA PHẬT GIÁO ĐẶC BIỆT THIỀN TÔNG[1]
Phật
giáo chính thức được truyền vào Nhật Bản năm 552 TL, kể
từ đó, nó đã gây mối liên hệ sinh tử và vô cùng mật
thiết với lịch sử văn hóa của quốc gia này. Trên thực
tế, mỗi trang sử đều như ký tải công trình cống hiến
của Phật giáo cho sự tăng trưởng về trí thức, nghệ thuật
và đời sống tâm linh của Nhật Bản. Đó là lẽ đương
nhiên, vì rằng ngay lúc truyền vào Nhật Bản, Phật giáo đã
giới thiệu một nền văn minh cao đẳng hơn. Nó được hậu
thuẫn bởi những văn hóa tiến bộ rất cao như Ấn Độ,
Trung Hoa và Cao Ly trên các phương diện nghệ thuật, học vấn,
và sinh hoạt nhân gian, rồi chúng tiến triển mạnh tại Nhật
Bản. Thánh Đức Thái tử (574 - 622), không chỉ là một chính
khách thấy xa và một tâm hồn thiên phú vĩ đại, mà còn
là một tâm hồn chí thành, đã hoạt động như một thiên
tài sáng tạo một nước Nhật mới bằng công trình kiến
trúc các tự viện Phật giáo, sáng tác những luận giải về
các kinh điển Đại thừa, khích lệ các ngành nghệ thuật,
gởi người sang Trung Hoa cầu học, thiết lập các bệnh viện
và học đường, soạn tập các sử thơ, và đặt để những
nguyên tắc trị nước. Phật giáo, ngoài tính cách là một
hệ thống tôn giáo vĩ đại còn là căn nguyên minh triết cho
mọi bộ phận của sinh hoạt nhân gian. Ai đã từng viếng
Na ra (Nại lương) và vùng phụ cận sẽ hiểu tất cả những
gì tôi muốn nói bằng những tiếng đó. Ngay cả thời đại
ngày nay, Horyuji (Pháp long tự) với những kho tàng của nó
vẫn còn là kỳ quan lớn[2].
Vì
thời gian dành cho tôi rất giới hạn, nên không thể mô tả
toàn bộ những cống hiến của Phật giáo cho văn hóa dân
tộc Nhật Bản.
Vì
vậy xin hạn chế về những gì mà Phật giáo Thiền tông,
đã thực hiện cho đời sống trí thức và nghệ thuật - và
xin nói rất ngắn.
1
Trước
hết cần phải hiểu hình thức Phật giáo nào đã đến Nhật
Bản sau những thế kỷ phát triển tại lục địa.
Đại
khái, chúng ta thường phân biệt Phật giáo Tiểu thừa và
Phật giáo Đại thừa, Tiểu thừa là hình thức Phật giáo
nguyên thủy hơn, và Đại thừa là một hệ thống của Phật
giáo phát triển về sau và tiến bộ hơn.
Sắc
thái của mỗi bên có thể được định nghĩa vắn tắt như
vầy: lý tưởng của ngành Tiểu thừa là chứng quả A la hán,
còn lý tưởng của Đại thừa là Bồ tát đạo.
Đời
sống của người theo đạo Phật nhắm tới thành tựu giác
ngộ, thuật ngữ gọi là Bồ đề (Bodhi). Trong cùng đích này,
Tiểu thừa và Đại thừa như nhau, nhưng với Tiểu thừa thì
không có những nỗ lực cố ý chia xẻ sự an lạc của giác
ngộ cho tất cả mọi loài nếu cần thiết, một cách vô điều
kiện[3]. Một nhà Tiểu thừa nếu được giác ngộ bằng những
nỗ lực kiên trì của chính mình, thế là đủ rồi. Đương
nhiên vị đó có sẵn tinh thần truyền giáo cố cải hóa các
đồ đệ của mình hay chung cả mọi người quy theo suy tư
của tình cảm của mình, khiến chúng tín phục giáo pháp và
tuân hành pháp môn Phật học, nhưng tất cả những gì vị
đó làm cho kẻ khác vẫn ít nhiều có tính cách tri thức.
Nếu kẻ khác không làm đúng theo quy phạm, định luật đạo
đức của nhân và quả sẽ kéo theo, nếu họ không thể đạt
tới những gì mà họ săn đuổi, thì sẽ khó mà giác ngộ.
Thế nhưng, nhà Tiểu thừa không giúp đỡ họ, vì mỗi người
phải tự hoàn tất lấy sự giải thoát của riêng mình, Đấy
là quan điểm chủ trương của học phái Tiểu thừa Phật
giáo. A la hán là một triết gia cô độc hoàn toàn đắm mình
trong sự an lạc của giác ngộ. Ông thiếu tình thương thân
tương ái và tình thương yêu rải khắp. Khi ông thấy nỗi
thống khổ chung quanh mình, ông lạnh lùng quan sát và chỉ
cho những người thọ khổ phải tự nỗ lực như thế nào
để diệt trừ thống khổ bức bách. Đấy là tất cả những
gì mà ông có thể làm cho kẻ khác, và không thể làm hơn
thế. Mỗi người tự gặt hái những gì mình gieo trồng. A
la hán hay nhà Tiểu thừa là một người theo chủ trương cá
nhân cực đoan.
Lý
tưởng Đại thừa khác hẳn thế. Ở đây nghiêng nặng về
khía cạnh tình yêu của đời sống tôn giáo hơn chủ trương
duy trí của nó. Để làm cho đồng loại của mình tăng trưởng
và dũng mãnh trong sức mạnh tâm linh của chúng, Bồ tát muốn
quy hướng cho chúng tất cả công đức được thành tựu do
đời sống đạo hạnh của mình. Dù đã làm tròn các công
hạnh đạo đức, Bồ tát vẫn kiên trì chưa chứng đạo[4].
Sở dĩ như thế, vì Bồ tát biết rằng vẫn còn nhiều chúng
sinh đang thống khổ mà ngài cảm thấy mình phải giáo hóa
cho chúng được chứng ngộ. Dù triền phược của nghiệp
báo cá nhân có mạnh đến mấy nữa, Bồ tát vẫn tích cực
quyết tâm bẻ vụn. Vì do đó mà Bồ tát có thể thành tựu
công trình vĩ đại giác ngộ và giải thoát toàn diện cho
toàn thể nhân loại. (Trong đạo Phật, giải thoát không hạn
cuộc riêng loài người, nó bủa rộng lên khắp mọi loài
tạo vật. Nhẫn đến súc sinh, cây, đá, sông, núi, đều được
bao gồm trong công trình giải thoát, nghĩa là trong sự thành
đạt Phật quả) [5]
Nguyên
lai, Bồ tát là một danh hiệu chỉ cho đức Phật trước khi
thành đạo, lúc ngài đang tu tập sáu Ba la mật. Đại thừa
đặt nặng trên giai đoạn này trong đời sống của Phật.
Thực hành các Ba la mật tức thừa nhận nhân loại như một
sinh thể xã hội, với ý tưởng then chốt là mỗi cá nhân
không thể toàn thiện nếu xã hội chưa toàn thiện. Đương
nhiên cái đó có nghĩa rằng một cá nhân sẽ toàn thiện khi
nó hòa đồng cá biệt tính của mình vào trong Toàn thể tính
mà nó là một thành phần. Do hòa đồng, nó vượt lên cái
riêng mình, vì sự toàn thiện của nó cốt yếu là vượt
cái riêng mình chứ không phải riêng của mình là mình như
thế.
Sáu
Ba la mật đặc trưng cho Phật giáo Đại thừa trong nhiều
phương diện. Chúng gồm những cơ bản đạo đức chung cho
tất cả các tôn giáo, nhưng trong đó còn có những yếu tố
khác nêu rõ sự sai biệt cho Đại thừa.
Sáu
Ba la mật là:
1.
Bố thí (dana). Đây không chỉ có nghĩa cho đi thứ gì mà người
ta có thừa; nó còn bao gồm cả việc thí xả thân mệnh mình
cho chính nghĩa.
2.
Giới (sila). Thực hành tất cả các giới răn của đạo Phật,
hay tất cả những thiện hạnh dẫn tới chỗ toàn thiện đạo
đức cho mình và cho tất cả mọi người.
3.
Tinh tiến (virya). Kiên trì thể hiện động lực chí thiện.
Đời sống của các nhà Đại thừa là một cuộc đời hăng
say tột bực, không chỉ trong đời sống hiện tại mà cả
trong đời sống tương lai và những cuộc đời trong tương
lai thì không bao giờ cùng tận.
4.
Nhẫn nhục (ksanti). Đôi khi cũng được gọi là nhẫn nại,
nhưng nhẫn nhục đúng nghĩa hơn. Vì rằng không chủ kiên
nhẫn chịu những bịnh hoạn của xác thịt, nó là cảm giác
về sự vô nghĩa, vô giới hạn, và tội xấu.
5.
Thiền định (dhyana). Tư duy, nhưng không theo nghĩa tư duy về
một phương châm đạo đức hay một cách ngôn triết học;
nó là việc tu tập cho tĩnh tâm.
6.
Trí tuệ (prajna) Trí tuệ siêu việt, yếu tố giác ngộ. Nó
là trực giác nhìn vào chân lý cứu cánh của vạn hữu, nhờ
đó mà thoát ra ngoài triền phược của hiện hữu, và trở
thành tự chủ.
2
Kế
đến, chúng ta thử xem căn cứ lý thuyết của Phật giáo Đại
thừa đứng ở đâu. Tông chỉ Vô ngã (PL., anatta; Skt. nairatmya)
là nền tảng cho cả Tiểu thừa và Đại thừa. Nhưng Đại
thừa khai thác triệt để, cuối cùng quy tụ vào giáo nghĩa
Pháp Thân, hay Dharmakaya theo nguyên ngữ Sanskrit. Nếu Pháp thân
mà giải thích là Bản thân của Pháp tắc, của Định luật
vũ trụ, là sai lầm[6] .
Muốn
hiểu rõ khái niệm về Pháp thân của Đại thừa, cần có
kiến thức khá về triết học Phật giáo. Bởi vì, Pháp thân
là một trong Ba Thân và ý nghĩa của nó nguyên lai liên hệ
với hai Thân kia, gọi là Báo Thân (Sambhogakaya) và Hóa Thân
(Nirmanakaya)[7]. Nói gọn, Pháp Thân là thực tại cứu cánh
tạo nên thể tánh của vạn hữu; cái đó thường bị mọi
người nhận lầm nó là một bản ngã thường tại.
Trên
phương diện tâm lý, có thể coi Pháp Thân như là Tàng thức
hay A lại da thức(alayavijnana) mà học phái Du già luận (Yogacara)
của Phật giáo hay nói đến. A lại da thức gần giống như
cái có thể gọi là tâm thức siêu việt hay phổ quát nằm
ở mặt sau ý thức thường nghiệm tương đối và thông tục
của chúng ta. Tinh thể hay chủng tử (bijia) của vạn hữu
được gìn giữ trong ý thức hiện hành cá biệt của nó.
Chủ đích của Phật học nhắm tới chỗ làm thanh tịnh thức
phổ quát đó. Nhưng chúng ta đừng quên rằng chừng nào sinh
hoạt trên bình diện tâm lý mà còn lệ thuộc A lại da thức,
thì vẫn chưa thấy Pháp thân là gì. Cảnh giới của Pháp
thân nằm sâu trong tâm thức của chúng ta.
Trên
phương diện khác, A lại da thức là Tánh Không. Nếu A lại
da thức là từ ngữ tâm lý học, thì Tánh Không là một khái
niệm hữu thể học, hay phải coi nó như là nhận thức luận?
Bởi vì khi khái niệm mang tính cách tương đối của
luận lý phải được vượt qua để đạt tới chỗ tối hậu,
trí năng của con người nhất định phải đụng đến cái
Không. Nếu Tánh Không vẫn còn được tiếp nhận trên tính
cách tương đối, chúng ta vẫn chưa thể vượt qua luận lý,
và luận lý là nơi trú ngụ yên nghĩ của linh hồn. Kỳ cùng,
Tánh Không có nghĩa là cái không suông.
Tuy
nhiên, Tánh Không là một từ ngữ bị lạm dụng quá xá, chịu
đủ mọi cực hình. Ðại thừa có một từ ngữ cùng một
ngụ ý có tính cách khẳng định, tôi muốn nói tới Chân
Như (Tathata). Như thế các nhà Ðại thừa có thể mô tả hiện
hữu như là ở trong trạng thái như nhiên, và họ quả quyết
rằng, nếu không nhận ra như vậy, kết quả là phải chịu
trong cảnh vô minh từ đó tuôn ra những kiến chấp và phiền
não trùng điệp. Coi hiện hữu như thế này hay như thế kia,
như là hữu thể hay vô thể, thường hay đoạn, đó là vọng
tưởng, không phải bản thân của Thực tại. Nó đòi hỏi
trình độ tối cao của trí năng mẫn tiệp để nhìn thẳng
vào Thực tại như thực, không kết dệt những mắc lưới
vọng tưởng chung quanh nó. Tức thì, đấy là cảnh giới của
những trực giác. Khi chúng ta bước vào cảnh giới này, chúng
ta nhận ra Tánh Không hay Chân Như thực sự có nghĩa là gì.
