LUẬN
MỘT
TU
TẬP CÔNG ÁN:
PHUƠNG
TIỆN CHỨNG NGỘ
Phần
I
MỘT
KINH NGHIỆM SIÊU VIỆT TRI KIẾN
Trong
THIỀN LUẬN Bộ Thượng tôi có hứa với độc giả là
sẽ thảo luận đầy đủ về đề tài “công án”[1]nơi
Bộ Trung.
Hệ
thống công án đã tạo nên một giòng phát triển độc đáo
trong Phật giáo Thiền tông, và là một cống hiến độc nhất
mà Thiền tông đã mang đến cho lịch sử của ý thức tôn
giáo. Một khi đã thấu hiểu tầm quan trọng của công án,
chúng ta có thể nói là đã hiểu hơn phân nửa của Thiền.
Chắc
chắc các Thiền sư có thể bảo cho các ngài biết rằng chính
vũ trụ là một công án vĩ đại vừa sống động, vừa hiểm
hóc, thách thức lời giải đáp của các ngài, và khi chìa
khóa mở vào công án vĩ đại này mà được khám phá một
cách thiết thực, tất cả những công án khác đều là những
cái tiểu tiết, chúng tự giải đáp lấy, và do đó, điều
chính yếu trong việc học Thiền là phải thấu hiểu chính
vũ trụ chứ không phải bám sát vào vấn đề công án như
đã được các bậc tôn túc xưa kia nêu lên. Đằng khác, chúng
ta có thể nói điều này: công án của vũ trụ được thâu
gọn vào trong từng công án một của “một nghìn bảy trăm
công án” và khi nó được lãnh hội thấu đáo thì cái công
án vĩ đại nhất cũng sẽ vén mở những bí mật của nó.
Nơi
ngón tay trỏ của Thiên Long[2] chỉ cho thấy ngay vẻ huyền
bí của toàn vũ trụ và trong tiếng hét của Lâm Tế chúng
ta nghe ra bản hòa âm thiên nhạc của những khối tinh cầu.
Dù vậy, trong những trang sau đây tôi sẽ cố gắng tìm vào
ý nghĩa lịch sử của công án ở Thiền: tìm hiểu vai trò
của nó trong việc chứng ngộ; khía cạnh tâm lý của nó,
mối quan hệ của nó đối với phép niệm Phật[3] như là
một hình thức chứng nghiệm của Phật giáo, v.v...
Còn
như mục đích tối hậu của thiền học là đạt đến điều
mà tiếng Nhật gọi là Satori, tiếng Phạn gọi là Sambodhi
hay “abhisamaya” (giác ngộ), thì đã được giải thích trong
các tác phẩm của tôi trước đây.
Kinh
Lăng già (Lankavatara Sutra), một quyển kinh của Thiền, thường
hãy nhấn mạnh tầm quan trọng của Satori; ở đây kinh gọi
là “cảnh giới của Thánh Trí Tự chứng” (Svapratyatmaryajna-nagatigocara)
nghĩa là “cái tâm trạng trong đó Thánh Trí tự thể hiện
lấy bản tính nội tại của nó”. Sự tự chứng này lập
nên chân lý của thiền, chân lý ấy là giải thoát (moksa)
và tự do tự tại (vasavartin). Để giải rõ ý nghĩa tự chứng,
tôi xin phép trích dẫn kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sùtra)[4]
“Thiện
Tài Đồng Tử (Sudhana) hỏi: Môn giải thoát này làm sao để
hiện tiền[5]? Làm sao để chứng đắc?
“Diệu
Nguyệt trưởng giả (Sueandra) đáp: Một người thân chứng
hiện tiền môn giải thoát này khi nào người ấy phát khởi
tâm Bát nhã Ba La mật (Prajnaparamita)[6] và cực kỳ tương thuận:
rồi thì người ấy được chứng nhập trong tất cả những
gì mà mình thấy và hiểu.[7]
“Thiện
Tài Đồng Tử (Sudhana) lại thưa: Có phải do nghe những ngôn
thuyết và chương cú về Bát nhã Ba la mật mà được hiện
chứng?”
“Diệu
nguyệt (Sucandra) đáp: Không phải. Tại sao thế? Bởi vì Bát
nhã Ba la mật thấy suốt thể tánh chân thật của các pháp
mà hiện chứng vậy.
“Thiện
Tài thưa: Há không phải do nghe mà có tư duy và do tư duy và
biện luận mà được thấy Chân Như là gì [8]? và há đây
không phải là tự chứng ngộ?
“Diệu
Nguyệt đáp: Không phải vậy. Không hề do nghe và tư duy mà
được tự chứng ngộ. Này Thiện nam tử, đối với nghĩa
này ta phải lấy một thí dụ, ngươi hãy lắng nghe!
“Thí
dụ như trong một sa mạc mênh mông không có suối và giếng,
vào mùa xuân hay mùa hạ khi trời nóng, có một người khách
từ Tây hướng về Đông mà đi, gặp một gã đàn ông từ
phương Đông đến, liền hỏi gã rằng: tôi nay nóng và khát
nước ghê gớm lắm; xin chỉ cho tôi nơi nào có suối trong
và bóng cây mát mẻ để tôi có thể uống nước, tắm mát,
nghỉ ngơi và hoàn toàn tươi tỉnh lại?
“Gã
đàn ông ấy theo lời yêu cầu, liền chỉ dẫn cặn kẽ cho
người khách rằng: cứ tiếp tục đi về hướng Đông, rồi
sẽ có con đường chia làm hai nẻo, nẻo phải và nẻo trái.
Bạn nên hãy theo nẻo bên phải và gắng sức mà đi tới chắc
chắc bạn sẽ đến một nơi có suối trong và bóng mát.
“Này
thiện nam tử, bây giờ ngươi có nghĩ rằng người khách nóng
khát, từ Tây đến, khi nghe nói đến suối mát và những bóng
cây, liền tư duy về việc đi tới đó càng nhanh càng tốt,
người ấy có thể trừ được cơn khát và được mát mẻ
chăng?
“Thiện
Tài đáp: Dạ không; người ấy không thể làm thế được;
bởi vì người ấy chỉ trừ được cơn nóng khát và được
mát mẻ khi nào theo lời chỉ dẫn của kẻ kia mà đi ngay đến
dòng suối rồi uống và tắm ở đó.
“Diệu
Nguyệt: Này thiện nam tử, đối với Bồ tát cũng vậy không
phải chỉ do nghe, tư duy và huệ giải mà có thể chứng nhập
hết thảy pháp môn. Này thiện nam tử, sa mạc là chỉ cho
sinh tử; người khách đi từ Tây chỉ cho các loài hữu tình;
nóng bức là tất cả những sự tướng mê hoặc; khát tức
là tham và ái; gã đàn ông từ đông đến và biết rõ đường
lối là Phật hay Bồ tát, an trụ trong nhất thiết trí[9],
các ngài đã thâm nhập chân tánh của các pháp và Thật nghĩa[10]
bình đẳng; giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ
uống dòng suối mát là chỉ cho sự chứng ngộ chân lý bởi
chính mình vậy.
“Lại
nữa, này thiện nam tử, nay ta sẽ nói thí dụ khác cho người
nghe. Giả sử đức Như Lai sống giữa thế gian đến một
kiếp nữa, ngài dùng đủ các thứ phương tiện, và những
ngôn từ thiện xảo, vì mọi người trong cõi đất này mà
nói về loại mật hoa trên thế giới, đầy đủ các phẩm
tính, hương vị ngọt ngào, xúc chạm mềm dịu; người nghĩ
sao? Những chúng sinh kia khi nghe lời nói của Phật, tư duy
về mật hoa, mà có thể nếm biết hương vị của nó chăng?
“Thiện
Tài thưa: Quả thật họ không thể.
“Diệu
Nguyệt nói: Cũng vậy. Không phải chỉ do nghe và tư duy không
thôi mà chúng ta có thể chứng nhập chân tánh của Bát nhã
ba la mật.
“Thiện
tài thưa: Vậy thì bằng những ngôn từ xảo diệu và phương
tiện khéo léo nào mà Bồ tát có thể khiến cho hết thảy
chúng sinh thấu hiểu chân thật được thực tại?
“Diệu
Nguyệt nói: Chân tánh của Bát nhã ba la mật mà Bồ tát chứng
được - đây là chính nhân quyết định, từ nơi đây khởi
lên tất cả ngôn thuyết của Bồ tát[11]. Khi Bồ tát chứng
được giải thoát này thì có thể dùng ngôn từ diễn thuyết
và phương tiện thiện xảo mà giảng nói”.
Tự
trích dẫn này chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng môn giải
thoát Bát nhã ba la mật phải được chứng ngộ bằng kinh
nghiệm cá biệt của mình; còn như chỉ có nghe và học hỏi
thôi thì chúng ta không cách gì thâm nhập vào giữa lòng chân
tánh của thực tại. Người ta có thể hỏi, tại sao không
thể vươn tới chân lý tự chứng bằng tri kiến? Câu hỏi
này được trả lời ở một đoạn khác trong kinh Hoa nghiêm
(Avatamsaka).[12]
“Chân
lý tự chứng (và bản thân của thực tại) thì không phải
một, không phải hai. Do năng lực tự chứng này mà (Thực
tại) là khả năng làm ích lợi bình đẳng cho tất cả kẻ
khác cũng như cho chính mình; hoàn toàn không thiên lệch với
ý tưởng đây kia, giống như mọi vật đều sinh trưởng từ
lòng đất. Chính thực tại hay pháp tánh, không phải hữu
tướng, cũng không phải vô tướng; thể của nó như hư không,
vượt ngoài tri kiến và liễu giải; pháp ấy vi diệu, khó
lấy văn tự mà diễn nói.
“Tại
sao thế? Bởi vì nó siêu quá hết thảy cảnh giới của văn
tự; siêu quá hết thảy cảnh giới của ngôn thuyết; siêu
quá hết thảy các cảnh giới ngữ nghiệp vận hành; siêu
quá hết thảy các cảnh giới của hí luận, phân biệt tư
lương; siêu quá hết thảy các cảnh giới sở tư của tất
cả chúng sinh ngu muội; siêu quá cảnh giới của hết thảy
phiền não tương ưng ma sự; siêu quá hết thảy cảnh giới
của tâm thức; không bĩ không thử, vô tướng, ly tưởng,
siêu quá hết thảy cảnh giới hư vọng; vì trụ nơi tịch
vô trụ xứ vốn là cảnh giới của các Thánh giả.
“Này
thiện nam tử, cảnh giới tự chứng của các Thánh giả ấy
không có sắc tướng, không có cấu tịnh, không có thủ xả,
không có trước loạn; thanh tịnh tối thắng; tánh thường
bất hoại; dù chư Phật xuất thế hay không xuất thế, ở
nơi pháp giới tánh, thể thường nhất. Này thiện nam tử,
Bồ tát vì pháp này mà hành vô số cái hành khó hành và khi
chứng được pháp thể này thì có thể làm lợi ích cho hết
thảy chúng sinh, khiến cho các loài chúng sinh rốt ráo an trụ
trong pháp này. Này thiện nam tử, đó là pháp chân thật, không
có “tướng dị biệt, thực tế[13], thể của Nhất thiết
trí, cảnh giới bất tư nghị, pháp giới (Dharmadhatu) bất
nhị và đó là môn giải thoát viên mãn ở đó tất cả các
nghệ thuật đều được diễn tả đầy đủ trọn vẹn.”
Đoạn
kế nữa của kinh Hoa Nghiêm , bản Hán dịch 40 quyển, chúng
ta đọc thấy như vầy:
“Thiện
Tài (Sudhana): Đâu là trụ xứ của Bồ tát?
“Văn
thù sư lị (Manjusri): Tối thắng đệ nhất nghĩa[14] là trụ
xứ của Bồ tát. Tại sao? Vì tối thắng đệ nhất nghĩa
thì bất sinh bất diệt, bất thất bất hoại, bất khứ bất
lai; đấy là tất cả những ngôn ngữ; nhưng đệ nhất nghĩa
(tức chân lý cứu cánh) không phải là cảnh giới của ngôn
ngữ; ngôn thuyết không với tới được, không thể ghi dấu,
không phải là sở tư của lý luận và tư biện. Bản lai không
có ngôn thuyết; thể tánh thì tịch tĩnh, chỉ chứng được
bằng nội tâm của Thánh giả”.
Sự
phân biệt một đằng là thuần kiến văn hay suy lý và một
đằng là tự chứng ngộ, phân biệt giữa cái được nói
ra và có thể giảng dạy bằng ngôn thuyết và cái hoàn toàn
siêu việt những ngôn từ diễn đạt phải được kinh nghiệm
bằng nội tâm - sự phân biệt ấy là điều căn bản mà đức
Phật đã nhấn mạnh; và tất cả đệ tử của ngài chưa
hề bỏ quên không chú trọng sự phân biệt này cho nên trạng
thái tự chứng ngộ mà họ mong mỏi chưa từng bị mất hút.
Do đó, họ đã được khuyên nhủ là luôn luôn phải tự mình
hết sức tinh tiến như lửa cháy trên đầu, hay như một mũi
tên độc đã cắm sâu vào da thịt. Họ được thúc đẩy
mãnh liệt là hãy nhẫn nhục những điều khó nhẫn, và thực
hành cái khó hành nhất trong đời sống của một kẻ hành
đạo; có như thế, rồi ra họ mới có thể chứng ngộ chân
lý tối thượng là giải phóng mình ra khỏi sự ràng buộc
của đời sống.
