LUẬN
HAI
MẬT
TRUYỀN CỦA BỒ ĐỀ ĐẠT MA
HAY
NỘI DUNG CỦA KINH NGHIỆM THIỀN
Tính
cách lịch sử của Bồ Đề Đạt Ma đôi khi bị nghi ngờ;
nhưng đối với Thiền, vấn đề không hệ trọng. Thiền hài
lòng với những quan điểm lịch sử cho rằng thiền quả có
khởi thủy ở Trung Hoa; bắt đầu với một vị tôn sư nào
đó ngài từ Ấn Độ mang mật chỉ tâm truyền đến cho những
Phật từ Trung Hoa đương thời; và đây không phải là một
thông điệp bình thường khả dĩ truyền trao bằng ngôn ngữ
hay văn tự. Tất cả những truyền thuyết hay ký sự về Bồ
Đề Đạt Ma trong lịch sử của thiền tông hay của Phật
giáo có thể không hẳn là những sự kiện thực tế; những
điều này có thể cho phép các sử gia khảo cứu theo phương
pháp riêng biệt của họ; nhưng vấn đề quan hệ của những
người học thiền là: thông điệp của Sơ Tổ Thiền tông
là gì? đây là chủ đề của Luận Hai này.
“Ý
chỉ của Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn sang Tàu là gì?”. Đây
là một trong những câu hỏi thường được các Thiền sư
nhắc đến và tạo thành một trong những đề tài trọng yếu
nhất học của Thiền. Tuy nhiên, câu hỏi chẳng chút dính
dáng đến biến cố lịch sử Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ
sang Trung Hoa, tức ý nghĩa lịch sử của Bồ Đề Đạt Ma
trong Phật giáo Trung Quốc.
Sử
chép, ngài cập bến Nam Hải vào niên hiệu Phổ thông nguyên
niên (520). Nhưng câu hỏi không can hệ đến sự kiện này.
Thiền vượt lên những đối đãi thời không và đương nhiên
vượt lên mọi sự kiện lịch sử. Các môn đệ Thiền tạo
thành một nhóm đơn nhất của những người chủ trương siêu
nghiệm. Khi họ hỏi về việc Bồ Đề Đạt Ma lần đầu
tiên đến Trung Hoa, bản ý là thâm nhập đạo lý nội tại,
nếu có, của pháp môn riêng biệt của ngài, vốn được coi
như là pháp môn tâm truyền. Bởi vì đâu có rất nhiều đại
sư và học giả Phật giáo từ nước ngoài đến Trung hoa trước
Bồ Đề Đạt Ma, họ thảy đều thông thái, từ tốn, và
đã phiên dịch nhiều tác phẩm Phật học sang tiếng Trung
Hoa; có người còn là tay lão luyện cỡ lớn về thiền định
và đã thực hiện những hành vi kỳ diệu gây xúc động đến
các quỷ thần vô hình vốn thường cư ngụ trên khắp xứ
Trung Hoa trong những thời đại xa xưa này. Nếu không vì mục
đích khá rõ rệt nào đó đặc cách phân biệt ngài với những
người trước ngài, có lẽ sự xuất hiện của Bồ Đề Đạt
Ma ở Trung Hoa chẳng cần thiết cho lắm. Vậy, thông điệp
của ngài là gì? Ngài mang sứ mệnh nào đối với dân tộc
Viễn Đông?
Về
điểm này, Bồ Đề Đạt Ma không hề hé môi nói rõ; ngài
chỉ có việc biến khỏi thế gian, trải qua chín năm dài theo
như truyền thuyết, hoàn toàn lánh mình trên núi Tung sơn trong
cương thổ nhà Ngụy. Nếu ngài đã mang đến cho các Phật
tử Trung Hoa một thông điệp nào đó về chân lý của đạo
Phật, đấy phải là cái độc nhất vô nhị và khác thường.
Lý do nào khiến ngài tuyệt đối ẩn thân? Ýnghĩa của pháp
môn im lặng này là gì?
Có
lẽ một khi những câu hỏi này được thấu triệt, Phật
giáo chừng như khơi mở kho tàng bị vùi lấp nào đó, vốn
dĩ không thể diễn bằng lời, luận bằng lý. Vì vậy, câu
hỏi: “Ý chỉ của Bồ Đề Đạt Ma từ Tây lại là gì?”
chỉ thẳng vào mặt mày của một chân lý nội tại và huyền
vi nằm trong thể hệ của Phật giáo. Nó đề cập đến điểm
này: tinh yếu của đạo Phật là gì trong tri kiến của Sơ
Tổ Phật giáo Thiền tông?” Trong Phật giáo, có cái vốn
không thể tỏ bày và dẫn giải ở các kinh điển được
kết tập thành Tam Tạng (Tripitaka) và được phân thành Chín
hoặc Mười hai Phần giáo? Vắn tắt đạo của Thiền là gì?
Do đó, tất cả mọi giải đáp được đưa ra cho câu hỏi
vô cùng trọng yếu này đều là nhưng đường lối rất khác
nhau trỏ vào chân lý rốt ráo.
Nếu
như theo sử truyện ghi chép còn tồn tại, câu hỏi hình như
được đề khởi lần đầu tiên vào hậu bán thế kỷ XVII,
tức khoảng 150 năm sau khi Bồ Đề Đạt Ma đến, nhưng ý
tưởng đã có trước đó một thời gian, trong hình thức rút
ngắn. Khi Lục tổ Huệ Năng thiết lập phái Thiền khả dĩ
gọi là nguyên quán Trung Hoa tương phản với Thiên ấn Độ
của Sơ Tổ, các Phật tử Trung Hoa hẳn phải nhận ra ý chỉ
truyền tâm của các Tổ sư Thiền. Rồi từ đó, câu hỏi
“Ý chỉ của Sơ Tổ từ Tây lại là gì?” đương nhiên
trở thành một trong những đề tài có ý nghĩa thất mà các
môn đệ Thiền phải thảo luận.
Những
người đầu tiên hỏi về ý chỉ của Đạt Ma Đông du ]à
Thản Nhiên và Hoài Nhượng theo Truyền đăng lục. Họ, vào
hậu bán thế kỷ VII, đến với Huệ An Quốc sư và hỏi:
“Ý
Tổ sư Tây lại là gì ?”
Sư
đáp: “Sao không hỏi ý của tự mình là gì ?”
Thưa:
“Ýcủa tự mình là gì ?”
“Nên
quán tác dụng mật”
“Tác
dụng mật là gì ?”
Sư
chỉ mở mắt và nhắm mắt, thay cho lời giảng giải.
Người
kế tiếp, theo truyện ký, có lẽ một nhà sư nào đó, đến
kiếm Huyền Tổ ở Hạc lâm, khoảng đầu thế kỷ VIII, và
câu hỏi của ông được trả lời rằng: hiểu tức chẳng
hiểu. Nghi tức chẳng nghi”. Lúc khác, câu trả lời của
ngài là: “Chẳng hiểu chẳng nghi, chẳng nghi chẳng hiểu”.
Còn
trong những trường hợp khác, những giải đáp của các Thiền
sư về câu hỏi cho thấy tính chất đa dạng vô cùng khiến
cho kẻ sơ cơ rối trí. họ chẳng biết còn có cách nào khả
dĩ nhìn thấu cái tinh yếu của nó qua trận đồ tư tưởng
này. Phiền nhất là tinh chất đa dạng của các giải đáp
cứ gia tăng trọng khi câu hỏi cứ được lặp lại thường
xuyên, bởi vì không có vị sư tổ nào cùng đưa ra một giải
đáp như nhau nếu xét theo văn tự; thực vậy, nếu họ cũng
trả lời như nhau, hẳn là Thiền tông chẳng tồn tại lâu
dài đến nay. Tuy nhiên cái đặc sắc và cá biệt, như được
chứng tỏ bởi các sư tổ, thay vì soi sáng vấn đề, gây
phức tạp kỳ cùng cho nó.
Nhưng
nếu xét kỹ các câu giải đáp, sắp xếp chúng vào một số
chủ đề; không phải là việc quá khó. Dĩ nhiên, sự phân
loại này không có nghĩa rằng cái tính chất khó hiểu nhờ
đây mà bớt khó hiểu; mà chỉ có thể giúp người học đến
một mức nào đó, tất nhiên là nhiều thận trọng, khả dĩ
tìm thấy một vài chỉ dẫn nhắm tới chiêu hướng của thông
điệp Thiền.