Tất
cả những mệnh đề có tính cách dung hợp chung này sẽ bị
giải thích lệch lạc to lớn nếu chúng ta không nhận thức
đầy đủ về những vị trí đối nhau giữa các học phái
khác nhau của tư tưởng Phật giáo. Trường phái tâm lý học,
được gọi là Du già luận (Yogàcàra) nỗ lực giải thích
thế giới từ quan điểm ý thức hay quan niệm, trong khi đó
trường phái hữu thể học mà đại diện là Trung quán luận
(Madhyamika) nhắm kéo thực tại về Tánh Không bằng các phủ
định tất nhiên tính của mọi hiện hữu cá biệt. Đằng
khác, quan niệm về Pháp Thân (Dharmakaya) vẫn tiếp tục phát
triển theo một đường hướng khác. Vì những trào lưu tư
tưởng khái quát này chưa hề được hệ thống hóa toàn triệt,
những người học Phật thường thất bại không làm sao liên
kết những khái niệm này cho chúng cùng hòa điệu với nhau.
Những giải thích vắn tắt của tôi chỉ mong giúp đỡ họ
được phần nào mà thôi.
Vì
mang tính cách triết học ít nhiều, người ta cho rằng các
quan niệm của Phật giáo khó mà nắm cho vững. Một vài học
giả Phật giáo Tây phương cố hết sức để lãnh hội những
khái niệm sâu sắc của nó, họ thất bại, nhất là đối
với ý nghĩa Tánh Không và Chân Như. Một trong những chỉ
trích thông dụng nhất nhắm tới Phật giáo là nói, vì nó
phủ định hiện hữu, nên rao giảng hư vô luận hay phủ định
luận. Mặt ngoài cái đó đúng. Nhưng những cái Phật giáo
nói, vượt qua cả phủ định đó, vì đây là cõi của Tánh
Không. Nếu chúng ta bước vào cảnh giới khước từ tuyệt
đối (viviktà), sẽ nắm được ý nghĩa của Chân Như hay Tánh
Không. Nắm được nó, thế giới thiên sai vạn biệt này sẽ
được tiếp nhận trong ý nghĩa đặc hữu của nó.
Thiền
sư Duy Khoan (Truyền đăng lục VII), có người hỏi:
“Đạo
là gì?” , tức muốn nói chân lý rốt ráo của Phật pháp
là gì?
Sư
bảo: “Núi đẹp quá!”, nói tới ngọn núi sư đang ẩn cư.
Người
đó lại hỏi: “Tôi không hỏi núi, tôi hỏi Đạo là gì?”
Sư
đáp: “Nếu như ông không ra khỏi núi, làm sao đến Đạo?”
(tức đến Đường Cái).
Lần
khác, có người đến hỏi sư; về Đạo. Sư nói: “Ngay trước
mặt ông đây” (vì Đạo là Đường Cái).
“Tại
sao tôi không thấy?”
“Ông
không thấy là vì ông có cái Tôi.” (tại vì người đó nói
Tôi không thấy).
“Ông
không thấy vì Tôi có Tôi, còn hòa thượng có thấy không?”
“Có
Tôi rồi lại có Ông, cứ dây dưa mãi nên không thấy.”
“Không
có Tôi, cũng không có ông, thì ai là người muốn thấy”
Xin
bình luận về kết luận đó của sư. Chính vì cái người
muốn thấy Đạo không có, nên ngọn núi này là nơi ẩn cư
yên tĩnh cho các nhà sư, và những đóa hoa rừng hoa dại này
đang nở nụ dù không có dân thành phố đến chiêm ngưỡng.
Chỉ
trích khác nhắm tới Phật giáo Đại thừa là nói, nó phiếm
thần. Khi mà Đại thừa thấy Phật tính nơi khắp mọi vật,
ngay đến nơi vật vô tri, hình như ông có khuynh hướng phiếm
thần trong cái triết học của mình. Nhưng, hãy đọc kỹ đoạn
văn dưới đây và sẽ thấy toàn thể thiên hướng của bài
pháp đó nhắm tới đâu.
Thiền
sư Duy Khoan (Truyền đăng lục VII), có người hỏi :
“Con
chó có Phật tính không?”
“Hòa
thượng cũng có?”
“Không”.
“Hết
thảy chúng sinh đều có Phật tính, tại sao riêng hòa thượng
không có?”
“Vì
ta không phải là hết thảy chúng sinh.”
“Nếu
không phải là chúng sinh, hòa thượng là Phật?”
“Không
phải là Phật.”
“Vậy
hòa thượng là vật gì?”
“Cũng
không phải là vật gì.”
“Vậy
thấy được và nghĩ được không?”
“Thấy
không tới, nghĩ không ra. Do đó nói là bất khả tư nghị”
Khi chúng ta đọc kỹ qua đoạn đối thoại này, chúng ta thấy
rằng nhà Đại thừa nhìn bất cứ cái gì cũng vượt ngoài
những thực tại cá biệt không thể được bao hàm trọn vẹn
trong chúng, hay, nói theo Đại thừa, Phật tính thị hiện nơi
mỗi vật thể riêng biệt nơi con chó, nơi cây, nơi đá,
trong dòng nước, trong một hạt bụi, trong anh trong tôi, trong
người ngu cũng như trong đức Phật; nhưng đồng thời nó
vượt ra ngoài chúng, tư duy hay tưởng tượng của chúng ta
không thể nắm được nó. Cái nhìn thực tại đó không thể
gọi là phiếm thần.
Có
một điểm khác mà chúng ta phải đặt đối lại với giải
thích
phiếm thần về triết lý của đạo Phật. Điều này phù
hợp với học thuyết viên dung vô ngại trong Hoa nghiêm tông.
Khi thiền sư Thiên Long đưa ngón tay cái lên trả lời câu
hỏi “Phật là gì?” sư không cốt nói ngón tay của sư là
Phật, hay đó là sự hiển lộ hoặc thị hiện của ngài.
Nếu thực tình như thế, chúng ta có thể nói trong ngón tay
đã ngụ phiếm thần rồi. Nhưng nơi ngón tay sư không có ý
chỉ như vậy, dù ám chỉ. Nếu tôi có thể thêm vào lời
bàn không cần thiết và dài dòng khác, chính vì tôi muốn
nêu lên thái độ phi phiếm thần của Thiên Long, ngón tay của
sư dựng lên ở nó hoàn toàn nó là nó, không liên hệ gì
tới Phật, tới những hóa hiện của ngài, hay những quan hệ
thời gian không gian; phải tiếp nhận ngón tay trong khía cạnh
khước từ tuyệt đối của nó; ngón tay không lệ thuộc vào
bất cứ hình danh sắc tướng nào, luận lý, siêu hình hay
thần học. Chính ngón tay được đưa lên trước mắt các
ngài là thực tại nguy hiểm nhất, và cái ngài chỉ cần chớm
khởi là đã rơi ngay vào vực thẳm tuyệt mù không đáy.
3
Đại
khái có ba phương tiện thể hiện nhờ đó những người theo
đạo Phật tiến tới cái nhìn như thực về thực tại : 1.
Thực hành, 1. Tri thức, và 3. Trực giác.
Tất
cả những người theo đạo Phật đều tuân theo phương pháp
thực hành; nhưng Chân ngôn tông có thể giải thích điểm
của tôi một cách tượng hình hơn. Phương pháp này cốt phối
trí hoàn cảnh như thế nào cho tâm đáp ứng hòa điệu với
bầu không khí chung đã được đặt bày ra đó; nói thế tức
là, tai nghe âm thanh trang trọng, mắt nhìn thánh tượng của
Phật và Bồ tát, mũi ngửi các mùi hương vi diệu của cõi
trời, tay bắt các ấn quyết (mudra) bí mật, và miệng tụng
đọc những chân ngôn mật nghĩa. Khi thực hiện đầy đủ
những sự phối trí này, đương nhiên chúng gây ảnh hưởng
lên tâm, và rồi, công năng tập khí (vasana)[8] tuôn ra từ
chúng thâm sâu vào tâm một cách rất tự nhiên. Nếu công
việc này được lặp đi lặp lại đều đặn trong một khoảng
thời gian nào đó, cuối cùng hành giả có thể tiến tới
chỗ chứng ngộ.
Phương
pháp thứ hai giúp cho thành tựu mục tiêu cứu cánh của giáo
pháp Đại thừa là cần sự hỗ trợ của trí thức[9]. Đây
là pháp môn tu tập căn cứ vào triết học của Hoa nghiêm
hay Thiên thai tông. Hoa nghiêm tông giảng dạy một hệ thống
trừu tượng rất cao được mệnh danh là bốn Pháp giới (Dharmadhatu);
còn Thiên thai tông dạy phép Tam quán gồm Không, Giả và Trung.
Tất cả những giáo pháp này dành riêng cho hạng thượng căn
thượng trì. Nếu chưa từng trải qua thời gian dài học tập
triết lý, khó có thể hiểu thấu ý nghĩa uyên áo được
tàng ẩn trong đó .
Phương
pháp thứ ba, cần có hỗ trợ của khả năng trực giác của
chúng ta, đó là pháp môn Thiền[10]. Có thể pháp môn Niệm
Phật cũng được liệt vào mục này. Đây là phương pháp
chỉ thẳng vì nó từ chối sự hỗ trợ của những những
giải thích văn tự, phân tích của luận lý, hay lễ tụng.
Bất kể thực tại được nhắm đến là thực tại nào, Thiền
đề nghị nắm thẳng lấy nó, không qua trung gian những công
cụ như tri thức hay tưởng tượng, hay tích tụ công đức,
v.v... Nó trực tiếp làm trỗi dậy năng lực tâm linh cao nhất
mà ta có thể gọi là trực giác, và nhờ đó mà đạt được
giác ngộ.
Khỏi
phải nói, Thiền (Dhyàna) được thực hành song song với những
phương pháp đào luyện tâm linh này, vì nếu không có nó thì
bất cứ pháp môn nào, dù tri thức hay trực giác hay lễ tụng,
đều không thể đưa đến kết quả như ý muốn. Bất cứ
lúc nào đạo Phật cũng đặt vào công dụng thực tiễn, do
đó chúng ta nên hiểu rằng Thiền (Dhyàna) là một sự kiện
không thể không có. Chỉ trong Thiền tông, sự kiện đó mới
được thực hành có hệ thống hơn; sự thực, việc tu tập
Thiền định trong Thiền tông được coi như là phương tiện
phù hợp với chứng ngộ rất ách yếu. Trên khía cạnh lịch
sử, chữ “Thiền” (của Thiền tông, Zen) xuất phát từ
chữ Dhyàna, Thiền na hay Thiền định.
Như
thế, trong số ba phuơng pháp đưa đến tình trạng giác ngộ
trong sinh hoạt của Phật giáo, Thiền đã biểu thị rõ rệt
tính cách thực tiễn và hữu hiệu phổ biến nhất cho tâm
hồn Đông phương. Vì nó đã cung cấp khá nhiều cho việc
thẩm định một cảm thức nghệ thuật nào đó trong đời
sống của dân tộc Nhật Bản, tôi sẽ để dành phần còn
lại của bài giảng của tôi cho Thiền và giá trị văn hóa
của nó.
Chân
ngôn hiểu rõ cách thẩm định giá trị của hình thể và
do đó nó đã hỗ trợ khá nhiều trong công trình sáng tạo
những đối tượng thẩm mỹ của nghệ thuật. Thiên thai,
Hoa nghiêm, và Duy thức - ba ngành giáo tông của Phật giáo
Đại thừa, chuyên về mặt học thuật, chắc chắn đã kích
thích sự trưởng thành của khả năng duy lý[11]; và khi Nhật
Bản đối diện với sự du nhập của tư tưởng phương Tây,
nó đã biết rõ phải phân biệt và thâu thái nền tư tưởng
đó như thế nào cho phù hợp với những nhu cầu của mình.
Sự kiện Nhật Bản đã tiếp nhận sự xâm nhập của duy
tâm huấn cận đại và biện chứng pháp Hegel tùy theo khuôn
khổ tinh thần của riêng nó, sự kiện này chắc chắn do khả
năng tri thức của nó đã chịu huấn luyện nghiêm khắc dưới
tay của các triết gia Phật học.
Sự
kiện lạ lùng là, Thiền đã tiếp tay thúc đẩy việc nghiên
cứu Nho học. Nếu Thiền không tán trợ việc học hỏi triết
lý của đạo Phật, coi đó là một trở ngại cho sự tăng
trưởng của khả năng trực giác, thì nó đã hành động như
một sứ giả cho nền học thuật của Trung Hoa trên tổng quát,
bao gồm thi ca, lịch sử, đạo đức, triết học, thơ pháp,
hội họa, v.v... Đây là một hiện tượng bất thường trong
lịch sử của đạo Phật, theo đó, một nền giáo thuyết
chống đối văn tự như thế mà lại trở thành một đại
diện có thế lực và có hiệu quả trong việc duy trì và khích
lệ cho tinh thần bác học.
4
Trong
một ý nghĩa nào đó, Thiền là lối giải thích của Trung
Hoa về tông chỉ giác ngộ. Khi Phật giáo đi ngang qua lăng
kính của tinh thần Trung Hoa, nó được khu phân thành nhiều
tông phái, trong số đó Thiền tông là một. Nhưng hiển nhiên
Thiền tông thích hợp nhất cho tâm lý người Trung Hoa, vì
trong số tất cả những tông phái Phật giáo được phát huy
tại đất này suốt 20 thế kỷ trưởng thành, Thiền là một
trong hai trào lưu của tư tưởng Phật giáo đã sinh tồn đắc
lực nhất. Quả vậy, nếu phải nói tới danh hiệu chính thức
của một tông phái, thì chỉ có Phật giáo Thiền tông là
còn hiện hành ở Trung Hoa; vì pháp môn Tịnh độ chưa hề
là một tông phái đứng riêng tại Trung Hoa, nó nương nhờ
trong các Thiền viện như một người khách thường trú.