Dù
có những dị biệt về giáo nghĩa, Tiểu thừa hay Đại thừa,
tất cả đệ tử trung thành của đức Phật đều thừa nhận
tính cách quan trọng của tự chứng ngộ trong đời sống Phật
tử. Dù chân lý tự chứng ngộ thì không thể nói và không
thể diễn, tất cả giáo lý của đạo Phật đều đã quy
tụ quanh nó, và Thiền tông, thừa hưởng những gì chứng
được bằng nội tâm trong đạo Phật, đã truyền bá trung
thành cái truyền thống này bằng cách nâng cao giác ngộ vượt
lên nghi lễ và bác học, và tất cả những hình thức thuần
tư biện triết lý. Nếu không vì thế, sự xuất hiện của
đức Phật trong thế gian này phỏng có ích lợi gì? Tất cả
giới luật, tất cá những thực hành đạo đức và tâm linh
phỏng có nghĩa lý gì ?
Bài
thuyết pháp sau đây của Hoàng long Tử tâm Ngộ Tân Thiền
sư (1044-1145)[15] cho thấy không gì diễn ra trong lòng của một
kẻ học Thiền chân thật :
“Này
chư Thượng tọa, thân người khó được, Phật pháp họ nghe.
Thân này không nhắm đời nay độ, còn đợi đời nào độ
thân này?[16] Nay còn sống đó, các ngài hãy tham thiền đi,
tham thiền là để buông bỏ. Buông bỏ cái gì? buông bỏ bao
nhiêu nghiệp thức (karmavijnana) từ vô lượng kiếp đến nay;
hãy nhìn xuống dưới gót chân của mình[17] mà suy xét cho
thấu đáo để thấy đạo lý ấy là gì? Suy tới suy lui hốt
nhiên tâm hoa bừng nở, chiếu khắp mười phương. Sự chứng
ngộ thì không thể trao truyền dù chính các ngài biết rõ
nó là cái gì ?
“Đây
là lúc các ngài có thể biến đất lớn thành vàng ròng, quậy
sông dài thành biển sữa[18]. Há không sướng khoái bình sinh
sao! Vậy thì đừng phí thì giờ niệm ngôn niệm ngữ mà hỏi
đạo hỏi thiền nơi sách vở; bởi vì đạo thiền không ở
nơi sách vở. Dù cho thuộc lòng một bộ Đại tạng cũng
như Bách gia chư tử, chẳng qua là những lời rỗi rãi, khi
chết chẳng dùng được gì”.
Ý
NGHĨA CỦA CHỨNG NGỘ Ở THIỀN
Như
vậy, Ngộ là toàn thể của Thiền, Thiền bắt đầu từ đó
mà chấm dứt ở đó. Bao giờ không có Ngộ, bấy giờ không
có Thiền. “Ngộ là thước đo của Thiền” như một tôn
túc đã nói. Ngộ không phải là một trạng thái an tĩnh không
thôi; nó không phải là sự thanh thản mà là một kinh nghiệm
nội tâm không có dấu vết của tri thức; phải là sự thức
tỉnh nào đó phát khởi từ lãnh vực đối đãi của tâm
lý, một sự trở chiều với hình thái bình thường của kinh
nghiệm vốn là đặc tính đời sống thường nhật của chúng
ta. Thuật ngữ của Đại thừa gọi đó là chuyển y (Paravritti)[19]
“quay trở lại” hay lật ngược ra cái cơ sở của tâm ý,
ở đây toàn bộ kiến trúc tâm thức trải qua một cuộc thay
đổi toàn diện. Điều kỳ diệu là một cái thấy của Ngộ
(satori) có thể gây ra một lần tái tạo như thế trong cái
nhìn của tâm linh. Nhưng các ký lục của Thiền minh chứng
điều này có thực. Do đó sự phát khởi của Bát-nhã ba-la-mật,
một biệt danh của Ngộ (satori), là tinh yếu của Thiền.
Tuy
nhiên, có một số Thiền sư cho rằng Ngộ được dựng lên
một cách giả tạm; Thiền thực sự không liên quan gì với
thứ thêm thắt rườm rà có hại cho dưỡng chất tự nhiên
của nó; chỉ cần yên lặng mà ngồi là đủ; đức Phật
ở
nơi đây, trong cái-không-làm này; kẻ nào làm rùm lên cái
chuyện Ngộ, họ không phải là đồ đệ chân thật của Bồ
đề đạt ma.
Những
vị phản đối Ngộ ấy lại còn nói thêm rằng chân lý cứu
cánh của Thiền chính là chỗ bám sát vào Vô tâm[20]; chỉ
một chút vết tích ghi dấu những nỗ lực của ý thức, chắc
chắn nó sẽ làm tổn thương sự bộc lộ toàn diện của
chính vô tâm; và như vậy, đừng có can thiệp vào chân lý
cứu cánh, cũng đừng coi nhẹ nó; đây là lập trường của
một số Thiền gia chống lại những kẻ chủ trương chứng
ngộ. Vì họ chống đối ngộ nên họ không thể không chống
cả việc tu tập công án.
Đầu
thế kỷ XII phong trào chống đối Ngộ và công án ở Trung
Hoa đã nổi lên dữ dội giữa các đồ đệ Thiền đương
thời , và sau đây là một bức thư của Đại Huệ[21] viết
cho học trò của mình là Lữ Cơ Nghi[22], cảnh giác ông chống
lại những ai từ chối kinh nghiệm liễu đạt về Ngộ hay
tự chứng:
“Cận
thế, nơi chốn tòng lâm có một số tà thiền, chấp
bịnh làm thuốc. Bởi vì tự họ chưa từng có chỗ chứng
ngộ trong đời sống của mình, họ coi ngộ như là một thứ
bày đặt, như một phương tiện đưa đẩy, như một cái hoàn
toàn thứ yếu ở Thiền, nằm ở ngoài lề chứ không vào
giữa lòng thiền. Vì những ông thầy ấy chưa từng có chỗ
chứng ngộ, họ không chịu tin những người thực sự đã
trải qua chứng ngộ. Mục đích hướng tới của họ là để
nhận cái không tịch ngoan nhiên vô tri - tức là một cái không
chi trơ trọi mà họ coi như là vĩnh viễn vượt ngoài những
giới hạn của thời gian.
“Để
đạt đến trạng thái trống trơn không cùng này, hằng ngày
họ tiêu hóa biết bao nhiêu bát cơm và bỏ thời giờ mà ngồi
lặng lẽ ngu ngơ. Họ nghĩ rằng đây chính là ý nghĩa của
an lành tuyệt đối... Đáng thương thay họ u mê không có cơ
duyên nghe được một tiếng nổ đột nhiên (của tuệ giác
trong tâm mình)!”.
Những
chứng cớ có thẩm quyền mà các nhà mặc chiếu Thiền lấy
làm chỗ tựa cho tin tưởng của mình được đề cập đến
như sau: [23]
“Khi
đức Thích ca mâu ni ở Ma kiệt đà (Magadha), ngài đóng cửa
không lên tiếng trong ba tuần. Đây há không phải là một
điển hình về lối mặc nhiên của Phật?. Khi ba mươi hai
vị Bồ tát tại thành Ti da li (Vaisaili) bàn bạc với Duy ma
cật (Vimalakirti) về pháp môn bất nhị, cuối cùng Duy ma im
lặng không nói một lời và đức Văn thù (Manjusn) khen hay.
Đây há không phải là im lặng mặc nhiên của một vị Đại
Bồ tát?. Khi Tu bồ đề (Subhuti) ngồi không trong hang đá không
nói một lời, không thuyết một câu về Bát nhã ba la mật.
Đây há không phải là sự im lặng của một vị Đại Thanh
văn (Sravaka)?. Khi thấy Tu bồ đề ngồi lặng lẽ như thế
trong hang đá, thiên đế thích (Sakendra) bèn rải hoa trời cúng
dường, cũng không nói một lời. Đây há không phải là sự
im lặng của phàm phu?. Khi Bồ đề đạt ma dạo đến xứ
này, ngài ngồi suốt chín năm trên Thiếu lâm, lãnh đạm với
tất cả những ngôn giáo. Đây há không phải là sự im lặng
của tổ sư? Và Lỗ Tổ mỗi khi thấy có một vị tăng đến
ngài liền quay mặt vào vách ngồi lặng lẽ. Đây há không
phải là sự im lặng của tông sư?
“Trước
những sự thật lịch sử này, làm sao người ta có thể bảo
rằng tu tập ngồi im lặng mặc nhiên là tà ngụy phi pháp
đối với Thiền?”
Đây
là một chứng cứ do các thiền gia chủ trương mặc tọa nêu
lên vào thời Đại Huệ ở Trung Hoa, tức vào thế kỷ XII.
Nhưng Đại Huệ bảo rằng chỉ mặc tọa không thôi thì chẳng
được việc gì cả, vì nó chẳng đưa đến đâu, vì sự
chuyển y không khởi lên trong tâm của mình, để nhờ đó
mà người ta bước vào thế giới đa thù bằng một nhãn quan
khác hẳn bây giờ. Những thiền gia mặc tọa nào mà chân
trời tâm trí không vươn lên tới cái trình độ gọi là im
lặng tuyệt đối khôn dò, họ quờ quạng trong hang tối vĩnh
viễn. Họ không thể mở ra con mắt trí tuệ. Vì vậy, họ
cần được dẫn dắt bởi bàn tay của một thiền sư chân
chính. Rồi Đại Huệ tiếp tục nêu lên những trường hợp
chứng ngộ do một minh sư hướng dẫn; đồng thời lưu ý
sự cần thiết tham vấn một bậc đã tỏ ngộ và lật đổ
hẳn toàn bộ thủ thuật im lặng vốn cản trở sự tăng trưởng
tâm linh thiền. Sự lật đổ toàn bộ cơ cấu này ở đây
được Đại Huệ nói theo một thuật ngữ của kinh: 入流亡所
(nhập lưu vong sở) “Bước vào dòng sông và bỏ mất chỗ
trú”, ở đó mãi mãi không còn ghi dấu sự đối đãi của
động và tĩnh nữa. Ông nêu lên bốn trường hợp điển hình:
1)
Thủy đạo hòa thượng nhân khi đang tỉa cây đằng, hỏi
Mã Tổ: “Ý của Tổ từ Tây đến là gì?” Mã Tổ đáp:
“Lại gần đây ta bảo cho”. Rồi khi Thủy Lạo vừa đến
gần, Mã Tổ tống cho một đạp té nhào. Nhưng cái té này
khiến cho tâm của Thủy Lạo hoạt nhiên đại ngộ, bất giác
đứng dậy cười ha hả, tuồng như xảy ra một việc không
ngờ, nhưng rất mong mỏi.
Mã
Tổ hỏi: “Nhà ngươi thấy cái đạo lý gì đây?” Lạo
đáp: “Quả thật, trăm nghìn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa,
chỉ trên đầu một sợi lông mà biết ngay được cả căn
nguyên”.
Rồi
Đại Huệ bàn: “Khi đã chứng ngộ như vậy Thủy Lạo không
còn chấp trước vào sự im lặng của Chánh định (Samàdhi)
nữa, và vì ngài không còn dính mắc vào đó nên vượt hẳn
lên hữu vi và vô vi; ở trên hai tướng động và tĩnh. Ngài
không còn nương tựa những cái ở ngoài chính mình nữa mà
mở ra kho tàng tự kỷ, nên nói: “Ta đã thấy suốt căn nguyên
rồi!”. Mã Tổ biết thế và không nói thêm gì nữa. Về
sau, khi được hỏi về kiến giải Thiền của mình, ngài chỉ
nói: “Từ thuở nếm cái đạp nặng nề của Tổ, cho đến
giờ ta vẫn cười hoài không thôi”[24]
2)
Vân Môn hỏi Động Sơn: “Ở đâu đến đây?” “Tra Đô”.
“Mùa hạ ở đâu?”. “Ở Báo Từ, Hồ Nam”. “Rời khỏi
núi ấy lúc nào?” “Tháng Tám, ngày hai mươi lăm”. Vân
Môn kết luận: “ Tha ngươi ba chục hèo (dù người đáng
lãnh đủ)”.
Về
cuộc thăm hỏi của Động Sơn với Vân Môn, Đại Huệ bàn
rằng:
“Động
Sơn thật là thuần phác biết bao! Ngài cứ thật mà trả lời,
nên đương nhiên là phải nghĩ rằng: mình đã thật tình mà
trả lời, thế thì có lỗi gì mà phải bị ba chục hèo?”
Ngày
hôm sau lại đến kiếm thầy mà hỏi: “Hôm qua nhờ hòa thượng
tha cho ba chục hèo, nhưng chưa hiểu là có lỗi gì ?” Vân
Môn bảo: “Ôi phường giá áo túi cơm, vì vậy mà nhà ngươi
đi từ Giang Tây đến Hồ Nam đấy!” Lời cảnh giác ấy
bỗng làm sáng mắt của Động Sơn, rồi thì chẳng có tiêu
tức nào đáng thông qua, chẳng có đạo lý nào đáng nêu lên
nữa. Ngài chỉ lạy mà thôi và nói: “Từ đây về sau, tôi
sẽ dựng thảo am ở nơi không có dấu vết người; không
cất lấy một hột cơm, không trồng đến một cọng rau, và
tiếp đãi khách mười phương lai vãng; tôi sẽ vì họ mà
nhổ hết những đinh những móc; tôi sẽ cỡi bỏ cho họ những
chiếc nón thoa dầu, nhưng chiếc áo hôi nách, khiến cho họ
được hoàn toàn sạch sẽ và thành nhưng vị tăng xứng đáng”.