1.
Trường hợp lấy một vật gần đó để trả lời cho câu
hỏi. Thiền sư, khi được hỏi, có thể đang làm công việc,
hay đang nhìn ra cửa sổ, hay lặng lẽ ngồi tư duy, và rồi
giải đáp của ngài có thể nhắc đến những vật như thể
có liên hệ đến việc làm của ngài lúc bấy giờ. Vì vậy,
ngài có thể nói bất cứ điều gì, bằng những cơ duyên
như thế, cái đó không phải là một lối đoán ngôn trừu
tượng đặt vào một vật được lựa chọn tùy ý để thuyết
minh quan điểm của mình. .
Thí
dụ, Ngưỡng Sơn hỏi, và Qui Sơn đáp: “Cái lồng đèn đẹp
quá ha!” Có lẽ lúc bấy giờ ngài đang nhìn cái lồng đèn,
hay lồng đèn ở gần họ nhất nên thiền sư coi là ứng cơ
nhất đáng được dùng cho mục đích hiện tiền. Trường
hợp khác cùng câu hỏi nhưng không cùng câu trả lời, tất
nhiên ngài thấy nên khai thị Thiền theo cách khác thích hợp
hơn. Đây là chỗ Thiền khác với nhưng luận chứng thuần
lý của Triết gia.
Câu
trả lời của Triệu Châu là: “Cây bách trước sân”, và
của Phần dương Thiện Chiếu: “Cây quạt
lụa xanh mát quá chừng”. Mối tương quan giữa vịệc Đông
du của Tổ sư Thiền với những vật như lồng đèn, cây bách,
quạt lụa xern chừng rất xa vời, và những giải đáp nay
gây khả năng tưởng tượng của chúng ta làm việc đến mức
chót của nó. Nhưng đây là điều đòi hỏi kẻ học Thiền
phải tìm thấy; bởi theo các sư tổ này, một khi hiểu được
cây bách trước sân, thì hiểu được lý tánh của Phật giáo
Thiền tông, và khi hiểu được lý tánh của Phật giáo Thiền
tông, thì sẽ hiểu ra mọi cái khác, nghĩa là tất cả tính
cách đa dạng của các giải đáp được ghi lại dưới đây
sẽ được hiểu gần trọn vẹn. Một sợi dây quán xuyến
108 hạt chuỗi là đấy.
2.
Trường hợp những phán đoán đặt ngay vào chính câu hỏi
hay vị thế của người hỏi.
Đại
Mai Pháp Thường trả lời chắc nịch:
“Chẳng
có ý chỉ gì trong việc Tây lại của ngài hết.”
Mục
châu Đạo Tung: “Ta không có trả lời”.
Lương
sơn Duyên Quán: “Đừng nói bậy”.
Cửu
Phong Phổ Mãm: “Ích gì mà hỏi kẻ khác?”
Báo
Minh Đạo Thành: “Ta chưa từng đến Tây thiên”
Nam
Nhạc Tư: “Ở đây lại mọi người nữa bước theo lối
cũ”.
Bản
giác Thủ Nhất:”Như bán nước bên bờ sông”.
Bảo
Ninh Nhân Dũng: “Như thêm sương vào tuyết”.
Long
Nha Cư Tuần: “Đấy là câu hỏi rất khó trả lời”.
Thạch
Đầu Hi Thiên: “Hãy hỏi cây cột đang đứng trơ ra đấy”.
Khi thầy tăng đang ngờ hỏi này không hiểu câu trả lời
ấy, ngài bảo: “Ta còn mù tịt hơn cả ngươi”.
Kinh
Sơn Đạo Khâm: “Câu hỏi của ngươi không đúng chỗ”.
Tăng
hỏi: “Phải làm sao mới đúng chỗ?”
Cái
lối đúng chỗ của ngài là: “Sau khi chết ta sẽ nói cho
ngươi biết”.
Tôi
không thể không dẫn chứng Lâm Tế ở đây; ngài tỏ ra duy
lý đặc biệt đối với câu hỏi, mặc dù ngài nổi tiếng
về lối cư xử “thô bạo” đối với các thầy tăng đến
hỏi bằng tiếng HÉT. Khi có người hỏi về ý chỉ của tổ
sư Tây lại, ngài bảo:
“Nếu
có ý tự cứu chẳng xong.”
“Đã
bảo không có ý, làm sao nói Nhi tổ đắc pháp với Bồ Đề
Đạt Ma?”
Ngài
bảo: “Đắc ấy thật là bất đắc”.
“Nếu
đã là bất đắc, vậy ý của bất đắc là gì?”
Lâm
Tế giảng giải: “Chính vì tâm ngươi mãi đuổi tìm mọi
vật không biết kìm hãm lại ở đâu, vì vậy tổ sư dạy
rằng: các ngươi điên rồ mang đầu đi tìm đầu. Theo lời
dạy, các ngươi hay hồi quang phản chiếu, không tìm cầu đâu
khác, các ngươi sẽ thấy ra rằng tâm mình cùng với Phật
và Tổ không khác. Đến chỗ vô sự như thế mới gọi là
đắc pháp.
3.
Có những trường hợp các Thiền sư viện tới lối “đốn
hành”. Trường hợp này không thường xảy ra đối với câu
hỏi ở đây, dù viện tới hành động trực tiếp - đốn
hành - là một phương sách thông thường trong việc khai thị
của Phật giáo Thiền Tông kể từ thời Mã Tổ, mà trường
hợp của ngài có liên hệ ở đây. Ngài là một trong những
thiền sư lớn nhất của lịch sử Thiền tông, và sự thực
chính do lề lối mô phạm đề biện Thiền của ngài mà Thiền
tông được coi như là một thế lực tâm linh vĩ đại ở
Trung Hoa.
Khi
Thủy Lão hỏi Mã Tổ về ý chỉ Tây lại của Đạt Ma, ngài
tống ngay cho một đạp vào hông té nhào xuống đất. Nhưng
cái đạp này đã làm cho Thủy Lão đại ngộ, khi chống chân
đứng dậy sư vỗ tay cười ha hả: “Lạ thay, lạ thay! Trăm
nghìn tam muội, vô lượng diệu nghĩa, chỉ nhìn trên đầu
một sợi lông thì biết được căn nguyên liền”.
Rồi
sư làm lễ và lặng lẽ rút lui.
4.
Có những trường hợp bao gồm một cử chỉ nào đó về phía
tổ và về phía tăng. Đây là phương pháp ưng ý nhất đối
với tổ, và chúng ta có thể thấy ngay là tại sao thế. Bởi
vì Thiền không thể giảng giải bằng lời, nên phải dùng
đến một hành vi hay một cử chỉ, để mang chân lý của
nó vào tầm tay của người học. Vì lẽ Thiền là chân lý
của sự sống, nên phải dùng đến cái thân thiết và trực
tiếp hơn ngôn ngữ, và điều này có thể thấy trong một
vận hành nào đó biểu tượng cho sự sống như đang vận
hành. Cũng có thể sử dụng ngôn ngữ, nhưng trong trường
hợp này, chúng không cốt chuyên chở các ý tưởng, mà chỉ
có tính cách diễn giải cái đang sinh động và đang hiện
hành. Điều đó cũng giải thích tại sao những tiếng la hét
hay kêu ca được dùng làm câu trả lời.
Khi
Tuyết Phong và Huyền Sa đang sửa chữa lại hàng dậu, Huyền
Sa hỏi: “Ý chỉ của Đạt Ma Tây lai là gì?” Tuyết Phong
lay hàng dậu. Sa nói: “Làm chi mệt nhọc vậy?”
“Còn
ông mệt hơn !”
Huyền
Sa bảo: “Xin đưa cho tôi cái cật treo (Mieh-flou: miệt đầu).