Trên
phương diện lịch sử, đương nhiên Thiền bắt đầu từ
lúc Bồ đề Đạt ma sang Tàu khoảng đầu thế kỷ VI. Nhưng
thực tế Thiền chính thức thành danh kể từ ngày Huệ Năng
xuất hiện (637-714); ngài quê quán ở Lĩnh Nam. Lịch sử của
Thiền tông từ Bồ Đề Đạt Ma truyền xuống Lục tổ Huệ
Năng đã được nói đến trong Thiền luận I của tôi[12].
Ngoài
sự chú trọng của nó trên tầm quan trọng toàn triệt của
kinh nghiệm cá nhân trong việc chứng nghiệm cùng đích, Thiền
còn có những sắc thái đã gây ảnh hưởng đạo đức rất
lớn chung đúc nên cái mà chúng ta có thể gọi là tinh thần
Đông phương, đặc biệt là Nhật Bản.
1.
Quên hình thức là đặc điểm chung của thần bí, Thiên chúa
giáo, Phật giáo hay Hồi giáo cũng vậy. Khi chú trọng nơi
tầm quan trọng của tâm linh, những bộc lộ bên ngoài của
nó tự nhiên trở thành những sự thể có ý nghĩa thứ yếu.
Hình thức không nhất thiết phải bị rẻ rúng, nhưng người
ta ít chú ý đến nó, hoặc chúng ta có thể nói rằng chủ
nghĩa ước lệ bị gác sang một bên và tính cách độc sáng
cá nhân được chấp nhận đến kỳ cùng. Nhưng chính vì thế
mà tất cả những gì liên hệ với Thiền đều mang âm hưởng
trầm trọng của sự hướng nội thấy rõ. Còn như nói tới
hình thức, người ta chẳng thấy ở đây có cái gì là đẹp,
là gợi cảm đối với các giác quan, nhưng cảm thấy có sự
thể nào đó hướng nội hay tâm linh hiện diện một cách
hiển nhiên bất chấp sự khiếm khuyết bất toàn của hình
thức, cũng có thể nó hiện diện do chính sự bất toàn này.
Lý do là như vầy: khi hình thức toàn hảo, các giác quan của
chúng ta no đủ quá độ và tâm có thể xao lãng bổn phận
sâu kín hơn của nó, ít nhất là tạm thời. Những nỗ lực
được tập trung quá lớn để hướng ra ngoại giới không
thể biểu lộ cho những gì mang ý nghĩa nội tại nằm trong
chúng. Do đó, Đan Hà đốt tượng Phật bằng gỗ để nhúm
lửa, và thần tượng cùng theo đó biến mất luôn. Hiện Tử
trở thành một người bắt cá trái với thông lệ của đời
sống tăng lữ. Đại Đăng quốc sư (Ðại tô Kokushi, 1282-1337)
trở thành một tên hành khất, và Quan San quốc sư (Kanzan Kokushi,
1277-1360) trở thành một mục tử.
2.
Sự hướng nội của Thiền hành ngụ tính cách chỉ thẳng
của nó đối với tâm linh con người. Khi người ta dẹp bỏ
trung gian của hình thức, một tâm linh này sẽ nói chuyện
thẳng với một tâm linh kia. Cứ đưa lên một ngón tay, trọn
cả vũ trụ nằm trong đó. Chẳng có lối chỉ thẳng nào hơn
thế, trong thế giới của tương đối này. Trung gian của tương
giao hay biểu tượng để bộc lộ bản thân được rút
ngắn đến mức tối đa. Một chữ hay một cái nháy mắt là
đủ rồi, tại sao người ta phí cả một đời để viết
những quyển sánh dày cộm hay xây một thánh đường đồ
sộ?
3.
Chỉ thẳng là một cách nói khác về tính giản dị. Khi tất
cả những phụ tùng cho việc diễn tả các ý tưởng được
dẹp bỏ, chỉ một cọng cỏ cũng đủ thay thế đức Đại
Nhật Như Lai (Vairochana) cao trượng sáu. Hay một vòng tròn
cũng là biểu tượng khả dĩ trọn vẹn nhất cho tính cách
vô lượng vô biên của chân lý. Tính chất giản dị đó cũng
được bộc lộ trong đời sống. Một chòi tranh khiêm tốn
trên núi, một nửa dành cho nhưng đám mây trắng và một nửa
còn lại đủ cho nhà hiền triết. Những củ khoai vùi trong
đống lửa phân bò đủ làm dịu cơn đói, còn mình thì ném
cái nhìn khinh bỉ lên đồ ban tặng của triều đình.
4.
Bần cùng và giản dị đi đôi với nhau, nhưng chỉ bần cùng
và hạ tiện suông không phải là Thiền. Nó không kết hợp
với sự bần cùng để chỉ vì sự bần cùng. Do tri túc, nó
không muốn nhiều - đối với kẻ khác đó là bần cùng nhưng
với nó thì thế là vừa đủ - đây là một tiêu chuẩn của
đời; vì sự hướng nội trong tính chất bần cùng của Thiền
không liên hệ chút nào với những sở hữu, hay giàu có với
sự thặng dư tài sản vật chất.
5.
Thiền coi những dữ kiện của kinh nghiệm có giá trị hơn
những biểu hiện, những biểu tượng và những khái niệm
– nói thế tức là trong Thiền chỉ có chất chứ không có
văn. Do đó, Thiền chủ trương duy nghiệm triệt để. Như
vậy thì, không gian không phải là sự thể trải dài ra trước
mắt, thời gian không phải một đường thẳng kéo dài từ
quá khứ, hiện tại đến tương lai. Thiền không biết tới
thứ không gian, thời gian nào như vậy do đó, những ý niệm
như vĩnh cửu, vô hạn, vô biên, v.v..., chỉ là những mộng
tưởng đối với Thiền. Vì Thiền sống trong những sự kiện
hiển nhiên. Có thể coi chúng là tạm bợ, nhưng cái tạm bợ
đó cũng là một ý niệm vọng tưởng. Khi Thiền so sánh một
làn chớp lóe lên rồi biến mất ngay trước khi các ngài kịp
thốt lên tiếng “ồ!”, cái đó không ngụ ý rằng đời
sống đối với Thiền chỉ có nghĩa là thoáng chốc. Nhưng
chúng ta có thể nói rằng Thiền tránh những sự kinh dinh,
cẩn trọng. Khi nóc nhà bị dột, thiền sư gọi thị giả
mang cái gì vào để giữ cho tấm điệp (tatami) được khô.
Không một thoáng do dự, một người mang vào cái giỏ tre,
một người kiếm cái thùng và mang vào. Người ta nói, thiền
sư hài lòng hết sức với ông thị giả mang cho cái giỏ tre.
Chính ông này mới là người thấu hiểu tinh thần của Thiền
hơn nhà sư cẩn trọng kia, mặc dù sự khôn ngoan của ông
chứng tỏ thực tiễn và hữu dụng hơn nhiều. Cục diện
này Thiền gọi là “vô phân biệt” nói theo thuật ngữ.
6.
Cái mà người ta có thể gọi “vĩnh tịch”, được thấy
nơi trọng tâm của Thiền. Đây là một thứ cảm giác về
sự cô liêu.
Trong
kinh Lăng già chúng ta có sự kiện này, gọi là pháp viễn
ly (viviktadharma). Kinh nghiệm về pháp đó hình như đánh thức
tình cảm về sự đơn độc vĩnh viễn. Cái đó không có nghĩa
rằng chúng ta đều có cảm giác cô liêu và săn đuổi một
sự thể nào đó rộng hơn và mạnh hơn chính mình. Tất cả
những tâm hồn của tôn giáo ít nhiều đều có cưu mang tình
cảm này; nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây không phải
là sự cô liêu theo kiểu đó, nhưng sự cô liêu của một
thể tính tuyệt đối, nó ngự trị trên chúng ta khi một thế
giới thiên sai vạn biệt vận hành dưới những điều kiện
không gian, thời gian, và nhân quả bị bỏ lại đàng sau, khi
tâm linh lớn cao trong bầu trời và trôi nổi tự do theo ý
muốn như một cụm mây lang bạt.
7.
Khi đã hạn định tất cả những khía cạnh đó của thiền,
chúng ta tìm thấy một thái độ quyết định nào đó của
thiền đối với đời sống nói chung. Khi nó tự biểu lộ
trong nghệ thuật thì nó tạo ra cái mà người ta có thể gọi
là tinh thần thẩm mỹ của thiền. Trong đây, rồi chúng ta
sẽ thấy tính chất đơn giản, trực chỉ, xả ly táo bạo,
dửng dưng, bất cần đời, nội tâm, khinh miệt hình thức,
những tác động tự do tâm linh, nhịp thở thần bí của một
thiên tài sáng tạo đang để hết tâm trí vào tác phẩm –
dù là trong hội họa, trong cách viết, trong lối làm vườn,
trong trà đạo kiếm thuật, vũ, hay thi ca.
5
Như
tôi đã nói trên, trong số tất cả các tông phái của Đại
thừa Phật giáo, Thiền tông đã kích động mãnh liệt cho
sự bồi dưỡng của các ngành nghệ thuật riêng biệt của
Nhật Bản, và sự mô tả trên có thể giúp hiểu đại khái
về tinh thần của khía cạnh này trong nền văn hóa Nhật Bản.
Để phác họa, xin chọn lối vẽ Nhật Bản được gọi là
“vẽ mực” (Sumiye: mặc hội) và thể thơ Nhật Bản mệnh
danh “bài cú” (Haiku) và kể cả huấn thị của một thiền
sư dành cho những võ sĩ (Samurai) cơ lớn, lão luyện trong môn
đấu kiếm.
Thiền
đến Nhật Bản vào thế kỷ thứ 12 và suốt tám trăm năm
lịch sử, nó đã ảnh hưởng đời sống Nhật bản trong nhiều
phương diện, không chỉ trong đời sống tâm linh của võ sĩ
đạo mà còn trong những biểu hiện nghệ thuật của Nhật
Bản bởi những tầng lớp có học thức và có văn hóa. Mặc
hội, một trong những biểu hiện như thế, không phải là
lối vẽ noi theo nghĩa thông thường; nó là một lối vẽ phác
đến trắng; mực được làm bằng bồ hóng; cây cọ được
làm bằng lông dê hay lông thỏ, và lông thỏ thông dụng hơn
vì nó hút nhiều mực; giấy được dùng và giấy mỏng và
dễ thấm mực, khác xạ với lụa được dùng ở những họa
sĩ sơn dầu, và sự khác biệt này rất có ý nghĩa cho nghệ
sĩ mặc hội (sumiye).
Lý
do tại sao người ta chọn một chất liệu không bền như thế
để làm phương tiện chuyên chở một cảm hứng nghệ thuật,
là vì rằng cảm hứng đó cần phải được ghi lên chất
liệu kia càng lẹ càng tốt. Nếu cây cọ kéo quá lâu nó sẽ
làm thủng giấy.
Các
đường thẳng nên vẽ nhanh hết sức và rất ít nét, chỉ
vẽ những đường nào tuyệt đối cần thiết. Không được
phép gò bó, tẩy xóa, vẽ lại, sửa lại, đổi lại, không
nắn nót, không bố cục. Khi đã thực hiện xong, nhưng nét
vẽ không thể bôi bỏ được, không thể sữa chửa được,
không thể có bất cứ những kiểu chính hay cải tiến nào
về sau. Những gì đã được thực hiện kể từ đó hoặc
gây ra cái nhìn tươi sáng hay khó chịu, đều tùy theo bản
chất của loài giấy như thế nào đó. Nghệ sĩ phải tuân
theo cảm hứng của mình y nguyên trong vận chuyển ngẫu nhiên,
tuyệt đối và khoảnh khắc của nó; ông chỉ việc để cho
cánh tay, những ngón tay, và cây cọ của mình chạy theo cảm
hứng đó y như chúng hoàn toàn là những công cụ, kể luôn
cả con người của ông, đang ở trong tay của một kẻ nào
đó đã đến chiếm hữu ông trong chốc lát. Hoặc giả chúng
ta có thể nói rằng cây cọ tự ý thực hiện tác phẩm hoàn
toàn ở bên ngoài nghệ sĩ, ông ta chỉ việc để cho nó vận
chuyển không cần đến những nỗ lực chú ý của mình. Nếu
có lý luận hay suy nghĩ gì xảy ra giữa cây cọ và mảnh giấy,
toàn bộ kết quả đều bị h hỏng. Mặc hội được tạo
ra theo cách đó.