Vân Môn cười và nói: “Cái thân như một trái dừa bao lớn
mà có cái miệng rộng vậy thay!”.
3.
Yến quốc sư khi còn là một học tăng qua nhiều năm học
hỏi với Tuyết Phong. Một hôm, Tuyết Phong biết cơ duyên
của ngài đã chín mùi, liền nắm chặt ngài và hỏi cộc
lốc: “Cái gì đây?”. Yến như vừa chợt tỉnh cơn mê và
được liễu ngộ. Ngài chỉ nhắc cánh tay lên đưa qua đưa
lại. Phong nói: “Nhà ngươi làm gì thế?”. Vị đệ tử
này trả lời nhanh nhẩu: “Nào có gì đâu ?”.
4)
Một hôm, Quán Khê hoà thượng thăm Lâm Tế. Lâm Tế bước
xuống ghế rơm, không nói không rằng, nắm chặt nhà sư lại;
Quán Khê liền nói : “Tôi hiểu, tôi hiểu”.
Sau
khi kể ra bốn trường hợp trên đây, Đại Huệ kết luận
rằng: cuối cùng, ở Thiền, có một cái không thể chia xẻ
cho người khác, cũng không thể học được từ người khác,
và điều rắc rối cho hầu hết mọi người là họ chết
hẳn mà chẳng muốn sống lại. Rồi thì, Đại Huệ nói kinh
nghiệm riêng tư của mình như sau:
“Kẻ
này đã trải qua mười bảy năm học Thiền rồi. Suốt trong
thời gian này tôi tỏ ngộ từng phần rải rác. Tôi đã hiểu
biết một ít về Vân môn tông, một ít về Tào động tông,
chỉ có điều băn khoăn là các chứng ngộ này chẳng rõ rệt
ở nơi nào hết để đặt mình ra khỏi hoàn toàn mọi quan
hệ của thời gian và không gian. Về sau, tôi đến kinh đô,
ở tại chùa Thiên ninh, một hôm nhân nghe thầy tôi[25]
giảng về Vân Môn.
Thầy
nói: “một vị tăng đến hỏi Vân Môn: “Đâu là chỗ xuất
thân của chư Phật?”. Vân Môn đáp: “Ngọn Đông sơn đi
trên nước. Nhưng tôi, Thiên Ninh, khác với Vân Môn: Đâu là
chỗ xuất thân của chư Phật? Một ngọn gió hiu mang hương
thơm từ phương Nam thổi đến, thì điện các trở nên mát
lạnh!”. Khi nghe thấy tôi nói thế, hốt nhiên tôi như dứt
khỏi những quan hệ thời gian và không gian, chẳng khác nào
như mang lưỡi dao bén mà cắt đứt cuộn chỉ rối. Tôi bấy
giờ toát mồ hôi cùng mình.
Khi
không còn thấy bấn loạn trong tâm nữa, tôi thấy mình ở
trong một trạng thái an tĩnh trong sáng. Một hôm, tôi vào thất
thăm Thầy; Thầy bảo tôi rằng: “Không phải ai cũng dễ
đạt đến tâm địa như con; chỉ đáng tiếc là nơi đó chết
thì có mà sống thì không. Đừng nghi ngờ ngôn cú – đó
là đại bịnh. Con đã biết rõ điều này:
懸
崖 撒 手
Huyền
nhai tát thủ
自
肯 承 當
Tự
khẳng thừa đương
絶
後 再 蘇
Tuyệt
hậu tái tô
欺
君 不 得
Khi
quân bất đắc.
Buông
tay trên dốc thẳm
Hãy
tự tin nơi mình
Chết
đi rồi sống lại
Ai
lừa dối được người.
“Con
hãy tin ta, quả thật có đạo lý ở đó”.
Đại
Huệ nói tiếp: “Theo tâm địa của tôi bây giờ, tôi hoàn
toàn vừa ý với mình và với tất cả. Mọi thứ đều tốt
đẹp với Tôi, không còn điều gì tôi cần phải tìm hiểu
thêm nữa.
“Bấy
giờ, Thầy để tôi ở trong liêu của đại chúng. Cho phép
tôi mỗi ngày đến thăm ba hoặc bốn lần như những tục
gia đệ tử. Thầy dạy tôi chuyên tâm điều này: 或 有 或
無如 籐 倚 樹 (Hoặc Hữu hoặc Vô, như đằng ỷ thọ) “Hoặc
không hoặc có, như bìm tựa cây”. Mỗi khi tôi muốn nói,
thầy bịt miệng tôi lại, bảo: “Đừng có vậy”. Như thế
trải qua một nửa năm, tôi vẫn tiếp tục. Một hôm tôi đang
cùng các tục gia đệ tử dùng cháo nơi phương trượng, tôi
thấy mình đã đi sâu vào công án ấy đến độ chỉ cầm
đũa quên cả ăn.
“Lão
hòa thượng nói: “Gã này chỉ giỏi được thứ thiền gỗ
Hoàng dương, luôn luôn cứ co rút lại”. Tôi bèn nói với
Thầy một thí dụ về trường hợp mình: “Bẩm, trường
họp con như
con
chó đứng trước một chảo dầu sôi: muốn nếm lại nếm
chẳng được, muốn đi thì đi không xong”. Thầy nói: “Đó
chính là trường hợp của con; (công án đối với con quả
thực là một cái vòng kim cương giữa một đám gai”.
“Một
hôm khác, nhân khi đến thăm Thầy, tôi nói : “Nếu như khi
Thầy ở với Ngũ tổ[26] mà cũng hỏi ngài về công án ấy
chẳng biết ngài trả lời ra sao?” Thầy không chịu trả
lời.
“Khi
mà Thầy hỏi ngài về câu ấy, hẳn Thầy không ở một mình
mà ở giữa Đại chúng. Nay thầy nói cho con biết thì có gì
trở ngại”.
"Thầy
nói: “Khi ta hỏi Tổ: “hoặc không hoặc có, như bìm tựa
cây”, thế là nghĩa gì? Ngũ Tổ đáp: “Vẽ thì vẽ chẳng
nên, vời thì vời chẳng được, thế mà vẫn cứ cố”.
Ta lại hỏi:
“Hốt
nhiên cây đổ, sắn bìm khô thì sao?”. Tổ nói : “Lại đi
theo chữ nghĩa rồi?”.
“Vừa
nghe Thầy nói thế, tôi liền lý hội hết, và nói với Thầy:
“Bẩm con hiểu”. Nghe tôi nói vậy, thầy nhắc nhở: chỉ
e con chưa hiểu”. Tôi yêu cầu ngài thử đưa ra một vài
công án. Và mỗi công án tôi đều trả lời thông suốt. Cuối
cùng tôi cảm thấy mình như vào lúc thái bình vô sự, đường
đi chẳng có trở ngại nào”.
NHỮNG
ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA NGỘ
Đại
Huệ là một tay cự phách tán dương sự chứng ngộ, và một
trong những lời tán dương của ngài là : “Thiền không có
ngôn ngữ: có chứng ngộ thì có tất cả”. Từ đó, những
chứng cứ hùng hồn của ngài đối với sự chứng ngộ, như
đã thấy, đều xuất phát từ kinh nghiệm riêng tư của mình.
Trước đây, ngài đã sửa soạn đầy đủ để biết một
bộ luận chống lại Thiền tông, trong đó nhắm tước
bỏ những điều mà các Thiền gia gán ghép cho Thiền. Tuy nhiên,
sau khi hỏi đạo với Thầy mình là Viên Ngộ, tất cả những
quyết định trước kia đều bị sụp đổ, khiến ngài trở
thành một biện giả hăng say nhất của kinh nghiệm Thiền.
Trong khi tiếp tục nghiên cứu về việc tụ tập công án này,
tôi sẽ để dành nhiều cơ hội tham khảo thêm về Đại Huệ.
Nhân đây, tôi muốn đề cập một vài sắc thái rõ ràng nhất
của Ngộ, sau này chúng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ vai trò của
công án trong toàn thể cơ cấu của Thiền.
1)
Bội lý : Ở đây tôi nói chứng ngộ không phải là một kết
luận mà người ta đạt được bằng suy luận; nó coi thường
mọi xác định của trí năng. Những ai đã từng kinh nghiệm
điều này đều không thể giải thích nó một cách mạch lạc
và hợp lý. Một khi người ta cố tình giải thích nó bằng
ngôn từ hay bằng cử chỉ, thì nội dung của nó đã bị thương
tổn ít nhiều. Vì thế, kẻ sơ cơ không thể với tới nó
bằng nhưng cái hiển hiện bên ngoài, mà những ai đã kinh
nghiệm qua một lần chứng ngộ thì thấy rõ ngay nhưng gì
thực sự không phải là nó. Kinh nghiệm chứng ngộ do đó
luôn luôn mang đặc tính bội lý, khó giải, khó truyền.
Ta
hãy nghe Đại Huệ một lần nữa[27]: “Cái này (nghĩa là
Thiền) như một đống lửa cháy lớn; khi đến gần nhất
định sém mặt. Lại nữa, nó như một lưỡi kiếm sắp rút
ra khỏi vỏ; một khi rút ra thì nhất định có kẻ mất mạng.
Nhưng nếu không rút kiếm khỏi vỏ, không đến gần lửa,
thì chẳng hơn gì một cục đá, một miếng gỗ. Muốn đến
nơi này thì phải có một cá tính quả quyết và một tinh
thần sung mãn”.
Ở
đây chẳng có gợi lên một chút suy luận lạnh lùng hay phân
biệt thuần túy siêu hình, nhận thức; mà là một ý chí vô
vọng quyết vượt qua chướng ngại hiểm nghèo, một ý chí
được thúc đẩy bởi một năng lực vô lý hay vô thức nào
đó, ở đằng sau nó. Vì vậy, sự thành tựu này cũng xem
thường luôn cả trí năng hay tâm tưởng.
2)
Tuệ giác: James, trong tác phẩm Những kinh nghiệm tôn giáo
có nêu ra đặc tính trí năng ở những kinh nghiệm thần bí,
và điều này cũng áp dụng cho kinh nghiệm của Thiền, được
gọi là Ngộ. Một tên khác của Ngộ là KIẾN TÍNH, có vẻ
như muốn nói rằng có sự “thấy” hay “cảm thấy” ở
chứng ngộ. Khỏi cần phải ghi nhận rằng cái thấy này khác
hẳn với cái mà ta thường gọi là tri kiến hay nhận thức.
Chúng ta được biết rằng Huệ Khả đã có nói về sự chứng
ngộ của mình, được Bồ Đề Đạt Ma ấn khả, như sau:
“Theo sự chứng ngộ của tôi, nó không phải là một cái
không hư toàn diện; nó là tri kiến thích ứng nhất; chỉ
có điều là không thể diễn thành lời”. Về phương diện
này, Thần Hội nói rõ hơn: “đặc tính duy nhất của TRI
là căn nguyên của mọi lẽ huyền diệu”[28]
Không
có đặc tính trí năng này, sự chứng ngộ mất hết cái gay
gắt của nó, bởi vì đây quả thực là đạo lý của chính
sự chứng ngộ. Nên biết rằng cái tri kiến được chứa
đựng ở chứng ngộ vừa có quan hệ với cái phổ biến vừa
liên quan đến khía cạnh cá biệt của hiện hữu. Khi một
ngón tay đưa lên, từ cái nhìn của ngộ, cử chỉ này không
phải chỉ là hành vi đưa lên mây thôi. Có thể gọi đó là
tượng trưng, nhưng sự chứng ngộ không trỏ vào những gì
ở bên ngoài chính cái đó, vì chính cái đó là cứu cánh.
Chứng ngộ là tri kiến về một sự vật cá biệt, và đồng
thời, về thực tại đằng sau sự vật đó, nếu có thể
nói là “đằng sau”
3)
Tự tri: Ở đây tôi muốn nói rằng cái tri kiến do ngộ mà
có là rốt ráo rồi, không có thành kiến nào của những chứng
cứ luận lý có thể bác bỏ nổi. Chỉ thẳng và chỉ riêng,
thế là đủ. Ở đây, khả năng của luận lý chỉ là để
giải thích điều đó, để thông diễn điều đó bằng cách
đối chiếu với những thứ tri kiến khác đang tràn ngập
trong tâm trí chúng ta.
Như
thế ngộ là một hình thái của tri giác, một thứ tri giác
nội tại, phát hiện trong phần sâu thẳm nhất của ý thức.
Đó là ý nghĩa của đặc tính tự tri; tức là sự thực tối
hậu. Cho nên người ta thường bảo rằng Thiền giống như
uống nước, nóng hay lạnh tự người uống biết lấy. Tri
giác của Thiền là giới hạn cuối cùng của kinh nghiệm;
những kẻ ngoại cuộc không có kinh nghiệm ấy không thể
phủ nhận được.
4)
Khẳng nhận: Nhưng gì thuộc tự tri và tối hậu thì không
bao giờ có thể là phủ định. Bởi vì, phủ định chẳng
có giá trị gì đối với đời sống của chúng ta, nó chẳng
đưa ta đến đâu hết, nó không phải là một thế lực đẩy
đi và cũng chẳng kéo dừng lại. Mặc dù kinh nghiệm chứng
ngộ đôi khi được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định;
chính ra, nó là một thái độ khẳng nhận hướng đến mọi
vật đang hiện hữu; nó chấp nhận mọi vật đang đến, bất
chấp nhưng giá trị đạo đức của chúng. Các nhà Phật học
gọi là NHẪN (ksanti), nghĩa là chấp nhận mọi vật trong khía
cạnh tuyệt đối và siêu việt của chúng, nơi đó, chẳng
có dấu vết của nhị biên gì cả.