Một
hôm Đầu tử Đại Đồng gặp Thúy Vi nơi Pháp đường, bèn
hỏi mật chỉ của Tổ Đạt Ma từ Ấn sang. Thúy Vi dừng
bước nhìn lui một đỗi. Đại Đồng xin chỉ thị, nhưng
Thúy Vi bảo: “Ngươi muốn thêm một thìa nước bẩn vào
đầu nữa sao?”. Câu này muốn nói rằng người hỏi đã
một tần tắm trong nước bẩn mà không hay. Khi Thúy Vi quay
lui là đã trả lời cho câu hỏi, và, nếu Đại Đồng đã
sáng mắt ra thì hẳn có thể nhìn thấy ý chỉ, chẳng còn
xin thêm chỉ thị riêng biệt bằng lời nữa. Nhưng Đại Đồng
chưa được thế, do đó Thúy Vi mới quở. Nhưng lối quở
này không thể coi như bao hàm một tình cảm khinh thị hay bất
nhã của Thúy Vi.
Trong
tất cả những vấn đáp của Thiền, có sự thành tín tuyệt
đối giữa sư và đệ. Lối nói có thể thường hay bạo tợn
nhưng đấy là lề lối của Thiền sư, ông muốn lôi kéo những
tâm hồn không khuất phục dưới cây gậy huấn luyện của
mình. Tự bản chất, nó được dành riêng cho thành phần ưu
tú.
Một
thầy tăng từ Qui Sơn đến Hương Nghiêm, Hương Nghiêm hỏi:
“Nhân có thầy tăng hỏi Tổ Qui Sơn về ý chỉ sang Tàu của
Tổ; và khi trả lời, Qui Sơn đưa cây phất tử lên. Bấy
giừ các ông hiểu như thế nào về hành vi của Qui Sơn?”
Thầy
tăng đáp: “Ý của sư tổ là tức sắc minh tâm, phu vật
hiển lý”.
Hương
Nghiêm bảo: “Hiểu thì hiểu, không hiểu thì không hiểu.
ích chi mà vội vàng thuyết lý như thế?”
Thầy
tăng tức thì xoay người và hỏi: “Ý của sư thì sao?”
Hương
Nghiêm đưa cây phất tử lên như tổ Qui Sơn.
Lúc
khác, có người hỏi Hương Nghiêm về ý chỉ sang Tàu của
Đạt Ma, ngài thọc tay vào túi, khi rút ra, bàn tay nắm lại
thành quyền rồi mở ra làm như lấy vật gì cho người hỏi.
Người
này quỳ xuống và đưa tay ra nhận. Hương Nghiêm hỏi: “Cái
này là cái gì?”. Thầy tăng không đáp.
Cũng
là Hương Nghiêm nữa, ngài có một công án thời danh nói về
một người ở trên cây. Công án nói thế này: Như một người
trên dốc đứng, cao nghìn thước, miệng đang cắn một cành
cây, chân không chỗ tựa, tay không chỗ bám. Giả sử bây
giờ có ai đến hỏi: “Ý chỉ cua Sư Tổ từ Tây đến là
gì?”.Nếu y phải mở miệng để trả lời, chắc chắn sẽ
rơi xuống và mất mạng; nếu không trả lời thì bị coi là
phụ lòng người hỏi. Vào giây phút khẩn trương này y phải
làm sao?”
Một
thầy tăng hỏi Lạc Phố về ý chỉ Đạt Ma, sư vừa gỏ
cây phất tử vào ghế mây vừa nói: “Hiểu không?”
Thầy
tăng thú thực không thể hiểu, và sư nói như vầy: “Một
tiếng sấm đột nhiên giữa trời, hết thảy thế gian đều
sửng sốt, nhưng con ếch tận dưới đáy giếng không ngẩng
đầu lên một chút”.
Phải
chăng nhà sư đang hỏi là con ếch dưới giếng cổ? Lưỡi
của sư nhọn và chua. Ba Tiêu (Basho) một nhà thơ Hài cú cỡ
lớn của Nhật, có bài thơ sau đây:
Một
vũng lầy hiu hắt
Một
con ếch nhảy vào
Và
tiếng nước; ôi chao!
Đấy
là cái tiếng thức tỉnh đạo lý của Phật giáo Thiền tông.
Kinh nghiệm tự nó không thể tỏ bày bằng cách khác, thế
nên bài thơ hài cú chỉ mô tả cơ duyên, không tâm tình, không
biện giải. Con ếch thường lộ diện trong văn chương Nhật
Bản có liên lạc rất nhiều với thi tứ ám chỉ sự an bình
và cô độc.
5.
Có những trường hợp viện dẫn những việc không thể có
trong thế giới nhân quả tương đối này.
Long
Nha Cư Tuần nói: “Đợi bao giờ con rùa đen bằng đá biết
nói, rồi ta sẽ nói cho các ngươi về ý chỉ Tây lại của
Động Sơn cũng trả lời cho Long Nha bằng cái lối hi hữu
như vậy khi Long Nha muốn biết ý nghĩa của biến cố lịch
sử này. Động Sơn bảo: “Đợi khi Động thùy ngược dòng,
ta sẽ nói cho biết”. Điều lạ là dòng sông đã không chảy
ngược, ấy thế mà Long Nha lại hiểu theo ý nghĩa của lời
này.
Mã
Tổ, như tôi đã nói nhiều lần, vốn là một trong những
bộ mặt sáng chói nhất của lịch sử Thiền, cũng đề ra
nhân duyên tương tợ cho Bàng Uẩn, tục gia đệ tử, khi trả
lời cho câu hỏi thời danh: “Bao giờ ông uống một hớp
trọn cả Tây giang, ta sẽ bảo cho biết ý chỉ cuộc du hành
của Tổ”.
Tất
cả những điều kiện kể trên là hi hữu nếu như mọi đối
đãi thời không vẫn nguyên dạng đối với tâm thức hữu
hạn của chúng ta. Chỉ có thể hiểu chừng nào chúng ta nhảy
vào một cảnh giới vượt lên kinh nghiệm đối đãi của
mình.
Nhưng
vì các thiền sư ghê tởm mọi thứ trừu tượng và thuyết
lý, nên các câu nói của họ quá ư lộn xộn và vô nghĩa.
Trong những trả lời dưới đây, hãy ghi nhận cái lối độc
điệu của chủ trương siêu nghiệm:
Bắc
Viện Thông đáp:
壁
上 畫 枯 忪
Bích
thượng họa khô tùng
遊
峰 競 采 蕊
Du
phong cạnh thái nhụy
Tùng
khô vẻ trên tường
Đàn
ong tranh hút nhụy
Thạch
Môn Thông đáp: “Hãy nhìn những chiến thuyền bơi trên chứng
ngọn Cửu Lý”[1] Một thầy tăng đến kiến Thạch Sương
Tánh Không thiền sư để xin chỉ giáo về chuyện Tổ sư sang
Tàu, sư bảo: “Giả sử có một người bị rớt xuống tận
đáy của giếng sâu nghìn thước, nếu ông có thể kéo y lên
khỏi mà không cần đến một tấc dây, ta sẽ trả lời cho
ông ý chỉ của Tổ sư Tây đến”.
Thầy
tăng dường như không lấy thế làm trọng; ông nói: “Gần
đây, Hồ Nam Sương hòa thượng trụ trì lại một tu viện
cũng có chỉ giáo này nọ cho chúng tôi về vấn đề ấy”.
Tánh
Không gọi sa di thị giả và ra lệnh: “Hãy mang cái thây chết
này tống khứ đi”
Vị
sa di thị giả sau này là Ngưỡng Sơn, một trong những tay
cự phách của Thiền, về sau có hỏi Đam Nguyên làm sao kéo
người kia ra khỏi giếng, Đam Nguyên bảo: “Suýt! Đồ ngu,
ai ở dưới giếng”.
Sau
nữa, Ngưỡng Sơn lại hỏi Qui Sơn làm cách nào để kéo người
kia ra khỏi đáy giếng. Qui Sơn gọi: “Huệ Tịch”. Huệ
Tịch là tên của Ngưỡng Sơn.
Huệ
Tịch đáp: “Dạ, bẩm hòa thượng”
“Kìa,
ra rồi”.
Đến
khi trọng đủ cơ duyên của Thiền và trụ trì tại Ngưỡng
Sơn, sư thường nhắc đến những cuộc phiêu lưu này và bảo:
“Ở Đam Nguyên ta được danh, ở Qui Sơn ta được thể".
Chúng ta có thể thay thế “danh” bằng triết học và “thể”
bằng kinh nghiệm được chăng?
6.