Người
ta có thể nhận thấy dễ dàng rằng những đường nét của
mặc hội nhất định là biến ảo vô cùng, trong đó, không
có tối sáng, không có gần xa. Thực tình, những lối vẽ
đó không cần thiết trong mặc hội, vì ở đây không có ý
định nhắm tới thực tế. Mặc hội cốt ý làm cho tinh thần
của một sự vật chuyển động trên giấy. Như thế mỗi
nét bút phải đánh nhịp theo mạch sống của một vật thể
sống động. Và nó cũng phải sống động. đương nhiên, mặc
hội được điều khiển bởi một bộ các nguyên tắc khác
hẳn với những nguyên tắc của tranh sơn dầu. Nếu bức lụa
thuộc chất liệu bền và những màu sơn dầu cho phép bôi
xóa hay vẽ chồng lên, như tranh sơn dầu, một họa phẩm như
thế được bố cục có hệ thống và được sắp đặt cẩn
thận. Rộng lớn trong quan niệm, và mạnh khi thực hiện, khỏi
nói đến óc duy thực của nó, là những đặc điểm của
tranh sơn dầu, có thể so sánh chúng với một hệ thống tư
tưởng triết lý được suy diễn chín chắn, mỗi bên được
kết dệt sít sao bằng đường dây luận lý của nó; hoặc
có thể đọ với một ngôi giáo đường lớn những tường,
cột, nền móng của nó được xây bằng những khối đá rắn
chắc. So sánh như thế, một nét phác mặc hội quả thực
nghèo nàn, nghèo trong hình thức, nghèo về nội dung, nghèo
kỹ xảo, nghèo chất liệu, nhưng dân tộc Đông phương chúng
tôi cảm thấy trong nó hiện diện một tinh thần nào đó đang
vận chuyển, bay lượn kỳ diệu quanh những đường, những
điểm, nhưng bóng mờ qua vô số biến thái; tiết nhịp hơi
thở sống động của nó đang rung động trong chúng. Một cành
bách hợp lẻ loi đang nở nụ hình như được vẽ cẩn thận
trên một mảnh giấy thô - nhưng ở đây bày ra một cách sống
động tinh thần nồng nhiệt và ngây thơ của một trinh nữ
được che chở qua cơn giông bão của cuộc đời. Lại nữa,
nếu có thể nhìn theo lối phê bình phù phiếm, ở đây chẳng
có cảm hứng và kỹ xảo nghệ thuật gì lắm - một chiếc
thuyền con vô nghĩa của một ngư ông ở giữa vùng nước
rộng bao la; nhưng khi ngắm kỹ chúng ta không khỏi bị ấn
tượng sâu đậm trước sự hoằng viễn của đại dương
không biết đâu là bờ bến và trước sự hiện diện của
một tinh thần kỳ diệu đang thở một sức sống của vĩnh
cửu không dao động giữa những ngọn sóng nhấp nhô và tất
cả những điều kỳ diệu này được thành tựu một cách
dễ dàng, và không cần nỗ lực gì hết.
Nếu
mặc hội cố tình sao chép một thực tại khách quan, thì hoàn
toàn thất bại; vì đích thực là một công trình sáng tạo,
nên không bao giờ nó làm công việc đó. Một điểm trong một
vẽ phác mặc hội không tượng trưng một con cò, một đường
cong, cũng không biểu tượng ngọn Phú sĩ sơn. Điểm đó là
chim và đường đó là núi. Nếu trong một họa phẩm, nhìn
đâu cũng thấy giống, tấm lụa hai chiều không thể tượng
trưng cho cái gì là khách quan; những màu sắc còn xa mới đạt
tới nguyên mẫu, và dù một hoạ sĩ có thể nỗ lực trung
thành tới mức nào với những cây cọ của ông để gợi
cho chúng ta nhớ lại một vật thể thiên nhiên y hệt thì
kết quả không bao giờ tỏ ra ý hệt nó; vì càng mô phỏng,
càng tượng trưng, thì càng nghèo nàn, khôi hài. Nhà nghệ
sĩ mặc hội lý luận như thế này: Tại sao không vứt bỏ
hẳn cái ý đồ như thế? Hãy cứ sáng tạo những vật sống
theo óc tưởng tượng riêng của chúng ta. Bao lâu mà tất cả
chúng ta vẫn còn ở chung trong một vũ trụ như nhau, những
sáng tạo của chúng ta có thể chứng tỏ phù hợp với những
gì mà chúng ta gọi là những vật thể của thiên nhiên. Nhưng
đấy không phải là yếu tố chính của tác phẩm. Giá trị
riêng biệt của tác phẩm không phải là giống. Trong mỗi
nét bút, có sự thể nào hiển lộ bản sắc không? Tinh thần
của mỗi nghệ sĩ vận chuyển ở đây. Những con chim của
ông là tạo vật riêng của ông. Đấy là thái độ của một
họa sĩ mặc hội đối với nghệ thuật của ông, và tôi
muốn nói ngay rằng thái độ này cũng là thái độ của Thiền
đối với đời sống, và những gì Thiền nhắm tới bằng
đời sống của mình thì nghệ sĩ thực hiện bằng giấy,
bút và mực của ông. Tinh thần sáng tạo vận chuyển khắp
nơi, và trong đời sống cũng như trong nghệ thuật đều có
tác phẩm của công trình sáng tạo.
Nghệ
sĩ mặc hội vạch xuống một đường thẳng, thế là xong,
không có thứ gì có thể vượt ra ngoài nó, hay kéo lui nó
lại; cũng y như một làn chớp. Chính nghệ sĩ cũng không cản
nó được; từ đó nảy ra vẻ đẹp của đường thẳng. Những
sự thể đẹp ở nơi chúng nhất định phải thế, nghĩa là
khi chúng tự do trình diện một tinh thần nào đó. Ổ đây,
không có cưỡng bức, không có giết hại, không vặn vẹo,
không sao nguyên, chỉ có dòng vận động phơi bày tự do không
gò ép, nhưng tự chủ - đó là yếu tố của nguyên tắc thẩm
mỹ. Các bắp thịt chú ý vẽ một đường thẳng, chấm một
điểm, nhưng đằng sau chúng là một vô thức. Bằng vô thức
đó thiên nhiên viết ra định mệnh của nó: bằng vô thức
đó nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật của mình. Một
chú bé cười và toàn thể đám đông ngây ngất, bởi vì nó
phát ra tự vô tâm, nhất định phải thế. Vô niệm hay Vô
tâm, mà các thiền sư hay nói tới, như chúng ta đã từng bàn
đến, cũng hiển nhiên là tinh thần của nghệ sĩ mặc hội.
Một
đặc điểm khác làm nổi bật mặc hội là nó cố gắng bắt
lấy tinh thần ngay trong dòng vận động. Mọi vật đều sinh
hóa, trong thiên nhiên không có cái trơ lì bất động; khi các
ngài tưởng rằng mình đang nắm chặt cái đó trong tay, nó
đang vuột khỏi tầm tay các ngài. Bởi vì khoảnh khắc mà
các ngài bắt, nó không còn sống nữa; nó đã chết. Nhưng
mặc hội cố bắt các sự thể đang sống, hình như là việc
làm khó mà thành công nổi. Quả nhiên, đó là sự việc không
thể, nếu nỗ lực của nghệ sĩ là cốt trình bày những
sự vật sống động trên giấy, nhưng ông có thể thành công
đến mức nào đó khi mà mỗi nét bút ông vẽ ra đều trực
tiếp liên hệ với tâm linh nội tại của ông, không bị quấy
rầy bởi những yếu tố ngoại lai, như các ý tưởng chẳng
hạn, v.v... Trong trường hợp này cây cọ của ông ta là cánh
tay của chính ông đang duỗi ra; hơn thế nữa nó là tinh thần
của ông, và người ta cảm nhận được tinh thần này ngay
trong lúc nó được ghi dấu lên giấy. Khi thực hiện được
điều đó, một họa phẩm mặc hội chính là một thực tại,
tròn đầy, không phải là bản sao một cái gì khác. Nhưng
ngọn núi ở đây cũng thực tế y như ngọn Phú sĩ sơn thực
tế kia; cũng thế, đây là những cụm mây, con suối, cây cối,
sóng nước, và bóng. Bởi vì tinh thần của nghệ sĩ đang
phát lộ qua những thứ đó: những khối, những đường những
điểm, và “sa mù”.
Như
thế đương nhiên mặc hội tránh tô màu bất cứ loại nào
vì nó lưu ý chúng ta về một vật thể của thiên nhiên, và
mặc hội không có mục đích nhắm sao lại, toàn hay bất toàn.
Trong phương diện này mặc hội cũng giống như thư pháp. Trong
thư pháp, mỗi chữ, gồm những nét ngang, dọc, mác, phẩy,
móc, đá, không nhất thiết phải chỉ cho một ý tưởng nhất
định nào, mặc dù không phải nó hoàn toàn không biết tới,
bởi vì một chữ trước hết coi như đã có ý nghĩa nào đó
rồi. Nhưng với tính cách là một nền nghệ thuật riêng cho
Viễn đông, ở đó một cây viết lông, dài, nhọn, mềm được
dùng để viết, mỗi nét được thực hiện với cây viết
đó đều có một ý nghĩa ngoài phận sự nó như một yếu
tố cấu tạo một chữ biểu tượng một ý niệm. Cây viết
đó là một vật dụng chìu người và sẵn sàng đáp ứng
mọi động tác tùy ý của nghệ sĩ hay của người viết.
Trong những nét chữ mà ông viết ra chúng ta có thể nhận
biết tinh thần của ông. Đây là lý do tại sao ở Đông phương
mặc hội và thư pháp được xếp chung vào một bộ môn nghệ
thuật như nhau.
Sự
phát triển của cây viết lông nên để khảo cứu riêng. Chắc
chắn nó có liên hệ nhiều với những biến cố về chữ
viết và cách viết của Trung Hoa một dụng cụ mềm mại,
nhẹ nhàng và dễ chịu như thế mà được đạt vào tay của
nghệ sĩ, quả là một dịp may Những đường và nét nó tạo
ra đều mang dáng dấp tươi mát, gợi cảm và duyên dáng mà
người ta có thể trực nhận trong những vật thể có linh
tính của thiên nhiên, nhất là trong thân thể con người. Nếu
dụng cụ hữu ích đó mà là một thỏi đồng cứng đơ, kết
quả sẽ hoàn toàn ngược lại, và không có lối mặc hội
của Lương Khải, Mục Khê, hay của những bực thầy khác
còn truyền đến chúng ta ngày nay.
Sự
kiện giấy vẽ thuộc loại mong manh để không cho phép cây
cọ dùng dằng quá lâu trên đó, đây cũng là điểm lợi lớn
cho nghệ sĩ khi ông muốn dùng nó để diễn tả mình. Nếu
giấy cứng và thô, dễ cho việc sửa chữa và cần cù, thì
điều đó sẽ rất nguy hại cho tinh thần của mặc hội. Cây
cọ phải chạy dài trên giấy một cách nhẹ nhàng, táo bạo,
đầy đủ, và quả quyết, thì cũng y hệt như công trình sáng
tạo khi vũ trụ mới bắt đầu xuất hiện. Ngay lúc một tiếng
nói phát ra từ miệng của đấng tạo hóa, nó phải được
thực thi tức khắc. Trì hoãn có thể có nghĩa là biến thiên
và như vậy là hủy hoại; hoặc giả ý chí bị chận đứng
không cho vận động hướng tới trước; nó dừng lại, nó
chần chờ, nó đắn đo, nó lý lẽ, và cuối cùng nó đổi
hướng. Thái độ trì hoãn và lưỡng lự đó cắt ngang dòng
tự do trong tâm hồn của nghệ sĩ.
Mặc
dù giả tạo không có nghĩa là hợp quy hay là phối trí cân
xứng chủ đề, và tự do có nghĩa là bất hợp quy trong mặc
hội luôn luôn có yếu tố bất ngờ hay đột ngột. Nơi nào
người ta muốn thấy một đường thẳng hay một khối, thì
nơi đó không có nó, và sự vắng mặt này, thay vì là mất
mát, nó gợi ý về một sự thể ở ngoài kia và hoàn toàn
thỏa mãn. Một mảnh giấy nhỏ, thường là dài, chưa tới
hai gang rưỡi trên sáu gang, bây giờ sẽ bao trùm toàn thể
vũ trụ. Nét ngang gợi ý về tính cách bao la của không gian
và một vòng tròn là cái vĩnh cửu của thời gian - không những
là vô hạn mà còn sống và động. Lạ ở chỗ là sự vắng
mặt của một điểm duy nhất mà tại đó người ta ngầm
mong mỏi có thể thành tựu được sự bí nhiệm này, nhưng
nghệ sĩ mặc hội là một bực thầy từng trải trong thủ
pháp đó. Ông thực hiện điều đó khéo đến nỗi không sao
thấy được tính giả tạo hay chủ ý rõ rệt nào trong tác
phẩm của ông. Đời sống không chủ ý đó là ảnh hưởng
trực tiếp của Thiền.
6
Sau
khi đã thấy một số liên hệ giữa mặc hội (Sumiye) và Thiền,
ở đây xin tiếp tục ghi thêm những nhận xét của tôi về
tinh thần “Vĩnh tịch”. Tôi biết rằng bài giảng của tôi
hoàn toàn không thể tường thuật chính xác về những gì
mà Thiền đã đích thực thể hiện theo phong cách riêng biệt
của nó cho khía cạnh thẩm mỹ trong đời sống của người
Nhật. Tôi chỉ có thể nói, ảnh hưởng của Thiền trong nền
hội họa Viễn đông đã là ảnh hưởng chung, không chỉ giới
hạn cho người Nhật, và những gì tôi đã mô tả cũng có
thể áp dụng luôn cho hội họa Trung Hoa. Tuy nhiên, sự kiện
dưới đây có thể được coi như là đặc biệt Nhật Bản
bởi vì tinh thần “vĩnh tịch” và là sự kiện rất nổi
bật ở Nhật Bản. Tinh thần đó, hoặc giả có thể nói là
nguyên lý nghệ thuật, theo tôi là tinh thần mà tại Nhật
Bản mọi người thường hiểu qua chữ “sabi” (Tịch) hay
“Wabi” (Thác, Shibumi : sáp ?) Bây giờ xin nói vài lời về
điểm đó, dùng chữ Sabi (Tịch) cho khái niệm về nhóm tình
cảm này.
Sabi
xuất hiện trong công tác làm vườn cảnh và trà đạo cũng
như trong văn chương. Tôi sẽ chỉ giới hạn ở văn chương,
nhất là dưới thể thơ bài cú, một thể thơ gồm 17 âm tiết.
Đây là một thể thơ cực ngắn, một sản phẩm đặc biệt
của thiên tài Nhật Bản. Nó được phát triển mạnh dưới
thời Đức xuyên (Tokugawa), và đặc biệt hơn sau Ba Tiêu (Bashô;
1643-1694).