Người
ta có thể bảo đây là chủ trương phiếm thần. Nhưng từ
ngữ này có một ý nghĩa triết học quá rõ và ở đây tôi
không thấy nó thích hợp chút nào. Giải thích kiểu đó, kinh
nghiệm của Thiền bị đặt vào những ngộ nhận và “ô
nhiễm” không cùng. Trong bức thư gởi cho Diệu Tổng, Đại
Huệ viết: “Thánh xưa nói rằng Đạo chẳng nhờ tu, mà chỉ
đừng làm nó ô nhiễm. Tôi thì nói: nói tâm hay nói tánh đều
là ô nhiễm, nói Huyền nói Diệu đều là ô nhiễm; tọa Thiền
tập định là ô nhiễm; trước ý tư duy là ô nhiễm; mà nay
viết nó bằng bút giấy cũng là một sự ô nhiễm đặc biệt.
Vậy thì, chúng ta phải làm gì để dẫn dắt chính mình và
ứng hợp mình với nó? Cái bửu kiếm kim cương treo đó đang
hăm chặt đứt cái đầu này. Đừng bận tâm đến những
thị phi của nhân gian. Tất cả Thiền là thế đó: và ngay
đây, hãy tự ứng dụng đi”. Thiền là Chân như - là một
khẳng nhận bao la vạn hữu.
5)
Siêu Việt - Thuật ngữ có thể sai biệt trong các tôn giáo
khác nhau, nhưng trong chứng ngộ luôn luôn có một điều mà
chúng ta có thể gọi là một cảm quan Siêu việt; kinh nghiệm
ấy quả thực là của riêng tôi, nhưng tôi cảm thấy nó bắt
rễ ở nơi khác. Cái vỏ cá biệt, nó bao phủ chặt cứng
nhân cách của tôi trong đó, vỡ tung vào giây phút chứng ngộ.
Điệu thiết yếu không phải là: tôi được hợp nhất với
một thực thể lớn hơn mình hay được thu hút vào trong đó,
nhưng cá thể của tôi, vốn được duy trì chắc cứng và
tách biệt hoàn toàn với những hiện hữu cá biệt khác, bây
giờ thoát ra ngoài nhưng gì buộc siết nó, và hòa tan vào
cái không thể mô tả, cái khác hẳn với tập quán thường
nhật của tôi. Cảm giác theo sau đó là cảm giác về một
sự cởi mở trọn vẹn hay một sự an nghỉ hoàn toàn - cái
cảm giác khi người ta đã rốt ráo đạt đến mục tiêu.
“Trở về quê nhà và lặng lẽ nghỉ ngơi” là một thành
ngữ thường được các Thiền gia dẫn dụng. Câu chuyện đứa
con hoang trong Kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika) và trong kinh Kim
Cương Tam Muội (Vajra samadhi) và cả trong Tân ước nữa, cũng
trỏ vào cái cảm giác mà người ta có ở giây phút của kinh
nghiệm chứng ngộ.
Nếu
như người ta chú trọng về mặt tâm lý chứng ngộ, thì chúng
ta chỉ có thể nói được một điều duy nhất : đó là một
Siêu việt; gọi nó là Siêu việt, tuyệt đối, hoặc Thượng
đế, hoặc một Nhân vị tức là đi xa hơn kinh nghiệm ấy
và đắm chìm vào trong Thần học hay siêu hình học.
Ngay
chữ “Siêu Việt” cũng đã nói quá đáng rồi. Khi một Thiền
sư bảo "Trên đầu không một chiếc nón, dưới chân không
một tấc đất”, thì đây có vẻ là một thành ngữ chính
xác Nơi khác tôi đã gọi nó là Vô Thức, dù chữ này có
một màu sắc tâm lý học.
6)
Vô ngã : Có lẽ khía cạnh đáng chú ý nhất của kinh nghiệm
Thiền là ở chỗ nó không có dấu vết nhân ngã, như người
ta có thể nhận thấy trong các kinh nghiệm thần bí của Thiên
Chúa giáo. Trong sự chứng ngộ của Phật giáo, không hề có
chút dính dáng với những quan hệ và xúc cảm cá nhân, thường
là tính dục, mà người ta nhặt ra từ những chữ như: ngọn
lửa của tình yêu, một tình yêu kỳ diệu rơi vào tâm hồn,
sự ôm ấp, người tình, nàng dâu, chàng rể, cuộc hôn phối
tinh thần, Cha, Chúa, con của Chúa, vân vân....
Chúng
ta có thể nói, tất cả nhưng chữ này là những chữ thông
diễn dựa trên một hệ thống hữu hạn của tư tưởng, thực
tình, chẳng liên quan gì với chính kinh nghiệm. Dù sao chăng
nữa, dù ở Tàu, ở Ấn hay ở Nhật, sự chứng ngộ hoàn
toàn mang tính cách vô ngã, hay đúng hơn, trí năng tối thượng.
Phải
chăng đây là do cá tính riêng biệt của lý đạo Phật? Phải
chăng kinh nghiệm tự nó mượn màu sắc của thần học hoặc
triết học? Dù vậy, dù có một đi chỗ tương tợ với kinh
nghiệm thần bí của Thiên chúa giáo, chắc chắn kinh nghiệm
của Thiền mất hết màu sắc nhân ngã một cách kỳ lạ.
Triệu Biện, một đại quan dưới triều Tống, là tục gia
đệ tử của Tương sơn Pháp Tuyền, nhân một hôm quan sự
rỗi rảnh, ngồi nghỉ ngơi tại công đường, bỗng nghe một
tiếng sấm nổ bên tai mà hoạt nhiên đại ngộ, ông bèn làm
bài thơ ghi lại một kinh nghiệm của Thiền như sau :
默
坐 公 堂 虛 隱 几
Mặc
tọa công đường hư ẩn kỷ
心
源 不 動 湛 如 水
Tâm
nguyên bất động trạm như thủy
一
聲
霹 靂 頂 門 開
Nhất
thanh tịch lịch đỉnh môn khai
喚
起 從 前 自 家 底
Hoán
khởi tùng tiền tự gia để.
喚
起 從 前 自 家 底
Ngồi
lặng công đường luống tựa ghế
Suối
lòng không động, như nước trong
Nghe
sấm nổ cửa lòng chợt mở
Này,
lão vốn ngồi ở quê cũ.
Có
lẽ đây là tất cả phong cách hữu ngã mà người ta có thể
tìm thấy trong kinh nghiệm Thiền và cách biệt biết bao giữa
một “lão vẫn ngồi ở quê cũ” và “Chúa ngự trị trong
vinh quang”, chẳng nói gì đến những tình cảm như “hương
vị ngọt ngào thiêng liêng trong tình yêu tuyệt diệu của
Chúa”, v.v... So với những kinh nghiệm thần bí của Thiên
Chúa giáo, thì sự chứng ngộ thật là khô khan, vô vị biết
bao!
Không
những sự chứng ngộ chỉ là một biến cố bình thường,
nhạt nhẽo, mà cái cơ duyên kích phát như cũng vô vị và
thiếu hẳn cảm giác siêu nhiên. Sự chứng ngộ được kinh
nghiệm ngay trong mọi biến cố bình sinh. Nó không xuất hiện
như một hiện tượng phi thường mà người ta thấy ghi chép
trong các tác phẩm thần bí của Thiên chúa giáo.
Khi
sự bùng vỡ của tâm trí bạn đã đến lúc chín muồi, người
ta nắm tay bạn, vỗ vai bạn, mang cho một chén trà, gây một
chú ý tầm thường nhất, hay đọc một đoạn kinh, một bài
thơ, bạn chứng ngộ tức khắc. Ở đây chẳng có cái diễm
lệ của giao hoan, chẳng có tiếng gọi của Thánh Linh, chẳng
có sự sung mãn của Thánh sủng, chẳng có ánh sáng vinh danh
nào hết. Và ở đây chẳng chút sắc màu lộng lẫy; tất
cả đều xám xịt, không một chút ấn tượng, không một
chút quyến rũ.
7)
Cảm giác Siêu thoát; Bảo rằng cảm giác này nhất định
kèm theo sự chứng ngộ, là vì nó bẻ gãy giới hạn phân
biệt cá thể; và đây không phải chỉ là một biến cố tiêu
cực mà hoàn toàn tích cực, chứa đầy ý nghĩa, bởi vì nó
chính là một sự triển khai cá thể đến vô cùng. Mặc dù
chúng ta không luôn luôn để ý, nhưng cảm giác thông thường
nói lên tất cả những nhiệm vụ ý thức của chúng ta là
cảm giác về hữu hạn và lệ thuộc, bởi vì chính ý thức
là hậu quả của hai thế lực tương duyên hay giới hạn lẫn
nhau. Trái lại, chứng ngộ chính là xóa bỏ sự đối lập
của hai đầu mối, trong bất cứ chiều hướng nào - và sự
đối lập này là nguyên lý của ý thức như đã được đề
cập trước đây, trong khi đó, chứng ngộ là thể hiện cái
vô thức vượt ngoài đối đãi.
Vì
vậy để giải phóng khỏi tình trạng đối lập ấy người
ta phải tạo ra một cảm giác vượt lên trên tất cả. Một
tay lang bạt, sống ngoài vòng pháp luật, đến đâu cũng bị
bạc đãi, không phải chỉ bởi những kẻ khác mà còn bởi
chính mình, nó thấy rằng mình là sở hữu chủ của tất
cả tài sản và uy quyền mà một sinh vật có thể đạt được
trong cõi đời này - sao lại có thể thế, nếu không cảm
giác được kỳ cùng vẻ tự tôn tự đại của mình ?'Một
Thiền sư nói: “Lúc chứng ngộ là lúc thấy ra một lâu đài
tráng lệ xây bằng pha lê trên một tơ hào độc nhất; nhưng
khi không chứng ngộ, lâu đài tráng lệ ấy khuất lấp sau
một tơ hào mà thôi”. Một Thiền sư bác, hiển nhiên là
dẫn dụ kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka) nói: “Này các thầy hãy
xem kìa! Ánh sáng rực rỡ đang tỏa khắp cả đại thiên thế
giới, cùng lúc hiển hiện mọi xứ sở, hiển hiện tất cả
những núi Tu di (Sumerus), những mặt trời, những mặt trăng,
những bầu trời và cõi đất - nhiều đến hằng trăm nghìn
ức số. Này các Thầy, các Thầy có thấy ánh sáng ấy chăng?”.
Thế nhưng, cảm giác siêu thoát của Thiền đúng ra là một
cảm giác trầm lặng của cõi lòng tri túc; nó chẳng có chút
gì lồ lộ, khi giây phút sáng lạn đầu tiên đã đi qua.
Cái Vô Thức ấy không bộc lộ ồn ào ở Thiền.
8)
Đốn ngộ nhất thời: Sự chứng ngộ diễn ra một cách đường
đột; và đó là một kinh nghiệm trong nhất thời. Thực sự
nếu không phải là đường đột và nhất thời, thì không
phải là ngộ. Đốn là đặc điểm của dòng Thiền Huệ Năng,
kể từ khởi nguyên của nó vào cuối thế kỷ VII. Đối thủ
ngài là Thần Tú, nhấn mạnh trên sự khai triển tuần tự
của tâm thức. Như vậy, các đồ đệ của Huệ Năng hiển
nhiên là những người tích cực chủ trương giáo lý đốn
ngộ. Kinh nghiệm đốn ngộ này mở ra một nhãn giới hoàn
toàn mới mẻ ngay trong một khoảnh khắc (ekamuhurtena) và toàn
thể đời sống bấy giờ được đánh giá từ một quan điểm
mới mẻ hẳn. Lời tán dương của Động sơn Lương Giới,
như đã được trích dẫn ở trên xác chứng đầy đủ cho
sự kiện này. Tập Udàna của Phật quang quốc sư (Bukkô Kushi)
cũng gợi lên khía cạnh đó.
4.
NHỮNG HÀNH TÍCH TÂM LÝ CỦA TIỀN CHỨNG NGỘ ĐỐI VỚI HỆ
THỐNG CÔNG ÁN - MỘT VÀI THÍ DỤ THỰC TIỄN
Trước
khi tìm hiểu thêm vì sao lối tu tập công án lại được coi
là bước tiến quyết định hướng tới chỗ chứng ngộ ở
trong Phật giáo Thiền tông, tôi muốn đề cập đến những
trang bị tâm lý mà các Thiền sư trước thời đại công án
đã từng sử dụng. Khi nói công án là một yếu tố quyết
định đối với Thiền ngày nay, thì cũng nên hỏi tại sao
thế, và các Thiền sư thuở xưa đã làm gì trước khi có
sự phát triển của công án. Công án được thông hành khoảng
cuối thế kỷ IX - tức khoảng 150 năm sau Huệ Năng.
Suốt
trong thời gian này vẫn có tham thiền, vẫn có chứng ngộ
và Phật tâm tông vẫn tiếp tục truyền thừa tốt đẹp.
Các Thiền sư không cần công án để tập luyện đồ đệ
của mình.