Có những trường hợp đề ra lẽ thường. Trường hợp này
ngược lại với những trường hợp trên đây. Vân Môn bảo:
“Này các thầy, các thầy đi khắp thiên hạ mong tìm ý chỉ
Tổ sự Tây lại, nhưng cây cột. trước mắt các Thầy hiểu
rõ việc này. Các Thầy có muốn biết làm sao cây cột lại
hiểu được ý chỉ Tổ Sư đến xứ nay không?” Điều này
hình như ngược lại lẽ thường Nhưng sau khi nêu lên vấn
đề, Vân Môn trả lời tiếp: chín lần chín tám mươi mốt”.
Ở
đây thiền sư trở thành toán sư. Dường như sư nghĩ rằng
cái ban toán giảng giải được Phật pháp. Ngài nhắc đến
cây cột có vẻ làm cho lập trường của mình thành phức
tạp, nhưng đấy là phương tiện quyền xảo (upaya-kadsalya)
của ngài, một khi thấu rõ “chín lần chín tám mươi mốt”,
thì trọn của sách lược này vén mở các bí mật của nó,
nếu có.
Thiền
gia bấy giờ được hỏi làm thế nào để thiết lập tương
quan nội tại giữa những vấn đề gay cấn kể trên và lẽ
thường trong phát biểu của Vân Môn. Phải chăng chúng hoàn
toàn có liên hệ? Nhất định phải thế. Bằng không, các
ngài đã chẳng đem những cái vô can để giải đáp cùng một
vấn đề.
Nếu
có một cớ sự nào đó như Thiền, hẳn phải có một lề
lối nào đó mà trong ấy mọi mâu thuẫn đều được hòa
giải. Chính đấy là chỗ các Thiền sư tận dụng thiên tài
của họ; và, bởi vì họ không phải là những triết gia mà
là nhưng vị thực tu, nên họ viện dẫn kinh nghiệm thay vì
danh lý - một kinh nghiệm vốn là căn bản hóa giải những
nghi hoặc thành một nhất thể hòa điệu. Tất cả các lẽ
đương nhiên cũng như lẽ bất khả nơi những phát biểu của
các thiền sư phải được coi là xuất phát trực tiếp từ
kinh nghiệm bất nhị sâu thẳm của họ.
Thiên
Mục Mãn bảo: “Ba năm một lần nhuận”. Đây là lẽ thường
âm lịch, ai cũng biết, nhưng có can hệ gì với việc Tổ
sư sang Tàu?
Thầy
tăng nghi ngờ hỏi: “Thầy nói cái gì thế?”
“Tiết
Trùng dương vào ngày mồng 9 tháng 9”.
Ở
Trung Hoa cũng như ở Nhật Bản, người ta cử hành lễ tiết
Trung dương khi hoa cúc đã đến mùa. Số chín là số hẹn
đối với ngườì Trung Hoa, khi nó được gấp đôi thì vận
may cũng gấp đôi, do đó có lễ Trùng dương. Nhưng phải chăng
điều đó giải thích ý chỉ Đạt Ma đến Trung Hoa vào đầu
thế kỷ VI?
Phật
Giám Huệ Cần thì đáp: “Nếm giấm thì biết là chua, nêm
muối biết là mặn”.
Một
thầy tăng hỏi Tam Thánh Huệ Nhiên về ý chỉ của Tổ sư
Tây lại, ngài đáp: “Thịt thúi ruồi bự”.
Thầy
tăng mang lời ấy nói lại cho Hưng Hóa nhưng Hưng Hóa tỏ
vẻ không hài lòng. Rồi thầy tăng hỏi: “ Ý chỉ của Tổ
sư Tây lai là gì?”
Hưng
Hóa đáp: “ Trên lưng con lừa ngất ngư đầy những ruồi
xanh”.
Khi
nói thế, Hưng Hóa khác với Tam Thánh ở điểm nào? Đến
như ruồi xanh, có bao khác ruồi bu thịt thúi hay trên lưng
con lừa ngất ngư?
7.
Những trường hợp im lặng, không nhiều lắm. Tôi dẫn chứng
một. Có người hỏi Linh Thọ Như Mẫn về vấn đề Đạt
Ma sang Tàu, sư im lặng Về sau, khi sư tịch, môn đồ muốn
dựng bia đá ghi lại hành trạng và ngữ yếu của Sư. Về
ngữ yếu, họ khắc lên giai thoại im lặng này. Đương thời,
Vân Môn làm thủ tòa, họ hỏi chỗ im lặng của tiên sư phải
làm thế nào để viết ra. Vân Môn vỏn vẹn nói: “Sư”.
Vân Môn nổi tiếng về những trả lời tiếng một, sư không
phí lời. Quả thực, nếu người ta phải nói đến điều
gìi, và trong trường hợp khẩn thiết nhất, chỉ một tiếng
không hơn không kém; phải trả lời tức khắc trong một tiếng
mà thôi Một chữ "Sư" ở đây chúng ta thấy ngay nó ẩn ý
nhiều chuyện, và một trong nhưng ẩn ý đó đang ở trong tâm
của Vân Môn khi sư thốt lên, đích thực nó sẽ là một vấn
đề mà Thiền gia phải khơi tỏ. Cái tiếng đó há không soi
sáng thực sự ý nghĩa im lặng mà người ta muốn khắc lên
bia đá? Sau này, Bạch Vân Thu Đoan có làm một bài tụng rằng:
師
之 一 字 太 巍 巍
Sư
chi nhất tự thái nguy nguy
獨
向 寰 中 定 是 非
Độc
hướng hoàn trung định thị phi
悉
更 水 須 朝 海 去
Tất
cánh thủy tu triệu hải khứ.
到
頭 雲 定 覓 山 拜
Đáo
đầu vân định mịch sơn qui.
Tiếng
“sư” một tiếng vọi bằng non
Chỉ
thế, khắp trời định thị phi
Rốt
ráo, nước kia trôi về biển
Rồi
ra, mây nọ cuốn theo ngàn
8.
Có những trường hợp các thiền sư nói ra những lời vô
nghĩa, mà tâm ưa suy lý hoàn toàn không hiểu nổi. Nếu phần
lớn những phát biểu của Thiền có vẻ vô nghĩa và khó hiểu,
những trả lời được tập họp ở đây chẳng có chút quan
hệ nào đối với vấn đề cốt yếu; ngoại trừ, kẻ sơ
cơ vì thế lại càng bối rối thêm. Sau đây là thí dụ: Một
thầy tăng tham kiến Thạch Sương Khánh Chư và hỏi về ý
chỉ Tổ sư Tây lại, sư trả lời: “Một tảng đá trơ trọi
giữa trời”.
Khi
thấy tăng làm lễ, có lẽ để bái tạ cái lối dạy của
sư, sư hỏi: “hiểu không?”
“Bẩm
không”.
Sư
bảo: “May mà ông không hiểu, nhược bằng hiểu thì đầu
ông chắc chắn sẽ vở ra từng mảnh”
Nam
Đại Cân thì đáp rằng: “Lông rùa một tấc nặng bảy cân
.
Yen-chia
Ta-hi (?): “Ngày nay, ngày mai”.
Vân
Môn Đạo Tín: “Rắn cổ mộ nghìn năm, ngày nay đầu mọc
sừng”[2]
“Đấy
có phải là thói nhà[3] của Hòa thượng không?”
Sư
đáp: “Ai giải thích thì mất mạng”.
Con
rắn hiểu Thiền có cắn một nhà sư tự mãn như ở đây
chăng? Khó mà rút ra ý chỉ từ những nhận định đó nếu
chúng ta chỉ là những kẻ từ thương. Cái mệnh danh là kinh
nghiệm Thiền như vậy phải tiêu giải hết mọi quan hệ thời
không mà chúng ta đang sống, đang hành động và suy lý ở
trong đó. Chỉ khi nào chúng ta trải qua cuộc ký danh này, bấy
giờ một sợi lông rùa mới nặng bảy cân và một biến cố
của nghìn năm về trước trở thành một kinh nghiệm sống
động ngay trong giây phút này đây.
9.