Ba
Tiêu là một thi hào lãng du, một người yêu thiên nhiên vô
cùng đắm đuối, một loài trữ tình lãng mạn thiên nhiên.
Cuộc đời của ông trôi theo cuộc lữ đi từ cực Nam đến
cực Bắc của Nhật Bản. May thay, thời đó chưa có tàu hỏa.
Những tiện nghi của đời sống mới hình như chẳng tốt
đẹp gì cho thi ca. Tinh thần phân tích khoa học của đời
sống mới tước bỏ hết cái u huyền ẩn mật; thi ca, hài
cú, hình như không sống nổi ở những nơi mất hết cả những
huyền vi ẩn mật. Cuộc rối loạn với khoa học là sự kiện
đã lột bỏ hết mọi sự ẩn ước, tất cả bị lột trần,
và những gì thấy được đều đã nằm trơ ra đó. Nơi nào
khoa học ngự trị, óc tưởng tượng gióng trống rút lui.
Chúng
ta bị bắt buộc phải đối diện với những sự kiện được
gọi là cứng rắn đó, và rồi đầu óc chúng ta trở thành
lạnh lùng như xương trắng; nơi nào không có một chút dịu
ngọt dành cho chúng ta, thì thi ca bỏ đi; nơi nào là một bãi
cát mênh mông nơi đó không thể có tàn cây xanh lá. Trong thời
Ba Tiêu, đời sống tha quá vô vị và nặng nề như thế. Một
cái nón tre, một cái gậy trúc và một túi vải có thể đủ
cho nhà thơ lang thang đây đó, dừng lại trong khoảnh khắc
ở một xóm nhỏ khơi dậy tâm tình lãng mạn, thưởng thức
tất cả những lịch nghiệm, dĩ nhiên rất gian khổ trong cuộc
lãng du của thời bán khai. Đến khi cuộc du lịch trở thành
quá dễ dàng và đủ tiện nghi, ý nghĩa tâm linh của nó không
còn nữa. Có thể gọi đây là chủ nghĩa duy cảm, nhưng một
tình cảm cô liêu nào đó được nảy sinh từ cuộc lãng du
gợi cho ta trầm tư về ý nghĩa của đời sống, bởi vì đời
sống kỳ cùng là một cuộc lữ đi từ đầu này đất lạ
đến đầu kia vùng đất lạ. Trong cái thời của những năm
60, 70 và 80 đã định sẵn cho chúng ta rồi, chúng ta được
phép vén mở bức màn huyền ẩn, nếu có thể. Một dòng đời
rất nhẹ nhàng mặc dù là quá ngắn ngủi trôi qua trong khoảng
thời gian này đã cướp mất chúng ta cái cảm giác vĩnh tịch
đó.
Tiền
bối của Ba Tiêu (Bashô) là Tây Hành (Saigyô) dưới thời Kiếm
thương (Kamakura; 1168-1334). Ông cũng là một nhà sư lãng du.
Sau khi rời bỏ quan chức, một võ quan do triều đình phong,
sư để dành cả cuộc đời mình cho cuộc lữ và cuộc thơ.
Đó là một nhà sư của đạo Phật. Nhất định bạn đã
từng thấy, nơi nào đó khi bạn ghé ngang qua Nhật Bản, chân
dung của một nhà thơ trong chiếc áo vân du, hoàn toàn đơn
độc, đang ngắm nhìn ngọn Phú sĩ sơn. Tôi quên mất họa
sĩ là ai, nhưng bức tranh gợi nên nhiều mối cảm nghĩ, nhất
là trong nỗi cô liêu huyền bí của đời sống con người,
dù vậy đó không phải là cảm giác bị bỏ rơi, không phải
là tâm tình nặng trĩu cô liêu, nhưng chỉ là một lối chiêm
nghiệm cái huyền vi của tuyệt đối. Thì đây là một bài
thơ của Tây Hành (Saigyô) :
Gió
cuốn lên
Khói
mờ trên Phú sĩ
Bay
mất ngoài xa xăm
Ai
biết về đâu nhỉ?
Cõi
lòng tôi cùng lang thang
Ba
Tiêu không phải là một nhà sư tu Phật nhưng cũng là một
đệ tử của thiền gia.
Vào
đầu thu, khi trời bắt đầu mưa từng độ, trời đất hiện
thân của vĩnh tịch. Nhưng cành cây trụi lá, những ngọn
núi bắt đầu mang dáng dấp khắc khổ, những con nước trôi
nhanh hơn và trong cảnh chiều khi đàn chim, sau một ngày mệt
nhọc, đang tìm đường về tổ, một lữ khách đơn côi càng
trở nên đăm chiêu về số phận của đời người. Phong độ
của ông cùng cử động với phong độ của thiên nhiên. Ba
Tiêu hát:
Một
lữ khách
Xin
gọi tên tôi là thế
Cơn
mưa thu này
Chúng
ta không nhất thiết phải là những ẩn sĩ, nhưng tôi không
rõ trong mỗi người chúng ta có hay không có một ước vọng
triền miên trước một thế giới vượt ngoài cõi đời thông
tục tương đối này; vọng về nơi mà linh hồn của mình
có thể trầm ngâm chiêm nghiệm số phận riêng tư của nó.
Lúc
Ba Tiêu đang còn học thiền với Phật Đỉnh Quốc Sư (Bucchô
Kokushi), một hôm Quốc Sư đến viếng ông và hỏi: “Lúc
này con ra sao?” Ba Tiêu: “Sau cơn mưa vừa qua, rong rêu xanh
hơn trước.”
Phật
Đỉnh: “Trước khi rêu xanh thì Phật pháp là gì?”
Ba
Tiêu: “Con ếch nhảy vào nước, kìa tiếng động!”
Người
ta nói rằng kể từ đó một giai đoạn mới trong lịch sử
của bài cú bắt đầu. Bài cú trước thời Ba Tiêu chỉ là
một lối chơi chữ, không liên hệ đến đời sống. Ba Tiêu,
nhân được thầy của ông hỏi về chân lý rốt ráo của
mọi vật trước khi có thể giới sai biệt này, đã thấy
một con ếch nhảy xuống giếng cạn, tiếng động rung lên
giữa một vùng tĩnh lặng. Đã bắt được nguồn mạch của
đời sống và nghệ sĩ ngồi ở đây ngắm nhìn cõi lòng của
mình đang xuôi theo dòng sinh hóa triền miên của thế giới
rồi từ đó biết bao nhiêu bài thơ 17 âm tiết truyền lại
đến chúng ta. Ba Tiêu quả là một nhà thơ của Vĩnh Tịch.
Một
bài thơ bài cú khác của ông như sau:
Một
cành cây trụi lá,
Một
con quạ đậu trên cành
Chiều
thu sang.
Tính
cách giản dị của hình thức không phải lúc nào cũng có
nghĩa là có một nội dung thô tục. Có một Cõi Ngoài hoằng
đại ở ngay trong con quạ cô liêu đậu trên cành cây khô
trụi lá. Mọi vật hiện ra từ một hố thẳm huyền ẩn tuyệt
mù, và ngang qua nơi mỗi sự vật đó mà chúng ta có thể ném
cái nhìn vào tận đáy sâu của hố thẳm. Các ngài khỏi cần
phải làm một bài thơ lớn dài hàng trăm câu mới có thể
thổ lộ được cái tình cảm được khơi dậy bởi cái nhìn
rọi vào hố thẳm. Khi một tình cảm đạt tới các độ rung
cảm của nó chúng ta chỉ còn im lặng, vì không có lời nào
nói cho xứng. Thậm chí 17 tiếng cũng là đã quá nhiều rồi.
Trong bất cứ biến cố nào, những nghệ sĩ Nhật Bản nếu
ít nhiều có chịu ảnh hưởng phong thái của Thiền đều
có khuynh hướng dùng rất ít chữ hay rất ít nét bút để
diễn tả tình cảm. Nếu chúng được diễn tả quá đầy
đủ, thì không sao có thể có gợi ý, và tính chất gợi ý
là sự bí mật của các ngành nghệ thuật của Nhật Bản.
Một
số nghệ sĩ còn đi xa hơn nữa, bất kể người thưởng ngoạn
nhìn những nét bút của họ theo cách nào, cái đó không là
vấn đề; sự thực nghệ sĩ càng bị hiểu lầm, giá càng
cao. Những nét hay những khối có thể chỉ cho một vật nào
đó trong thiên nhiên; chúng có thể là chim chóc, là đồi núi,
là bông hoa, hay bóng người hay thứ gì khác; đối với họ
cái đó hoàn toàn không can hệ, họ nói như thế. Quả thực
đấy là một quan điểm cực đoan. Bởi vì nếu những đường,
những khối, và những điểm của họ mà được phán xét
mỗi người theo mỗi cách, đôi khi không giống chút gì với
điều mà nguyên lai nghệ sĩ nhắm tới thì cần gì phải nỗ
lực cho một họa phẩm như thế?
Có
lẽ ở đây nghệ sĩ muốn thêm lời này: “Nếu duy chỉ cái
tinh thần trì ngự nơi tác phẩm của ông được trực nhận
và được thưởng ngoạn đúng mức toàn vẹn”. Từ chỗ
đó mà đi, lẽ đương nhiên các nghệ sĩ Viễn đông hoàn
toàn thờ ơ với hình thức. Bằng cây cọ của mình, họ muốn
trỏ vào những gì đang rung động họ mãnh liệt trong sâu
thẳm. Chính họ, có thể cũng không biết phải diễn tả như
thế nào dòng vận chuyển nội tâm của mình. Họ chỉ thốt
lên tiếng kêu hay múa cây cọ. Có thể đây không phải là
nghệ thuật, bởi vì chẳng có nghệ thuật gì trong phong cách
như thế. Hoặc giả nếu có một thứ nghệ thuật nào đó
chắc đây là loại nghệ thuật bán khai đích thực. Quả đúng
vậy? Dù chúng có tiến bộ mấy trong “văn minh” ngheo nghĩa
nhân tạo, luôn luôn chúng ta vẫn nỗ lực cho cái không nghệ
thuật; vì hình như đó là mục tiêu và căn bản của tất
cả những nổ lực của nghệ thuật. Nghệ thuật ẩn tàng
sau cái vẻ không nghệ thuật của Nhật Bản biết bao! Đầy
ý nghĩa và đầy gợi cảm nhưng toàn hảo trong cái không nghệ
thuật - khi tinh thần Vĩnh Tịch được bộc lộ trong phong
cách đó, chúng ta có tinh thể của Mặc hội và Bài cú.
7
Sự
kiện Phật giáo dưới hình thức Thiền tông đã ảnh hưởng
đến đời sống Nhật Bản, nhất là trong phương diện nghệ
thuật của nó, đến độ chưa có một hình thức Phật giáo
nào so sánh nổi, ấy là vì Thiền chỉ thẳng vào sự thực
hiển nhiên của đời sống thay vì khái niệm. Tri thức luôn
luôn gián tiếp tương quan với đời sống nó là một tác
viên quán xuyến, và những gì thường thiếu trong sức mạnh
bản năng, tức ý chí. Thiền không phải chỉ là ý chí, nó
vẫn chứa một số lượng kiến thức nào đó, cũng ngang bằng
trực giác. tương phản với khuynh hướng biện biệt của
các tông phái Phật giáo khác, Thiền lúc này cũng lấy việc
giao tiếp với đời sống làm căn bản. Đây là lý do chính
yếu tại sao Thiền có vị trí vững trong đời sống Nhật
Bản.
Nghê
thuật đấu kiếm, tập cho lão luyện là một trong những công
việc thu hút nhất của các giai cấp thống trị Nhật Bản
từ thời đại Kiếm thương (Kamakura), nghê thuật này đã
thành công phát triển lạ lùng, và nhiều trường học khác
nhau dạy về môn đó đã thịnh hành cho tới nay vẫn còn.
Thời đại Kiếm thương liên hê chặt chẽ với Thiền, bởi
vì chính vào thời đại Thiền tông, với tư cách là một
tông phái Phật giáo độc lập, đầu tiên được truyền vào
Nhật Bản. Nhiều thiền sư lớn đã cai quản thế giới tâm
linh bấy giờ và mặc dù họ khinh miệt học thuật, học thuật
vẫn được bảo tồn bằng đôi tay của họ. Vào thời này,
các chiến sĩ tụ tập quanh họ khát khao được họ giảng
dạy và rèn luyện. Phương pháp giảng dạy của họ giản
dị và trực tiếp, không cần phải có học thuật uyên bác
về Phật học. Các chiến sĩ cố nhiên không phải là thông
thái lắm; điều họ muốn là đối không rụt rè trước cái
chết mà họ thường xuyên đối diện. Đây là một vấn đề
thực tiễn nhất đối với họ, và Thiền sẵn sàng giải
quyết, có lẽ bởi vì các thiền sư chỉ nói tới những sự
thực của đời sống, không nói tới những khái niệm. Có
thể họ đã nói với một chiến sĩ, khi ông ta đến để
được soi sáng về vấn đề sống và chết: “Không sống
không chết ở đây. Cút lẹ đi.” Nói thế rồi, họ xách
gậy đuổi ông chiến sĩ đó đi. Hoặc giả có một chiến
sĩ đến kiếm sư và nói: “Bây giờ tôi phải trải qua một
cuộc hiểm nghèo nhất của đời sống; nên làm gì?” Sư
có thể rống lên: “Đi thẳng tới, đừng nhìn lại!” Sự
kiện đó cho thấy các chiến sĩ dưới thời Nhật Bản phong
kiến đã được các thiền sư huấn luyện như thế nào.
