LUẬN
MỘT
TU
TẬP CÔNG ÁN:
PHUƠNG
TIỆN CHỨNG NGỘ
Phần
II
1.
TU TẬP CÔNG ÁN VÀ NIỆM PHẬT
Bây
giờ là lúc chúng ta thử xem lối tu tập công án có liên hệ
gì với phép Niệm Phật. Phật giáo Trung hoa đã phát triển
theo hai đường là Thiền và Niệm Phật; đề cập đến mối
quan hệ của chứng tức là tìm hiểu một vài sự kiện tâm
lý của căn bản của đời sống Phật tử, và tôi muốn nói,
của tất cả đời sống tôn giáo.
Trong
số những trường hợp dẫn đến lối đề cập công án một
cách máy móc, chúng ta có thể bước đến ưu thế của phép
Niệm Phật trong các triều đại Nguyên và Minh; phép Niệm
Phật đặc biệt là niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà (Amitabha).
Theo
lịch sử, chúng ta có thể đánh dấu khởi nguyên của thuyết
Niệm Phật trong những thời kỳ đầu tiên của đạo Phật
ở xứ Ấn. Tại Trung Hoa, nhóm tín đồ Niệm Phật đầu tiên
là Bạch Liên Xã do Huệ Viễn (mất năm 416) lãnh đạo. Tín
ngưỡng Phật giáo được quần chúng hóa dẫn qua các triều
đại tiếp theo. Việc quần chúng hóa này đã quảng bá phép
Niệm Phật khắp xứ Trung Hoa bên cạnh Thiền tông có tính
chất thượng lưu hơn. Xét bề ngoài, phép Niệm Phật đối
lập hẳn với Thiền; vì Thiền không nương tựa vào ai ngoài
mình ra, còn Niệm Phật thì nhất thiết nương nhờ vào đức
Phật. Nhưng nếu phân tích về tâm lý của phép Niệm Phật,
vẫn có cái tương đồng giữa việc duy trì một công án ở
Thiền tông và sự tụng niệm danh hiệu của Phật như các
môn đệ của Tịnh độ tông thực hành. Do nền tảng tâm
lý chung nay mà cả hai có thể gần gũi nhau, Thiền với Niệm
Phật và Niệm Phật với Thiền.
Khởi
thủy, phép Niệm Phật không có chút tính cách cơ giới. Đầu
tiên là nghĩ tưởng đến đức Phật và sau đó là niệm danh
hiệu ngài. Nhưng, cũng như trong mọi sự vụ khác, trước
hết, nội dung quy định hình thức, sau đó, hình thức quy
định nội dung: trình tự được đảo lại. Một tín đồ
có thể đọc lên danh hiệu Phật không cần phải tưởng đến
Phật, tưởng đến những giới đức và thệ nguyện của
Ngài; nhưng khi lặp lại danh hiệu, trong y trỗi dậy tất cả
những ký ức và ảnh tượng về đức Phật, và khỏi phải
lưu tâm, y càng lúc càng đi sâu vào quán tưởng đức Thế
Tôn. Sự cầu nguyện bắt đầu một cách máy móc bây giờ
được chuyển vào một chiều hướng không tiên liệu.
Nền
tâm lý học mới mẻ được đưa vào như thế, đã bắt đầu
ảnh hưởng phái công án ở suốt đời nhà Nguyên, và đã
có một số thiền sư chống đối ráo riết. Họ thấy cái
nguy hiểm một khi công án quay sang Niệm Phật, vì trong trường
hợp này cả Thiền và cả lý do tu tập công án sẽ bị tiêu
hủy.
Ngay
cả khi phép Niệm Phật phổ biến rộng rãi ở thế kỷ XV
xâm nhập đến cả những tu viện của Thiền tông, các Thiền
sư phản kháng phương pháp này, khuyên các môn đệ mình hãy
nhìn xem kẻ khẩn cầu Đức Phật và niệm danh hiệu ngài
là AI. Thí dụ, Độc phong Bản Thiện[99], có lẽ tịch khoảng
cuối thế kỷ XV, nói: “Việc cốt yếu là phải thấu hiểu
ý nghĩa rốt ráo của đời sống; vì vậy, hãy tinh tấn đừng
luống công tìm xem kẻ niệm danh hiệu là AI. Tiếng AI hệ
trọng nhất; hãy chú tâm trên một ngày này độc nhất.”
Thiền
sư Sở Sơn Thiệu Kỳ (1404-1473) viết cho một đồ đệ: “Cái
ý của tụng niệm là để biết rằng Phật tức tâm; nhưng
tâm này là gì? Hãy xét xem TỪ ĐÂU có tư tưởng khiến các
ngươi đọc lên danh hiệu Phật; nó khởi lên ở chỗ nào?
Nhưng các ngươi còn phải tiến xa hơn nữa và hãy nghi AI là
kẻ muốn xét xem từ đâu có một nghĩ tưởng. Nó là Tâm,
là Phật hay là Vật? Các vị tôn túc bảo, không, chẳng phải
cái nào hết. Vậy, nó là cái gì ?”.
Đấy
là cái lối các Thiền sư nói về Niệm Phật, liên hệ đến
sự tu tập công án, nếu có ai muốn chứng Thiền. Những trích
dẫn sau đây từ các Thiền sư dưới các triều đại Nguyên
và Minh cho thấy nẻo đường ngọn gió thổi qua trong thế
giới tư tưởng của thế kỷ XIV và XV. Thiên Như Duy Tắc,
sống khoảng đầu thế kỷ XIV, là một khuôn mặt lớn suốt
trong triều đại nhà Nguyên và chắc chắn phong trào Niệm
Phật tiến triển rất mạnh thời bấy giờ và đang đặt
chân lên khu vực của Thiền tông. Thiên Như Duy Tắc không
thể không biết đến điều đó và muốn xác định rõ Thiền
khác Niệm Phật chỗ nào và cả hai tương thuận bao xa. Ngữ
lục quyển hai, sư viết:
“Ngày
nay, có một số người, tăng cũng như tục, mong nhờ Niệm
Phật để được thác sinh cõi Tịnh độ và tự hỏi Niệm
Phật có khác Thiền chăng. Theo ý tôi, họ không hề nhận
ra Thiền và Niệm Phật không phải đồng mà là đồng; vì
đích của Thiền là thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, đích
của Niệm Phật thì cũng vậy. Thiền chỉ thẳng lòng người,
thấy tánh thành Phật; trong khi đó, Niệm Phật nhắm đi tới
cõi Tịnh Độ vốn dĩ không chi khác hơn chính là tự tâm,
và nhắm thấy rõ tự tính vốn dĩ chính là đức A-Di-Đà
(Amitabha).
“Nếu
thế, làm sao phân biệt Niệm Phật và Thiền? Kinh nói, như
đi vào một thành lớn mà khắp bốn phía đều có cửa; từ
những nẻo khác nhau, người ta tìm thấy lối vào riêng biệt
của mình vì cửa không chỉ có một. Nhưng, một khi vào rồi,
họ cùng ở trong một thành như nhau. Thiền và Niệm Phật
mỗi bên có một căn khí riêng; đấy là tất cả.
“Ở
Niệm Phật, các người có thể phân biệt đằng nào linh nghiệm
đằng nào không. Tại sao? Nếu việc tụng niệm của tín giả
không ra ngoài môi miệng còn tâm thì chẳng nghĩ tưởng chút
gì đến Phật, thứ tụng niệm ấy không linh nghiệm. Trái
lại, nếu miệng và tâm cùng chung hướng về Phật trong khi
tụng đọc danh hiệu Ngài, khiến cho tâm với Phật không rời
nhau từng bước một, Niệm Phật chắc chắn sẽ có kết quả.
Giả dụ đây là một người tay cầm tràng hạt, miệng niệm
danh hiệu Phật; nhưng nếu cứ vọng tưởng cuồng tâm, chạy
xuôi chạy ngược, thì là một người chỉ tụng ở miệng
chứ không ở tâm. Chỉ luống công vô ích, nhọc mà chẳng
được gì. Tốt hơn là nghĩ tưởng đến Phật trong tâm hồn
dù môi không mấp máy, vì như thế mới là đồ đệ chân
chính của Niệm Phật.
“Há
không thấy Kinh nói rằng mười phương Như lai thương nhớ
chúng sinh như mẹ thương con; chúng sinh chìm đắm trong biển
sinh tử như con trẻ lưu lạc nơi không xứ lạ quê người.
Phật như một bà mẹ từ ái thương nhớ chúng, và dù ngài
không nói đến từ tâm của mình, tấm lòng của ngài vẫn
luôn luôn nhớ tưởng những đứa con lạc mất không thôi.
Nếu con cũng nhớ tưởng mẹ như thế, tại sao mẹ con không
có ngày hội diện?
“Bởi
vậy kinh nói nếu tấm lòng của chúng sinh mong nhờ đức Phật,
nhớ tưởng ngài, chắc chắn chúng sẽ thấy ngài trong hiện
tại hay tương lai. Hiện tại là đời sống này, tương lai
là đời sống sẽ đến. Nếu thế, kẻ nào hết sức mong
mỏi Phật và nhớ tưởng ngài kẻ ấy nhất định sẽ đến
trước mặt ngài. Vậy thì, thấy Phật và tham Thiền chứng
ngộ khác nhau ở chỗ nào đâu?
“Huyền
Trụ hòa thượng có nói: Tham Thiền cốt soi sáng ý nghĩa của
sống và chết, còn Niệm Phật dạy cho thanh toán vấn đề
sống và chết; hãy chọn một trong hai đường, bởi vì chẳng
có tranh luận nào nổi lên ở đó. Đúng thế, chẳng có tranh
luận nào ở giữa hai đường, nhưng đừng có ôm lấy cả
hai. Kẻ học Thiền hãy cứ một mực theo Thiền, người Niệm
Phật hãy cứ khăng khăng niệm Phật. Nếu tâm bị phân chia
giữa hai thứ, sẽ chẳng thành được gì cả. Người xưa
đã nói có thí dụ về tình trạng phân tâm như thế với
một người cố bước vào hai con thuyền cùng một lúc nhưng
chẳng bước vào đâu được. Rồi ta, có lẽ chẳng có gì
nguy hiểm, nhưng y có thể lâm vào tình trạng bất lợi bất
cứ lúc nào, vì y có thể rơi vào khoảng giữa của hai chiếc
thuyền nếu không tự cảnh tỉnh.
“Riêng
ta, ta chẳng biết chi nhiều, nhưng có thể bảo thế này, là
trong phép Niệm Phật chỉ đề khởi bốn chữ: A-Di-Đà-phật,
vỏn vẹn chỉ có thế, không nói gì khác, ít nữa đối với
những Thiền giả sơ cơ. Dĩ nhiên họ mù mờ, không rõ phải
làm gì. Nhưng trong việc tham cứu công án, dạy rằng các ngươi
ai cũng có cái “bản lai diện mục” vốn đồng với chư
Phật chỉ vì chúng ta không nhận ra ở trong mình. Hãy cố
gắng tự mình soi xét, đừng nương tựa vào ai khác. Đấy
có thể bảo rằng các ngươi có đầu mối dẫn bước vào
Thiền”[100].
Một
trong những Thiền sư đầu tiên mang ý tưởng Niệm Phật vào
Thiền tông là Vĩnh Minh Diên Thọ (tịch năm 975). Ngài rất
chí trọng đến những hành giả Thiền chăm chỉ thực hành
phép Niệm Phật; rất chú trọng đến độ bảo rằng những
người theo học Thiền mà không có Niệm Phật trong mười
ngươi hết chín không thể đạt tới đích, còn những ai thực
hành Niệm Phật, sẽ chứng đắc hoàn toàn chẳng sót một;
nhưng tốt nhất là những người vừa hành Thiền vừa niệm
Phật vì họ sẽ như cọp có thêm cặp sừng. Muốn hiểu rõ
Vinh Minh nói gì trong câu này không phải là dễ; vì ngài không
bảo cho chúng ta biết về khía cạnh hành trì của nó; nghĩa
là làm thế nào để thực hành cả Thiền và Niệm Phật cùng
lúc. Phải chăng ngài muốn nói là thực hành niệm Phật sau
khi chứng đạt Thiền, hay ngược lại? Vấn đề hành trì
này mà chưa được giải quyết rõ ràng, chúng ta chớ vội
bài bác hay binh vực Vĩnh Minh.
Có
thể nói, phép Niệm Phật đã tạo bước tiến vững chắc
ngay giữa những môn đệ Thiền tông từ đầu thế kỷ X,
và Vĩnh Minh, được coi như một trong những tay chủ trương
tôn giáo hòa hợp vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa, đã cố
gắng gói ghém mọi tông phái Phật giáo vào hệ thống Thiền
học của mình, đương nhiên Niệm Phật cũng được pha trộn
vào đó. Ngoài ra, còn có lý do vững chắc khác cho biết tại
sao Thiền phải nghe theo tiếng gọi của Niệm Phật. Lý do
như thế này, Thiền vốn nặng chất triết lý (không phải
triết lý theo nghĩa thường tình) nhằm quên lãng hoàn toàn
khía cạnh xúc cảm của đời sống. Thiền, có thể nói, đắm
mình trong chứng ngộ quá trớn, vì thế nó thường chùi sạch
những ngấn lệ vốn dĩ phải nhỏ xuống trên vô minh, trên
những khổ não của nhân sinh, trên cõi đời đầy dẫy bất
công. Như thế Thiền chẳng lộ chút ước mơ một cõi đất
an lạc và thanh tịnh mà các môn đệ của Niệm Phật cảm
nhận một cách sống động vô cùng. Phải chăng Vĩnh Minh muốn
nói tới điều này khi ngài bảo Thiền phải kèm theo Niệm
Phật? Những nhận xét sau đây của Không Cốc Long, sống đầu
thế kỷ XV, hình như trỏ vào giải thích này, ít ra là một
phần. Ngài nói:
“Những
người hành Thiền nhất quyết đeo đuổi Thiền, nghĩ rằng
mình chăm chỉ như thế để đạt đến chỗ tịnh mặc duy
nhất mà thôi, còn đối với việc tụng đọc danh hiệu Phật
để thác sinh Tịnh độ, thờ cúng Phật và sớm chiều tụng
kinh thì họ chẳng hành trì. Những tín giả như vậy đáng
được gọi là những người có Thiền mà không Niệm Phật.