Có những trường hợp các thiền sư nêu lên một vài sáo
ngữ vốn không hẳn là những lý lẽ đương nhiên, cũng không
hoàn toàn vô nghĩa như tuồng các trường hợp trên đây nhưng
ai cũng biết qua trong đời sống bình nhật. Nếu chúng ta cứ
tiếp tục suy lý, sáo ngữ như thế không có quan hệ, dù quan
hệ rất xa vời, đối với ý nghĩa của vấn đề được
nêu lên ở đây. Nhưng quả tình các thiền sư trong trường
hợp này cũng như chỗ khác đều hết sức tận tâm và những
người cầu đạo thường được khơi dậy ý chí nội tại
của những nhận định thoát ra từ đôi môi của các tiên
sư tùy theo cơ duyên. Vì vậy chúng ta phải gắng nhìn vào
phía dưới lời lẽ phù hoa.
Nguyệt
đỉnh Đạo Luân trả lời như vầy: “Mát lạnh thay! Cơn
gió hiu đã tống khứ hơi nóng ra khỏi ngõ”.[4]
Ba
thiền sư dưới đây, dẫn những hiện tượng thiên nhiên,
có thể coi là cùng một trật như nhau:
Bảo
Hoa Nguyệt nói: “Cơn gió lộng theo băng giá làm cho những
lá rừng rụng xuống”.[5]
Thiền
tăng hỏi: “Thế là nghĩa gì?” Sư đáp: “Khi mùa xuân đến,
chúng lại nẩy chồi”.[6]
Khi
Quang Phúc Đam Chương được hỏi về cuộc Đông du của Tổ
sư đáp: “Xuân đến, cây cối trổ hoa”. [7]
Thầy
tăng không thể thấu triệt ý nghĩ đó, và thiền sư giúp
ông bằng cách giảng giải thêm về bông hoa: “Hoa cúc
vàng thì lại nở vào tháng chín mỗi năm”.[8]
Thầy
tăng bày tỏ theo thói thường, không thể lãnh hội, và sư
nói tiếp, "Thu đến, lá lay rơi rụng".[9]
Câu
trả lời của Bao thiền Phổ cùng đề cập đến mùa màng
và cây cỏ. Sư nói: “Chờ xem hoa mẫu đơn nở thì mùa xuân”[10]
Thầy
tăng không thể thấu triệt ý nghĩ đó và Thiền sư giúp ông
bằng cách giảng giải thêm về bông hoa: “Hoa cúc vàng thì
lại nở vào tháng chín mỗi năm”[11]
Thầy
tăng nay có vẻ như thích nói, trả lời: “Nếu thế, tức
hòa thượng đang gắng sức để dạy người khác vậy”.
Thiền
sư nói lời cuối: “Lầm”
Nhưng
khẩu quyết được tập họp ở đây khá dễ hiểu hơn những
khẩu quyết đề cập đến “lông rùa cân nặng bảy cân”
hay “uống một hớp trọn cả con sông”, tuy nhiên, không
phải là quá dễ hiểu. Bởì vi, khi xét cách chúng giải thích
ý nghĩa lãng du của Bồ Đề Đạt Ma, chúng ta nhận thấy
ở đây thiếu sự mạch lạc. Óc tưởng tượng của chúng
ta không dễ gì xuyên qua bức màn huyền bí phủ lên khắp
mọi mặt. Đối với việc đề cử các hiện tượng thiên
nhiên để giải thích các vấn đề của Thiền, nên văn học
Thiền ghi lại nhiều điển hình và đa số chúng ta có xu hướng
nghĩ rằng tất cả các Thiền sư đều là những nhà duy thực
ngây thơ họ không có những khát vọng duy tâm cao siêu nào
cả.
10.
Có những trường hợp miêu tả một cách thơ mộng các hoàn
cảnh hiện tiền. Thông thường thiền sư cũng là thi sĩ. Hơn
hết, lối nhìn của họ về thế gian và sự sống có tính
cách bao dung và giàu tưởng tượng. Họ không phê bình, mà
đánh giá; họ không tách mình ra khỏi thiên nhiên, mà trầm
mình vào trong đó. Vì vậy khi họ ca hát, cái “ngã” của
họ không trỗi lên ngạo nghễ ; kỳ thực, nó xuất hiện
giữa những cai ngã khác xem như là một trong số đó, theo
thói thường nó cùng bình đẳng với chúng và cùng hợp tác
với chúng để hành sự. Nói như thế tức là cái “ngã”
trở thành một cọng cỏ khi nhà thơ đi dạo trong cánh đồng;
nó trỗi lên như một trong những đỉnh núi ngút mây trời
khi nhà thơ ở giữa rặng Hi Mã Lập Sơn; nó thì thầm trong
một dòng suối; nó gào thét trong một đại dương; nó đong
đưa theo khóm trúc; nó nhảy vào giếng cổ và kêu ọp oạp
như một con ếch dưới ánh trăng. Khi các thiền sư nói về
dòng biến tượng thiên nhiên trong thế giới, hồn thơ của
họ tựa hồ lang thang giữa đó một cách tự do, bình thản
và thành kính.
Một
thầy tăng hỏi Đại Đồng Tế (Ta-tung-chi ?) ý chỉ của Tổ
sư từ Tây đến là gì?
Sư
đáp:
Khóm
trúc nơi tiền đình
Xanh
mát thay, dù sau cơn tuyết.
Khi
thầy tăng muốn hiểu rõ ý nghĩa rốt ráo của lời này là
gì, sư tiếp tục theo lối cũ:
Ta
nghe gió rì rào qua khóm
Biết
bao ngàn ngọn trúc đong đưa
Lối
mô tả ngôi chùa của Ngưỡng Sơn Dũng, có lẽ chùa nằm trong
vòng đất đai tăng viện của sư giữa những dãy núi, rất
là thi vị, với lối thơ ngũ ngôn:
一
鎖 入寒 空
Nhất
tỏa nhập hàn không
Một
khoen vút trời lạnh
Thiên
Y Huệ Thông, cũng một thi sĩ thiền nữa, mô tả lộng lẫy
một con đường núi âm u uốn mình theo dòng suối róc rách;
cũng như nhiều tăng viện khác, nhất định tăng viện của
sư cũng nằm trong một vùng núi xa chốn dân cư.
Khi
được hỏi về cuộc Đông du của Tổ, sư bảo:
青
松 倒 影 垂 幽 徑
Thanh
tòng đảo ảnh thùy u kính
Thông
xanh ngã bóng soi đường vắng
Thầy
tăng không hiểu và sư thêm rằng:
綠
竹 寒 聲 亂 峽 流
Lục
trúc hàn thanh loạn giáp lưu
Trúc
biếc thì thầm gợn suối rừng
Thầy
tăng bái tạ: “Nhờ lời chỉ giáo của hòa thượng, kẻ
học này không còn chút ngờ vực nào hơn”.
Sư
khuyên: “Cứ thong thả, đừng vội”.
Thiên
Trụ Sùng Huê, tịch khoảng cuối thế kỷ XVIII, đã nói lên
nhiều khấu quyết Thiền thơ mộng và câu trả lời của sư
về ý chỉ Đông du của Tổ được biết đến rất nhiều:
白
猿 抱 子 來 青 嶂
Bạch
viên bảo tử lai thanh chướng
蜂
蝶 銜 花 綠 間
Phong
điệp hàm hoa lục nhị gian
Vượn
trắng ôm con trèo ngọn biếc
Ong
bướm ngậm hoa giữa nhụy xanh
Ngay
nơi đây tôi muốn gọi lên sự chú tâm đặc biệt của độc
giả về sự kiện rằng trong khi các Thiền sư khác rất ư
là khách quan và có vẻ như rất lãnh đạm đối với khía
cạnh xúc cảm của đời sống, Sùng Huệ có một xúc giác
tế nhị của xúc cảm khi sư nhắc nhở đến con khỉ mẹ
và những côn trùng siêng năng. Từ cái nhìn của sư về cuộc
Đông du của Tổ tỏa ra một cái gì đó mang chất người
nồng đượm.
11.
Bây giờ chúng ta đi tới một nhóm những trường hợp đặc
dị mà có lẽ người ta không tìm thấy như vậy bất cứ
đâu trong lịch sử ton giáo hay triết học. Phương pháp được
các thiền sư chấp nhận trong những trường hợp dưới đây
độc nhất vô nhị và khiến chúng ta làm lạ bằng cách nào
mà thiền sư lại khứng chịu được, trừ phi vì khát vọng
nhiệt thành muộn truyền kiến giải về Phật giáo Thiền
tông cho các môn đệ của mình.