Họ
đã chứng Thiền như thế nào? Vậy là phải có một tình
trạng nổi bật nào đó khác hẳn những điều chúng ta thấy
ngày nay. Cái gì khiến cho khác nhau như vậy? Câu hỏi ấy
là cần thiết, nếu muốn thấu triệt bản tính của công
án, muốn khám phá vai trò tâm lý trong kinh nghiệm của Thiền,
và sau hết, thấy được mối quan hệ giữa nó với pháp ngôn
môn niệm Phật, điểm cốt yếu của giáo lý Tịnh độ tông.
Ở
đây tôi muốn bày tỏ những trang bị hay những hành tích
tâm lý dẫn đến chứng ngộ là gì. Như chúng ta đã thấy,
trạng thái này - có thể gọi là “ý thức Thiền” - khởi
lên từ những biến cố thông thường nhất, như đưa lên
một ngón tay, la lên một tiếng, đọc lên một câu văn, vung
lên một cây gậy, tát một cái vào mặt, vân vân. Bởi vì,
hậu quả hình như không tương xứng với sự vụ, chúng ta
thường ức đoán có một vài hành tích tâm lý lẩn khuất
trong sâu xa, bấy giờ đột nhiên chúng được chín muồi.
Những hành tích này là gì? Chúng ta hãy khảo sát một vài
trường hợp mô phạm của chứng ngộ như được ghi chép
trong các ký lục của Thiền.
Khảo
cứu về các hành tích này rất là quan trọng và chắc chắn
chúng xác định bản tính của kinh nghiệm, và, trên phương
diện hành trì, các Thiền sư có thể dựa theo đó mà dạy
cho đồ đệ của họ lãnh hội được Thiền. Trong số những
câu hỏi có thể có, thì ở đây là: nếu có những yếu tố
tri thức dự phần làm chín mùi ý thức Thiền thì chúng là
những yếu tố nào? Ý chí có can hệ gì với kinh nghiệm?
Có cái gì tựa hồ tự kỷ ám thị?
Trong
những trang sau đây tôi sẽ cố gắng thiết dựng lên những
gì minh bạch và cụ thể trong lịch sử tâm lý của ngộ.
Cố nhiên đây không phải là một công việc dễ dàng, bởi
vì chúng ta không có những ký sự tiểu sử nào trước thời
kỳ công án thịnh hành, cũng không có những khảo sát chi
tiết, xác thực và khách quan trong tiến trình tâm lý trước
khi sự chứng ngộ bùng nổ. Tuy nhiên, nếu phân tích nhất
trí những tài liệu lưu truyền của Trung Hoa, dù rất mập
mờ và rời rạc, người ta có thể tìm thấy ở đó những
chất liệu của một kiến trúc mạch lạc.
1)
Câu chuyện hỏi đạo giữa Huệ Khả và Bồ Đề Đạt Ma,
Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa; câu chuyện ấy hơi bị bao
phủ bằng những lịch sử bất xác và được thêm thắt quá
nhiều, nhưng dù có nhưng thiếu sót này, chúng ta vẫn có thể
hiểu được câu chuyện. Bởi vì sự xác thực của lịch
sử không phải lúc nào cũng là điều kiện cần thiết để
xác định nhưng gì hiện hành thực sự. Ngay cả lối kể
chuyện văn hoa sau này cũng có thể giúp chúng ta hiểu rõ tường
tận trường hợp.
Nên
nhớ rằng trên khía cạnh tâm lý, sự tưởng tượng trong
nghệ thuật miêu tả cái mệnh danh là những sự kiện thường
chân thật hơn lối tường thuật khách quan của một sử gia.
Theo
Truyền đăng lục, Huệ Khả (487-593) là một mẫu người tánh
tình phóng khoáng, rộng rãi, dù đã quen với sách Nho và sách
Lão, nhưng luôn luôn không hài lòng với những thuyết ấy
vì ngài thấy chúng chưa được thấu đáo. Khi nghe tin Bồ
Đề Đạt Ma từ Ấn sang, ngài đi đến chỗ lưu ngụ của
Thầy ở Thiếu lâm tự. Ngài cố tìm cơ hội để thưa chuyện
với Thầy về vấn đề mà mình muốn tỏ ngộ, nhưng Thầy
cứ mãi ngồi im lặng quay vào mặt vách. Huệ Khả suy nghĩ
: “Người xưa cầu đạo đến phải chẻ xương lấy tủy,
đổ máu nuôi người đói, xỏa tóc phủ đường lầy hay đến
cả gieo mình vào miệng cọp đói. Còn ta là kẻ nào? Ta há
không thể biến mình phụng thờ chánh pháp?”.
Ngày
mồng chín tháng 12 năm ấy, ngài đứng trong cơn mưa tuyết
dầm dề, đứng bất động cho đến sáng hôm sau khi tuyết
ngập đầu gối. Bấy giờ Bồ Đề Đạt Ma động lòng thương
xót bèn hỏi : “Nhà ngươi muốn gì mà đứng mãi trong tuyết
như thế ?”.
Huệ
Khả đáp: "Tôi đến để mong được lời dạy vô giá của
Thầy; ngưỡng mong Thầy mở cửa từ bi, duỗi tay tế độ
quần sinh đau khổ này”.
Bồ
Đề Đạt Ma mới bảo: “Giáo lý vô thượng của Phật chỉ
có thể hiểu khi đã trải qua một thời gian dài cần khổ,
nhẫn cái khó nhẫn, hành cái khó hành. Những người tri và
đức thấp kém mà lòng thì khinh mạn, đâu có thể ghé mắt
trông vào chân thừa của đạo Phật; chỉ luống công cần
khổ mà thôi”.
Huệ
Khả bị xúc cảm sâu xa, và để chứng tỏ tấm lòng thành
khẩn mong được hỏi đạo lý của chư Phật, ngài dùng dao
bén cắt đứt cánh tay phải của mình, rồi mang đến dâng
trước Bồ Đề Đạt Ma đang ngồi yên lặng tư duy. Bấy giờ,
tổ sư nhận xét: “Đừng đi tìm cái (chân lý) này ở kẻ
khác”.
“Tâm
của tôi chưa được an. Xin tổ sư an cho”.
Bồ
Đề Đạt Ma nói: “Đem tâm ra đây ta an cho”.
Sau
một phút lưỡng lự, cuối cũng Huệ Khả thú nhận: tôi đã
tìm nó trong nhiều năm rồi mà vẫn chưa bắt được nó”.
Đại Huệ giải rằng: “Huệ Khả đã hiểu rõ tình cảnh
của mình sau khi đã học hết tất cả kinh điển và hay thay!
ngài đã trả lời thích đáng cho tổ sư. Ngài biết rõ là
đừng đi tìm “vật” vì một mục đích hay không mục đích;
đừng đạt đến bằng lời cũng không bằng suy nghĩ mà thôi;
không bắt bằng lý cũng không giải thích bằng vô lý. Nó
không ở đâu cả; đừng suy ra từ đâu hết; nó không ở
nơi năm uẩn, nơi người tám giới. Ngài đã trả lời khéo
léo bằng cách ấy”.
“Này,
Tâm của ngươi đã được an rồi đó”. Bồ Đề Đạt Ma
xác nhận.
Sự
xác nhận về phía tổ sư đã làm sáng mắt Huệ Khả. Đại
Huệ lại nhận xét: “Như rồng lặn xuống nước, như cọp
tựa vào đá. Ngay giây phút này, Huệ Khả không thấy có tổ
sư ở trước mặt, không có tuyết, không có cái tâm dong ruổi
theo vật, không có cả sự chứng ngộ mà tâm ngài sở đắc.
Tất cả đều tan biến khỏi tâm thức của ngài, tất cả
đều Không. Vì vậy có câu: “Sự cô liêu bao trùm ở đây,
không có mặt nào nơi Thiếu lâm tự”. Nhưng Huệ Khả có
ở mãi trong cái Không này chăng? Không, ngài đã đột nhiên
thức tỉnh một đời sống mới. Ngài đã buông mình trên
dốc thẳm, và kìa, ngài đã hoàn toàn sống lại từ sự chết.
Và rồi chắc chắn ngài cảm thấy hơi giá lạnh của tuyết
đang ngập lụt sân chùa. Lỗ mũi của ngài vẫn ở phía trên
môi như trước”.
Những
điểm đặc sắc mà tôi muốn ghi nhận nơi trường hợp của
Huệ Khả là: ngài là người học thức; không hài lòng với
sách vở mà muốn bắt nắm cái gì đó ở nội tâm; hết sức
nhiệt thành kiếm tìm chân lý sâu xa để an ổn tâm mình;
sẵn sàng hy sinh tất cả cho mục đích ấy; trải qua nhiều
năm cần khổ để định rõ cái gọi là tâm, vì cố nhiên.,
theo truyền thống, ngài nghĩ rằng có một cái “tâm” ở
giữa lòng hiện hữu của mình và khi mà bắt được tâm này
thì nguyện vọng sẽ thành tựu; mặc dù cuộc gặp gỡ giữa
Huệ Khả và Bồ Đề Đạt Ma được tường thuật giống
như biến cố trong một sớm một chiều, nhưng có thể là
qua nhiều ngày nhiều tháng, đã có biết bao điều lao tâm
khổ trí giữa cuộc gặp gỡ ấy và lời khuyên nhủ của
Tổ sư; câu nói “Tôi đã không bắt nổi tâm của mình[29]”
không phải chỉ là một lời bộc bạch sự tình, mà có nghĩa
rằng toàn thể sinh mệnh của Huệ Khả đã được buông xuống,
nghĩa là, ở đây ngài đã đi tới cùng đích của cuộc đời
mình như một hiện hữu cá biệt, luôn luôn ý thức về cá
biệt tính của riêng mình; ngài đã chết ngay trong lòng mình,
rồi khuyến cáo của tổ sư vô tình làm ngài sống lại có
thể thấy điều ấy từ ghi nhận như đã trích dẫn ở trên.
“Cô
liêu bao trùm ở đây, không có mặt nào trên thiếu lâm tự”.
Sự
cô liêu này là một cô liêu tuyệt đối trong đó không có
tương phản nhị biên giữa hữu và vô. Tiếng thét - vì đây
là một tiếng thét chớ không phải một câu nói – “không
bắt được tâm” sẽ không được thét lên nếu như chưa
đạt tới trạng thái cô liêu tuyệt đối. Và cũng chính do
sự chứng đắc này mà Huệ Khả có thể đứng lên trước
khuyến cáo của Bồ Đề Đạt Ma: “Tâm của người đã được
an rồi đó!”. Nếu chúng ta chú tâm theo dõi dòng biến cố
dẫn đến sự chứng ngộ của Huệ Khả, dĩ nhiên ở
đây chúng ta cũng nên bổ túc những thiếu sót vào tập ký
sự về cuộc đời của ngài. Quan điểm của chúng tôi sẽ
sáng tỏ hơn ở dưới đây.
2.
Trường hợp của Huệ Năng[30], nay được coi như là tổ thứ
sáu của Thiền tông Trung Hoa, cho thấy những tường phản
với trường hợp của Huệ Khả vì rằng Huệ Năng được
mô tả như một người bán hàng rong không học thức. Lối
tường thuật này rất thú vị vì nó nêu lên một khuynh hướng
rõ rệt giữa những thiền gia không có học thức và không
có đọc kinh. Tuy nhiên, trong trường hợp Huệ Năng, có một
bối cảnh lịch sử đặt ngài vào vị trì đối lập với
Thần Tú[31], một người được ghi nhận là có kiến văn
quảng bác. Thực tế, Huệ Năng không phải là một kẻ dốt
nát như các đệ tử của ngài muốn chứng tỏ; vì nhưng bài
thuyết pháp của ngài, chép trong Pháp Bảo Đàn Kinh, chứa
đựng nhiều dẫn dụ từ văn học Phật giáo. Tất cả những
điều mà chúng ta có thể nói về phương diện học thức
của ngài thì ngài không thông bác như Thần Tú. Theo sử chép,
kiến thức đầu tiên của ngài về Thiền xuất xứ từ Kinh
Kim Cương (Vajrachedikasutra). Trong lúc ngài gánh củi bán dạo,
một hôm may mắn nghe được một khách hàng đọc kinh này.
Việc ấy làm ngài cảm hứng và quyết định theo Ngũ tổ
Hoằng Nhẫn học Thiền. Khi đến tham bái, tổ sư hỏi :
“Nhà
ngươi ở đâu đến? Đến đây để làm gì ?”
“Tôi
là tên quê mùa ở Tân Châu đến, muốn làm Phật”. Tổ nói:
“Vậy ra nhà ngươi từ Lĩnh Nam tới; nhưng người phương
Nam không có Phật tính, sao nhà người lại mong thành Phật
được?”.
Huệ
Năng đối lời : “Người có Nam Bắc, nhưng Phật tính đâu
có phân biệt Bắc Nam?”
Nếu
Huệ Năng không hề có kiến thức sơ đẳng hay một kinh nghiệm
nào về đạo Phật, đâu có thể trả lời được như vậy.