Nhưng thực tình đấy không phải là những môn đệ Thiền
chân chính; họ chỉ là những thằng mở của lối thực hành
công án, y hệt như một cây gậy, hay gạch đá. Một khi họ
bị thứ tâm bịnh này xâm phạm, thì mười người chỉ có
một là có thể được cứu thoát.
“Thiền
là một tâm linh sống động; nó như bèo trôi nổi bồng bềnh
trên mặt nước, đụng đến nó thì nó dập dìu rất ngộ
nghĩnh. Vì vậy, người ta bảo phải nhìn vào tâm linh sống
động của cổ nhân, chứ đừng nhìn vào những lời lẽ chết
cứng của các ngài. Nhưng có kẻ thi hành Thiền không coi nhẹ
giáo thuyết của Niệm Phật tông và tham dự đều đặn các
công việc sớm chiều. Thực ra, đi đâu cũng gặp đạo Thiền,
chỉ cần tìm là thấy. Tuyết Phong đi đến đâu cũng làm
việc nhọc nhằn như tên đầu bếp. Dương Kỳ thì coi sóc
việc chùa; các ngài không hề rỗi rãi trong đời sống hàng
ngày mà trong lòng vẫn chăm chỉ hành Thiền. Vĩnh Minh chứng
đắc Thiền với bổn sư là ngài Đức Thiều thế mà vẫn
hết lòng truyền giáo lý của Tịnh độ tông. Ấy chẳng là
một người trong tròn ngoài vuông sao? Bên trong ngài có đủ
đức tính của một vị Bồ tát (Bodhisattva: Nhân cách Đại
thừa) mà ngoài thì hiện hành như một vị Thanh văn (sravaka
- Nhân cách Tiểu thừa). Ngài là một người có cả Thiền
và Niệm Phật[101].
Giải
thích này có hơi hẹp hòi, nhưng sự kiện là nó không phủ
nhận rằng thời bấy giờ Niệm Phật đang len lỏi nhanh chóng
vát) những chỗ trọng yết của Thiền, và chúng ta sẽ thấy
ngay đây rằng, trên phương diện tâm lý, Niệm Phật có một
yếu tố có thể liên minh dễ dàng với lối tu tập công án
vào giai đoạn cơ giới của nó. Bởi lẽ, không kể thái độ
coi Niệm Phật như một lối thực haành của hàng Tiểu thừa
(sravaka) Thanh văn của Không Long Cốc, ngài vẫn chú trọng
coi nó như có cùng hiệu quả y như lối thực hành công án
trong việc thể hiện đời sống một Phật tử chân thật.
Trong
bức thư gửi cho một đồ đệ khác, hiển nhiên được viết
để trả lời cho nghi vấn về lối thực hành Niệm Phật,
Không Long Cốc khuyên cứ nói ngay đến Niệm Phật không cần
có khí chất triết học; tức là khỏi có nghi tình. Điểm
cốt yếu ở Niệm Phật là phải có tín tâm và tụng thầm
trong miệng, không lo lắng đến các sự việc thế gian. Không
Cốc Long nói :
"Pháp
môn Niệm Phật là con đường thể hiện Đạo Phật ngắn
nhất. Đừng tin ở hiện hữu sấc thân hư huyễn này, bởi
vì tâm trước vào những phù hư của kiếp sống thế gian
là cội gốc của luân hồi. Cõi Tịnh độ là đáng mong cầu
nhất và phép Niệm Phật là đáng trông cậy nhất. Đừng
hỏi Niệm Phật như thế nào gấp rút hay thư thả; đừng
hỏi tụng đọc danh hiệu Ngài như thế nào, cao giọng hay
thấp giọng; đừng để gò bó bới điều luật nào, mà hãy
nhất tâm bất loạn, tịch tĩnh và trầm mặc niệm tưởng.
Khi chứng đến chỗ chuyên nhất không bị ngoại cảnh quấy
nhiễu, rồi một ngày kia một biến cố sẽ bất ngờ gây
ra trong mình một thứ cải biến tâm lý và nhờ đó mà nhận
ra rằng cõi Tịch Quang Tịnh Độ là chính cõi đất này, và
Phật A Di Đà cũng chính là cái tâm này. Nhưng hãy cẩn thận
đừng phóng tâm mong chờ một cảnh tượng như thế, vì nó
sẽ trở nên chướng ngại sự chứng đắc
"Phát
tính sinh khởi đường đột vì đấy không phải là sản phẩm
của tâm tư hay ý giải. Nhưng khi ta nói thế, đừng coi
đó là một trạng thái vô tâm vốn cũng là một ngộ nhận
lớn lao nữa cần phải tránh. Nơi đây chỉ có những điều
ách yếu là phải có tín tâm và đừng để cho những tư tưởng
vô dụng và Thiền nhiễu xen tạp vào. Thực hành phép Niệm
Phật như thế, nếu như không có cơ duyên chứng ngộ trong
đời này, chắc chắn sau khi chết sẽ được thác sinh vào
cõi Tịnh độ ở đó, trải qua nhiều cấp, cuối cùng sẽ
tới chỗ bất thối chuyển.
“Ngài
Ưu Đàm khuyên nên hành trì như thế này: “Niệm Phật là
ai? Bản tánh Di-Đà của chính ta là gì?”. Đấy có thể gọi
là nhiếp tâm niệm Phật hay tham cứu Niệm Phật. Ông
không cần phải theo phương pháp này chỉ cần bình thường
Niệm Phật”.
Lời
khuyên của Không Long Cốc, theo đó Niệm Phật không cần phải
có hậu thuẫn bằng cách gia tăng nghi tình, mở ra đường
lối của phương pháp tụng đọc máy móc. Điều này khiến
cho Bạch Ẩn và môn phái của ngài chống đối kịch liệt
một vài Thiền sư Trung Hoa ở thế kỷ XIV và tiếp theo.
Châu
Hoằng, tác giả Thiền sư đời Minh, Thiền quan sách tấn,
và nhiều tác phẩm khác, và là người bị Bạch Ẩn tấn
công dữ dội, bình giải về Không Cốc Long: phần nhiều các
Thiền sư dạy người ta xét xem ai đang tụng đọc danh hiệu
Phật, nhưng Không Long Cốc cho rằng cái ấy hoàn toàn không
cần thiết. Như phương thuốc được dự liệu tùy theo căn
bịnh, cũng vậy, đạo phải được giảng, tùy theo căn cơ.
Mỗi một trong hai phương pháp đều có lý do riêng và không
có sự lựa chọn giữa hai đằng.
Phương
pháp tụng đọc này, được tán đồng bởi các thiền sư
như Không Cốc Long, và Châu Hoằng, căn cứ trên những sự
kiện tâm lý và ở đây tốt hơn là đề cập đến chủ đề
theo quan điểm Niệm Phật thay vì Thiền. Vậy chúng ta hãy
thử xem Niệm Phật đích thực muốn nói gì?
2.
NIỆM PHẬT (Nembutsu) VÀ XƯNG DANH (Shòmyò)
Nembutsu
(Niệm Phật) hay buddhanusmriti nghĩa đen là “nghĩ tưởng đến
đức Phật”, và được kể như là một trong sáu đề tài
thiền định trong Mahavytpatti. Đó là: 1) Niệm Phật (Buddhàsmriti-);
2) Niệm Pháp (Dharma-); 3) Niệm Tăng (Sangha ; 4) Niệm Giới (sila);
5) Niệm thí xá (Tygàa ) và 6) Niệm chư thiên (Devata-). Niệm
Phật cũng là một trong Ngũ đình tâm quán; là năm đề tài
suy nghĩ khiến tâm tránh khỏi những tà kiến. Đó là: 1. Quán
thân bất tịnh, trừ diệt tham ái; 2. Quán từ bi, trừ diệt
sân hận; 3. Quán nhân duyên, trừ diệt mê hoặc, si cuồng;
4. Quán lục địa (sáu thành tố), trừ diệt ngã chấp; và
5. Quán sổ tức (đếm hơi thở), trừ diệt loạn tâm. Mặc
dù tôi không thể nói rõ diễn ra như thế nào, nhưng đề
tài 4 (sáu đại: đất, nước, lửa, gió, hư không và thức)
được Trí Giả thay thế bằng “Tư duy về đức Phật”
(Niệm Phật) trong bản sớ giải kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika).
Theo một tác phẩm thuộc Thiên thai tông của Trí Giả, tư
duy này được coi như để đối trị trạng thái hôn trầm
tà tưởng và những mệt nhọc của thân thể.
Đối
với các Phật tử, tư duy về Đức Bổn Sư của họ là điều
rất tự nhiên, vì nhân cách vĩ đại của ngài ám.ảnh họ
nhiều hơn là giáo lý ngài. Một khi họ cảm thấy thiếu nghị
lực tìm cầu đạo lý hay tâm trí họ bị quấy nhiễu bởi
những thứ mê hoặc của thế gian, cách khích lệ đức tinh
tấn họ tốt nhất chắc chắn là tư duy về Đức Bổn Sư.
Khởi thủy, Niệm Phật thuần túy là một lối hành trì đạo
đức, nhưng vì uy lực kỳ bí của một danh hiệu đã kích
thích mãnh liệt trên sự tưởng tượng có tính chất tôn
giáo của các Phật tử Ấn, lối tư duy về đức Phật coi
ngài như một nhân cách có những đức tính lớn đã được
thay thế bằng lối nhắc nhở danh hiệu của ngài. Như một
triết gia nói: Nec nomen Deo quaeras ; Deus nomen est (Đừng tìm
hiểu danh hiệu của Chúa; Chúa là danh hiệu). Danh hiệu chính
là bản thể; trong một vài trường hợp, nó tác động có
hiệu quả nhiều hơn cái mà nó thay thế, vì khi chúng ta biết
danh hiệu thì có thể sai khiến được thần linh. Đấy là
điều đã từng xảy ra trong thời đại sơ khai của mọi lịch
sử tôn giáo trên khắp thế giới. Khi Phật A-Di-Đà thành
đạo, ngài muốn cho danh hiệu của ngài vang dội khắp cả
đại thiên thế giới, để ngài có thể cứu độ chúng sinh
nào nghe được danh hiệu ngài.
Nhưng
kinh điển không nói gì khác hơn là đọc lên danh hiệu của
Ngài. Những câu thường được nghe là: dasabhis citto pàdaparivartaih,
phát tâm xưng danh, “nhẫn đến mười lần” trong lời nguyện
thứ 19 của bản Phạn văn; prasannacitta mam anusmareyuh “chí
tâm nghĩ nhớ đến ta”, trong lời nguyện thứ 18 của bản
Phạn văn; hay antasa ekacittotpadamapi adhyasayena prasadasahagatena
cittam utpadayanti, "Nếu có chúng sanh phát tâm thanh tịnh, dù
chỉ một lần”. PHÁT TÂM (Cittotpada) hay TÙY NIỆM (Anusmriti),
“nghĩ nhớ (đức Phật)” không giống như “xưng dương
danh hiệu”.
Kinh
“Ban chu Tam Muội” (Pratyntpannasamadhisutra), được dịch sang
Hán văn đầu thế kỷ II do Lo-ca-lặc-xoa (Lokaraksa), trong đó
cũng có đề cập đến đức Phật A Di Đà ở Tây phương,
và thường được coi như là một trong những nguồn có thẩm
quyền về Tịnh độ tông; kinh này nhắc đến danh hiệu của
Phật, nói “Bồ tát khi nghe danh hiệu Phật A Di Đà và muốn
được thấy ngài, có thể thấy được ngài do niệm mãi quốc
độ của ngài”. Ở đây dùng chữ NIỆM chứ không phải
“xưng danh”. Lúc nào Phật trở thành một đối tượng tư
duy, Tiểu thừa hay Đại thừa. Thiền hay Tịnh, người ta nghĩ
tưởng đến ngài như một nhân cách, không chỉ riêng nhục
thể, mà cả cảm hứng tâm linh.
Tuy
nhiên, kinh Quán Vô lượng thọ dạy tín giả hãy “Quy y đức
Phật A-Di-Đà” vì khi họ xưng tán Phật hiệu này họ sẽ
thoát khỏi tội chướng trong 50 triệu kiếp. Lại nữa, nếu
một kẻ ngu si không thể nghĩ tưởng đến Đức Phật do khổ
não quá chừng, y được khuyên là cứ xưng tụng danh hiệu
Vô lượng Thọ Phật (Amitayus). Trong kinh Phật thuyết A-Di-Đà,
tác giả khuyên mọi người hãy tâm niệm (manasikara) danh hiệu
của đức A-Di-Đà Như Lai, khi lâm chung sẽ an tâm mà từ giã
cõi sống này.
Theo
những lời dạy đó trong các kinh điển, ngài Long Thọ (Nagarjuna)
viết trong luận Thập trụ Ti-ba-sa (Dasábhumikavibhasa-sastra)
(Ch.V, “Dị hành phẩm”) rằng nếu có người muốn đi nhanh
đến chỗ bất thối chuyển, y phải hết lòng cung kính tâm
niệm danh hiệu của Phật. Xét theo các lời lẽ, chúng ta thấy
một vài sai biệt giữa “tâm niệm”, “xưng tánh” và “trì
tụng” nhưng, trên phương diện hành trì, tâm niệm danh hiệu
Phật là xưng tán danh hiệu bằng đôi môi, im lặng hay thì
thầm. Sự di chuyển trọng tâm chiêm ngưỡng từ chỗ nghĩ
đến thốt ra lời, từ tâm niệm đến tụng đọc, là diễn
tiến tự nhiên.
Đạo
Xước[102] dẫn chứng một quyển kinh trong An lạc tập vốn
là một trong nhưng nguồn tài liệu chính yếu của Tịnh độ
tông. Chư Phật cứu độ chúng sanh bằng bốn phương pháp:
1. Bằng khẩu thuyết như được ký tải trong mười hai phần
giáo của nền văn học Phật giáo; 2. Bằng tướng hảo quang
minh; 3. Bằng vô lượng đức dụng thần thông đạo lực,
đủ các thứ biến hóa ; 4. Bằng các danh hiệu của các ngài,
mà, một khi chúng sanh thốt lên, sẽ trừ khử những chướng
ngại và chắc chắn sẽ vãng sinh Phật tiền.