Một
thầy tăng đến kiếm Mã Tổ hỏi: “Siêu tứ cú, tuyệt bách
phi”[12] xin hòa thượng chỉ thẳng cho biết ý chỉ Đông
du của Tổ.
Trong
câu trả lời của sư chẳng có cái gì “thẳng” bởi vì
sư thoái thác rằng: “Hôm nay ta mệt, không thể nói cho ông
nghe được, tốt hơn, ông hãy đi kiếm Trí Tạng mà hỏi”.
Thầy
tăng theo lời chỉ dạy đến kiếm Trí Tạng và nêu lên câu
hỏi:
“Ý
chỉ của Tổ từ Tây đến là gì?”
“Sao
ông không hỏi hòa thượng?”
“Chính
hòa thượng dạy lại đây kiếm thầy”.
Trí
Tạng lại thoái thác như sau:
“Bửa
nay tôi đau đầu nên cảm thấy không thể cắt nghĩa việc
đó cho ông được. Tốt hơn ông hãy đến kiếm huynh Hải”
Bấy
giờ thầy tăng đến kiếm Hải và yêu cầu soi tỏ cho mình.
Hải
nói:
“Đến
chỗ này tôi chẳng biết gì hết”.
Khi
thầy tăng thuật lại toan thể sự vụ cho sư, sư thốt lên
rằng: “Đầu của Tạng trắng, đầu của Hải đen” Dù
cho đạo Thiền bị che giấu ở đây là gì đi nữa, đây há
không phải là một giai thoại lạ lùng nhất, với một kẻ
cầu đạo nhiệt thành bị đẩy từ vị thầy này đến vị
thầy khác – mà rõ ràng ai cũng giả dạng bệnh nặng không
thể chỉ điểm cho y? Nhưng phải chăng có thể là Thiền được
truyền đạt một cách xảo diệu ngay trong tính chất tầm
thường này?
Phần
Châu Vô Nghiệp hỏi Mã Tổ: “Tổ sư từ phương Tây đến
mật truyền tâm ấn gì?” Vì câu hỏi này được đặt ra
khác biệt, trông nó như khác loại câu hỏi đang được đề
cập ở đây, nhưng ý chỉ rốt ráo của nó thì cũng vậy.
Cũng trong trường hợp này, Mã Tổ, bậc thầy của hơn tám
mươi thiền sư đầy đủ phẩm chất, viện đến phương pháp
hầu như y dạng với phương pháp vừa được nhắc nhở. Mã
Tổ lại thoái thác, không chịu trả lời người hỏi mà nói
như vầy: “Đại đức, ngày giờ tôi đang bận, khi khác hãy
đến”.
Khi
Vô Nghiệp vừa đi ra, thiền sư gọi lại: “Đại đức!”
và thầy tăng này quay trở lại.
Sư
bảo: “Đây là cái gì?”
Vô
Nghiệp tức thì hiểu ý và làm lễ, lúc ấy sư lại nói:
“Cái
gã khờ khạo này, lạy lục mà làm gì?”
Thanh
Bình Linh Tuân hỏi Thúy Vi Vô Học, “Ý chỉ từ Tây đến
của Tổ Sư là gì?”
“Đợi
không có ai quanh đây, ta sẽ nói cho biết”.
Giây
lát sau, Tốn lại hỏi: “Giờ không có ai hết”.
Thay
vì trả lời, Thúy Vi dẫn vị tăng này đến một khóm trúc.
Thấy sư vẫn im lặng, Tốn nhắc sư câu hỏi và lưu ý sư
là không có ai quanh đấy. Thúy Vi bèn trỏ vào khóm trúc và
thốt lên: “Tre này dài quá, tre kia ngắn quá”. Nhờ thế
mà tâm tri của Linh Tốn tỏ ngộ đạo Thiền. Về sau,
khi sư trụ trì tại một tăng viện, sư nói với chư tăng
về tấm lòng từ ái của thiền sư biến mình vì ích lợi
của kẻ khác và cũng kể từ đấy sư không còn biệt cái
gì tốt và cái gì không. .
Trường
hợp vừa kể gợi lại trường hợp của Qui Tông Đạo Thuyên
khi sư quan sát về những khối đá. Có thầy tăng hỏi sư
trong núi Cửu phong nơi sư đang cư ngụ có Phật pháp hay không,
sư đáp: “Có”. Thầy tăng lại hỏi nữa và sư đáp như
thế này: “Đá lớn thì lớn, đá nhỏ thì nhỏ".
12.
Có những trường hợp thiền sư sai người hỏi làm một công
việc. Phương pháp này không được thực hiện nhiều so với
các trường hợp khác. Tôi chỉ nêu lên ở đây một hoặc
hai thí dụ. Long Nha Cư Tuần khi mới bái kiến Thúy Vi, hỏi:
“Ý chỉ của Tổ sư từ Tây đến là gì?”. Thúy Vi bảo:
“Nhờ mang Thiền Bản lại đây”. Khi Thiền bản được
trao đến tay Thúy Vi, ngài cầm lấy và đánh Long Nha.
Về
sau, Long Nha đến Lâm Tế và hỏi ngài cũng câu hỏi đó. Lâm
Tế Thiền sư cũng làm cái việc như trên, tợ hồ họ đã
thông đồng nhau từ trước. Lâm Tế bảo: “Nhờ mang hộ
cái bồ đoàn lại đây”. Khi Long Nha tuân hành, Lâm Tế lấy
bồ đoàn đánh cho, y như Thúy Vi đánh bằng thiền bản. Tuy
nhiên, trong cả hai trường hợp, Long Nha không khứng nhận
cư xử ấy là chính xác nên mới nói: “Đối với việc đánh
đập, các ngài cứ đánh bằng thích, nhưng đối với ý nghĩa
Đông du của Tổ, chẳng có chút gì trong đó cả”.[13]
Trường
hợp sau đây có thể không được xếp loại một cách chính
xác trực thuộc nhóm này. trong đó có cái khiến chúng ta nhớ
lại những trường hợp nơi nhóm 11. Khi Lặc đàm Pháp Hội
hỏi Mả Tổ về Đông du, Tổ bảo: “Nói nho nhỏ, lại gần
đây”. Sư bước lại gần, Mã Tổ đấm cho một cái và bảo:
“Sáu tai không hòa hiệp hôm nay, ông đợi mai đến”.
Ngày
hôm sau Pháp Hội bước vào Pháp đường, đến gần Tổ và
yêu cầu Tổ dạy cho vấn đề đã nêu.
Mã
Tổ bảo: “Đợi đến khi ta lên giảng đường rồi sẽ chứng
minh cho ông”.
Lời
này đã làm cho Pháp Hội tỏ ngộ, sư liền nói: “Đa tạ
đại chúng chứng minh”.
Nói
xong, sư đi quanh Pháp đường một vòng rồi từ giã.
Một
thầy tăng hỏi Mục Châu Tung về cuộc Đông du của Tổ, và
sư đáp: “Cái ông thầy này sao không lại gần đây?”
Thầy
tăng bước lại gần, sư ngạc nhiên:
“Ta
gọi đông gia, chứ tây gia thì can dự gì?”
13.
Trường hợp trong đó những trả lời được nêu lên mà không
giải quyết minh bạch điểm được đề khởi nơi câu hỏi.
Đại khái, đây là trường hợp đa số các câu trả lời
của các thiền sư, và trong phương diện này, gọi là trả
lời kỳ thực chẳng trả lời gì cả, nếu xét về ý nghĩa
luận lý của chữ này. Chỉ là những mô tả thi vị những
sự vật chung quanh, hay những khuyên bảo thực hiện một hành
vi nào đó, chúng không hoàn toàn thỏa mãn nhưng ai đã được
giáo dục để tìm tòi những giải thích bằng khái niệm đối
với mọi điều mà họ gặp gỡ. Những trường hợp này được
kể ở đây như thế cũng mang cá tính tổng quát của mọi
khẩu quyết Thiền. Lý do tại sao chúng được tập họp ở
đây thành một loại riêng biệt chính là vì nếu đặt chúng
vào bất cứ trường hợp nào đã được đề cập trên đây
đều không đúng lý. Độc giả sẽ hiểu điều này bằng
những thí dụ hiện thực.