Bởi
vì các chiến sĩ, đời sống của họ thường xuyên bị đe
dọa và bởi vì thanh kiếm của họ là khí giới duy nhất
quyết định số mệnh của họ trước ngã đường sống hoặc
chết, nghệ thuật đấu kiếm đã phát triển toàn bích lạ
lùng. Vậy không lạ gì mà Thiền đã can dự rất nhiều với
nghề nghiệp này. Trạch Am (Takuan; 1573-1645), một trong những
khuôn mặt lớn nhất của thế giới thiền tông dưới thời
Đức xuyên (Tokugawa), đã giảng huấn thị đầy đủ về thiền
cho đệ tử của mình Yagiu-Tagima-no-kami (chết 1646), ông này
đã làm kiếm sư cho các tướng quân (Shôgun) thời đó. Những
huấn thị đương nhiên không nói tới kỹ thuật của nghệ
thuật đấu kiếm mà chỉ nói thái độ tinh thần của chiến
sĩ .Tuân theo những huấn thị này một cách thông minh nhất
định phải trải qua một cuộc huấn luyện tâm linh rất lớn
cho người đệ tử linh lợi của mình. Một kiếm sư lớn
khác dưới thời Đức Xuyên là Mayamoto Musashi (1582-1642), ông
là người dựng lên một phái gọi là Nitôryu (Nhị đạo lưu).
Ông không chỉ là một kiếm sĩ mà còn là một nghệ sĩ Mặc
hội (Sumiye), và cũng nổi tiếng ngang nhau. Các họa phẩm của
ông rất được tán thưởng và, có thể nói, có “Thiền
vị” . Một trong những khẩu quyết lừng danh của ông về
đấu kiếm như sau :
Dưới
ngọn kiếm đưa cao
Dù
địa ngục đáng sợ;
Hãy
bước tới thì cực lạc trong đây.
Không
chỉ mạo hiểm, nhưng là xả kỷ, đó là một tình trạng
mà Phật giáo gọi là vô ngã. Ở đây là ý nghĩa tôn giáo
của thuật đấu kiếm. Đấy là con đường mà Thiền tiến
sâu vào đời sống của dân tộc Nhật Bản - đời sống đó
trong các phương diện khác nhau của nó, đạo đức, thực
hành, thẩm mỹ, và đến một mức nào đó, tri thức.
Như
đã nói rải rác ở trên, nên coi thuyết Vô ngã của Phật
giáo như là phương pháp thực tiễn quảng diễn triết lý
Vô thức. Vô thức thầm lặng khởi lên ngang qua những ý thức
cá biệt thường nghiệm của chúng ta, và khi nó tác động
như thế thì các ý thức đó coi nó như là một ngã linh hồn
tự do, tự hữu, và thường hằng. Nhưng khi khái niệm này
chiếm cứ ý thức của chúng ta, những hành động tự do đích
thực của Vô thức gặp phải những trở ngại khắp mọi
mặt. Trên phương diện xúc cảm, đây là nguồn gốc của
những phiền muộn ray rứt và đời sống hóa ra không thể
có. Để tái lập sự thanh bình bằng phương cách thực tiễn
nhất, Phật giáo mới dạy chúng ta dẹp bỏ tư tưởng về
một ngã linh hồn, thoát ly sự ràng buộc của nó, làm khô
ráo dòng suối của u phiền liên miên này; vì có thế Vô thức
mới lấy lại khả năng sáng tạo nguyên thủy của nó. Những
sự việc mà người ta gọi là vĩ đại hình như luôn luôn
được thành tựu khi chúng ta gọi thẳng tới Vô thức. Không
chỉ những biến cố tâm linh vĩ đại, những những vấn đề
lớn như đạo đức, xã hội, và thực tiễn, đều là những
kết quả do tác động hiện hành của Vô thức. Vô ngã có
mục đích hướng sự chú tâm của chúng ta vào sự kiện này.
Đối
với tâm hồn người Nhật, Vô ngã (Muga) và Vô tâm (Mushin)
có nghĩa như nhau. Khi người ta đạt tới trạng thái Vô ngã,
tức đã chứng trạng thái Vô tâm, hay Vô thức. Vô ngã (Muga)
gần như là một với trạng thái xuất thần trong đó không
còn có cảm thức “Ta đang thể”. Tình cảm về “Ngã”
là một trở ngại lớn cho sự thực thi một công tác. Mặc
dù sự vắng mặt của ngã ý thức không bảo đảm sự vĩ
đại của một công trình, lưu ý nó, đặc biệt là trong ý
nghĩa tự kiêu và tự thị, tức thì, trên quan điểm tâm linh
mà nói, làm giảm sút giá trị của công trình thành tựu.
Không những thế, sự thành tựu ấy cũng bị hoài nghi đối
với sự thành công trọn vẹn của nó. Luôn luôn nó bị nhuộm
màu của ngã. Tự bản năng, chúng ta quay lưng lại với nó,
coi như không trực tiếp đến từ Vô thức. Những gì hễ
đến từ Vô thức đều hình như vượt ngoài các phán đoán
đạo đức; nó có quyến rũ riêng biệt vì rằng là một tác
phẩm đầu tiên của Vô thức. Sự kiện chúng ta có thể cảm
giác được vẻ quyến rũ này, sự kiện đó làm chứng cho
sự có mặt của Vô thức, hay Vô tâm. Mục tiêu của tất
cả ngành nghệ thuật Nhật Bản quy tụ quanh sự việc tự
mình cảm nghiệm nó, và đấy là sự thể hiện riêng cho nó
Vô ngã (Muga) hay Vô tâm (Mushin), hay không nỗ lực, như thế
là chỗ chí cùng của nghệ thuật.
8
Đây
là trích yếu trong huấn thị Thiền của Takuan nói cho Yasyu
Tajima-no-kami về đấu kiếm:
“Điều
hệ trọng nhất trong nghệ thuật đấu kiếm là phải có một
thái độ tâm lý mà người ta gọi là “trí bất động”.
Trí đó được thành tựu bằng trực giác sau nhiều luyện
tập thực sự. “Bất động” không nghĩa là cứng đơ, nặng
trịch và vô hồn như gỗ như đá. Bất động là trình độ
cao nhất của động với một tâm điểm không hề dao động.
Rồi tâm mới đạt tới cao điểm mẫn tiệp tuyệt đối sẵn
sàng hướng sự chú tâm của nó vào bất cứ nơi nào cần
thiết - hướng sang trái, sang phải, hướng tới mọi chiều
hướng tùy sở thích. Khi sự chú tâm của con bị lôi cuốn
và bị điều động bởi ngọn kiếm tấn công của địch
thủ; con mất cơ hội đầu tiên để tạo ra vận động kế
tiếp do chính mình. Con lưỡng lự, suy nghĩ, và một phút đắn
đo đó diễn ra, địch thủ đã sẵn sàng đánh con gục ngã.
Đừng để y có dịp may nào như thế. Con phải theo dõi sự
vận động của ngọn kiếm trong tay địch thủ, giữ tâm trí
thong dong theo sự phản kích của chính nó, đừng để tâm
niệm đắn đo chen vào. Con chuyển động khi đối phương chuyển
động, và do thế mà khuất phục được y.
“Điều
đó - điều mà người ta có thể gọi là tâm trạng “không
tạp niệm” - là yếu tố sinh tử nhất trong nghệ thuật
đấu kiếm cũng như trong Thiền. Nếu còn có một chút gián
tạp giữa hai hành vi dù chỉ cách nhau bằng một sợi lông,
đấy là tạp niệm. Khi hai tay cùng vỗ, tiếng trỗi lên ngay
không phút giây lưỡng lự. Tiếng không đợi suy nghĩ đã
rồi mới phát. Ở đây không trung gian, vận động này tiếp
theo vận động khác không bị gián đoạn bởi tâm niệm cố
ý.
“Nếu
con bị dao động và đắn đo rằng phải làm gì khi đối phương
sắp hạ con, thì con đã chừa dịp cho y, nghĩa là một dịp
may cho một đòn sinh tử. Cứ thủ theo thế công đừng khoảnh
khắc gián đoạn, công và thủ không rời nhau gang tấc. Tính
cách trực khởi của hành động đó nơi con, nhất định cuối
cùng sẽ hạ được đối thủ. Cũng như xuôi dòng nước mà
đẩy con thuyền nhẹ trôi đi, trong Thiền, cũng như trong thuật
đấu kiếm, tâm không do dự, không gián đoạn, không gián
tạp, được đánh giá cao.
“Trong
Thiền người ta thường ưa nói tới một làn chớp hay những
đốm lửa lóe lên từ hai viên đá mồi lửa. Nếu hiểu sự
kiện đó có nghĩa là mau lẹ, thế là đã hiểu lầm nghiêm
trọng. Quan niệm này muốn nói tới tính cách trực khởi của
hành động, một dòng vận động không gián đoạn của sinh
lực. Hễ lúc nào còn có gián đoạn, xao lãng, chắc chắn
con mất thế thượng phong. Điều đó đương nhiên không có
nghĩa rằng phải hành sự nhanh nhẹn hết sức. Nếu có ý
muốn như thế, tức đã có gián đoạn, xao lãng. Khi có người
hỏi: “Thực tại cứu cánh của Phật pháp là gì?” Bậc
thầy trả lời tức khắc không đắn đo: “Một cành mai”,
hay “Cây bách trước sân”. Đó là bất động, nhưng động
tùy ứng với những gì hiện diện trước nó. Gương trí tuệ
phản chiếu chúng từng khoảnh khắc cái này nối tiếp cái
kia, tất cả vẫn an nhiên không rối loạn. Tay kiếm khách
phải bồi dưỡng điều này”.
Đời
sống không tạp niệm, không gián đoạn, được mô tả ở
đây cần thiết cho sự lão luyện của thuật đấu kiếm,
là đời sống sinh hoạt không nỗ lực, vô công dụng hạnh
(anabhogacarya), hay sinh hoạt không trước ý, vô nguyện (aprạnihita),
vốn là tinh thể của Bồ tát đạo. Trên khía cạnh nghệ
thuật, đó là nghệ thuật không nghệ thuật. Nhà Nho thường
nói: “Trời nói gì? Đất nói gì? Bốn mùa cứ đến rồi
đi và vạn vật sinh trưởng”.
Các
môn đệ của Lão thường nói ngược: “Nhân từ và công
chính là những sản phẩm nhân tạo khi mà chân lý cao cả
không còn trì ngự nữa”. hoặc, “Do bởi nguyên lý vô vi
mà vạn vật vận hành”. Hay, “Cũng như trục xe không quay
mà các gọng xe quay”. Tất cả những lời đó nhằm chứng
tỏ rằng tâm điểm của trọng lực sinh hoạt vẫn luôn luôn
bất động, và rằng khi tất cả mọi hành vi sinh hoạt đều
thực hiện được như vậy, dù là nghệ thuật hay thi ca hay
tôn giáo hay hí kịch dù trong đời sống sinh hoạt trầm tư
và học hỏi hay đời sống của hành động hăng say, người
ta vẫn đạt tới trạng thái tự chứng, nó tự bộc lộ bằng
một phong cách tuyệt diệu trong đời sống và trong những
hành vi.
9
Để
kết luận: tinh thần Vĩnh Tịch (viviktadharma), tức tinh thần
của Thiền tự bộc lộ dưới danh hiệu “Sabi” (Tịch) trong
các bộ môn nghệ thuật khác nhau của đời sống, như thuật
làm vườn cảnh, trà đạo, hội họa, cắm hoa, trang phục,
trang trí, trong cách sống, trong vũ điệu nô, thi ca, vân vân.
Tinh thần này bao gồm những yếu tố như: giản dị, tự nhiên,
không câu nệ, tế nhị, tự do, thân thiện nhưng tỏ ra hững
hờ kỳ lạ, và cái chung đụng thường nhật được bao phủ
tuyệt diệu với làn sương mù hướng nội siêu việt.
Để
điển hình, tôi xin mô tả một trà thất trong một thiền
thất tại chùa Daitokuji (Đại đức tự). Ngôi chùa này đứng
hàng đầu về trà đạo. Con đường lát đá, với những viên
đá không được sắp tề chỉnh, dẫn tới một gian nhà nhỏ
tầm thường mái lợp tranh, thấp và rất khiêm tốn. Lối
vào không đi bằng cửa, mà được làm như kiểu khoét vách;
khi bước vào, khách phải cởi bỏ tất cả những vật mang
theo, tức là, bỏ lại hết trường kiếm và đoản kiếm,
mà trong thời phong kiến một võ sĩ lúc nào cũng mang theo.
Bên trong là một căn phòng nhỏ mờ sáng, vuông vức khoảng
mười bộ; trần nhà thấp, mặt cao không đồng đều và bằng
vật liệu ghép. Các chỗ ngồi không trơn nhẵn, hầu hết
được làm bằng gỗ tự nhiên. Tuy vậy, sau một đỗi, khi
cặp mắt quen với khung cảnh mới, căn phòng càng lúc càng
sáng hơn. Chúng ta nhận thấy trong góc lỏm một bức “thơ
vật” (kakimono), một tác phẩm nghệ thuật viết chữ, trông
cổ kính, với một thủ thơ hay một họa phẩm theo lối mặc
hội (sumiye). Một lò hương tỏa khói thơm có tác dụng làm
êm dịu trí não. Bình hoa chỉ cắm độc nhất một nhánh hoa,
không lộng lẫy, không hào nhoáng; nhưng giống như một đóa
hoa bách hợp màu trắng, nhỏ, dưới một tảng đá chung quanh
có những gốc tùng rợp bóng, đóa hoa khiêm tốn vươn cao
trong vẻ đẹp, lôi cuốn khách chú mục vào đó; họ có khoảng
bốn hay năm người được mời riêng đến nhấm một chung
trà để quên những công vụ ngoài đời thường đè nặng
lên mình.