Về
điểm này, Đạo Xước thêm: “Tôi nghĩ, thời này cách Phật
bốn năm trăm năm, chính là thời chúng ta phải sám hối tội
chướng, tu tập phúc đức, và xưng Phật danh hiệu. Kinh há
chẳng nói dù chỉ một lần nghĩ nhớ đến Phật A-Di-Đà
và xưng tụng danh hiệu ngài liền trừ được tội chướng
sinh tử của chúng ta trong 50 ức kiếp? Chỉ một niệm mà
đã thế, huống tu thường niệm, hằng sám hối?”. Tất cả
các tín đồ Niệm Phật kể từ sau Đạo Xước đều hăng
hái chấp nhận thuyết này, và Niệm Phật (nghĩ nhớ Phật)
đã được đồng hóa với XƯNG DANH (thốt lên danh hiệu).
Sự
thực, lối xưng danh bao hàm và có tác dụng tích cực hơn
lối nghĩ tưởng đến vô lượng công đức và các tướng
hảo trang nghiêm của Phật. Danh hiệu biểu trưng cho tất cả
những gì có thể có nơi đức Phật. Tưởng niệm Ngài tức
là hoài bảo hình ảnh ngài trong tâm, và tất cả mọi thứ
vọng tưởng đều có thể trưng bày trước mắt. Trong trường
hợp xưng danh, những tác động tâm lý hướng về trí năng
nhiều hơn, và ở đây mang một sắc thái tâm lý học khác.
Nơi
đây chúng ta có thể phân biệt ra hai lối trì tụng danh hiệu
Phật; tức là khi danh hiệu được đọc lên về phía tín
giả, có hai thái độ hướng tới đối tượng sùng bái của
y. Thứ nhất sự trì tụng được thi hành với ý tưởng cho
rằng danh tức thể (nomen est numen), hay được coi như một
thứ thần chú. Danh hiệu tự nó được coi là có một năng
lực thần bí nào đó tạo ra kỳ diệu. Thí dụ, chúng ta đọc
thấy trong Kinh Pháp hoa (Saddharmapundarika). ch.XXIV, “Quán Thế
Âm Bồ Tát (Avolokitesvara) Phổ môn phẩm”:
“Nhờ
xưng tụng danh hiệu Đại sĩ Quán thế âm (Bodhisattva
- Mahasattva Avalokitesvara), những Dạ xoa, La sát, hết dám đưa
mắt mà nhìn vào”. Hay, “Đừng sợ hãi, các ngươi hãy xưng
danh hiệu Đại sĩ Quán Thế Âm, ngài là vị bố thí sự vô
úy, tức là các ngươi sẽ thoát hiểm nghèo bởi đe dọa của
những tay oán tặc này”.
Trong
những trường hợp như thế, danh hiệu Quán Thế Âm (Avaloktesvara)
chắc chắn có một quyền lực thần thông không những đối
với những oán tặc, mà còn cả với những tham, sân và si
v.v... nữa. Nó lại còn khiến cho tín giả thu hoạch được
bất cứ phúc lạc nào mà y muốn. Những bài kệ (gathas) trong
chương này mó tả mọi đức tính mà ngài có, tín giả chỉ
có việc tín niệm đến ngài mà thôi; tức là xưng tụng danh
hiệu ngài. Dĩ nhiên, dưới cái ánh sáng rọi ra đây bởi
danh hiệu Quán Thế Âm, mà các học giả của Phật giáo Tịnh
độ tông đã từng bàn cãi kịch liệt về quyền năng tế
độ mầu nhiệm của đức A-Di-Đà, dĩ nhiên là hỏi xem quyền
năng ấy xuất phát từ danh hiệu hay từ bản nguyện của
ngài. Thái độ thứ hai, mà tín giả có thể chấp nhận nhắm
tới lối xưng danh, hay Niệm Phật, đặc biệt được Thiên
Như Duy Tắc, một Thiền sư ở triều Nguyên, thế kỷ XIV,
trình bày trong Tịnh độ hoặc vấn của ngài như sau:
“Niệm
Phật cốt ở chỗ chuyên niệm ba mươi hai tướng tốt của
đức Phật, bằng cách giữ 32 tướng trong tâm trong trạng
thái định, khi đó sẽ thấy Phật trong mọi thời dù nhắm
mắt hay mở mắt. Ngay trong đời sống này mà vẫn hiện thấy
đức Phật, do hệ tâm xưng tụng danh hiệu Ngài. Trong cách
hiện thấy Phật bằng lối trì danh này, phép Niệm Phật ấy
cần phải chế tâm không cho tán loạn, niệm niệm tiếp nối
nhau duyên vào Phật hiệu, lặp đi lặp lại nghe rõ A-DI-ĐÀ-PHẬT.
Mỗi tiếng mỗi tiếng phải phân minh hiển hiện nơi tâm.
Khi xưng Phật danh hiệu đừng kể bao nhiêu lần, vì điều
cốt yếu là phải nhất tâm nhất ý, tâm và miệng hoàn toàn
hợp làm một”.
Trong
trường hợp thứ nhất, danh hiệu tự nó được coi như có
một năng lực mầu nhiệm, đặc biệt là đối với những
hoạt kế nhân sinh, đấy là một câu thần chú. Khi Phật A-Di-Đà
muốn cho danh hiệu của ngài vang dội trên khắp vũ trụ, phải
chăng ngài muốn nó là một thứ phù chú, hay muốn nó là một
thế lực đạo đức; nghĩa là, tượng trưng cho cái đáng
ước mơ trong cuộc nhân sinh, khiến cho hễ lúc nào danh hiệu
ngài được nghe ra thì những công đức của ngài sẽ được
nghĩ nhớ đến, và lấy đó mà khích lệ người nghe noi theo
gương ngài? Cái ý tưởng thứ hai có lẽ là đúng nhất. Lúc
danh hiệu được xưng tụng, tất cả những gì nó thay thế
đều được khơi dậy trong tâm kẻ tụng đọc; không nhưng
thế, mà rồi cuối cùng nhờ đấy mà tâm của y vén mở ra
những căn nguyên sâu thẳm nhất và bộc lộ chân lý ẩn áo
vốn không gì khác hơn là thực tại tính của danh hiệu; nghĩa
là, tự thân Phật A-di-đà.
Trong
trường hợp thứ hai, danh hiệu được phát thanh, không cần
chỉ trỏ vào những sự vật vốn được ám chỉ nơi đây,
nhưng để tạo ra một quá trình tâm lý nào đó. Danh hiệu
của Phật bây giờ dù có được lặp đi lặp lại máy móc
không quan hệ đến cái mang danh hiệu như một thực tại khách
quan. Đây là điều đã thực sự diễn ra sau này trong lịch
sử của lối thực tập công án. Sau đây là biến cố xảy
ra trong tâm một lão già keo lận dưới sự chỉ dạy của
Bạch Ẩn, khai tổ phái Lâm Tế của Phật giáo Thiền tông
Nhật Bản cận đại, sẽ giúp chúng ta điển hình rõ rệt
về quá trình tâm lý được tạo ra bởi lối xưng tụng danh
hiệu Phật.
Một
trong vô số tục gia đệ tử của Bạch Ẩn rất phiền muộn
về cha già keo lận của mình, tâm ông chỉ chạy theo việc
làm tiền chẳng chút bận tới đạo Phật. Y muốn Bạch Ẩn
gợi cho một phương pháp nào để chuyển tư tưởng của cha
y ra khỏi sự keo lận. Bạch Ẩn gợi lên đề nghị này:
Bảo lão già keo lận cứ niệm Phật mỗi khi ông nhớ đến,
và sẽ trả cho ông mỗi lần tụng niệm là một tiền. Nếu
trong một ngày ông niệm Phật được một trăm lần, ông sẽ
có được một trăm tiền.
Lão
già nghĩ rằng đây là một cách bỏ tiền vào túi dễ nhất
trong thế gian. Mỗi ngày ông đến Bạch Ẩn để được trả
tiền do sự Niệm Phật của mình; vì ông rất siêng năng trong
vụ này và cứ tái diễn như vậy rất nhiều lần. Ông bị
mê hoặc với nhưng thủ đắc của mình. Nhưng chẳng bao lâu
ông thôi không đến Bạch Ẩn để được trả tiền hằng
ngày nữa. Bạch Ẩn sai người đi tìm hiểu xem người cha
mắc chuyện gì. Thì ra bây giờ ông bị sự Niệm Phật lung
lạc đến độ quên cả ghi nhớ. Đấy là điều mà Bạch
Ẩn lúc nào cũng chờ đợi nơi ông. Ngài dạy người con cứ
để cho cha y ở một mình trong một thời gian thử xem chuyện
gì sẽ đến với ông nữa. Lời khuyên này được tuân hành,
và trong vòng một tuần lễ người cha thân hành đến kiếm
Bạch Ẩn với cặp mắt ngời sáng, bộc lộ một kinh nghiệm
tâm linh cực lạc mà ông đã trải qua.
Lối
lặp lại máy móc của phép Niệm Phật, tức tụng đọc nhịp
nhàng, nhưng đều đều, danh hiệu của Phật “Nam Mô A Di
Đà Phật”, “Nam Mô A Di Đà Phật” cứ lặp đi lặp lại
hàng vạn lần, nó tạo ra một trạng phái ý thức có khuynh
hướng dằn xuống tất cả những tác vụ bình thường của
tâm trí. Trạng thái này có lẽ rất giống với trạng thái
hợp hoan, nhưng tự nền tảng, chúng khác nhau ở chỗ trạng
thái phát sinh từ ý thức Niệm Phật là một trực kiến vô
cùng quan trọng nhìn thấu vào bản tính của thực tại, nó
tồn tại rất lâu dài và có hiệu quả an lành trên đời
sống tâm linh của tín giả. Trong hợp hoan, không có chút gì
tương tợ, vì đấy là một tâm trạng bịnh hoạn không mang
lại hậu quả có giá trị trường cửu.
Đối
với sự sai biệt giữa tu tập công án và phép Niệm Phật,
như đã được nêu ra nhiều lần thì một đằng cốt yếu
là vắng bặt yếu tố tri thức, và đằng khác là sự hiện
diện của nghi tình.
3
GIÁ TRỊ CỦA XƯNG DANH TRONG TỊNH ĐỘ TÔNG
Sau
khi đức Phật thị tịch, khát vọng nhiệt thành nhất của
chúng đệ tử là được thấy lại ngài. Họ không thể phóng
tâm nghĩ rằng một nhân cách vĩ đại như đức Phật lại
hoàn toàn biến mất khỏi thế giới của mình. Cái ấn tượng
ngài để lại trong lòng họ rất sâu đậm, chẳng dễ gì
mà tan biến lẹ làng được. Đấy thông thường là trường
hợp đối với một tâm hồn vĩ đại. Ai lại khứng chịu
coi sự tan rã sắc thân của ngài là chấm dứt tất cả những
gì mà ngài sở chứng và sở đắc; chúng ta muốn tin rằng
ngài vẫn sống giữa thế giới này, không sống mãi bằng
cách nào đó, có lẽ trong cái cung cách mà chúng ta ưa gọi
là tâm linh. Nghĩ thế, chắc chắn chúng ta sẽ thấy ngài ở
một nơi và một lúc nào đó.
Đấy
là điều có thực đối với Chúa cũng như đối với Phật.
Nhưng đức Phật sống giữa lòng những người luyện tập
các thứ định tâm gọi là Samadhi, và họ cũng đã hoàn toàn
làm chủ tâm lý hành trì. Kết quả là sự phát sinh của những
kinh điển như Quán Kinh, hay Ban Chu tam muội (Pratyutpannasamadhi),
trong đó ghi lại tường tận những chỉ dẫn qua một cuộc
thưa hỏi riêng tư với một đức Phật hay các đức phật.
Trước tiên, phải có một tưởng nhớ nồng nàn về vị đạo
sư quá cố, và khát vọng nhiệt thành muốn thấy lại ngài,
rồi ra, mới phỏng định đường lối thực tập tâm linh
để chiếu kiến bằng nhớ tưởng; đây là trật tự đương
nhiên của mọi sự thể.
Hình
như sự chiếu kiến này đã diễn theo hai chiều hướng theo
thời gian: một duy danh[103] và một duy niệm. Điều quan trọng
là cả hai khuynh hướng đều có ghi dấu trong cùng một quyển
kinh tựa đề Sapta satika prajna paramita sutra[104], bản dịch
Hán gọi là Văn-thù vấn kinh do Phù nam quốc Mạn-đà-la-tiên,
TC. 503, triều Lương. Kinh thuộc bộ Bát nhã của nền văn
hiến Đại thừa và được coi là một trong những bản văn
tối cổ của Đại thừa. Nó chứa đựng tinh yếu của triết
lý Bát nhã (Prajnaparamita) nhưng lạ ở chỗ là cả hai khuynh
hướng tư tưởng, duy danh và duy niệm, có vẻ mâu thuẫn nhau,
cùng được trình bày song song ở đây. Tôi nghĩ rằng sự
kết nạp về sau của những đoạn đề cập đến trào lưu
tư tưởng duy danh chính do nhưng vị truyền bá giáo lý Tịnh
độ. Dù vậy, quá trình chiếu kiến của định tâm trong kinh
thường được thay thế bằng lý tưởng Phật đạo là nét
điển hình của tất cả văn hệ Bát nhã.
Mở
đầu kinh, Văn-thù (Manjusri) diễn tả ước muốn của mình
là muốn thấy chân thân của Phật như :
“Con
muốn thấy Phật chính thực để làm lợi ích hết thảy chúng
sinh. Con quán thấy đức Phật với như tướng (tathata), bất
dị tướng, bất động tướng, bất tác tướng; con quán đức
Phật là vô sinh, vô diệt tướng, bất hữu tướng, bất vô
tướng, bất tại phương, bất ly phương, phi tam thế, phi bất
tam thế, phi nhị tướng, phi bất nhị tướng, phi cấu tướng,
phi tịnh tướng. Quán như thế, là chánh quán Như lai, lợi
ích hết thảy chúng sinh. Con quán Như lai như thế, (Bồ tát)
tâm không có sở thủ, cũng không bất thủ, chẳng tích tụ
cũng chẳng không tích tụ…
“Vì
hết thảy chúng sinh mà quán thấy Như Lai như thế, tâm (của
Bồ tát) không dính mắc vào tướng chúng sinh; hướng về
Niết Bàn, Bồ tát cũng không dính mắc vào tướng Niết bàn.