Một
thầy tăng lại gần Chuan Kuei (?), cố nhiên hỏi về ý Tổ,
và sư trả lời: “Nhà Đông sáng, nhà Tây tối”
Không
thể lĩnh hội, thầy tăng xin soi sáng thêm nữa, sư thêm: “Gặp
ngựa thì cỡi, gặp lừa thì bắt nó xoay cối đá.
Câu
trả lời của Thiên Đồng Hoài Thanh là: “Đừng để cát
vào mắt”. Khi được hỏi làm sao để hiểu câu này, sư
đáp: “Đừng để nước vào tai”
Đối
đáp của Tao Yuan Hsilang (?) thật là dữ dằn: “Nếu có ý
chỉ trong đó, cứ cắt đầu tôi đi”. Khi được hỏi tại
sao, sư lý luận: “Dễ thường ông không biết rằng: Hiến
mình cho chánh pháp?”
Vân
Cái Trí Ngung đề cập đến bia đá cổ khiến người ta hy
vọng ra sư có ý gì về cuộc Đông du của Tổ: “Tấm bia
trong chùa cũ khó đọc”. Điều đó há không nói rằng khó
mà giải thích rõ ràng dễ hiểu sự vụ này cho một tâm trí
tầm thường? Cho nên, khi được yêu cầu bình luận thêm,
sư nói thêm rằng: “Người đọc thảy đều nhăn mày”.
Như
tôi đã nói, Hán tự là ngôn ngữ đích thực của Phật giáo
Thiền Tông. Vì những quan hệ văn pháp của nó rất co giản,
phần lớn thường phó thác hết cho tưởng tượng và phán
đoán của độc giả, và chính vì lý do này mà một lối diễn
tả có vẻ dửng dưng từ cửa miệng của thiền sư có thể
gia trọng ý nghĩa. Thí dụ, khi Chêng Hsin Tsung (?) trả lời
“Khách bộ hành nghĩ về cuộc hành trình của mình” phải
chăng sư đang nghĩ về cuộc hành trình sang Tàu của Tổ? Hay
sư muốn so sánh nỗ lực của thầy tăng cố hiểu Thiền với
những khó khăn của khách bộ hành? Hay sư muốn rằng người
hỏi, có lẽ với phục sức du hành, hãy nghĩ về những hành
vi của chính mình?
Sách
không giải rõ về tất cả những điều thế này, ngoại trừ
lời nói suông của sư.
Khi
sư được yêu cầu nói thêm để làm sáng tỏ ý nghĩa, sư
chỉ nói: “Buộc chặt đôi hài lại”. Chỉ có thế thôi.
Đây
là một thí dụ khác. Thiệu Minh Sách (?) Chao Ming Tsê nói:
“Một cơn gió hiu mát nổi lên giữa trời xanh”. Phải chăng
câu nói ấy chỉ cho tâm trí chủ quan của Đạt Ma trong đó
mọi động lực ngã chấp tuyệt diệt như tan vào cái bao la
của bầu trời? Hay nó chỉ cho ngọn gió trỗi dậy mà người
ta không biết tí gì về nơi đi và chỗ đến của nó. Sư
lại nói thêm, mà câu hỏi cũng chẳng sáng thêm: “Trăng tròn
soi trên dòng Dương tử giang”.
Phải
chăng câu đó muốn nói rằng dù trăng không có ý soi bóng
của mình trong nước, nhưng nó cứ soi bóng chính vì có nước;
nước lồng bóng trăng và sẽ mãi mãi lòng bóng hễ nơi nào
có trăng, có nước, ngay cả đến một vũng nước bùn bên
đường? Đạt Ma sang Tàu như bóng trăng trong dòng Dương tử
giang? Tâm niệm Đông du trỗi dậy nơi ngài khác nào mặt trăng
ra khỏi những đám mây mù, và rồi, ngài đến đây, giảng
pháp và tịch diệt cũng như mặt trăng tỏa ánh sáng trên
những làn sóng của Dương tử giang.
Hắc
Thủy Thừa Cảnh với ý nghĩ được trích dẫn dưới đây
cho thấy cái vẻ lớn lao và hăng nồng hơn với trường hợp
vừa kể, nó vừa trong sáng vừa xa xôi hơn ở đây. Với Hắc
Thủy, ý nghĩa Đông du của Đạt Ma là như thế này:
廓
然 坦 蕩 周 沙 界
Khuếch
nhiên thản đãng châu sa giới
濁
霧 漸 瀜 佛 日 煇 厥
Trọc
vụ tiệm dụng Phật nhật huy
Rổng
rinh vô hạn trùm trời đất
Ẩn
hiện sương mù nắng Phật lên.
Khi
hỏi thêm về công dụng của nắng Phật, sư bảo: “Đất
lớn che không hết, mặt trời ấy lồ lộ khắp mọi thời”.
14.
Bây giờ chúng ta đi đến nhóm cuối cùng. Tuy nhiên, đây chưa
hẳn là cuối cùng nếu chúng ta xét kỹ tất cả những trả
lời được đề ra cho câu hỏi “Ý chỉ Đông du của Đạt
Ma là gì?” Bởi vì người ta còn có thể thấy một số trường
hợp nữa trong văn học Thiền, rất khó xếp vào mười bốn
nhóm mà tôi đã liệt kê. Nhưng tôi tin rằng những nhóm trên
đây phần lớn đã tương tận tất cả mọi sắc thái để
đưa ra cho độc giả một ý niệm tổng quát. về tinh thể
của các khẩu quyết của Thiền, ít nhất cũng liên quan đến
một thể tài riêng biệt. Vì vậy, chúng ta có thể coi đây
là nhóm trả lời cuối cùng được đề ra cho cuộc Đông
du của Tổ.
Đây
sẽ bao gồm những trường hợp trong đó các giải đáp của
thiền sư ít nhiều nhắm ngay vào nhân cách của chính Tổ
sư. Từ trước, các giải đáp không liên hệ gì với sắc
diện chính yếu của câu hỏi, nhưng bây giờ chúng bắt đầu
nhắm vào Tổ và những đoan quyết trỏ vào các hành vi của
ngài.
Dù
vậy, các giải đáp vẫn không đụng tới tâm điểm của
câu hỏi: nghĩa là ý nghĩa Đông du không được cắt nghĩa
để làm thỏa mãn tâm trí bình thường của chúng ta. Trong
phương diện này, nhưng trường hợp kể ra đây cũng xa vời
tiêu điểm như những trường hợp đã được nêu lên ở
trên.
Câu
trả lời của Hương Lâm Trừng Viễn là: “Ngài ngồi lâu
thành ra mệt”. Phải chăng vì ngồi suốt chín năm nên Đạt
Ma hoàn toàn mệt mỏi? Hay đây chính là một đoan quyết đại
khái nói về việc ngồi thiền, kể cả trường hợp của
chính thiền sư? Hay nó là một cung cách tạ tội vì đã để
ngồi quá lâu? Người ta có thể thấy thật khó mà quả quyết
điều nào. Đây là chỗ khó hiểu của thiền sư đối với
lề lối tư duy thông thường. Chỉ bằng danh từ, không đủ
chuyển đạt ý nghĩa, nhưng vì là những sinh vật có lý trí,
chúng ta không thể lãng tránh không phát biểu. Và những phát
biểu này mơ hồ, hay sáng sủa, tùy theo sở kiến của riêng
chúng ta. Nhưng trong trường hợp Chang Pei Shan, sư đề cập
thật là rõ ràng, sư nói: “Ngài từ Tây Trúc đến và biến
mất trong lãnh thổ nhà Đường”. Trường hợp kế tiếp
nhắm vào tổ thứ hai, không nói đến sơ tổ. Fu-chusing Wei
nói: “Đứng trong tuyết không phải là khó, khi chặt tay thì
trúng đích”.
Hiển
nhiên, trong cái nhìn của sư, sự tự hủy của Nhị Tổ là
ý nghĩa ly hương của Đạt Ma. Hoặc giả, phải chăng sư muốn
nói rằng ý nghĩa trong câu hỏi chỉ được nhận ra sau một
cuộc đào luyện tâm linh liệt? Nếu thế, đây không hẳn
là một trả lời cho câu hỏi, nhưng, người ta có thể nhận
xét đấy chỉ là tỏ bày lề lối giải quyết trọn vẹn
của nó.