Rồi
chúng ta nghe tiếng nước sôi trong ấm, bắc trên bếp lửa
có ba chân ở một cái lỗ vuông được đào dưới nền nhà.
Âm thanh này thực ra không phải của tiếng nước đang sôi,
mà do ấm thiếc nặng; khách thưởng giám có thể so sánh rất
chính xác với cơn gió nhẹ thổi qua những ngọn tùng. Chừng
đó cũng đã là lớn đối với sự yên tĩnh của gian phòng,
vì ở đây người ta cảm tưởng như mình đang ngồi đơn
độc trong một thảo am sơn dã mà những người bạn tri âm
chỉ là một đám mây trắng và tiếng nhạc của ngọn tùng.
Uống
một chung trà với bằng hữu trong khung cảnh này và có lẽ
bàn luận về nét phác họa thủy mặc trong góc phòng, hay một
đề tài nghệ thuật nào đó được gợi lên bởi những dụng
cụ trà ở trong phòng, mà lạ lùng thay, tâm hồn bốc cao lên
khỏi những tế toái của đời sống. Người chiến sĩ cởi
bỏ quân vụ chiến đấu hằng ngày, thương gia được giải
tỏa khỏi ý tưởng làm tiền ám ảnh của mình. Quả thực,
đó há không là cái mà người ta phải tìm kiếm trong thế
giới cạnh tranh và hư ngụy này, một góc phòng, dù nhỏ nhoi,
mà nơi đó người ta có thể vượt lên những giới hạn của
tương đối để một thoáng nhìn vào vĩnh cửu?
Phụ
Lục
PHẬT
GIÁO NHẬT BẢN [13]
Phật
giáo được chính thức truyền vào Nhật Bản từ Triều Tiên
vào năm 552 hay 538 sau Tây lịch khi vua Kudara cống hiến Khâm
Minh thiên hoàng (Kimmei) một tượng Phật Thích ca bằng đồng
cùng với các kinh và những đạo cụ. Nhưng có thể một số
lưu dân tứ lục địa định cư trước thời gian đó đã
là những Phật tử, và tôn giáo của họ âm thầm bành trướng
giữa dân gian. Khâm Minh thiên hoàng không dứt khoát phải có
thái độ tiếp nhận ra sao đối với nền tín ngưỡng mới,
vì triều đình của ngài chia thành hai phe. Cuộc tranh chấp
ưu thế diễn ra một thời gian, nhưng cuối cùng phe Phật giáo
thắng.
Khoảng
năm mươi năm sau khi du nhập chính thức, Thánh Đức thái tử
(574-622), mà tên tuổi không bao giờ quên được trong lịch
sử văn hóa và Phật giáo Nhật Bản, trở thành nhiếp chính
cho Suy Cổ thiên hoàng, vốn là hoàng cô của thái tử, và
chính do sự bảo trợ và lòng sùng mộ của ngài mà Phật
giáo cắm sâu gốc rễ trong lòng đất Nhật Bản. Ngài xây
nhiều ngôi chùa mỹ lệ ở Nại lương (Nara) và vùng phụ
cận, trong số đó chùa Hôryuji (Pháp long tự) nay vẫn còn
tồn tại. Chính ngài là một đại học giả và đã viết
nhiều bản nghĩa sớ về ba bộ kinh Phật quan trọng: kinh Pháp
hoa (Pundarĩka), kinh Thắng man (Srĩtnãlã) và kinh Duy ma cật
(Vimalakĩrti). Thời bấy giờ, đạo Phật có nghĩa là sự tiến
bộ, và quả thực đó là tất cả những gì phải được
đặt cao giá trong đời sống xã hội.
PHẬT
GIÁO NẠI LUƠNG (NARA)
Phật
giáo thời đó chưa chia thành các tông phái rõ rệt như chúng
ta biết ngày nay. Nhưng, chúng ta có thể phân biệt sáu trường
phái dưới đây đã phát huy trong thời Nại lương (Nara): A
tì đạt ma ku xá (Abhidharmakosa; Nht. Kusha), Thành thật (Satyasiddhi;
Nht. Jôjitsu), Luật (Vinaya; Nht. Ritsu), Pháp tướng (Yogãcãra;
Hosso), Tam luận (Mãdhyamika ; Nht. Sanron), và Hoa nghiêm (Avatamsaka;
Nht. Kegon). Các luận sư thuộc các trường phái này đã viết
nhiều sớ giải về các kinh và luận. Sự kiện lạ lùng nên
ghi nhận là chúng thảy đều là những sản phẩm bác học,
cho thấy các Phật tử Nhật Bản đã hăng say học Phật như
thế nào; đối với họ, đó là một nền triết học mới,
một khoa học mới, một tôn giáo mới, một văn hóa mới,
và là kho tàng vô tận cho những động lực nghệ thuật.
Lối
kiến thiết của nhiều đền chùa và tăng viện, sự cung dương
các tăng và ni, việc dựng tượng đức Đại Nhật (Vairochana)
bằng đồng vĩ đại (xong năm 749) - tất cả những sự kiện
đó đều được chi tiêu bằng quốc khố. Chúng ta có thể
ngạc nhiên làm sao một chính phủ lại nhúng tay vào các mưu
sự như thế. Tuy nhiên, sự thực là chúng ta đừng phán đoán
nền tôn giáo này theo nhãn quan tân thời, vì thời đó các
chùa Phật là các trường học, là những bịnh viện, những
thí dược viện, cô nhi viện, dưỡng lão viện; và các sư
tăng là những thầy học, những điều dưỡng viên, những
y sĩ, công sĩ, điếm thủ không lương, những nhà khẩn đất,
những kẻ khai rừng, vân vân. Khi cộng đồng đang trong tình
trạng bán khai của cuộc tiến hóa, những người theo đạo
Phật là những nhà lãnh đạo trong mọi chiều hướng, và
chính quyền đương nhiên khích lệ các hoạt động của họ.
Giữa những sự vụ khác đáng được ghi nhận ở đây, có
một sự vụ liên hệ các phong trào phụ nữ Phật tử trong
triều đại Nại lương. Hoàng hậu Kômyô và Kôken (Hiếu Khiêm)
và ni Hô kin là một vài danh hiệu được ghi nhớ mãi trong
lòng người Nhật để minh chứng đời sống tình thương và
từ ái của đạo
BÓNG
TỐI ĐI QUA
Có
lẽ sự trưởng thành của Phật giáo, trong thời buổi đầu,
đã được nuôi dưỡng quá lãng phí và quá hời hợt. Mặc
dù nó đã hỗ trợ rộng rãi cho sự phát triển của vãn hóa
Nhật Bản, nhưng có cơ trở thành một gánh nặng quá mức
cho quốc gia, vào thế kỷ VIII, nhất là về tài chánh. Các
tăng sĩ được đặc ân đã tỏ ra quá ích kỷ. Sự phân biệt
giữa uy quyền thế tục và thành tựu đạo giáo bắt đầu
bị xóa tan. Ngay cả trong sự thành tựu đạo giáo những cái
chính yếu bị hy sinh để cho cái không cốt yếu được trưng
bày ra. Đã đến lúc Phật giáo phải chuyển hướng. Phật
giáo Nại lương (Na ra) phải được thay thế bởi Phật giáo
Bình an (Heian).
Cuối
thế kỷ VIII, Hoàn Vũ thiên hoàng (Kwammu) thiên đô từ
Nại lương đến Kinh đô (Kyoto). Trái với truyền thống thịnh
hành từ trước, ngài bỏ lại tất cả những đền đài ở
Nại lương, và thiết lập những đền đài mới trên núi
Ti duệ (Hiei) và ở phía Nam kinh đô. Những nhà lãnh đạo
mới đại diện Thiên thai tông (Ten dai) và Chân ngôn tông (Shingon).
Truyền Giáo (Dengyô; 767-823) và Hoằng Pháp (Kôbô; 774-835),
hai ngôi sao lớn nhất sáng chói những phương trời của chế
độ mới, táo bạo tiến bước tới vũ đài.
TRUYỀN
GIÁO ĐẠI SƯ (DENGYÔ DAISHI)
Khách
đến viếng Kyoto sẽ dễ dàng nhận ra ngọn núi Tỉ duệ (Hiei)
đứng ở đâu, vì nó cao nhất, sừng sững về phía Đông
Nam của đô thi. Đấy là vị trí được Truyền Pháp đại
sư chọn để thiết lập Thiên thai tông của Phật giáo. Ngài
là một trong những nhà tu Phật đầu tiên nhận chân được
những hiểm nguy của đời sống đô thị, mà những người
đi trước ngài hưởng thụ nó quá nhiều.
Ngài
không chỉ là một bậc thầy thông suốt nền triết lý rắc
rối của Thiên thai tông, mà còn là một học viên sâu sắc
về các nghi điển thần bí và phép tu Thiền định (dhyana).
Tham vọng của ngài là dung hội hết thảy các tông phái của
đạo Phật thịnh hành đương thời. Tất cả những phái mới
của đạo Phật được phát triển sau này trong thời Kiếm
thương (Kamakura) có thể tìm thấy dấu vết trên núi Tỉ duê,
thủ phủ của Truyền Giáo đại sư. Những tông phái cũ của
Nại lương cố nhiên là những đối thủ của các nhà lãnh
đạo mới, không chí vì những lý do tình cảm nhưng chính
yếu do ở điểm vì những sai biệt tông chỉ. Vì Dengyô thuộc
Thiên thai tông chủ trương tuyệt đối Nhất thừa trong khi
đó các tông phái Nại lương cũ bảo trì tông chỉ Pháp tướng
(Yogacara). Đó là do nét đặc sắc kỳ cùng của giáo nghĩa
Pháp hoa kinh (Pundarika; Nht. Hokkekyô).
Dengyô
cũng muốn có một giới đàn riêng biệt của Đại thừa biệt
lập Nại lương. Ngài tranh đấu mãnh liệt chống lại một
cuộc đối chọi rầm rộ và kế hoạch của ngài chỉ được
thực hiện thành công sau khi ngài tịch
HOÀNG
PHÁP ĐẠI SƯ (KÔBÔ DAISHI)
Hoằng
Pháp đương thời Truyền Giáo là một thiếu nhi bảy tuổi
và sống lâu hơn 120 năm. Ngài thuộc một mẫu thiên tài khác,
đã là một người đa tài nhất trong số các vĩ nhân; một
học giả uyên áo, một nhà khổ tu, một du khách lịch lãm,
một nghệ sĩ đứng hạng đầu, một người hoạt bát, là
là một tay viết chữ cừ khôi nhất. Chủ đích nghiên cứu
của ngài là kinh Đại nhật (Mahavairocana Sutra; Nht. Dainichi-kyô)
và kinh Kim cương đỉnh (Vajrasekhara Sutra; Nht. Kongôchôgyô);
đó là hai khoa bản lớn của Chân ngôn tông. Trong khi ở Trung
Hoa, ngài là môn đệ của Huệ Quả (Keikwa) và kế thừa làm
Đệ Bát tổ của Chân ngôn tông
Ngài
chọn Cao dã sơn (Kôyasan) làm thủ phủ của Chân ngôn mật
giáo, và được môn đệ coi như còn sống trong cảnh giới
Tam ma địa (Samadhi). Ngài thích có một tăng viện trong các
núi non nhưng không quên giữ liên lạc với thế gian. Đông
tự (Tôji) ở phía Nam Kyoto ghi những dấu chân của ngài tại
kinh đô. Truyền Giáo hình như quá tách biệt thế gian; Tỉ
duệ vẫn cô liêu dù ở gần thị tứ. Cao dã hoàn toàn là
một địa điểm không thể đến, so với Tỉ duệ, nhưng khách
hành hương tụ họp về đó mỗi năm nhiều biết mấy cơ
man! Núi đó thì cũng là một thành phố nhỏ.
Thời
đại Bình an chính yếu được chiếm cứ bởi Chân ngôn (Shingon),
Thiên thai (Ten dai); cả hai gần như phủ lấp của Phật giáo
cổ thời Nại lương (Na ra), nhưng đồng thời có những dấu
hiệu chứng tỏ rằng chúng cũng đã phải nhường bước cho
một thế lực mới, trầm lặng nhưng vững chắc đang ngóc
đầu lên.
PHẬT
GIÁO QUÝ TỘC
Thiên
Thai tông, trong hình thức thuần túy của nó là một nền triết
học quá sâu sắc, và để đại chúng hóa nên nó cần phải
bước xuống khỏi những đường bay suy lý và phải tìm đường
đi vào trái tim của quần chúng. Con đường đó là sự thực
hành những nghi thức thần bí; kỳ thực cái đó thuộc về
Chân Ngôn tông. Thiên thai Nhật Bản như thế đã pha trộn
siêu hình học của Thiên thai Trung Hoa với nghi lễ thực hành
của Chân ngôn. Chúng ta có thể nói rằng Phật giáo của thời
đại Bình an (Heian) chỉ là một hình thức nghi lễ thuần
túy. Để dứt trừ những ảnh hưởng tội lỗi, lễ sám được
gọi là “Tức tai pháp” (Sokusai Hô) để làm tăng gia
hạnh phúc, có “Tăng ích pháp” (Zoyaku Hô) để kêu
gọi những quyền năng thiện có “Câu triệu” (Kujo); để
hạ những địch thủ hoặc kẻ thù, có “Hàng phục” (Gôfuku);
để cầu nguyện Phật và Bồ tát từ bi bảo hộ, có “Kinh
ái pháp” (Kyòai Ho); và kéo dài tuổi thọ thì có pháp “Diên
mệnh” (Yemmei). Tất cả những nghi quỹ thần bí này được
coi như hoàn toàn hiệu nghiệm mang lại những gì mà hành giả
ước ao.