Vì hết thảy chúng sinh mà phát đại trang nghiêm, mà tâm cũng
không có thấy có tướng trang nghiêm”.
Bản
dịch khác của Tăng-già-bà-là (Sanghapala), xuất hiện trễ
hơn Mạn-đà-la vài năm, chúng ta đọc như thế này:
“Phật
hỏi: Ông thật muốn thấy Phật chăng?”
“Văn
thù sư lị (Manjusri) đáp: pháp thân (Dharmakaya) của Phật vốn
thật không thể thấy. Con vì hết thảy chúng sinh mà đến
đây để thấy Phật. Còn pháp thân của Phật vốn chẳng
thể nghĩ bàn, không tướng, không hình, không đến, không
đi, chẳng hữu chẳng vô, chẳng phi thấy, chẳng phải không
thấy, như như, thật tế. Ánh sáng này (phóng ra từ đức
Phật khiến những ai thấy đến đều có thần lực) là Bát
nhã Ba-la-mật, và Bát-nhã-ba-la-mật là Như lai (Tathagata), và
Như lai là hết thảy chúng sinh; con tu Bát-nhã-ba-la-mật như
thế”.
Trong
bản dịch của Mạn-đà-la, Bát-nhã-ba-la-mật này được định
nghĩ là “vô biên, vô tế, vô danh, vô tướng, phi tư lượng,
không nương tựa, không bờ bến, không phạm, không phước,
không tối, không sáng, không thể hạn số... Nếu chứng được
như thế tức đã thành tựu chánh đẳng chánh giác”.
Tư
tưởng được diễn tả ở đây hoàn toàn phù hợp với những
đặc điểm thường thấy nơi triết lý của các kinh Bát nhã
Ba La Mật. Ở đây đức Phật được mô tả dưới những
từ ngữ rất trừu tượng bằng một chuỗi những phủ định.
Nếu như ý niệm về đức Phật không có vẻ vượt ngoài
ngôn thuyết (adhivacana) như thế, cuối cùng ngài chẳng gì
khác hơn chỉ là một danh hiệu (namadheya). Quả thực, dù có
bao nhiêu phủ định cũng không thể khiến người ta vói tới
như như tính của Phật quả nhưng dĩ nhiên điều này không
có nghĩa rằng đức Phật, hay cái gì tương tợ, Bát nhã Ba
La Mật hay vô thượng chánh đẳng chánh giác, có thể được
thực chứng chỉ bằng cách lặp lại danh hiệu của ngài.
Nếu có thể như thế, sự trì tụng danh hiệu Phật phải
được nhận xét dưới một ánh sáng khác; tức là không theo
chiều hướng của phủ định trừu tượng, mà theo quá trình
tâm lý phát khởi bằng chính sự lặp lại. Theo dõi sự di
chuyển tư tưởng từ duy niệm sang thực tại tâm lý luận,
đấy là một thể tài hứng thú. Chúng ta thử xem Văn thù
nói gì thêm về vô thượng chánh đẳng chánh giác phải thành
đạt bằng Phật hiệu (namadheya).
Nửa
phần sau của Kinh Văn thù vấn (Saptasatikà- Prajnàparamita) (Bản
dịch của Mạn-đà-la), có đề cập đến một thứ chánh
định (Samadhi) gọi là NHẤT HÀNH TAM MUỘI[105] nhờ đó mà
hành giả chứng được vô thượng chánh giác và cũng nhờ
đó mà hiện thấy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị
lai. Đoạn văn trong bản dịch của Mạn-đà-la diễn ra như
sau:
“Lại
có NHẤT HÀNH TAM MUỘI; nếu thiện nam tín nữ tu tam muội
này thì chóng được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
“Văn
thù sư lị hỏi: Bạch Thế tôn, thế nào là nhất hành tam
muội?
"Đức
thế tôn bảo: pháp giới (Dharmadhatu), là nhất tướng, hệ
duyên pháp giới gọi là Nhất hành tam muội. Nếu có thiện
nam tín nữ muốn nhập Nhất hành tam muội này, trước hết
phải nghe thuyết về Bát nhã ba la mật rồi theo đó mà tu
tập, nhiên hậu mới có thể tập Nhất hành tam muội, nhờ
đó, họ sẽ chứng pháp giới không thối, không hoại, không
tư nghì, không quái ngại, không có tướng.
“Nếu
thiện nam tử, thiện nữ nhân, muốn nhập nhất hành tam muội,
phải ngồi ở nơi vắng vẻ, bỏ hết thảy tư tưởng tạp
loạn, không dính mắc vào tướng mạo, buộc tâm vào một
đức Phật, chuyên xưng danh tự của ngài, ngồi ngay ngắn,
hướng về chỗ Phật và nhìn thẳng ngài. Khi niệm niệm tiếp
nối nhau chuyên chú về một đức Phật tức thì trong niệm
mà có thể thấy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị
lai…”[106]
Trong
bản lịch của Mạn đà la có sự phối hợp kỳ lạ của
triết lý Bát nhã Ba la mật chính hiệu với sự hiện kiến
Phật bằng danh hiệu ngài, được trì tụng với sự chuyên
nhất của tư tưởng. Bản văn của Huyền Trang nói đến sự
quán chiếu trên nhân cách của những sắc tướng cá biệt
của Phật liên hệ với việc trì tụng danh hiệu ngài, có
đôi chút mâu thuẫn với ý tưởng của bản văn trên đây.
Bởi vì bản trước chú trọng lối xưng tụng danh hiệu mà
không nói gì đến việc hiện kiến những đặc điểm riêng
tư của Phật quả, nhưng hứa hẹn hành giả không chỉ thấy
đức Phật mình đang trì danh mà còn thấy tất cả chư Phật
trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Và sự thực đây là
điểm mà tín đồ Tịnh độ tông chú trọng ở giáo lý của
họ; tức là kinh chỉ thiên về lối tụng đọc ngôn từ hay
duy danh hơn là quán chiếu hay chiếu kiến.
Trong
kinh Bát chu tam muội (Pratyutpanna Sutra) cũng vậy tư duy chiếu
kiến nối kết lạ lùng với nhưng khuynh hướng tư tưởng
duy danh. Đề tài của bài pháp nơi này như đã được thuyết
cho Bồ tát Hiền Hộ (Bhadràpàla)[107] là làm thế nào để
chứng được thứ định mệnh danh Pratyutpanna, trong đó mười
phương chư Phật cùng xuất hiện và đứng ngay trước hành
giả để trả lời cho tất cả những câu hỏi mà y có thể
hỏi các ngài. Những đức tính của hành giả đó là:
1.
Y phải có niềm tin lớn ở đức Phật; 2. Y phải tận dụng
hết tâm lực của mình; 3. Y phải có kiến giải sâu về chánh
pháp; 4. Y phải luôn luôn gần gũi các thiện hữu tri thức.
Nếu những điều kiện này đựợc tròn đầy, thì thứ định
này được thành thục, và rồi, trước hết do uy lực gia
hộ của Phật đối với hành giả; kể đến, do công đức
của định và thứ nữa, do công đức tiềm tàng trong phước
quả được tích tụ, tất cả chư Phật xuất hiện trước
hành giả giống như những ảnh tương phản chiếu trong một
tấm gương.
Khởi
đầu hành giả nghe đến danh hiệu của Phật A Di Đà và cõi
tịnh độ của ngài. Nhờ danh hiệu này, y chiếu kiến hết
thảy các sắc tướng kỳ diệu nơi Phật, như 32 tướng của
bậc đại trượng phu và 80 vẻ đẹp. Hành giả cũng chiếu
kiến hết thảy những tướng hảo trang nghiêm của Phật khi
nhất tâm chuyên niệm danh hiệu ngài.
Nếu
sự tu tập này thành tựu viên mãn, tâm hành giả được dọn
sạch tất cả những cáu bẩn. Đến khi tâm đã lắng trong,
đức Phật được phản chiếu trong đó, rồi bấy giờ tâm
nhận thấy tâm hay Phật tự thấy Phật, nhưng hành giả không
hay biết về sự kiện tự hợp nhất này. Cái vô tâm như
thế đấy là Niết bàn. Nếu có chút móng tâm, đà hợp nhất
này bị chúi xuống, và ở đây mở đầu một thế giới của
những đam trước.
Nói
cho chí lý, điều đáng ngờ là không biết kinh có khoa đại
danh hiệu và trì danh như chủ trương của các đồ đệ Tịnh
độ tông hay không. Chúng ta chỉ có thể thấy rằng sự chiếu
kiến cũng giữ vai trò quan trọng như là trì niệm danh hiệu.
Sự thực, không có danh hiệu, tâm của chúng ta chẳng vin vào
đâu được; ngay dù thực có cái khách quan trong hiện hữu,
bao lâu cái ấy vẫn là vô danh thì nó chẳng có thực tại
tính nào đối với chúng ta. Khi một sự vật có một danh
hiệu, nhưng tương quan của nó với các sự vật khác liền
được xác định vô giá trị của nó được xét đúng mức.
Đức A-Di-Đà không hiện hữu, nếu chúng ta không thể gọi
lên bằng danh hiệu; định danh là sáng tạo, có thể nói như
vậy. Nhưng, trái lại, chỉ định danh thôi không cho thấy
có hiệu quả như vậy, không phải là hành vi tạo tác hữu
hiệu như vậy, bởi vì đằng sau đó có một thực tại tương
ứng. Chỉ đọc lên cái danh “nước” thì không giải thoát
được; khi nó được kèm theo quán tưởng và có một mô hình
tâm lý về một con suối, nó tạo ra một hiệu quả hiện
thực về mặt sinh lý hơn, nhưng chỉ khi nào có dòng nước
tươi mát đích thực trước mắt chúng ta, uống no nê được,
thế mới dứt được cơn khát.
Chỉ
bằng vào tâm chí và tưởng tượng, mô hình tâm lý có thể
lên đến cao độ tuyệt đối, nhưng dĩ nhiên năng lực con
người có giới hạn. Một khi tận cùng giới hạn này, một
bước nhảy vào vực thẳm chỉ có thể có nhờ uy lực gia
hộ của mười phương chư Phật đối với hành giả. Như
thế, danh hiệu, quán chiếu, hay quán tưởng và hiện hành
đều là trật tự đương nhiên của nhưng sự vật giữ vai
trò trọng yếu trong hệ thống giáo thuyết Tịnh độ.
Chính
do sự tổng hợp kính tin của Thiện Đạo mà lối quán tưởng,
trì danh và vãng sinh Tịnh độ được gầy dựng thành một
hệ thống; hệ thống này được đặt thành hoạt động tích
cực nhờ niệm Phật, tức nhất tâm trì tụng danh hiệu Phật
A Di Đà. Sau Thiện Đạo, sự quán tưởng dần dần không được
duy trì nữa và lối trì danh trở nên nổi bật trên toàn thể
Tịnh độ tông. Tại Trung Hoa, trong khoảng thời gian này, có
lẽ lối tu tập công án đang có ảnh hưởng song song với
sự thịnh hành của lối trì danh, nhưng ở Nhật Bản Tịnh
độ tông được thiết lập như một tông phái độc lập
quảng bá rộng rãi phép Niệm Phật, tức trì danh Niệm Phật.
Sự
chuyển hướng trọng tâm từ duy niệm sang duy danh, từ nhất
tâm chuyên niệm sang trì danh, có thể thấy được dấu vết
trong đoạn văn sau đây tích từ An lạc tập của Đạo Xước,
trả lời cho câu hỏi thực hành Niệm Phật như thế nào.
“Cũng
như một người đi ngang qua chốn hoang vu, gặp phải oán tặc
tấn công, rút dao hùng hổ chạy thẳng đến muốn giết, nếu
hành nhân không phục tùng mệnh lệnh. Hành nhân bỏ chạy,
mau mau thoát chỗ hiểm ác, nhìn thấy một con sông trước
mặt. Trước khi chạy đến sông, y nghĩ ngợi: “Ta sang bờ
bên kia có cần phải cởi áo lội sang, lại sợ đầu cổ
khó an toàn”. Cái lúc nguy kịch này, y chỉ một lòng nghĩ
đến phương tiện sang sông mà thôi, không lòng dạ nào mà
nghĩ sang chuyện khác. Hành giả niệm Phật cũng vậy. Khi niệm
đức Phật A Di Đà, y phải nhất tâm chuyên niệm, không để
nó nghĩ tưởng việc khác.
“Hoặc
niệm Pháp thân của Phật, hoặc niệm thần lực của Phật,
hoặc niệm trí tuệ của Phật, hoặc niệm tướng lông mày
của Phật, hoặc niệm các tướng hảo của Phật, hành giả
không ngớt nhất tâm xưng danh hiệu Phật đừng để tâm nghĩ
tưởng việc gì khác, chắc chắn y sẽ vãng sanh hiện tiền
đức Phật”.
Trong
giờ phút hiểm nghèo như được mô tả ở đây, người ta
ngờ không biết có sự phản tỉnh nào xảy ra trong lòng của
tín giả hay không. Những gì y có thể làm, đấy là trì tụng
danh hiệu Phật, vì không thể có thời gian tâm lý mà y phải
dành cho việc tưởng nhớ công đức, uy lực và tướng hảo
của Phật. Trong trường hợp này, Niệm Phật chỉ là Xưng
danh mà thôi. Bởi lẽ, khi xưng tụng danh hiệu phật cũng chính
là khi niệm tưởng Phật, toàn thể sinh mệnh của y đặt
cả vào đấy, và đấy là tất cả những gì y có thể làm
một cách có ý thức, còn thì không thể có những tư tưởng
nào khác trong môi trường ý thức của y.