Ở với Hoằng Nhẫn, ngài làm việc tại trù phòng của chùa,
như một người giã gạo chứ không phải là nhà sư thực
thụ, và cứ như vậy suốt tám tháng. Một hôm, Ngũ tổ muốn
chọn người thừa kế, ngài thử xem các đồ đệ của mình,
khoảng năm trăm người, đã lãnh hội giáo lý ra sao. Một
trong nhưng đồ đệ thông thái nhất là Thần Tú đã làm bài
kệ sau đây :
身
是 菩 提 樹
Thân
thị bồ đề thọ
心
如 明 鏡 臺
Tâm
như minh kính đài
時
時 常 拂 拭
Thời
thời thường phất thức
勿
使 惹 塵 埃
Vật
sử nhạ trần ai
Thân
như cây bồ đề
Tâm
như đài gương sáng
Ngày
ngày thường lau chùi
Đừng
để nhuốm bụi bặm
Huệ
Năng không bằng lòng và làm một bài khác viết lên bên cạnh
bài của Thần Tú:
菩
提 本 無 樹
Bồ
đề bổn vô thọ
明
鏡 亦 非 臺
Minh
kính diệc phi đài
本
來 無 一 物
Bổn
lai vô nhất vật
河
處 惹 塵 埃
Hà
xứ nhạ trần ai
Bồ
đề vốn không cây
Gương
sáng chẳng phải đài
Xưa
nay không một vật
Bụi
bặm bám vào đâu?[32]
Nếu
như chúng ta có thể quyết đoán, chỉ bằng vào những bài
kệ này, thì bài của Huệ Năng hoàn toàn phù hợp với tư
tưởng Tánh Không được giảng trong Kinh Bát Nhã (Prajnaparamita-sutra);
con bài của Thần Tú, có thể nói, chưa nắm trọn tinh thần
của Đại thừa Phật giáo. Như thế, ngay từ đầu, tâm trí
của Huệ Năng được mở rộng theo đường hướng tư tưởng
chỉ định trong Kinh Kim Cương (Vajracchedika-sutra) mà ngài đã
học được ngay trước khi đến tìm Hoằng Nhẫn. Thế nhưng,
hiển nhiên ngài không thể làm bài kệ ấy mà chẳng từng
tự mình kinh nghiệm chân lý của Tánh Không. Cảm hứng đầu
tiên ngài nhận được từ Kinh Kim Cương khiến ngài thể chứng
sự hiện tiền của một thứ chân lý vượt ngoài thế giới
hiện tượng này. Ngài đến với Hoằng Nhẫn, nhưng đòi hỏi
phải có một năng lực trực giác được tu luyện rất nhiều
mới thâm nhập nổi tinh thần của Kinh Bát Nhã, mà ngay cả
đến thiên tài của Huệ Năng, điều ấy cũng không thể
thành tựu quá dễ. Ngài phải công phu khó nhọc khi giã gạo
mới có thể đào xới nổi những bí ẩn của tâm mình.
Trong
tám tháng công phu chẳng phải chỉ để công phu mà thôi[33];
một biến chuyển tâm linh vĩ đại đã phát khởi trong tâm
trí của Huệ Năng. Rồi nhân đọc bài kệ của Thần Tú mà
ngài có cơ hội nói lên cái thấy nội tâm của mình. Bao nhiêu
học hỏi, thấy biết, dạy dỗ trước kia bây giờ đã chín
muồi và tột điểm trong bài kệ nói lên một cách sống động
cái kinh nghiệm của mình. Như vậy, Kinh Kim Cương trở thành
đời sống trong sinh mệnh của chính ngài. Nếu không thực
sự kinh nghiệm Kinh Bát Nhã, Huệ Năng đã chẳng thể nói
được gì cho nhà sư tên Minh, một trong những người đuổi
theo ngài sau khi ngài từ giã Hoằng Nhẫn. Khi Huệ Minh muốn
được tỏ ngộ, Huệ Năng bảo: “Đừng nghĩ đến thiện;
đừng nghĩ đến ác, mà ngay bây giờ hãy nhìn xem bản lai
diện mục của ngươi, trước khi nhà ngươi sinh ra là gì?”.
Những
điểm mà tôi muốn ghi nhận trong trường hợp của Huệ Năng
là:
a)
Ngài không phải một người học nhiều dù sự thực ngài
rất quen thuộc với nhiều kinh điển Đại thừa. Chác chắn
ngài không phải là một trong những học giả có thể viết
ra những chú giải khúc mắc và cận kẽ về các kinh luận.
Lý tưởng chính của ngài là nhập vào ý nghĩa chân thật
của kinh điển
b)
Quyển kinh đầu tiên lôi cuốn sự chú tâm của ngài là Kinh
Kim Cương, một quyển kinh phổ biến nhất đương thời. Kinh
này thuộc Bát nhã bộ. Nó không phải là một tác phẩm triết
học nhưng chứa đựng những chân lý tôn giáo sâu xa đối
với các thiện tài Phật giáo Ấn. Nhưng chân lý này được
diễn tả hơi khó hiểu đối với những tâm trí tầm thường,
vì luôn luôn có vẻ như mâu thuẫn lẫn nhau, nếu chỉ xét
về mặt nhất quán luận lý. Các tác giá của Kinh Bát nhã
không ngớt nhắc nhở độc giả đừng kinh sợ những lời
dạy vô cùng táo bạo này.
c)
Chú đích của Huệ Năng đến núi Huỳnh Mai là để học Thiền
và thở cái hơi thở của Kinh Bát Nhã, chứ không phải để
giã gạo hay đốn củi. Tuy nhiên, ngài đã tự mình tư duy
rất nhiều. Hoằng Nhẫn phải nhận thấy điều đó và thỉnh
thoảng dành cho ngài những khuyên bảo, hoặc riêng tư hoặc
giữa đại chúng, vì chúng ta không thể nghĩ rằng hết thảy
năm trăm môn đồ đều phải tự mình tìm hiểu ý nghĩa sâu
xa của Kinh Kim Cương hay Kinh Lăng Già, hay những kinh khác của
Thiền tông. Ngài phải thường xuyên giảng Thiền cho họ,
và trong thời gian này tâm trí của Huệ Năng trở nên chín
muồi.
d)
Có thể bài kệ của Thần Tú là cơ hội cho Huệ Năng đưa
ra ánh sáng tất cả những gì đang lẩn khuất trong tận cùng
tâm thức của mình. Ngài đã tìm kiếm sự thực tối hậu,
hay tự mình kinh nghiệm lấy ý nghĩa cứu cánh của Kinh Bát
Nhã. Bài kệ của Thần Tú, đi ngược lại ý nghĩa này, gây
nên trong nội tâm của Huệ Năng một kết quả tương phản
và mở ra một con đường chỉ thẳng vào Kinh Bát Nhã.
e)
Với Huệ Năng gốc rễ riêng biệt của Thiền bắt đầu trổi
đậy, nghĩa là, những gì từng là của Ấn bấy giờ thành
ra thuần túy Trung Hoa. Bởi Huệ Năng mà Thiền đã quen hơi
và bắt rễ vững chắc trong lòng đất Trung Hoa. Lối cư xử
của ngài đối với Minh và những bài giảng ở chùa Pháp
Tánh chứng tỏ cái đặc sắc của ngài
f)
Cái đặc sắc nhất với Huệ Năng và chi phái của ngài, khác
với Thần Tú, là sự chú trọng về đốn ngộ. Vì lý do đó
phái Thiền này được gọi là Đốn Giáo, ngược với Thần
Tú là Tiệm Giáo. Đốn giáo nảy nở ở phương Nam, Tiệm
giáo ở phương Bắc; vì sự phân phối theo địa dư này nên
có danh từ Nam tông và Bắc tông. Phương Bắc nghiêng về giá
trị học thuật và kỷ luật tu trì, còn phương Nam nhấn mạnh
năng chức trực giác của Bát nhã phát khởi đột nhiên –
“đốn” nghĩa là không qua trung gian của quá trình luận
lý.
Học
thuật là một bước tiến chậm chạp lê thê hướng về mục
đích; cả đến khi mục đích ấy được coi như thành tựu,
nó vẫn không vượt ngoài kiến thức khái niệm. Luôn luôn
có hai mẫu tâm trí: trực giác và suy lý. Mẫu trực giác,
thường được biểu hiện bởi những thiên tài tôn giáo,
không khứng chịu khuynh hướng duy niệm của học giả. Như
vậy, ngay từ buổi đầu, đốn giáo của Huệ Năng đã có
tranh chấp với tiệm giáo của Thần Tú, và sau này, với trào
lưu mặc chiếu của một số thiền sư đời Tống. Lịch sử
của Thiền cho thấy đốn giáo đại diện trung thành hơn cho
nguyên lý của ý thức Thiền đã được phát triển khá rõ
rệt ở Trung Hoa và Nhật Bản ngay từ thời Bồ Đề Đạt
Ma. Chính Huệ Năng đã chú ý đến nguyên lý đặc biệt này
của Thiền và không ngớt nhấn mạnh nó chống lối học kinh
và mặc tọa của các Thiền giả. Thực ra sự đối lập giữa
hai khuynh hướng này có mặt suốt trong lịch sử của Thiền.
3)
Đức Sơn Tuyên giám (780-865) nổi tiếng về lối vung gậy
cũng là người học Kinh Kim Cương trước khi quy đầu theo
Thiền. Khác với tiền bối của mình, tức Huệ Năng, ngài
học giáo lý của kinh điển rất nhiều và đọc rộng các
kinh sớ vậy, kiến thức về kinh Bát nhã của ngài có hệ
thống hơn Huệ Năng. Ngài nghe nói phái Thiền này xuất hiện
ở phương Nam, theo đó, một người có thể thành Phật nếu
nắm ngay được bản tính uyên nguyên của mình. Ngài nghĩ
đây không thể là lời dạy của chính đức Phật, mà là
của Ma vương rồi quyết định đi xuống phương Nam. Về phương
diện này, sứ mệnh của Ngài lại khác với Huệ Năng nữa.
Huệ Năng thì muốn thâm nhập tinh thần của kinh Kim Cương
dưới sự dắt dẫn của Ngũ tổ, còn ý tưởng của Đức
Sơn là phá hủy Thiền tông, nếu có thể. Cả hai đều học
kinh Kim Cương, nhưng cảm hứng của họ ngược chiều nhau.
Tâm trạng của Đức Sơn khiến ta nhớ lại thánh St. Paul khi
đi dưới mặt trời mùa hạ trên đường về Damacus.
Chủ
đích đầu tiên của Đức Sơn là đi tới Long đàm, nơi đây
có một thiền sư tên là Sùng Tín ở đấy. Trên con đường
đi lên núi, ngài dừng chân tại một quán trà và hỏi bà
chủ quán có cái gì điểm tâm. “Điểm tâm” trong tiếng
Hán còn có nghĩa là “chấm điểm tâm linh”. Thay vì mang
cho du tăng này nhưng đồ điểm tâm theo lời yêu cầu, bà
lại hỏi: “Thầy mang cái gì trên lưng vậy?”.
Ngài
đáp: “Những bản sớ giải của Kinh Kim Cương”.
“Thì
ra thế! Thầy cho tôi hỏi một câu có được không? Nếu thầy
mà trả lời trúng ý tôi thì xin đãi thầy một bữa điểm
tâm; nếu thầy chịu, thầy hãy đi chỗ khác”.
Đức
Sơn đồng ý.
Rồi
bà chủ quán trà hỏi như sau: “Trong kinh Kim Cương tôi đọc
thấy câu này: quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm
bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Vậy, thầy muốn
điểm cái tâm nào?”
Câu
hỏi bất ngờ từ một người đàn bà quê mùa có vẻ tầm
thường ấy đã hoàn toàn đảo lộn tài đa văn quảng kiến
của Đức Sơn vì tất cả kiến thức của ngài về kinh Kim
Cương cùng những sớ giải của kinh chẳng gợi hứng cho ngài
chút nào cả. Nhà học giả đáng thương này phải ra đi mà
chẳng được một bữa ăn. Không những chỉ có thế, ngài
còn phải vứt bỏ cái ý đồ táo bạo là khuất phục các
Thiền sư; bởi lẽ khi, mà chẳng làm được gì với bà chủ
quán nước bên đường thì mong gì mà khuất phục nổi một
Thiền sư thực thụ. Ngay trước khi gặp gỡ Long đàm Sùng
Tín, chắc chắn ngài đã phải xét lại xứ mệnh tự động
của mình.
Đến
khi gặp Long đàm Sùng Tín ngài nói: “Tôi có nghe người ta
nói nhiều về Long Đàm (cái đầm rồng); bây giờ thấy ra
thì chẳng có rồng cũng chẳng có đầm gì ở đây hết. Sùng
Tín trả lời ôn hòa: “Quả thực ông đang ở giữa Long đàm”.
Cuối
cùng Đức Sơn quyết định ở lại Long Đàm và theo học Thiền
với thiền sư này. Một buổi chiều, ngài ngồi ở ngoài thất,
lặng lẽ nhưng hăng say tìm kiếm chân lý. Sùng Tín hỏi: “Sao
không vào?”.Đức Sơn đáp: “Trời tối”. Tổ sư bèn thắp
một ngọn đuốc và trao cho Sơn. Lúc Sơn sắp sửa đón lấy
Tín thổi tắt mất. Nhân đó, tâm ngài đột nhiên mở rộng
trước chân lý của Đạo Thiền. Đức Sơn cung kính làm lễ,
và tổ sư hỏi: “Thấy gì ?”.
Đáp:
“Từ nay trở đi, chẳng còn chút nghi ngờ những thoại đầu
nào của lão hòa thượng nữa “.
Sáng
hôm sau, Đức Sơn mang ra tất cả những sách sớ giải về
kinh Kim Cương, mà ngài đã từng coi trọng và đi đâu cũng
mang theo, ném hết vào lửa và đốt thành tro.