Ngoài
những cái đó, còn có đủ loại nghi lễ được cử hành
cho những cơ hội khác nhau, điềm lành hoặc dữ, và ở tại
nhiều ngôi chùa chính khắp trong nước. Lễ đôi khi được
cử hành kéo dài một tuần, và chỉ có những người thuộc
giai cấp rỗi rảnh mới có thể tham dự được, tức hàng
quý phái đương thời. Thời bấy giờ, vì không có những
cuộc thù tạc xã hội nhiều hay đa diện cho lắm, lẽ tự
nhiên những giai cấp quý phái đó chuyển một số các nghi
lễ của Phật giáo thành một kiểu ăn chơi tế nhị để
trải qua những ngày rỗi rãi của những ngày nghỉ việc.
Sự
kiện Phật giáo ngày nay vẫn còn khoác cái màu sắc quý tộc,
chắc chắn đó là dấu vết những truyền thống của thời
đại đã qua.
PHẢN
ĐỐI TINH THẦN PHẬT GIÁO
Phật
giáo quý tộc và vụ nghi lễ không phải là Phật giáo. Khi
nó bị chi phối để biến dạng như thế, thì cơ hội cùng
độ để kéo nó trở lại với hình thái nguyên thủy, tức
Phật giáo đại chung và thực tiễn. Trong khi Chân ngôn tông
đang hưởng thụ thời kỳ hưng thịnh rầm rộ của nó, có
một trào lưu khác đang ngấm ngầm gây hiệu quả mặt ngoài
của nó. Đây là sự trỗi dậy của Tịnh độ tông, với
giáo thuyết chính yếu là trì niệm danh hiệu Phật, tức niệm
Phật (Nembutsu) và cầu vãng sanh về quốc độ của Phật A
Di Đà (Nht. Amida).
Phật
giáo bấy giờ hạn cuộn ở tầng lớp thượng lưu của xã
hội; tầng lớp này có đủ trí thông minh và thời gian rỗi
rảnh để thành thạo nền triết học rắc rối và hệ thống
nghi lễ phức tạp quá cỡ của nó. Cái này không thể tránh.
Phật giáo bắt đầu đến Nhật bằng những ngả đường
của công quyền, nó đã hỗ trợ triều đình và những người
chung quanh triều đình thực hiện chương trình chính trị của
họ. Phật giáo đã phối hợp chặt chẽ với tất cả những
gì tượng trưng cho uy quyền, văn hóa, kiến thức, và đạo
đức. Tất cả cùng tiến hành trong một thời gian, thượng
hạng quý tộc là một đứa con chột mắt; nó chỉ nhìn thấy
cái bề mặt khá tốt nhưng lại thiếu kích thước rắn chắc.
Uy quyền chân thực phải phát sinh từ chính đời sống. Phật
giáo thời đại Bình an (Heian) không thể tiếp tục lâu hơn
nữa theo con đường mòn cũ, và phải trở thành Phật giáo
Kiếm thương (Kamakura).
PHẬT
GIÁO SÁNG TẠO
1.
Không Dã Thượng nhân (Kùya Shônin) xuất hiện
Trong
thời đại Bình an, một nhân vật đầu tiên nghĩ đến việc
cải cách cho nền Phật giáo đại chúng, đó là Không Dã thượng
nhân (Kùya Shônin; 902-972), mà người ta thường gọi là “Thị
Thánh” tức “Ông Thánh Chợ”. Ngài từ giã núi non, tự
viện và cung đình, đến giữa quần chúng mà trì niệm Phật
hiệu (Nembutsu). Ngài không hề ở lại một nơi nào; đích
thị là một nhà sư lang bạt. Lương Nhân (Ryônin; 1072 - l132)
theo ngài, nhưng với quan điểm Hoa nghiêm (Avatansaka) lập cước
trên nền triết học viên dung. Quý tộc và đại chúng được
hợp nhất trong Niệm Phật (Nembutsu).
Thủ
lãnh lớn của Niệm Phật (Nembutsu) là Pháp Nhiên Thượng nhân
(Hônen Shônin; 1133-1212), không chỉ quảng bá tông chi của mình
trong các tác phẩm đồ sộ, về mặt bác học cũng như phổ
thông, bằng tiếng Trung Hoa kinh viện và bằng tiếng Nhật
thổ ngữ, nhưng còn là sự toàn hảo của một thiên tài tôn
giáo. Giáo thuyết của ngài đơn giản; theo đỏ, nếu chúng
ta tin tưởng Phật A Di Đà (Nht. Amida) và Bản nguyện của
ngài với tâm thành và khẩn nguyện vãng sinh cõi Tịnh độ
Cực lạc, niệm “Nam mô A Di Đà Phật” (Nht. Na-mu-a-mi-da-bu-tsu),
chắc chắn chúng ta sẽ được Phật Di Đà tiếp độ và cởi
bỏ gánh nặng áp bức của các công vụ thế gian. Không cần
nghi quỹ rườm rà, không cần triết lý huyền hoặc, không
có trận đồ rối rắm của các thuật ngữ, chỉ đơn giản
cầu nguyện thẳng Phật A Di Đà (Amitabha Buddha); đấy há không
phải là một bước nhảy lạ lùng từ Phật giáo Nại lương
và Bình an?
Truyền
nhân xứng đáng của Pháp Nhiên (Hônen) là Thân Loan (Shiran;
1173-1262). Nơi Thân Loan, Phật giáo Tinh độ tông đạt tới
tuyệt đỉnh. Trong pháp Niệm Phật (Nembutsu) của Pháp Nhiên
vẫn còn cái “tự lực” nhưng trong pháp của Thân Loan thì
hoàn toàn phó thác cho “tha lực”, mặc dù trong thực tiễn
chúng ta chưa thể dứt trừ “tự lực” nếu như chúng ta
đang còn là những cá thể hữu hạn tương đối. Thân Loan
công khai xác nhận rằng, không những trên lý thuyết mà cả
trên thực tiễn, chúng ta thảy đều là những hạng tội lỗi,
đừng cố công chạy trốn hậu quả của tội nghiệt chúng
ta. Ngài nói, chúng ta mang đầy tội lỗi ngay trong thể chất
của mình; vì vậy, hãy nương tựa vào “tha lực” và cứ
để vô minh và tội nghiệt của chúng ta ở yên đó. Một
cách nào đó, đấy là một tông chỉ nguy hiểm. Khi nó được
cẩn thận quân bình bởi lý trí và đạo đức, nhất định
sẽ trở thành phản danh luận. Nhất Biến Thượng nhân (Ippen
Shônin; 1239-1289) là một nhà sư lang bạt giống như Không Dã,
người đã đi khắp nước Nhật xưng tụng Phật hiệu và
dạy kẻ khác noi gương mình. Vì ngài gần với Pháp Nhiên
và các môn đệ, ngài cũng có học Thiền, nên phép Niệm Phật
của ngài có âm hưởng riêng biệt. Chi phái của ngài chưa
bao giờ đạt tới mức phổ thông của Chân tông (Shin) hay
Tịnh độ (Jôdo), vì ngài như một viên đá lăn lóc không
vấy rong rêu. Trước khi chết ngài đốt tất cả những viết
lách của mình. Còn sót lại là một tuyển tập ngắn gồm
những bức thơ, các ngữ lục và những bài thơ của ngài.
Một
trong những lý do tại sao Niệm Phật tông thịnh hành thời
đó là do quan niệm phổ thông bấy giờ cho rằng đây là thời
mạt pháp mà Phật đã huyền ký. Tất cả những qui luật
đạo đức và khổ tu đặt ra cho tăng lữ sẽ bị quên lãng,
mọi người sẽ không đủ trí sáng để đi theo giáo pháp
uyên áo của Phật, tăng lữ sẽ tranh chấp nhau bằng mọi
cách, họ còn tham gia vào việc chiến tranh nữa, vân vân. Thời
đại ngay trước thời Kiếm thương (Kamakura) đã chứng tỏ
mọi dấu hiệu cho sự suy tàn đó, và những bậc hiền minh
nghĩ rằng đã đến lúc tái thiết toàn bộ Phật giáo để
có thể thích ứng với những đòi hỏi của thời đại. Họ
tìm thấy điều đó trong tông chỉ Niệm Phật (Nembutsu).
2.
Nhật Liên (Nichiren) xuất hiện
Song
song với pháp Niệm Phật, có một trào lưu khác được khởi
xướng bởi Nhật Liên Thượng nhân (Nichiren Shônin; 1222-1282).
Khác với đa số các nhà Phật học lớn, ngài nổi lên giữa
tầng lớp thấp của cộng đồng; thân phụ ngài chỉ là một
ngư phủ trong một ngôi làng hẻo lánh ở An phòng (Awa).
Do
đó ngài tỏ ra có tinh thần đấu tranh và quá khích suốt
trong sự nghiệp tôn giáo của mình. Môn đệ của ngài cho
đến vẫn còn ít nhiều có óc hiếu chiến và khó trộn lẫn
với những người theo đạo Phật khác phái.
Giáo
pháp của Nhập Liên (Nichiren) căn cứ trên kinh Pháp hoa (Pundarika
Su tra), và có thể nói là ứng dụng thực tiễn triết lý
của Thiên thai tông. Ngài sùng tín Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni
Buddha) và tin tưởng tuổi thọ trường cửu của Phật; theo
đó, Phật vẫn đang thuyết pháp như ngày nào trên Đỉnh Linh
thứu. Đức Phật trường cửu đó được khái thị trong chúng
ta, những người đang sống ở thế gian này. Tịnh độ của
Phật Di Đà không ở trong thế gian này, Thế giới Liên hoa
tạng của Phật Đại Nhật (Vairochana) cũng không; nhưng, Nhật
Liên nói, Phật Thích Ca đang ở đây, và chúng ta đang ở trong
vô số thị hiện của ngài. Chúng ta ý thức được thị hiện
này bằng cách đọc “Nam mô Diệu pháp Liên hoa kinh” (Nht.
Na-mu-myo-ho-ren-ge-kyô) với một chí nguyện chuyên nhất và
một tấm lòng khẩn thiết, khi Diệu pháp liên hoa kinh (Nht.
Myôhôrengegyô) nảy sinh ra từ những khẩn nguyện tôn giáo
của chúng ta. Như thế, Nhật liên tông mang sắc thái quá rõ
của hiện thế, cõi đời này. Sự tham gia của nó với tinh
thần ái quốc là kết quả tự nhiên.
PHẬT
GIÁO THIỀN TÔNG HỨNG KHỞI TRONG THỜI ĐẠI KIẾM THUƠNG (KAMAKURA)
Phật
giáo thời đại Kiếm thương là sự khăng quyết của ý thức
tôn giáo. Chống lại chủ nghĩa cực đoan và duy trí, vốn
là sắc thái của Phật giáo thời đại đi trước, nhưng đồng
thời cũng là một thứ tái thiết với chủ ý dựng lên cho
khát vọng tâm linh mà các điều kiện lịch sử đã đè bẹp
từ trước. Vào cuối thời Phật giáo tại Nại lương, khi
có một khuynh hướng lột bỏ tất cả những phức tạp tri
thức chúng sơn phết quá đậm việc học hỏi Phật pháp vào
thời đó, bị đè nặng bởi chủ nghĩa lễ bái của Chân
ngôn tông. Khuynh hướng này bấy giờ tỏ ra hời hợt lúc
Kiếm thương được truyền vào thế giới phật giáo của
thời đại
Khoảng
hơn hai mươi dòng nước Thiền đổ vào cõi tư tưởng Phật
giáo từ Trung Hoa. Mục tiêu của Thiền tông là lột hết mọi
lớp vỏ bên ngoài mà tri thức đã khoác lên bao phủ tâm hồn,
và cốt nhìn thẳng vào bản chết sâu thẳm của tự thể
chúng ta. Con người không phải là một tạo vật được kết
cấu đơn giản; nó cần có nhiều vật phụ đới, nhưng khi
những thứ này trở thành quá nặng nề, nó muốn quẳng gánh
đi, và đôi lúc còn quẳng luôn cả đời sống của mình.
Giai
cấp quân phiệt thời Kiếm thương rất hâm mộ sự đơn giản
trong mọi hình thức. Họ quá mệt mỏi và ghét cay đắng óc
quý tộc kiểu cách và cái dáng nhu mì như đàn bà. Thiền
đáp ứng những khát khao của họ đến mức tinh vi. Nếu Chân
ngôn tông và Thiên tai tông dành cho hạng quý phái, và Niệm
Phật dành cho bình dân, Thiền tông quả là dành riêng cho chiến
sĩ Thiền tông trong thời đó được đặc trưng bởi Vinh Tây
(Eisai; 1140-1215) và Đạo Nguyên (Dôgen; 1200-1253).
SAU
THỜI KIẾM THUƠNG
Bất
cứ thứ gì có thể rút ra từ Phật giáo trong trường thiên
lịch sử Nhật Bản đều lập cước từ thời đại Kiếm
thương, và những gì tiếp theo sau đó chỉ là sự kiện toàn
và chu tất chi tiết
Không
có trường phái nào lại có thể tồn tại lâu dài mà không
cần phát triển mới mẻ thêm các quan niệm, không cần thay
đổi các giá trị trong cộng đồng mà Phật giáo được hưng
vượng. Từ thời đại Kiếm thương xuống đến thời sụp
đổ của chế độ Đức xuyên tư