Trong
bản sở giải về Quán kinh, Thiện Đạo phân biệt có hai
thứ tu trì đối với tín đồ của Niệm Phật, “chính”
và “tạp” “Chính tu” là Niệm tưởng danh hiệu Phật
A Di Đà. Nhưng ở đây thường thì sự “trì niệm” danh
hiệu” chỉ có ý nghĩa nếu danh hiệu được xưng tụng phân
minh. Loại trì niệm này chỉ có hiệu quả khi thần kinh và
cơ năng phát âm có hoạt động, phù hợp với biểu tượng
tâm lý. Sự thực, người ta không rõ có niệm tưởng nào,
bổng hay trầm, có thể kéo dài mà không có cơ năng phát âm
tùy thuộc này, dù rất nhẹ và khó cảm nhận được, hay
không.
Ngoài
sự kiện tâm lý này, các triết gia của Tịnh độ tông cho
rằng danh hiệu (namadheya) như là kho tàng chứa đựng tất
cả mọi công đức nơi Đức Phật, tức hết thảy những
thành tựu nội tâm và hết thảy công đức chỉ có nơi đức
Phật A Di Đà mà thôi, như bốn trí, ba thân, mười lực, bốn
vô sở úy, v.v… Đồng thời, hết thảy những công hạnh
bên ngoài, gồm các tướng hảo, quanh minh, chánh pháp, sự
nghiệp độ sinh, v.v… tất cả đều gồm có trong danh hiệu
của Phật A Di Đà[108]. Rồi ra, như chúng ta sẽ thấy sau đây,
tâm lý học và triết học được kết hợp với nhau để
đặt tất cả trọng điểm của giáo lý niệm Phật trên lối
trì danh.
Trong
Vãng sanh Yếu Tập (quyển II, phần I), được soạn tập bởi
Nguyên Tín (Genshin, 942-l017), một trong những vị tiền phong
của Tịnh độ tông Nhật Bản, tác giả nêu lên câu hỏi:
người ta phải đạt đến Niệm Phật tam muội chỉ bằng
tâm niệm hay xướng danh?”. Câu trả lời được đưa ra bằng
trích dẫn từ Ma Ha Chi Quán[109] của Trí Giả Đại Sư : "Đôi
khi xướng và niệm song hành, đôi khi niệm trước và xướng
sau đôi khi xướng trước rồi đến niệm. Khi xướng và niệm
tiếp nối liên tục bất đoạn như vậy, mỗi tâm niệm cũng
như mỗi âm thanh đều được ngưng chú vào A Di Đà”[110].
Ở đây lối trì danh chưa chiếm ưu thế.
Chính
Pháp Nhiên, theo lời dạy của Thiện Đạo, chú trọng phép
Niệm Phật, tức chú trọng việc chấp trì danh hiệu Phật
A Di Đà. Lối thực hành này đã được coi là trọng yếu
trong Tịnh độ tông, dành cho những tín đồ mong muốn vãng
sinh về Cõi Phật Di Đà. Tán dương công đức, cúng dường
và cung kính tụng đọc kinh điển và tư duy về ngài, những
thực hành này không được xao lãng, nhưng hành vi tín thành
cốt yếu vẫn là xưng danh. Trong lúc chí tâm xưng tụng danh
hiệu ngài không gián đoạn, dù đi đứng hay nằm ngồi, chắc
chắn sẽ được Phật A Di Đà tiếp độ trong cõi Cực lạc
của ngài vào giờ phút lâm chung. Bởi vì, theo các đại sư
của Tịnh độ tông, điều ấy rất phù hợp với các kinh
điển, tức phù hợp với những bản nguyện của Phật.
Để
xác nhận quan điểm này, Pháp Nhiên còn dẫn chứng Thiện
Đạo, theo đó phép Niệm Phật dễ thực hành nhất so với
các lối tín tu khác. Đấy là giải thích lý do gác lại pháp
môn tư duy và chú trọng về nhất tâm xưng danh. chính vì các
loài hữu tình mang nhiều nghiệp chướng, trí thì nhiều mê
hoặc, tâm thì quá tán loạn. Bởi vậy, Thiền không thích
hợp với họ. Vì thương xót họ, Phật dạy hãy chuyên tâm
trì niệm danh hiệu ngài, và do tu tập trì niệm không gián
đoạn, chắc chắn sẽ vãng sinh về cõi Phật A Di Đà".
Pháp
Nhiên nói tiếp rằng tư duy hay thiền quán, chính là trì danh,
cả hai chỉ là một, và tư duy về Phật A di đà tức trì
niệm danh hiệu ngài, và ngược lại. Như vậy, cuối cùng
NIỆM PHẬT hoàn toàn hợp nhất với XƯNG DANH, tư duy trở
thành trì niệm. Cái mà người ta có thể gọi là duy danh luận
của đạo Phật cuối cùng đã xâm nhập các tín đồ của
Tịnh độ tông, bớởi vì; bấy giờ họ biết rằng trong
danh hiệu có cái vượt ngoài mọi khái niệm. Đến đây, tôi
sẽ nghiên cứu ý nghĩa tâm lý của trì danh niệm Phật và
khảo sát những quan hệ của nó đối với sự tu tập công
án như đã được các môn đệ Thiền thực hành.
TÂM
LÝ XUNG DANH VÀ NHỮNG TUƠNG QUAN CỦA NÓ
ĐỐI
VỚI TU TẬP CÔNG ÁN.
Trong
khi tận lực xương minh lối trì danh niệm Phật, Pháp Nhiên
và các tiền bối của ngài lại không quên nhấn mạnh trên
tầm quan trọng của một tín tâm. Tư duy về Đức Phật như
một nhân cách có tất cả mọi công đức và 32 tướng tốt
của bậc đại nhân, điều ấy chắc chắn đòi hỏi nhiều
định tâm và có lẽ vượt ngoài năng lực tâm thần của
một người thường. So sánh mà nói, cố nhiên việc xưng danh
dễ dàng hơn nhiều. Một danh hiệu, đấy là sự thể giống
như một ký hiệu đại số; cũng như A hay B hay C có thể tượng
trưng cho bất cứ con số nào danh hiệu “A-Di-Đà” có thể
được coi như một sự thể tượng trưng cho tất cả những
gì được chứa đựng trong khái niệm về đức Phật, không
những chỉ riêng về Phật A-Di-Đà, mà hết thảy vô số chư
Phật. Khi một người đọc lên danh hiệu này, y thực hiện
một cuộc thám hiểm sâu xa vào nội dung của ý thức tôn
giáo của mình. Tuy nhiên, chỉ tụng đọc không thôi sẽ chẳng
có kết quả gì, vả lại còn vô nghĩa; nó phải đạt tới
một phản chiếu sâu ra, một công phu nhiệt thành, một niềm
tin lớn lao; nếu nó không phải là thành quả của những khát
vọng nồng nàn, ít ra cũng phải được thúc đẩy liên tục
bởi những khát vọng này. Môi và tim phải hoàn toàn phối
hợp.
Trong
cách niệm Phật đó, tâm trí tập trung vào danh hiệu chứ
không phải ở đức Phật. 32 tướng tốt trang nghiêm của
ngài không được vẽ ra trong tâm hành giả. Danh hiệu chiếm
trọn môi trường ý thức của y. Kinh Di Đà Tiểu bản nói[111]:
“Nếu có người được nghe danh hiệu của A-Di-Đà Như Lai,
sau khi nghe, y chấp trì danh hiệu của ngài...”
CHẤP
TRÌ có nghĩa là “giữ vững một đối tượng tư tưởng
trong tâm”. Chú tâm trên chính danh hiệu chứ không chỉ tụng
đọc ở môi miệng; sự biểu lộ xuất phát từ tâm. Chắc
chắn lối niệm Phật này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc
tập định. Cầu viện đến sắc tướng của Phật sẽ có
nhiều nguy hiểm và tác hại tâm lý; kẻ nào thực hành có
thể trở nên nạn nhân bất trị của những ảo tưởng. Lối
trì danh là một bước dài tiến tới chỗ thành tựu chánh
định.
Chúng
ta thấy rằng chủ đích của niệm Phật đã có những biến
cải liên tục. Khởi đầu, đấy là nhớ lại đức Phật
trong ký ức mong thấy ngài như lúc ngài đang tại thế giữa
các đồ chúng - một ước mong hoàn toàn nhân tính và tự
nhiên. Về sau, nó chỉ cho ước mong hiện diện trước đức
Phật được lý tưởng thành thường trụ ở cõi Tịnh độ
và Cực lạc. Cuối cùng, mục đích rõ ràng là đặt hết
tấm lòng mong đợi thương yêu của đức Phật trên hành giả
mang đầy tội chướng, đang kiên tâm trì niệm danh hiệu ngài.
Sự biến cải này được các đại sư của Tịnh độ tông
giải thích là hoàn toàn phù hợp với giáo lý của Phật như
được trình bày trong nhiều kinh điển thuộc về tông phái
này.
Nhưng
vấn đề được đặt ra ở đây là: có lý do tâm lý sâu
xa nào đối với sự biến cải lần hồi này không? Ngoài
chủ đích hướng tín đồ về cõi Tịnh độ của Phật A-Di-Đà,
phép trì danh niệm Phật há không hàm ngụ một chủ đích
khác? Các vị đại sư có lẽ không ý thức về sự kiện
đó, nhưng ở họ há không có một kinh nghiệm tâm lý khiến
họ chỉ giảng dạy phép tri danh niệm Phật thay vì các hành
vi tôn giáo khác như tụng đọc kinh điển, quán tướng Phật
đà, lễ bái ngài, hay ca vịnh tán thán?
Nếu
người ta theo đuổi sự huấn luyện đạo đức hay tâm linh,
hành vi xưng tung danh hiệu không thôi, ngay dù là danh hiệu
của một vị Thánh giữa các vị Thánh, hình như không thể
nâng cao tâm linh cho bằng quán tưởng về ngài và tụng đọc
các bài pháp của ngài. Các sư tổ của Tịnh độ tông tin
tưởng các kinh điển một cách chí thành khi phép niệm Phật
trở thành ưu thế. Nhưng đối với các kinh điển chúng còn
giảng dạy nhiều chuyện khác, và nếu các sư tổ muốn, họ
có thể khai triển những giáo lý khác ngoài pháp môn niệm
Phật. Bởi vì, một quyển kinh - hay tất cả tác phẩm tôn
giáo khác - cung cấp những giải thích khác nhau theo kinh nghiệm
riêng tư của người đọc. Do đó, có thể nói, sự phát triển
của phép niệm Phật chắc chắn có những căn cơ tâm lý cũng
như triết lý và tôn giáo. Dĩ nhiên, chính sắc thái triết
lý nó chỉ đạo ý thức tôn giáo của các vị tôn sư, vừa
cốt yếu và vừa minh nhiên.
Khó
mà xác nhận hữu lý rằng tâm lý của trì danh niệm Phật
là tất cả nền tảng thiết lập của giáo lý Tịnh độ
tông. Bởi vì, những khái niệm như tội chướng, thực tại
khổ não, và tấm lòng đại bi của Phật A-Di-Đà cũng là
những thành tố cốt yếu nhưng chủ đích của tôi nơi đây
chỉ phân cạnh tâm lý mà thôi
Đặt
ra một danh hiệu, tức là phân biệt; phân biệt chính là tri
nhận thực tại tính của một đối tượng cá biệt, và khiến
cho tâm cũng như trí của con ngậm có thể nói tới được.
Vậy, khi một danh hiệu được đọc lên, chúng ta cảm giác
rằng chính đối tượng cùng hiện thể với chúng ta, và do
bởi một quá trình tự nhiên mà hành vi tưởng niệm đức
Phật dần dần trở thành xưng tụng danh hiệu ngài. Nhưng
điều mà chúng ta muốn khảo sát ở đây, chính là sự kiện
danh hiệu của Phật vẫn giữ y hình thái Phạn âm nguyên thủy
của nó, hay đúng hơn, sự chuyên âm này dõi theo trường kỳ
lịch sử của đạo Phật ở Tàu và ở Nhật. Tại sao không
đọc lên danh hiệu Phật bằng những từ ngữ Trung Hoa hay
Nhật Bổn tương xứng, thay vì dùng danh hiệu Phạn âm, nguyên
thủy hay biến thái? nan wu o mi to fo và Namo amida bùtsu – Nam
Mô A Di Đà Phật, là những lối phát âm Hán và Nhật của
Namo mita bhaya buddhaya. Namas có nghĩa “cung kính” hay “kính
lể” và amitabhaya budhaya có nghĩa “Vô lượng quang Phật”,
và dịch sang Hán: QUY Y VÔ LƯỢNG QUANG PHẬT. Tại sao không
nói: “Quy Y Vô Lượng Quang Phật” thay vì "Nam Mô A Di Đà
Phật” Những lối phiên chuyển này bình thường chẳng có
ý nghĩa gì đối với một người Trung Hoa hay Nhật, bởi vì
đấy là những Phạn âm biến thái, chúng không mang ý nghĩa
nào đối với các ngôn ngữ khác. Đối với Trung Hoa hay Nhật
Bản, đấy chính là một thứ đà la ni (dharani) hay mật chú
(man tra), phải được xướng âm theo nguyên hình không phiên
dịch; bởi vì khi được phiên âm, một đà la ni không chuyển
sang cho biết một tư tưởng nào, không gì hơn là một mớ
trọ trẹ. Đấy là bởi lý do nào? Tại sao cái khả tri thay
thế cái bất khả tri, cái hữu tình thay thế cái vô tình,
ánh sáng thay thế bóng tối phân biệt thay thế vô phân biệt?
Và ở đây, tại sao lại Nam Mô A Di Đà Phật, thay cho “Nam
midabhaya btlddbaya” ?
Theo
ý tôi, lý do phải được tìm thấy, không ở trong sự linh
nghiệm của chính danh hiệu, mà trong hiệu quả tâm lý của
xưng danh. Khi một ý nghĩa khả trí được gói trọn vào trong
một tiếng, nó gợi lên chuỗi dây liên tục những ý tưởng
và tình cảm được gắn vào đó; bấy giờ, hoặc tâm được
ứng dụng để kiến tạo một khuôn luân lý, hay nó trở nên
rắc rối, phó thác vào những mối dây tưởng tượng và liên
tưởng. Khi người ta xướng lên nhưng âm thanh vô nghĩa, tâm
trí dừng lại không có cơ hội nào để mà lêu lổng. Những
ảnh hưởng và những ảo tượng ít có khả năng xâm nhập.