Trường
hợp Đức Sơn cho thấy một vài đặc điểm rất khác với
những trường hợp trên kia. Đức Sơn không những chỉ giỏi
về Kinh Kim Cương mà cả nhưng ngành khác của triết học
Phật giáo nữa, như luận Câu xá (Abhidharma Kosa) và luận Du
già (yogacara). Nhưng ban đầu ngài chống đối Thiền quyết
liệt và chủ đích ra khỏi vùng đất Châu là để thiêu hủy
Thiền. Dù sao, đây cũng là động cơ điều động bề mặt
của tâm thức ngài; còn những gì trôi chảy trong chiều sâu
thì ngài hoàn toàn không ý thức đến. Định luật tâm lý
về sự tương phản chắc có thế lực và được tăng cường
chống lại động lực bề mặt khi ngài gặp một địch thủ
hoàn toàn bất ngờ dưới hình thức một chủ quán bán trà.
Lần đầu tiên đối đáp với Sùng Tín về Đầm Rồng (Long
Đàm), lớp vỏ chắc cứng của Tâm trí Đức Sơn bị đập
nát hoàn toàn, giải tỏa tất cả những thế lực ẩn nấp
sâu xa trong tâm thức của ngài. Rồi khi ngọn đuốc bỗng
dưng bị thổi tắt, tất cả những gì ngài đã từ chối
trước khi có biến cố này bây giờ được lấy lại vô điều
kiện. Đó là một đại biến toàn diện của tâm trí. Cái
đã từng được trân trọng này chẳng đáng bằng một cọng
rơm.
Về
sau, khi Đức Sơn trở thành một bậc thầy, ngài thường nói
với kẻ hỏi đạo: “Dù nói “được” nhà ngươi cũng
lãnh ba chục gậy, dù nói “không được”, nhà ngươi cũng
đã lãnh ba chục gậy”[34]. Một vị tăng hỏi: “Phật là
ai?”- “Phật là một lão tì-khưu bên trời tây”. “Giác
là thế nào?” Đức Sơn đập cho người hỏi một gậy và
bảo: “Đi ra khỏi đây; đừng có tung bụi quanh ta”. Một
thầy tăng khác muốn biết đôi điều về Thiền, nhưng Đức
Sơn nạt nộ: “Ta chẳng có gì mà cho, hãy xéo đi”.
Thế
là trái ngược với tất cả những gì đã từng xôn xao trong
tâm của Đức Sơn trước khi đến Long Đàm biết bao! Chẳng
cần có nhiều tưởng tượng mới thấy thứ cải cách tâm
tính nào đã xảy ra trong lòng Đức Sơn khi tiếp chuyện với
bà chủ quán trà, và nhất là khi ngồi bên thầy, bề ngoài
thì lặng lẽ mà bề trong thì sôi nổi đến quên cả bóng
tối gần kề.
6)
Lâm Tế (chết năm 866) là một môn đệ của Hoàng Bá, và
vị tổ của phái Lâm Tế. Kinh nghiệm Thiền của ngài biểu
dương một vài đặc điểm thú vị, đáng coi là chính thống
điển hình trong thời kỳ mà hệ thống công án của Thiền
chưa được lưu hành. Ngài từng theo Hoàng Bá học Thiền trong
nhiều năm, nhân khi vị thủ tọa hỏi: “Ông ở đây bao lâu
rồi?”
“Thưa,
ba năm".
“Ông
đã gặp thầy bao giờ chưa?” “Thưa chưa”.- “Tại sao
chưa?”- “Tại gì tôi không có câu nào để hỏi thầy”.
Vị thủ tòa bèn bảo: “Đi gặp thầy và hỏi yếu chỉ cho
đạo Phật là gì?”.
Lâm
Tế vâng lời bèn gặp Thầy và hỏi: “Yếu chỉ của đạo
Phật là gì?”. Hỏi chưa xong đã bị Hoàng Bá đập cho nhiều
gậy. Khi vị thủ tòa thấy ngài trở về liền hỏi thăm kết
quả cuộc gặp gỡ. Lâm Tế rầu rĩ nói: “Tôi hỏi thầy
và bị thầy đập cho nhiều gậy”. Nhà sư này khuyên ngài
đừng nản chí, cứ đi hỏi nữa. Lâm Tế gặp Hoàng Bá ba
lần, nhưng lần nào cũng bị đánh cả mà lâm Tế đáng thương
này vẫn không tiến bộ hơn. Cuối cùng, Tế nghĩ tốt hơn
là đi tìm thầy khác. Thủ tọa đồng ý. Hoàng Bá chỉ ngài
đến Đại Ngu. Khi Lâm Tế đến, Đại Ngu hỏi :
“Ở
đâu tới?” ,
“Ở
Hoàng Bá”
“Hoàng
Bá có dạy dỗ những gì?”.
“Nghĩa
Huyền này ba lần hỏi về yếu chỉ của Đạo Phật thì cả
ba lần đều lãnh đủ nhiều gậy mà chẳng được dạy gì
cả, chẳng biết tôi có lỗi gì?”
Đại
Ngu bảo: “Chẳng ai có thể tốt bụng hơn gã hòa thượng
hủ lậu đó, thế mà ngươi còn muốn biết mình có lỗi ở
đâu”
Bị
quở mắng như thế, Lâm Tế mới sáng mắt ra mà hiểu cái
lối xử sự có vẻ tàn bạo của Hoàng Bá, Ngài thốt lên
:
“Thế
ra Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có chi nhiều”[35]
Đại
Ngu nắm ngay lấy cổ áo của Lâm Tế và bảo: “Phút trước
nhà ngươi nói không hiểu nổi, bây giờ bảo chẳng có chi
nhiều. Thế nghĩa là gì?”
Lâm
Tế không nói một tiếng, tặng cho cạnh sườn của Đại
Ngu ba thoi. Đại Ngu gở ra và bảo: “Thầy ngươi là Hoàng
Bá. Việc này chẳng can gì đến ta”.
Lâm
Tế trở lại với Hoàng Bá. Bá hỏi:
“Sao
lại về nhanh thế!”
“Vì
thầy quá tử tế như bà nội”.
Hoàng
Bá nói: “Đợi khi nào gặp gã Đại Ngu ấy, ta cho gã hai
chục gậy”.
Lâm
Tế đáp: “Khỏi cần gặp. Có ngay đây”. Vừa nói vừa
vỗ cho lão hòa thượng một chưởng thật nặng.
Lão
hòa thượng cười ha hà.
Điều
lôi cuốn sự chú ý của chúng ta trong trường hợp này là
sự im lặng của Lâm Tế trải qua ba năm, không biết hỏi
Thầy cái gì. Tôi thấy đây thật là hết sức quan trọng.
Há không phải ngài đến để học Thiền với Hoàng Bá? Nếu
vậy trước khi Thủ tòa khuyên đi gặp Thầy, ngài làm gì?
Tại sao ngài chẳng biết hỏi Thầy cái gì? Sau hết, cái gì
khiến ngài thay đổi hoàn toàn sau khi gặp Đại Ngu? Theo ý
tôi, ba năm theo Hoàng Bá của Lâm Tế đã trôi qua một cách
oan uổng trong cố gắng bắt nắm nó - chân lý cứu cánh của
Thiền, bằng suy tưởng. Ngài hoàn toàn biết rõ rằng không
thể lĩnh hội Thiền bằng phương tiện ngôi từ hay bằng
phân biệt tri thức, thế mà vẫn cố tự chứng bằng suy tưởng.
Ngài đã không hiểu rằng thực sự mình đang săn đuổi cái
gì đây hay phải hướng những nỗ lực tâm trí vào đâu.
Quả thực, nếu ngài đã biết rõ “cái gì” và “ở đâu”
này, chắc chắn ta có thể nói ngài đã có sở đắc rõ rệt,
và một người mà có cái sở đắc rõ rệt thì sự lãnh hội
chân chính về Thiền nào có xa xôi gì.
Chính
trong tâm trạng xao động này, khi lang thang vô định trong cuộc
hành trình tâm linh của mình, mà nhà sư thủ tòa do kinh nghiệm
nhận thấy rằng đã đến lúc có thể có một lời khuyên
bảo hợp thời đối với kẻ săn đuổi chân lý mòn mỏi
này. Nhà sư chỉ đường cho Lâm Tế nhờ đó mà ngài có thể
bước tới mục đích thực sự. Khi Tế bị Hoàng Bá đối
xử một cách thô bạo, ngài không ngạc nhiên, không phẩn
nộ; chỉ có điều là chẳng hiểu nổi những cây gậy trỏ
vào cái gì nên mới lo rầu. Trên đường đến Đại ngu ngài
phải suy nghĩ đề án này bằng cách điều động tất cả
khả năng tâm trí của mình. Trước khi được khuyên nên hỏi
Thầy về chân lý tối hậu của Phật pháp, tâm trí rối loạn
của ngài vươn tới một cái gì để bám lấy; đôi tay ngài
tợ hồ vươn ra khắp mọi phía hầu nắm lấy một cái gì
trong bóng tối. Trong tình cảnh tuyệt vọng đó, một ám thị
hiện đến dưới hình thức “ba chục hèo” và nhận định
của Đại Ngu về “gã hòa thượng hủ lậu tốt bụng”
cuối cùng đã dẫn Lâm Tế nắm lấy cái vật ma những ám
thị trỏ vào đấy. Nếu không có ba năm cần khổ tâm, lao
động tinh thần và luống công săn tìm chân lý, sự khủng
hoảng này có thể không bao giờ đạt tới được. Với nhiều
ý tưởng xung đột ấy, chúng ràng buộc với những màu sắc
khác nhau của cảm giác, chúng được hỗn hợp, nhưng đột
nhiên cuộn chỉ rối gỡ ra và được sắp xếp lại trong
một trật tự mới mẻ và nhịp nhàng.
NHỮNG
YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KINH NGHIỆM THIỀN
Từ
những điển hình trên đây, được lựa chọn tùy hứng trong
buổi đầu lịch sử của Thiền tông Trung Hoa, tôi. muốn nhận
xét những sự kiện chính yếu sau đây về kinh nghiệm Thiền:
1) có một trang bị trí năng căn bản để làm chín muồi ý
thức Thiền; 2) có một nỗi khát khao mãnh liệt muốn siêu
việt chính mình, như thế có nghĩa là một Thiền gia chân
chính phải ước mong vượt ìên những giới hạn bao quanh
mình để làm thành một sinh mệnh cá biệt; 3) ở đây thường
có một minh sư dắt dẫn và mở ra đường đi cho tâm hồn
đang phấn đấu; và 4) từ trong khu vực khôn dò xảy ra một
cuộc đảo ngược toàn diện, và được gọi là “Ngộ”.
1)
Bảo rằng nội dung của kinh nghiệm Thiền phần lớn là trí
năng, điều đó có thể nhận thấy dễ dàng; và nó cũng cho
thấy rõ một khuynh hướng vô thần hay phiếm thần, nếu có
thể áp dụng nhưng từ ngữ thần học ở đây, dù là hết
sức dè dặt. Khi Bồ Đề Đạt Ma nói: “Hãy mang tâm đến
ta an cho” hay Huệ Năng: “Đừng nghĩ đến thiện, đừng
nghĩ đến ác, mà hãy nghĩ, ngay bây giờ, bản lai diện mục
của ngươi là gì?”, hoặc Nam Nhạc: “Nếu nói là một vật,
tức không trúng”; Mã Tổ: “Ta sẽ nói cái đó là gì, bao
giờ nhà ngươi uống một hớp hết cả nước của Tây giang”
- tất cả nhưng lời này điển hình là những lời không tình
cảm, “không tôn giáo”, chỉ có thể nói chúng là những
lời vô cùng bí ẩn, và gần như là lời của trí thông minh.
Dĩ nhiên, không nói theo ý nghĩa chuyên môn. So sánh với những
diễn tả của Thiên chúa giáo như “vinh danh chúa”, “tình
yêu chúa”, “hôn phối thần thánh”, v.v… kinh nghiệm Thiền
có vẻ bị lột bỏ hết những xúc cảm của con người. Trái
lại, nơi Thiền có một cái mà người ta có thể gọi là
sự hiển nhiên lạnh lùng của khoa học, hay sự thật trần
truồng. Như thế trong ý thức Thiền, chúng ta có thể nói,
không có cái gì tương đương với sự nhiệt tâm của Thiên
chúa giáo, vì ở đây vắng bóng một Thượng đế có nhân
cách.
Các
môn đệ Thiền bên ngoài như chẳng bận tâm đến những là
“phạm tội”, “ăn năn”, “tha thứ”, v.v... Tâm tình
của họ hẳn là một mẫu siêu hình, nhưng thứ siêu hình
học của họ không có những bản thể trừu tượng, sắc
bén luận lý phân tích chi ly, mà chỉ có cái trí tuệ thực
tiễn và những sự thật cụ thể. Đó là chỗ hoàn toàn khác
nhau giữa Thiền tông Trung Hoa và Thiền của Đại thừa Ấn
Độ. Như đã nói, Huệ Năng thường được coi là người
đặc biệt thất học, nhưng tâm trí của ngài phải có chất
siêu hình mới nắm trọn kinh Kim Cương dẫy đầy những quyết
đoán siêu hình vô cùng sâu xa. Khi ngài đã thấu hiểu kinh
Bát Nhã, cái chân lý mang chất siêu hình rất cao trong đó
được xoay chuyển thành vấn đề thực tiễn: “bản lai diện
mục của bạn trước khi sinh ra”, và câu nói của Mã Tổ:
“uống một hớp cạn hết Tây giang” v.v...