Nói theo thuật ngữ Phật giáo, khách trần phân biệt bao phủ
mặt gương bản lai trong sáng của đài gương giác ngộ ở
nội tâm. Để tránh cảnh ngộ bi thảm này, cần phải dùng
đến âm thanh trong phép trì danh niệm Phật dù không có ý
nghĩa rõ rệt. Khi phép quán tưởng niệm Phật trở thành trì
danh niệm Phật, chắc chắn có một kinh nghiệm tâm lý của
loại này ở những sư phó muốn chuyên tâm vào chính nơi Phật
tính chứ không phải nơi nhân cách của Phật đà. Việc tưởng
niệm về nhân cách của Phật, cái nhân cách theo như họ thấy,
đòi hỏi một trạng thái khá cao của những quá trình tâm
lý, dù vậy, không luôn luôn mang lại những thành quả chân
chính.
Các
sư tổ của Tịnh độ tông luôn luôn nhấn mạnh trên ba thái
độ của tâm, phải kèm theo với trì danh niệm Phật liên
lĩ : thành tâm, đốc tín, và nguyện sinh cõi Phật A Di Đà.
Thực
vậy, những thành tố chủ quan này nếu không có, thì không
một sự tích tụ nào của niệm Phật mà hỗ trợ hành giả
đạt được những gì y tìm kiếm. Nhưng, nhưng vị sư tổ
này, trong ước vọng rất nồng nàn của họ, hình như, để
truyền bá phép môn gọi là “dễ” độ và để khêu áng
sự cần thiết của lối trì danh niệm Phật, đôi khi họ
có vẻ gác lại những điều kiện chủ quan trọng yếu. Kết
quả là các môn đệ của Tịnh độ tông thường rất dễ
bị lôi kéo về lối trì danh niệm Phật làm thiệt hại cho
những điều kiện chủ quan cần thiết.
Đấy
là một hành vi sai lầm, nhưng người ta có thể tự hỏi há
không có gì hết trong thái độ của các sư tổ chứng minh
cho lối chủ trương lầm lạc này. Những vị này há không
chú trọng vai trò quan hệ của nhưng thành tố chủ quan hầu
mang đến cho trì danh niệm Phật cái hiệu lực khả dĩ lớn
hơn? Nếu một người thành tựu viên mãn nhưng điều kiện
nội tâm ấy, hình như không quan trọng lắm, đối với luận
lý bình thường, dù y là một tín đồ tụng đọc kinh điển,
hoặc lễ bái đức Phật, hay xưng danh niệm Phật. Nhưng các
vị sư tổ, nhất là Nguyên Không và Pháp Nhiên của Tịnh
độ tông, không ngớt xác định rằng việc xưng tụng danh
hiệu Phật dưới hình thức “Nam Mô A Di Đà Phật” là lối
tu cốt yếu nhất, những lối tu trì khác được xếp vào
hạng thứ yếu. Vậy, theo họ “Nam Mô A Di Đà Phật” là
sự thể đảm bảo cuối cùng cho sự vãng sinh thế giới Cực
lạc. Sao lại có thể như thế, nếu phép trì danh niệm Phật
không khai diễn hơi có vẻ huyền bí trong tâm thức của tín
đồ? Khi một trạng thái ý thức nào đó đã được kích
phát bởi việc trì niệm danh hiệu Phật, có lẽ chính đức
Phật sẽ ngự trị trong tâm, và nhờ đó hành giả được
đoán chắc về số phận tương lai của y. Phải chăng quan
điểm tâm lý này chính là sở kiến của Thiện Đạo, Pháp
Nhiên, và các vị sư phó khác của Tịnh độ tông?
Khi
những bậc tôn sư của Tịnh độ tông như Thiện Đạo, Đạo
Xước và Hoài Cảm chỉ ra hai con đường vãng sinh Tịnh độ,
một đường là niệm Phật và đường khác là tụ tập phước
đức; và khi họ so đường lối thứ nhất phù hợp kinh điển
hơn đường lối thứ hai; và thêm nữa, khi họ đồng nhất
NIỆM với XƯNG, đồng thời xác định rằng niệm Phật là
niệm danh hiệu ngài, họ có tìm ra lý do cho sự đồng nhất
này trong luận lý hay tâm lý không? Trên phương diện luận
lý, tưởng niệm hăng hái một đối tượng không nhất định
muốn nói là xướng lên danh hiệu của nó; tưởng niệm đứng
riêng ngoài xưng danh, nhất là khi tâm chuyên chú vào việc
tư duy về một đối tượng cung kính thờ phụng. Nhưng nếu
xét về sự kiện tâm lý, hành vi tưởng niệm những ý nghĩ
trừu tượng được tán trợ rất nhiều bằng cái nhìn của
những biểu tượng tượng hình chữ thay đồ thị, và cả
sự xướng danh, xướng thầm hay cao giọng. Căn cứ trên sự
kiện tâm lý này, chắc chắn họ đi đến kết luận rằng.
Niệm Phật tức là xướng lên danh hiệu ngài, niệm và xướng
là một. Và, theo sớ giải của Hoài Cảm[112] về một đoạn
văn nổi tiếng của Đại tập Nguyệt Tạng Kinh[113]: “Do
niệm lớn mà thấy Phật lớn; do niệm nhỏ và thấy Phật
nhỏ. Niệm lớn tức gọi (danh hiệu của) Phật bằng giọng
bổng; niệm nhỏ, bằng giọng trầm”. Tôi không rõ lắm thế
nào là thấy Phật lớn và “Phật nhỏ”, nhưng người ta
hiểu ngay rằng ở đây các sư tổ đặt nặng phép trì danh
niệm Phật bằng cao giọng. Càng ráng hết cân lực mà xướng
lên danh hiệu của Phật, trình độ định tâm càng lên cao,
và như vậy việc kiên tâm trì niệm “Nam mô A Di Đà Phật”
càng có hiệu quả.
Bất
cứ một giải thích có tính cách học thuyết nào được đề
ra, các sư phó phải có kinh nghiệm tâm lý nào đó trước
khi công nhận sự đồng nhất của NIỆM và XƯỚNG. Ở đây
há chúng ta không thấy lại sự thể nào đó của tâm lý Thiền,
như thấy hiện hành trong cái “VÔ” “VÔ” trọn ngày hôm
nay, và “VÔ” “VÔ” , trọn cả ngày mai[114] nữa? Do đấy
họ cổ xúy niệm Phật trọn ngày hoặc đều đặn mỗi ngày,
hoặc nhiều lần trong mỗi ngày - mười nghìn, năm chục nghìn,
nhẫn đến trăm nghìn mỗi ngày. Ở kinh đô (Kyoto) có một
ngôi chùa Tịnh độ, tên là “Một triệu lần”, chỉ cho
con số niệm Phật phải được nhẩm đi nhẩm lại ở đây.
Sự kiện tâm lý, theo đó sự xướng danh hỗ trợ cho định
tâm, là căn bản của học thuyết trì danh niệm Phật hay XƯNG
DANH.
Khi
danh hiệu của Phật được lặp đi lặp lại không dứt nhẫn
đến hằng vài chục nghìn lần, sự thực hành trở nên máy
móc không cần phấn ý, và do đó không cần thể hiện ba thành
tố kính tín. Hành vi máy móc này có cần được coi như là
phương tiện hữu hiệu để vãng sinh hay không? Hay hành giả
không cần quyết chí tăng trưởng tín tâm và quy kỉnh của
y? Việc lẩm nhẩm liên miên này, hay việc cao giọng tụng
đọc nhưng âm thanh vô nghĩa, có tạo ra trong ý thức của
hành giả một tình cảm tin chắc rõ rệt nhờ đó y không
chút nghi ngờ về sự vãng sinh Tịnh độ của mình, hay về
sự giải thoát của mình bằng vào ân huệ của Phật A Di
Đà? Khi phép niệm Phật được đổi thành lối tụng chân
ngôn đà la ni (dharani) như thế, không có liên hệ ý thức
với ý nghĩa văn học và tín ngưỡng của nó, hậu quả tâm
lý là tạo ra một trạng thái vô thức trong đó những ý tưởng
và tình cảm bồng bềnh trên bề mặt đều bị quét sạch.
Nói theo ngôn ngữ đạo đức, đấy là một trạng thái vô
thức, bởi vì trong đó không có phân biệt thiện và ác, chính
do ý nghĩa này mà các sư tổ của Tịnh độ tông quả quyết
rằng phép niệm Phật trừ hết tất cả nhưng tội chướng
chứa nhóm trong những đời sống quá khứ vô số kiếp.
Việc
lặp đi lặp lại liên lĩ câu Nam Mô A Di Đà Phật cũng có
trong Hồi giáo thần bí (Sufism); mà tín đồ lặp lại danh
hiệu đức Allah, như nhận xét của R.A, Nicholson,[115] “như
một phương pháp được thực hành bởi những người Hồi
giáo thần bí để kêu gọi fana, tức sự thoát ly tự ngã,
hay như Pascal nói, sự “lãng quên thế giới và tất cả,
trừ Chúa.”[116]
Chúng
ta không thể nghĩ rằng chỉ việc lặp lại câu Nam mô A di
đà Phật bảo đảm hành giả vãng sinh Tịnh độ, bất chấp
tất cả những bảo đảm từ các kinh điển và các sư tổ
của tông phái, nếu sự lặp đi lặp lại không tạo ra một
hậu quả tinh thần nào đó, nhờ đó mà hành giả thể hiện
được bằng chính mình. Sự thể hiện này há không phải
là Niệm Phật tam muội hay Nhất tướng tam muội (Ekavyuha-samàdhi)?
Trong
An lạc tập (quyển hạ) của Đạo Xước, những đoạn nói
về tam muội (samàdhi) này có được trích dẫn từ nhiều
kinh điển. Ý định của tác giả ở đây, chứng tỏ rằng
tam muội là phương tiện hữu hiệu dẫn hành giả diện kiến
hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng,
trên phương diện giải thoát (hay giác ngộ), thấy chư Phật
thì có ích lợi nào, nếu không vì bảo đảm cho giác ngộ
mà họ khơi dậy sự tin chắc trong ý thức của hành giả?
Thị kiến khách quan của Phật phải phù hợp với sự thể
hiện nội tâm mà trên quan điểm tâm lý, nó là thể tài trọng
yếu nhất cần nhận xét.
Có
một quyển kinh nhan đề là Bồ tát Niệm Phật Tam muội kinh,
được dịch lần đầu do Đạt ma cấp đa (Dharmagupta) dưới
triều đại nhà Tùy, trong đó đề ra cặn kẽ tất cả những
chỉ dẫn cần thiết về phép tu Niệm Phật tam muội. Theo
tác phẩm này, phước quả chính yếu mà Niệm Phật tam muội
mang lại hình như là sự thể hiện vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Dĩ nhiên, diện kiến tất cả chư Phật không phải
là thấy các ngài như một tập hội đồng của những sinh
vật đã giác ngộ, cũng không phải giao tiếp với các ngài
trong một thế giới vượt qua mọi sắc thân hữu hình. Hành
giả rất tin tưởng rằng y thực hành môn Niệm Phật để
thấy chư Phật, nhưng khi y vào hẳn trong tam muội, y thấy
các ngài hoàn toàn khác với những gì y mong đợi trước kia.[117]
Pháp
Nhiên trích dẫn trong Tuyển trạch bản nguyện (phần hai) một
đoạn văn của Vãng sinh truyện; đoạn này nói về sự chứng
đắc tam muội của Thiện Đạo. Theo truyện ký, trong số các
pháp môn khác, Niệm Phật tam muội mang lại một dự kiến
về điều kiện tâm linh của kẻ khác; bởi vì, tương truyền
rằng Thiện Đạo có thể nói về nhưng đời sống quá khứ
của bổn sư mình là Đạo Xước, và biết cả sự vãng sinh
của Thầy về cõi Phật A Di Đà. Nhưng, vì lẽ rằng tam muội
này không thể đi xa hơn sự chứng đắc những thần lực
kỳ diệu, người ta có thể nói rằng việc nâng cao tâm linh
và đoan chắc giác ngộ chẳng quan trọng lắm. Phải có sự
thể khác hơn trong thứ tam muội đạt được do phương pháp
niệm Phật. Các sư tổ của tịnh độ tông rất ưu tư về
việc đặt nhưng quan điểm tôn giáo của họ trên sự vãng
sinh sau khi chết, và thờ ơ với hậu quả tâm lý nhất định
diễn ra sau việc trì tụng câu Nam mô A Di Đà Phật. Họ mãi
miết nhắc nhở chúng ta rằng mình đang sống trong một thời
đại đổ vỡ khi mà hình thức thuần túy của Đạo Phật
rất khó duy trì và bởi lẽ đó việc trì tụng danh hiệu
Phật là phương tiện hay ho nhất, dễ dàng nhất và chắc
chắn nhất, dành cho chúng sinh của thời đại đổ vỡ này,
muốn diện kiến cho Phật và được bảo bọc trong đôi tay
thương yêu vô bờ của các ngài. Về điểm này, Thân Loan
đẩy ý tưởng đến kết luận hợp lý kỳ cùng của mình;
bởi vì, khi nói về vãng sinh tịnh độ thành tựu do trì tụng
danh hiệu Phật, chỉ mười lần thôi, Thân Loan bảo “Điều
ấy không có nghĩa rằng chỉ riêng thầm lặng quán tưởng
đức Phật, không nhớ nghĩ nồng nàn đến ngài, mà chỉ xướng
lên danh hiệu ngài mà thôi”. Bằng cả những lời khuyên
khẩn thiết của họ về pháp môn Niệm Phật, và khi họ quả
quyết rằng khi tụng đọc một lần hay nhẫn đến mười
lần, chắc chắn đức Phật sẽ nghe thấu, tôi không thể
tưởng tượng ra rằng các vị sư phó này hoàn toàn không
lưu ý về tâm lý niệm Phật như tôi đã phác họa.
CHỦ
ĐÍCH CỦA THỰC HÀNH NIỆM PHẬT
Đối
với đề tài này, người ta có thể hỏi: nội dung của tam
muội là gì, chủ đích chân thực của Niệm Phật là gì,
vãng sinh tịnh độ, hay chính tam muội? Hoặc, phải chăng tam
muội là một thứ “thức nhắm” của sự vãng sinh này?
Theo chỗ tôi biết, không một sư tổ nào của Tịnh độ tông
nói rõ cho chúng ta có thể đặt ra vấn đề như thế này,
tam muội có thể được coi như là sắc thái chủ quan và tâm
lý của thực hành niệm Phật; và vãng sinh như là sắc thái
khách quan và bản thể của nó. Trong trường hợp này, tam
muội và vãng sinh là một, được mô tả hai cách khác nhau;
nhưng vì tam muội có thể đạt được trong đời sống này,
còn vãng sinh chỉ có thể có sau khi chết, nên phải nói tam
muội đồng nhất với vãng sinh theo một chiều hướng hoàn
toàn đặc biệt, tức không nên coi vãng sinh như một biến
cố khách quan và tùy thời, mà là một thứ đoan quyết chủ
quan của những gì chắc chắn phải diễn ra. Nếu vậy, vãng
sinh chỉ cho sự tái tạo tâm linh và, theo đó, có thể cho
là đồng nhất với tam muội.
Quan
điểm về tam muội vữa kể được chủ trương trong An tâm
quyết định sao (Anjin Ketsujòshò), tác phẩm khuyết danh, nhưng
là một trong những căn cứ quan trọng nhất của Tịnh độ
tông Nhật Bản. ở đây, tác giả bảo rằng tín phải được
thiết lập vững chãi bằng sự thể hiện tam muội – tin
tưởng Bản Nguyện của Phật A Di Đà, nhờ đó hành giả
vững tin số phận tương lai của mình. Bởi vi tam muội được
chứng đắc khi mà tâm của hành giả hoàn toàn hợp nhất
với tâm của Phật Di Đà; ý thức nhị nguyên hoàn toàn bị
xóa bỏ. Đây là kết luận phải đến, không những chỉ ở
luân lý, mà cả trên phương diện sự thực; rồi ra tất cả
kiến trúc của triết lý đạo Phật được đặt trên nhất
nguyên luận duy tâm; thực tại luận của Tịnh độ tông cũng
không thể biệt lệ. Hãy đọc đoạn văn này của Quán Kinh:
“Phật
bảo Anan (Ananda) và bà Vi đề hi (Vaidehi): sau khi đã thấy
những sự thể này, các ngươi phải tưởng đến Phật. Các
ngươi sẽ hỏi: Tưởng cách nào? Mỗi một đức Phật Như
Lai hiện thân trong Pháp giới (dharmadhatiu) và thâm nhập trong
tâm của tất cả hữu tình. Vậy, mỗi khi các ngươi tưởng
đến Phật, chính tâm của các ngươi được trang nghiêm bằng
32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Tâm ấy được chuyển thành
Phật tính, tâm ấy chính là Phật. Biến chánh trí của chư
Phật nổi dậy trong tâm và tưởng các ngươi. Vì lẽ đó,
các ngươi hãy nhất tâm tu tập quán tưởng Phật Như lai,
ngài là bậc A la hán, chánh đẳng Chánh giác”. Trong Bát chu
tam muội (Pratyutpanna Samadhi su tra)[118], kinh được các sư tổ
Tịnh độ tông cho là cội nguồn của giáo lý Tịnh độ,
chúng ta đọc thấy như vầy .
“Bây
giờ, này Hiền Hộ (Bhadrapala), khi một thanh niên tuấn tú
muốn thấy sắc diện của chính mình xấu hay đẹp, y lấy
một cái chậu đựng đầy dầu hay nước trong, hoặc y lấy
ra nốt mảnh pha lê hay một tấm kính. Lúc hình ảnh của y
lộ ra ở một trong bốn vật này, y biết rõ mình có diện
mạo ra sao, xấu hay đẹp. Này Hiền Hộ, ông có nghĩ rằng
cái mà người thanh niên này nhìn thấy trong bốn vật kia đã
có trước ở đấy chăng?
Hiền
Hộ đáp: Bạch Thế Tôn, không.
- Vậy
có nên coi nó rõ ràng là một cái không hư?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Vậy
có nên coi nó như là cả hai?
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Vậy
có nên coi là không phải cả hai ?
- Bạch
Thế Tôn, không. Bởi vì, dầu, nước, pha lê, và tấm kính
thì sáng tỏ, trong veo, không dơ không bụi; khi một người
đứng trước chúng, hình ảnh của y được phản chiếu vào
đó. Ảnh không đi ra từ vật, không đến từ bên ngoài, không
ở trong chính nó, không giả lập, ảnh không từ đâu đến,
không tan biến vào đâu, nó là pháp sinh diệt, không thường
trụ.
Sau
khi Hiền Hộ trả lời như vậy xong rồi, Phật nói :
“Này
Hiền Hộ, quả đúng như ông nói. Khi những vật ấy trong
sáng và sạch sẽ, ánh chiếu vào đó dễ dàng. Bồ tát cũng
vậy. Khi Bồ tát nhất tâm quán tưởng chư Phật thì thấy
chư Phật; khi đã thị hiện cho y, các ngài an trụ trong y;
các ngài giảng giải cho y nhưng pháp mà y muốn thấu hiểu.
Sau khi đã được chư Phật khai thị cho như thế, y rất là
sung sướng; bèn suy nghĩ rằng: Chư Phật này tử đâu đến?
Và sắc thân của ta đây sẽ huỷ hoại về đâu? Khi suy nghĩ
như thế, Bồ tát thấy rằng hết thảy chư Như Lai không từ
đâu đến mà không đi về đâu. Sắc thân của ta cũng vậy,
nó không đến từ một con đường nhất định nào thì làm
sao có thể có nơi để trở về?”.
Bồ
tát lại suy nghĩ: “Ba cõi này chỉ hiện hữu do tâm. Tùy
theo tâm niệm của mình mà thấy chính mình trong tâm của mình.
Giờ đây ta đang thấy Phật tùy theo tâm của ta; tâm ấy trở
thành Phật; chính tâm này là Phật; chính tâm này là Như Lai.
Tâm ta là sắc thân của ta, tâm ta thấy Phật; tâm không tự
thấy. Khi các tâm niệm chuyển động thì có Niết bàn. Hết
thảy các pháp đều không có tự tính, chúng khởi lên do tâm
niệm và do duyên sinh. Nếu sở tri diệt thì năng tri cũng diệt.
Này Hiền Hộ, ông nên biết rằng hết thảy các Bồ tát đều
nhờ Tam muội này mà chứng đắc đại giác.”
Nhận
xét Niệm Phật tam muội từ quan điểm duy tâm tuyệt đối
đó - Tam muội được thể hiện do kiên tâm trì niệm Nam mô
A Di Đà Phật - chúng ta có thể nói rằng Tam muội, và sự
thiết lập đức tin đối với Phật, và sự đoan quyết vãng
sinh về cõi tịnh độ của ngài, cùng diễn tả một sự kiện
tâm lý xây dựng nền tảng cho học thuyết Tịnh độ tông.
Pháp
Nhiên nói trong bản sớ giải của ngài về Quán kinh rằng
hành giả phải như một người mất hết các cảm quan, như
một người câm và điếc, hay như một tên khờ, khi y chuyên
tâm thực hành Niệm Phật, ngày đêm xưng tụng danh hiệu của
Phật, dù đi đứng hay nằm ngồi, chẳng kể bao lâu, một
ngày, hai ngày, một tuần, một tháng, một năm, nhẫn đến
hai, ba năm. Nếu sự tu tập được theo đuổi như vậy, một
mai chắc chắn hành giả sẽ chứng được Tam muội và mở
rộng Pháp nhãn, rồi y sẽ thấy một thế giới vượt hẳn
ngoài tâm tưởng. Đây là “một cảnh giới huyền vi nơi
đó mọi tâm hành đều chấm dứt và mọi hư tưởng điều
bị tiêu trừ, hoàn toàn phù hợp với trạng thái Tam muội”
Trong
Tam muội này, trong đó hành giả có đủ tín tâm, theo tác
giả của An tâm quyết định sao, “thân trở thành Nam Mô
A Di Đà Phật và Tâm trở thành Nam mô A Di Đà Phật”. Nếu
thế, đây há không phải là một trạng thái thần bí của
ý thức phù hợp với những gì được thể hiện bằng lối
thực tập công án ?
Cái
mục tiêu minh bạch do các sư tổ của Tịnh độ tông tạo
ra, theo đó trì danh Niệm Phật là pháp môn giải thoát dễ
hành đối với mọi chúng sinh, mục tiêu ấy dĩ nhiên y cứ
trên bản nguyện của Phật A-Di-Đà, trong bản nguyện này
Phật đoan chắc với chúng đệ tử là họ sẽ vãng sinh Cực
lạc, chỉ cần xướng lên danh hiệu của ngài, đồng thời
bày tỏ lòng tịnh tín của mình và chí nguyện được tế
độ như thế.
Để
cổ xúy và phát huy học thuyết của mình, các tổ sư Tịnh
độ mô tả những vẻ đẹp của cõi Tịnh độ bằng những
lời lẽ hoa mỹ, và đằng khác, họ không ngớt vẽ ra những
đau khổ và ghê tởm của thế giới này, những tội chướng
và vô minh khốn cùng của chúng sinh ở trong đó. Vì vậy,
kẻ nào muốn được cứu tế bởi học thuyết này sẽ phải
thanh tâm khẩn khiết đối với câu Nam mô A-Di-Đà Phật, thọ
trì xưng tụng. Nhưng khi đang thực hiện điều ấy, chủ đích
tối hậu của họ, là trở thành những phần tử của đồng
tịnh độ, có thể lần hồi nhường chỗ cho chính sự thực
hành niệm Phật trực tiếp trong hằng ngày. Ngay dù mối chuyên
tâm tha thiết của họ kết tụ cả trên đây, cái tâm lý
vô thức có thể bắt đầu tự tách động biệt lập với
mục tiêu tối hậu, một mục tiêu được coi là sẽ hiển
hiện vào lúc chấm dứt đời sống này; bởi vì những biến
cố gần gũi hơn luôn luôn đòi hỏi sự chú tâm sâu xa và
mạnh mẽ hơn.
Cứ
để cho sự chú tâm này lên tới cao độ của nó thì sẽ
có một trực giác về những chân lý huyền diệu như vầy:
Vãng sinh tức vô sinh; niệm Phật tức không có gì để niệm;
mỗi sát na là tối hậu; tâm này chính thị là Như lai; dù
sắc thân còn lệ thuộc thế giới này mà tâm thì vui sống
trong cõi Tịnh độ; thân này, cứ như thế, mà lại ngang hàng
với Bồ Tát Di Lặc (Maitreya Bodhisattva)..v.v... Những câu như
thế hình như không điển hình lắm đối với Tịnh độ Tông;
sự thực, chúng quá trái ngược với khuynh hướng thực tại
luận phổ quát của nó, nhưng chúng ta không thể hoàn toàn
không biết rằng chủ trương thần bí trên đây thâm nhập
tận những nền tảng cơ sở của Tịnh độ thực hành, và
chắc chắn điều đó xuất phát từ tâm lý niệm Phật.
Phái
Tịnh độ Chân tông chú trọng đức tin coi như là điều kiện
duy nhất để vãng sinh cõi Phật Di Đà. Tin tưởng tuyệt đối
được đặt vào trí tuệ của Phật vốn siêu việt hẳn tư
nghị của loài người. Vì vậy, hãy đặt niềm tin của bạn
vào trí bất khả tư nghì này của Phật Di Đà, rồi bạn
sẽ được ngài duỗi tay tế độ; bạn khỏi cần đợi chờ
phút chót lúc mà một hàng chư Phật ân cần từ trên kia bước
xuống; bạn khỏi phải ôm ấp những sợ hãi lo lắng về
số phận của mình sau khi chết, nhất là nghĩ không biết
mình có bị trói vào địa ngục hay không. Bạn chỉ cần vứt
bỏ nhưng ý nghĩ về mình và đặt niềm tin tuyệt đối vào
đức Phật ngài vốn biết làm thế nào để hộ trì phước
lợi của bạn cho trọn vẹn. Bạn chẳng cần lo lắng chút
gì về giờ phút lâm chung lúc bạn phải vĩnh biệt cõi đời
này. Nếu sinh tiền bạn đã được thiện tri thức khuyến
hóa và đã phát khởi tín tâm đối với Phật, lúc phát khởi
ấy chính là giây phút cuối cùng của bạn trên trần gian.
Nếu
do tin tưởng bản nguyện của Phật Di Đà mà xướng lên Nam
mô A-Di-Đà Phật, chắc chắn bạn sẽ vãng sinh Tịnh độ;
vì tín tâm này tức vãng sinh.
Nhưng
làm sao người ta thực sự có thể tín tâm này nó vốn nâng
hẳn kẻ nào sở đắc lên hàng Viên mãn giác, dẫn y đến
làm bạn lữ với cả Bồ tát Di Lặc? Chỉ nghe các vị sư
phó thôi sẽ không thực hiện được điều đó. Chỉ Niệm
Phật không thôi cũng sẽ không thực hiện được. Làm sao
để người ta có niềm tin tuyệt đối này - vốn dĩ cùng
tự tính với giác ngộ? Làm sao chúng ta có thể quyết chắc
về sự vãng sinh của mình? Làm sao để chúng ta không còn
ấp ủ những nghi hoặc đối với số phận ngày mai của mình
?
Phải
thức tỉnh một trạng thái ý thức nào đó trong lòng mình
nhờ đó chúng ta có thể đứng vững trong niềm tin của mình.
Suy luận, học hỏi các kinh điển, hay nghe các minh sư giảng
pháp sẽ không khơi dậy ý thức này. Lịch sử của các tôn
giáo cho chúng ta hay rằng phải có một thị kiến trực giác
nhìn vào chân lý, chân lý đó là quên mình mà phó thác vào
bản nguyện của Phật Di Đà. Và đây há không phải là lúc
mà câu “Nam mô A-di-đà Phật” tuôn ra từ chính thâm tâm,
(adhyasaya) của mình? Đây há không phải là điều mà các vị
sư tổ của Chân tông muốn nói khi họ bảo: “Chỉ một lần
xưng danh là được tế độ”?