Các
Thiền sư nhất định có nghiên cứu triết lý, nói theo nghĩa
rộng, triết Phật và triết khác, trước khi các ngài hướng
tâm vào Thiền; đó là điều có ý nghĩa. Ở đây tôi nói
“triết lý đạo Phật” nhưng không phải triết theo nghĩa
hẹp, vì nó không phải là kết quả của suy lý; nhất là
một học thuyết như Tánh Không, hoàn toàn không do trí lực
tư duy, mà là sự phát biểu của một trí giác trực khởi
trong đó tâm trí nắm lấy bản tính chân thật của hiện
hữu không qua trung gian luận lý. Đó là cung cách phát biểu
“NHẤT THIẾT PHÁP KHÔNG” (Sarvadharmanamsunyata).
Nhưng
ai chỉ nghiên cứu đạo Phật theo phương diện “siêu hình”
của nó đều quên rằng siêu hình học của đạo Phật không
gì khác hơn là một tuệ giác sâu xa căn cứ trên kinh nghiệm
chứ không phải là sản phẩm của phân tích trừu tượng.
Do đó, khi một kẻ thực tâm truy tầm chân lý nghiên cứu
những kinh như Lăng Già (Lankavartara) hay Kim Cương (Vajracchedika),
người ấy không thể khinh suất đối với những quyết định
táo bạo và tuyệt đối ở đây; sự thực y bị choáng váng,
rút lui hay khiếp sợ. Nhưng đây còn có một năng lực lôi
cuốn y dù y cố gượng. Y bắt đầu suy nghĩ về chúng, rồi
muốn tiếp xúc với chính chân lý, sau hết y thấy mình đã
nhìn sự thật bằng đôi mắt riêng của mình. Những sách
vở thông thường về triết lý chẳng đưa ai đến trực giác
này vì chúng chỉ là triết học không hơn không kém; bất
cứ chân lý nào mà triết lý rao giảng đều vô hiệu, chẳng
thể mở ra cho người học một cái nhìn mới mẻ. Nhưng khi
người ta nghiên cứu kinh Phật, chúng chứa đựng các lời
lẽ của những tâm hồn sâu sắc nhất của tôn giáo, người
ta được lôi cuốn hướng vào trong những tàng ẩn sâu của
tâm thức; cuối cùng họ mới tin chắc rằng những lời lẽ
ấy quả thực giao tiếp với căn cơ của thực tại.
Cái
mà người ta nghĩ hãy đọc, luôn luôn được quy định bằng
giới từ “về”, nó không đưa cho ta bản thân của sự
vật. Không phải chỉ nói suông về nước, chỉ thấy suông
về suối, mà phải uống thật sự mới thỏa mãn hoàn toàn
cơn khát. Nhưng nếu mới làm quen với các kinh này thì cần
phải thấy con đường được chỉ điểm và phải biết tìm
kiếm bản thân của sự vật ở nơi nào. Không có chỉ điểm
này hẳn là chúng ta không thể biết tập trung nhưng nỗ lực
của mình như thế nào và ở đâu. Vì vậy, kinh nói: “Ta
vừa là đạo sư vừa là chân lý”.
Như
vậy chúng ta có thể thấy rằng cái hành tích đưa tới kinh
nghiệm Thiền không phải là sự tôn thờ, tuân phục, sợ
hãi, yêu thương, tin tưởng, nhẫn nại hay bất cứ cái gì
thường là đặc sắc cho một tâm hồn của con chiên ngoan
đạo; nhưng đó là cuộc tìm kiếm những gì mang lại thanh
bình và hòa điệu của tâm hồn bằng cách chế ngự những
mâu thuẫn và nối kết những cuộn chỉ rối lại thành một
đường thẳng liên tục Bất cứ ai khao khát Thiền đều cảm
thấy có cái khát vọng liên tục và kịch liệt này đối
với sự thanh bình và sung mãn của tâm hồn. Thường thường,
y tìm cách để thấu hiểu - bằng trí lực - về bản thân
và về thế giới, nhưng điều ấy nhất định không làm y
thỏa mãn hoàn toàn được, và y cảm thấy bị thôi thúc đi
sâu vào nữa hầu để cuối cùng đi tới căn cơ kiên cố
của thực tại.
Điển
hình như Đức Sơn, khi nghiên cứu kinh Bát Nhã, rồi nắm lấy
Tánh Không bằng khái niệm và lấy thế làm hài lòng, nhưng
khi nghe nói đến học thuyết ở phương Nam thì sự thanh bình
của mình bị xáo trộn. Động lực bên ngoài thúc đẩy ngài
đi xuống phương Nam là để đập tan ngụy Thiền, nhưng chắc
chắn trong lúc ấy, ngài cũng cảm thấy có sự bất an ẩn
nấp sâu trong tâm thức mình dù bề ngoài thì quả quyết trấn
áp cảm giác này bằng suy luận. Thế rồi hỏng, vì cái mà
ngài muốn đè bẹp đột nhiên ngóc đầu dậy - có lẽ đấy
là nỗi phiền muộn không cùng - khi ngài bị bà chủ quán
trà thách thức. Cuối cùng ở Long Đàm, ngọn đuốc bị thổi
tắt đặt ngài vào nguyên xứ của mình từ khởi thủy. Quả
tình, ngài chưa từng có một ý tưởng nào đối với cái
chung cục này, bởi vì không ai có thể có tiên liệu nào trong
kinh nghiệm của Thiền. Từ đó, nghĩa là sau khi đạt tới
tuệ giác của Thiền, ngài nghĩ cách vung gậy là điều duy
nhất hướng dẫn môn đồ của mình đi vào kinh nghiệm của
Thiền.
Ngài
không bao giờ cầu nguyện, sám hối, không bao giờ tu tập
nhưng gì thông thường gọi là những hành vi tôn giáo[36];
bởi vì, lễ Phật[37] , cúng dường Xá lợi, tụng đọc kinh
điển, và niệm Phật[38]- những thứ này mà được thực
hành chỉ vì chư Phật đã từng thực hành, và hiển nhiên,
chẳng vì một lý do nào khác. Thái độ ấy của Thiền sư
được chứng thực bằng những nhận định của Hoàng Bá[39]
khi được hỏi về lý do của nhưng hành vi sùng đạo.
2)
Cái công phu[40] khốc liệt vừa kể là thế lực điều động
ý thức Thiền. “Hãy cầu xin vì người sẽ được cho; hãy
tìm kiếm vì ngươi sẽ thấy; hãy gõ cửa vì ngươi sẽ được
mở. Đây cũng là huấn thị thực tiễn dẫn tới kinh nghiệm
của Thiền. Nhưng vì cầu xin và tìm kiếm ấy hoàn toàn là
chủ quan và các ký sự của Thiền không nói nhiều về phương
diện này, nhất là những trong giai đoạn đầu của lịch
sử Thiền, do đó, tầm quan trọng của nó phải suy tư những
cơ duyên khác nhau về kinh nghiệm. Có thể thấy nơi Huệ Khả
sự hiện diện và nhiệt tình của tinh thần săn đuổi tìm
tòi này, khi truyền thuyết nói ngài đứng mãi ngoài tuyết;
khát vọng học hỏi chân lý của thiền ở đây thật là vĩ
đại. Những tác giả về tiểu sử của Huệ Năng chú trọng
đến sự thiếu học của ngài, coi nặng bài kệ thuyết về
“Tánh không” của ngài, và quên nói đến đời sống nội
tâm của ngài suốt trong những tháng làm việc giã gạo. Cuộc
hành trình dài và nguy hiểm của ngài từ phương Nam đến
chùa Hoằng Nhẫn phải là một ý đồ to lớn vào thời bấy
giờ, nhất là khi chúng ta biết rằng ngài chỉ là một gã
dân quê nghèo nàn. Tiểu sử chép ngài có đọc hay nghe kinh
Kim Cương; điều đó chắc chắn phải làm sôi động một
khát vọng vô cùng mãnh liệt trong ngài là muốn hiểu thực
sự trọn ý nghĩ của kinh. Nếu không, ngài chẳng dám thực
hiện cuộc hành trình đầy mạo hiểm như thế; vả vậy,
những lúc làm việc tại trù phòng tâm trí ngài phải ở trong
một trạng thái phấn khích dữ dội, hết sức hăng hái lăn
mình vào cuộc săn đuổi chân lý.
Trong
trường hợp Lâm Tế, đến việc hỏi thầy cái gì cũng chẳng
biết. Nếu đã biết, mọi việc chắc sẽ xảy ra dễ dàng
hơn. Ngài chẳng biết mình có lỗi lầm nào đó, vì cảm thấy
không bằng lòng với chính mình; tìm kiếm một thực tại
xa lạ mà không biết nó là cái gì. Nếu biết rõ, thì đã
có giải đáp rồi. Tâm trí ngài như một dấu hỏi to tướng
chẳng đặt vào đâu nhất định; tâm như thế nào.. thế
giới như thế ấy; cũng như dấu hỏi không dính vào đâu
cả, cũng thế, chẳng có gì xác định bất cứ ở đâu.
Phải
qua một thời gian dài vô cùng tuyệt vọng mới ra khỏi bóng
tối như thế. Quả thực, đây chính là tâm trạng khiến cho
Lâm Tế không biết nên hỏi Thầy điều gì. Về phương diện
này, không giống Huệ Năng đã có sẵn một vấn đề nhất
định để giải đáp ngay trước khi đến tìm Hoằng Nhẫn;
đó là vấn đề lãnh hội kinh Kim Cương. Tâm trí của Huệ
Năng có lẽ đơn giản và rộng rãi hơn, còn Lâm Tế, cũng
như Huệ Khả, có thể nói đã “nhuộm” sẵn màu sắc trí
thông minh; và cả hai đều cảm thấy có một nỗi bất an
nào đó của tâm trí, duy chỉ không biết làm sao tháo gở
những rối rắm do chính cái học của mình đã làm cho tệ
hại. Lúc vị thủ tòa dạy Lâm Tế hỏi Thấy về “yếu
chỉ của Phật pháp”, quả thực đây là đã trợ giúp rất
nhiều, vì bấy giờ Lâm Tế có chỗ tựa hẳn hòi. Nỗi bất
an thường xuyên của người được đặt vào điểm sắc bén,
nhất là lúc lãnh đủ “ba chục gậy”.
Trái
cây thao thức đã chín muồi và sẵn sàng rụng xuống đất.
Chấn
động cuối cùng - phải nhận đây là một chấn động rất
khốc liệt - đã được Hoàng Bá gây ra. Giữa chấn động
này và lúc rụng hẳn xuống với Đại Ngu, dấu hỏi của
Lâm Tế trỏ vào một sự thực cụ thể duy nhất, nơi đây,
cả ba năm cần khổ được tập trung cao độ. Không có sự
tập trung ấy ngài đã chẳng thể thốt lên “Phật pháp của
Hoàng Bá không có chi nhiều”
Cũng
nên nói vài lời về tự kỷ ám thị, nó thường pha trộn
với kinh nghiệm của Thiền. Trong tự kỷ ám thị, không có
hành tích của trí thông minh, không có việc tìm kiếm ráo
riết kèm theo một cảm giác sắc bén về nỗi bất an. Trong
tự kỷ ám thị, một mệnh đề xác định được nêu lên
cho chủ thể, được y chấp nhận một cách tuyệt đối và
thành tâm. Y có ngay trước mắt một kết quả cụ thể mà
y mong ước làm phát sinh trong mình bằng cách chấp nhận mệnh
đề ấy. Ở đây, ngay từ đầu mọi sự đã được xác định,
tiên quyết và chỉ thị rồi .
Trong
Thiền, có một cuộc tìm tòi, của trí thông minh, về chân
lý tối hậu, mà trí lực không thỏa mãn nỗi: chủ thể bị
bắt buộc phải lặn sâu nữa, dưới những lớp sóng của
tâm thức thường nghiệm. Điều này gặp phải những khó
khăn vì y chẳng biết lặn thế nào và lặn ở đâu.
Y hoàn
toàn mù tịt, chẳng biết làm sao để tiến tới, kịp khi,
chẳng hiểu làm sao y đột nhiên đụng vào cái chốt mở ra
một chân trời mát mẻ. Tình trạng bế tắc tâm lý này, kèm
theo cái việc “đập cửa” liên tục, bất đoạn và quả
quyết là một giai đoạn tối cần thiết đưa tới kinh nghiệm
của Thiền.
Ở
đây người ta có thể thấy có một thứ tâm lý tự kỷ ám
thị, được hiểu theo một tiến trình cơ giới, nhưng toàn
bộ tiến trình mà cơ giới tâm lý tựa vào hoàn toàn khác
hẳn với những gì mà người ta biết đến, theo từ
ngữ này.
Cuộc
tìm tòi có tính chất siêu hình, được coi như một hành tích
trí năng của tâm thức Thiền, mở ra một giai đoạn mới
mẻ trong cuộc đời của Thiền giả. Công cuộc tìm tòi này
kèm theo một cảm giác mãnh liệt về nỗi bất an; hoặc có
thể nói, trên phương diện trí năng, cảm giác này được
giải thích như là một cuộc tìm tòi. Dù trên phương diện
cảm xúc, cuộc tìm kiếm này là một trạng thái bất ổn,
hay dù sự bất ổn này, trên phương diện trí năng, là một
cuộc săn đuổi cái gì xác định - cả hai trường