SỰ
HUYỀN DIỆU CỦA NIỆM PHẬT VÀ XƯNG DANH
Khi
diễn giải pháp môn Niệm Phật như trên, chúng ta có thể
hiểu bài pháp của Nhất Biến (Ippen): “Vãng sinh tức là
sơ phát tâm, đấy là tin có một hiện hữu, tức kẻ mà tâm
đã phát khởi trong y. “Nam mô A-di-đà Phật” tức vãng sinh,
và vãng sinh tức vô sinh. Khi thể hiện được như thế, ta
tạm gọi là sơ phát tâm. Khi người ta thâm nhập Phật hiệu
vốn vượt trên thời gian thì sự vãng sinh lại là vô thủy
vô chung
“Có
lúc phân biệt giữa giờ phút lâm chung và đời sống thường
nhật, nhưng đấy là một thứ giáo thuyết y cứ trên tư tưởng
mê lầm. Chính trong câu “Nam mô A-di-đà-Phật” không có
giờ phút lâm chung, không có đời sống thường nhật; đó
là một thực tại thường trụ khắp mọi thời. Đối với
nhân sinh, đấy là một chuỗi những khoảnh khắc chỉ kéo
dài giữa hơi thở ra và thở vào, và vì vậy nói một sát
na tâm là giờ phút tối hậu của sự sống. nếu thế, mỗi
sát na tâm là giây phút tối hậu và mỗi giây phút là vãng
sinh”. Ý nghĩa của sự phát biểu có tính cách thần bí trên
đây của Nhất biến sẽ được thấy rõ hơn nếu đọc luôn
những dẫn chứng dưới đây :
“Khi
tâm (hay ý) hoàn toàn phó mặc cho câu Nam mô A-di-đà-Phật,
đấy là tư tưởng chân chính dành cho nhung phút tối hậu”.
Chỉ có Phật hiệu, ngoài ra không có người niệm, không có
cái được niệm. Chỉ có Phật hiệu, ngoài ra không có vãng
sinh. Hết thảy vạn hữu đều là các công đức hàm tàng
trong bản thân của Phật hiệu. Nếu thế, khi các ngươi chứng
tri vạn pháp vô sinh, ở đấy mọi vết tích của tâm ý đều
biến mất, đọc câu Nam mô A-di-đà Phật tức thì cái sơ
tâm được phát khởi gọi là chánh tư duy của giờ phút tối
hậu của mình; bởi vì đấy chính là tâm giác ngộ, vốn
là nam mô A-di-đà Phật”.
“Hãy
phó thác cho danh hiệu chứ đừng ôm giữ danh hiệu. Hết thảy
các pháp đều do một tâm; nhưng tâm ấy vô tướng. Mắt không
tự thấy mắt, củi không tự cháy củi dù tự tính là cháy.
Nhưng đặt một tấm kính ở trước các người thì mắt có
thể tự thấy mắt - đấy là công dụng của tấm kính. Tấm
kính này là vật sở hữu của mỗi chúng ta, gọi là Trí;
Đại viên kính đó là danh hiệu đã được hết thảy chư
Phật thể chứng.
Do
vậy, hãy nhìn bản lai diện mục của các ngươi trong Mặt
Kính của Giác Ngộ. Quán Kinh há không dạy rằng như nhìn
mặt mũi của mình trong tấm kính?
“Lại
nữa, củi sẽ cháy nếu châm lửa vào - lửa đốt cháy và
lửa vốn có trong củi là một. Như thế chính do hòa hiệp
nội duyên và ngoại duyên mà hết thảy các pháp hiện hành.
Dù tất cả chúng ta đều có sẵn Phật tính, nhưng tự Phật
tính nó không đốt cháy những tham dục nếu như không châm
ngọn lửa của trí tuệ siêu việt, trí tuệ đó vốn là danh
hiệu (namadheya). Tịnh độ tông dạy rằng muốn nắm giữ
một vật phải ra khỏi vật ấy. Nơi đây, huấn thị này
phải được chỉ định cho tâm”.
Theo
văn nghĩa, “Nam mô a di đà Phật” không phải là danh hiệu
(nàmadheya) mà thôi; nó còn bao hàm hơn thế nữa, bởi vì Nam
Mô (Sanskrit: Namas) có nghĩa quy kính hay “kính lễ”; nhưng
thông thường, cả câu “Nam mô a di đà Phật” được coi
như là danh hiệu, và năng lực huyền diệu của nó được
tán dương. Các sư tổ của Tịnh độ tông đã dồn hết tài
năng xảo diệu về triết lý của họ vào thể tài này, nhưng
lạ thay trong họ không nói gì đến khía cạnh tâm lý của
kinh nghiệm. Có lẽ sự im lặng này là do quan điểm của họ
về Phật Di Đà, cái quan điểm mang chất bản thể học từ
nền tảng. Nhưng khi cho rằng chỉ có danh hiệu mà thôi và
như thế trong đó sự tương phản nhị nguyên giữa người
niệm và cái được niệm biến mất. Đây là phát biểu của
một kinh nghiệm thần bí chứ không phải là thứ suy tưởng
siêu hình.
Kinh
nghiệm khởi lên tự xưng danh vốn cùng bản tính với kinh
nghiệm phát xuất từ tu tập công án. Khi khía cạnh khách
quan của kinh nghiệm này được diễn giải theo lối siêu hình,
danh hiệu được khách thể hóa hoàn toàn; nhưng, đằng khác,
giả sử hành giả là một môn đệ Thiền tông, thì sự lãnh
hội của y về điều này sẽ là hoàn toàn mang chất duy tâm.
Tác
giả của An tâm quyết định sao cũng có thể, như Nhất Biến,
được coi là một người chủ trương thiên về danh hiệu,
như nói: “Vì không có một sát na cách biệt giữa hành giả
xướng Nam Mô với tự thân của A Di Đà, mỗi một tâm niệm
trong lòng y đều là Nam Mô A Di Đà Phật. Do vậy, mỗi hơi
thở của y dù chỉ một khoảnh khắc không hề cách biệt
những công đức của Phật; quả thực, toàn thể sinh mệnh
của y là tự thể của “Nam Mô A Di Đà Phật”.
“Bởi
lẽ đó, khi hết thảy chúng sinh trong quá khứ, hiện tại
và vị lai khởi lên một tín tâm (tin vào bản nguyện của
Phật Di Đà), thì mỗi một niệm đều quay về với một niệm
Chánh Giác (mà Phật đã thức tỉnh); và tâm của hết thảy
chúng sinh trong mười phương, khi chúng xưng danh, cũng đều
quay về với một niệm Chánh Giác. Không một niệm, một xưng
nào, từng phát ta từ hành giả, còn lại trong hành giả nữa
(tất cả chúng đều trở về nguồn suối lưu xuất của Chánh
Giác). Khi bản nguyện là một công hạnh trong đó danh và thể
không phân hai, thì chính trong danh hiệu là toàn thể của Chánh
Giác, và vì thể của Chánh giác là như thế nên nó là bản
thể vãng sinh của hết thảy hữu tình trong mười phương”.
Dù
các sư tổ của Tịnh độ tông, kể cả Chân tông, có ý thức
về sự kiện này hay không, trong những kết luận của họ
vẫn hiển hiện cái dáng dấp tâm lý; hay cả trong khoa thần
học của họ cũng thế, nếu từ ngữ này có thể dùng được
ở Phật giáo. Không thể nói tâm lý học là tốt, trong tôn
giáo; dù có thiết lập căn bản của tôn giáo. Như thế, ngay
trong Chân Tông, ở đó tính tâm là nguyên ký chủ trì các
giáo lý của nó, có nhiều câu nói của Thân Loan, khai tổ,
không thể hiểu được, trừ phi kinh nghiệm thần bí của
ngài được xét đến. .
Tỷ
dụ, khi ngài giảng về nhất thể của danh hiệu và bản nguyện
trong trong lẽ bất khả tư nghị của chúng, ngài đặt nó
trên chính giáo lý của Phật. Sự giải thích khá đơn giản
nhưng làm sao chúng ta có thể đứng vững trong niềm tin của
mình? Nhất là khi các sư tổ của Chân tông thảy đều cổ
võ chúng ta hãy bỏ học, bỏ suy, làm sao chúng ta có thể chấp
nhận mọi thứ được nhét vào đầu óc mình chỉ một cách
máy móc; tức là, trên quyền năng nào ? Một trạng thái tâm
lý nào đó phải đến với chúng ta, cả với nhưng tâm trí
vô trật tự nhất, điều đó cho phép chúng ta lên tiếng “vâng”
đối với tất cả những gì mà chúng ta được dạy là hãy
tin. Tại sao danh hiệu phải được xướng lên với mềm tin
ở bản nguyện? Có thể rằng xướng là tín và tín là xướng,
nhưng ngay trong cả sự đồng nhất này cũng phải là hậu
quả của kinh nghiệm chứ không phải của suy luận hợp lý.
“Bản
nguyện và danh hiệu không phải là hai sự thể tách rời nhau,
vì ngoài nguyện không có danh, ngoài danh không có nguyện. Ai
cũng hiểu câu nói ấy. Khi, tin ở nguyện bất khả tư nghi
cũng như danh bất khả tư nghi, ông xưng danh trong một niệm,
tại sao phải học tập hiểu biết?”[119]
Hình
như chỉ cần tin là đủ bảo đảm một người vãng sinh Tịnh
độ hay thành Chánh Giác, vậy tại sao việc xưng danh này lại
phải được kể là cốt yếu nữa? Người ta nói, không có
xưng danh ở ngoài tín và cũng không có tín tâm tách rời danh;
nhưng tại sao lại coi trọng danh hiệu như thế? Tại sao câu
“Nam mô a di đà Phật” rất thiết yếu đối với việc
xác lập niềm tin này?
Danh
hiệu, mà ý nghĩa của nó vốn không có ý nghĩa vì siêu việt
tính chất đối đãi của tri thức, có lúc phải được tỏ
bày trong kinh nghiệm trước khi người ta nhận ra rằng nó
như thế là; “Nam mô a di đà Phật”, dưới cái nhìn của
Thiền, là một công án đề ra cho các môn đệ của Tịnh
độ tông. Một mai, lẽ huyền vi của danh hiệu được thể
chứng khi xướng nó lên, đấy là lúc chìa khóa được đặt
và tay hành giả, mà toàn thể kho tàng ý thức tôn giáo dành
cho y nay được bảo đảm an toàn.
“Bản
nguyện của Phật Di Đà là nghinh tiếp vào cõi Cực lạc của
những ai xưng niệm danh hiệu ngài với sắc tính tuyệt đối;
do thế, sung sướng thay thế kẻ nó xưng niệm danh hiệu ngài.
Một người có thể có tín tâm, nhưng nếu y không xứng danh,
tín tâm của y sẽ chẳng ích gì. Một người khác có thể
một lòng xưng danh mà thôi, nhưng nếu tín tâm y không sâu
lắm thì cũng chẳng có vãng sinh. Tuy nhiên, ai quyết tin ở
vãng sinh coi như là hậu quả của niệm Phật và xưng danh,
chắc chắn y sẽ được vãng sinh về An Dưỡng Quốc.[120]
Người
ta có hiểu ngay rằng không tín thì không thể có vãng sinh,
nhưng xưng danh để làm gì? Để muốn hiểu lẽ huyền diệu
này, vốn là trí tuệ siêu việt của hết thảy chư Phật,
thì phải thâm nhập tận những vùng sâu thẳm của tự tính
chúng ta, và chắc chắn rằng, theo Tịnh độ tông, chính câu
“Nam mô a di đà Phật” thăm dò đến những vùng sâu thẳm
đó.
KINH
NGHIỆM VÀ THUYẾT LÝ
Tôn
giáo trọn vẹn được xây dựng trên nền tảng kinh nghiệm
thần bí; không có kinh nghiệm này, tất cả cơ cấu siêu hình
và thần học của nó sụp đổ. Đây là chỗ khác nhau giữa
tôn giáo và triết học. Hết thảy các hệ thống triết học
mai kia có thể băng hoại, nhưng đời sống tôn giáo mãi mãi
tiếp tục chứng nghiệm những huyền bí sâu xa của nó. Tịnh
độ tông và Thiền tông không thể tách rời khỏi nhưng huyền
bí này. Tịnh độ tông đặt thuyết của mình trên niệm Phật
và Thiền Tông thì đặt trên thực hành công án. Nếu như
xét về những kiến trúc lý thuyết của chúng, cả hai hình
như rất gần gũi nhau.
Tịnh
độ tông muốn chứng kiến môn đồ của mình vãng sinh Cực
lạc và ở đây mà thành tựu giác ngộ. Để thực hiện điều
này, các môn đệ Tịnh độ tông được giảng cho biết về
những tội chướng của họ, về kém cỏi tri thức của họ
khiến không với tới được những chân lý cao cả của đạo
Phật và về cái gánh nặng của nghiệp quá khứ đè nặng
lên họ để họ hăng hái cởi bỏ những trói buộc bằng
chính những nỗ lực hữu hạn của mình. Bấy giờ Phật Di
Đà được đặt ở hiện tiền, với bản nguyện của ngài
là duỗi tay tế độ dắt họ bước qua dòng nước sinh tử.
Nhưng chỉ có thể với cánh tay tế độ nay khi nào họ nhất
tâm xưng niệm danh hiệu vị tiếp dẫn đạo sư của mình.
Phát
khởi trạng thái nhất tâm, tức nói theo thuật ngữ là “một
niệm tin tưởng”, là vấn đề lớn của giáo lý tịnh độ
tông. Bản nguyện, danh hiệu, tín niệm, xưng danh, vãng sinh
- đấy là nhưng cái khoen móc nối thành một đường dây của
học thuyết Tịnh độ tông. Khi mỗi một cái khoen tròn được
buộc chặt, trọn cả đường dây sẽ nằm trong tay bạn, và
các sư tổ của Tịnh độ tông đã để cho việc xưng danh
chiếm địa vị ưu thế nhất. Trong đây, kinh nghiệm của
Tịnh độ tông là đối phương của kinh nghiệm Thiền. Trì
danh Niệm Phật và thực hành công án ở đây cùng đứng trên
một mảnh đất chung.
Nói
theo mặt t