Câu
trả lời của Nguyệt Hoa là: “Lương Vũ đế không biết
ngài”. Được yêu cầu soi sáng thêm, sư bảo: “Ngài mang
một chiếc dép về quê”. Đấy chỉ là tường thuật về
cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma, Hoàng Sơn Lâm (? Huang Shan
Lin) cũng đề cập đến giai thoại ấy y như vậy, khi sư nói:
“Chẳng ra gì hết nơi cung điện nhà Lương và ngài ngồi
tư duy trầm ngâm nơi vương quốc nhà Ngụy”.
Shuang
Chian Ku cũng chung đường lối với hai thiền sư trên, sự
nhận định như sau: “Ngài chưa từng xuất hiện nơi cung
điện nhà Lương. Sau khi ở Ngụy, ngài xách một chiếc dép
trở về Tây Trúc”.
Cánh
Phúc Nhật Dư cũng trả lời y như những thiền sư này: “Trải
qua chín năm day mặt vào vách mà không ai nhận biết ngài,
nhưng khi ngài xách dép trở về Tây Trúc thì đâu đâu cũng
nghe biết”. Để làm sáng tỏ thêm cho người hỏi, sư nói
tiếp: “Nếu có ai muốn biết về việc xảy ra trong niên
đại Phổ thông xa xưa, cần phải biết qua về dãy Thông Lĩnh”.
Thông
Lĩnh là một dãy núi phân chia Trung Hoa với vùng Trung Á mà
truyền thuyết nói Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ của Phật giáo
Thiền tông Trung Hoa, đã đi ngang qua trên đường trở về
Ấn Độ của ngài. Rồi thì, ngài đi chân không, tay xách một
chiếc dép. Còn chiếc kia; khi tin ngài trở về qua dãy Thông
Lĩnh được loan truyền rộng rãi giữa các môn đệ ngài tại
Trung Hoa, người ta quật mồ lên, thấy nó vẫn còn đó.
Bây
giờ chúng ta có thể thấy rõ, tất cả những nhận định
vừa kể quả tình không can dự gì đến câu hỏi ở đây,
cái câu hỏi muốn biết ý nghĩa hay lý do về cuộc Đông
du của Tổ sư; nói thế có nghĩa là chân lý của Phật giáo
Thiền tông biệt lập với giáo nghĩa triết lý của các tông
phái Phật giáo khác Trong khi những phát biểu đề cập đến
cuộc đời của Tổ sư, rõ ràng các thiền sư không cố ý
bộc lộ ý nghĩa của Thiền theo một lề lối dễ hiểu hơn.
Sau
khi liệt kê tất cả những sắc thái về các giải đáp của
Thiền được nêu lên cho một câu hỏi độc nhất, ít nữa
có một kết luận mà chúng ta có thể rút ra từ đó coi như
là một kết luận chính đáng nhất. Kết luận đó là: chân
lý của Phật giáo. Thiền tông như được biểu tượng trong
cuộc Đông du của Tổ có thể khám phá bằng những phương
tiện diễn đạt rất khả dĩ trong khả năng của loài người,
nhưng đồng thời không thể trao truyền cho kẻ khác một khi
tâm hồn của họ chưa được chuẩn bị sẵn sàng.
Chân
lý có thể được diễn tả bằng lời, và cũng có thể
giải thích bằng việc, dù không thể nói rằng nó được
diễn tả như thế, được giải thích như thế hay được
khám phá như thế. Bởi vì, cái mà thiền sư nhắm đến khi
đưa ra những mệnh đề rắc rối, những thành ngữ vô nghĩa
hay thực hiện những vận động kỳ bí chỉ là để cho môn
đệ của mình tự cảm nhận lấy cái chân lý phải vươn
tới nằm ở đâu. Đấy cũng là những dấu hiệu chỉ dẫn
và thực tình không can gì đến sự giải thích, định nghĩa
hay bất cứ những hạn từ nào như được dùng trong lối
nói mệnh danh là khoa học của chúng ta. Nếu chúng ta tìm kiếm
lối nói này trong các giải đáp của Thiền , chúng ta sẽ
mất hết tất cả dấu vết. Và chính bởi lý do này hết
thảy những mâu thuẩn và vô lý mà chúng ta đã từng thấy
đều nhằm cung ứng cho chủ đích của thiền sư. Khi hiểu
ra rằng chúng là những dấu hiệu chỉ dẫn trỏ vào một
chân lý độc nhất, bắt buộc chúng ta phải nhìn ở chỗ
chung đụng của tất cả những cánh tay từ nhiều hướng
khác nhau này, Thiền sư an tọa đối diện với chính mình
và với thế giới.
Đây
cũng như vô số tia sáng chiếu ra từ một nguồn sang độc
nhất ở giữa. Những tia sáng này không thể đếm xuể, và
chừng nào chúng ta còn đứng ở cuối ngọn của mỗi tia sáng,
chúng ta không biết làm sao để điều hòa tia sáng này với
tia sáng khác. Đây là một dãy núi cao ngất, kia là một giải
nước tỏa xa đến tận chân trời, làm sao chúng ta có thể
thấy ra núi non khi chỉ thấy chóp bọt hay chóp núi của tia
sáng Chỉ xét riêng về tính chất bội lý của Thiền, luôn
luôn nó vẫn vậy, không cách gì thấy nó sừng sững ra với
lý tính. Sự mâu thuẫn sẽ mãi mãi cảnh tỉnh chúng ta trong
đêm tối.
Điều
cần thiết là noi theo một tia sáng vô lý nào đó, mở mắt
mà nhìn ngay vào cội nguồn xuất phát của nó. Một khi cội
nguồn của ánh sáng lọt vào tầm mắt, chúng ta biết cách
rảo chơi vào một tia sáng khác, mà ở ngọn ngành của nó
chúng. ta có thể thấy ra một trật tự khác của vạn hữu.
Đa số chúng ta đứng ở ngoại biên nhưng cố nhìn vào toàn
thể, thiền sư muốn chúng ta thay đổi vị trí này, kẻ nào
ngồi ngay giữa lòng hòa điệu thiên thu kẻ ấy biết rõ chúng
ta đang bị trói buộc vào đâu. Còn riêng chúng ta, vẫn bị
mê mờ lạc lối nơi ngọn ngành xa xôi không biết đường
đi nước bước nào mà lấn mò cả. Nếu không phải là tình
cảnh thế đó, làm sao thiền sư có thể xoay sở lạ lùng
đến nỗi tạo ra các tính chất bội lý hay bất nhất tiếp
nối nhau mà vẫn an nhiên.
Tuy
nhiên, đấy là lề lối mà những tâm hồn mang nặng luận
lý như chúng ta muốn soi tỏ những giải đáp của các thiền
sư. Đối với các ngài, sự vụ có thể xuất hiện dưới
một ánh sáng khác. Ngài có thể bảo rằng không có ngoại
biên bên ngoài trung tâm, vì trung tâm là ngoại biên và ngoại
biên là trung tâm. Tưởng rằng có hai sự vật riêng rẽ nhau
và nói về cuộc du hành theo cuối ngọn tia sáng hướng về
chính nguồn sáng, đấy là do phân biệt sai lầm (parikalpa).
Cách ngôn Trung Hoa có câu: “Khi một con chó sủa bóng, một
vạn con cho sủa theo thành ra thực”. Vì vậy, hãy coi chừng
tiếng sủa đầu tiên, thiền sư khuyên như vậy.
Khi
La Hán Nhân được hỏi về ý nghĩa Đông du của Tổ, sư hỏi
ngược lại: “Ông gọi thế nào là ý nghĩa?”
“Nếu
vậy không có ý nghĩa gì nơi cuộc Đông du này?”
Thiền
sư bảo: “Có chứ, nơi chót lưỡi của ông đấy”
Có
thể tất cả do phân biệt chủ quan của chúng tôi, dựa trên
một khái niệm sai lầm về thực tại, nhưng, thưa ngài, vị
thiền sư khả ái của chúng tôi, làm sao chúng tôi đã có
thể chấp nhận ngài như thế? Phân biệt phải khởi lên từ
đâu đó. Hẳn nhiên, hạt bụi vàng, dù quý giá đấy, nhưng
khi vướng vào mắt nó cũng xốn mắt. Vậy, việc cần làm
là giữ mắt cho trong sáng, và dùng hạt bụi vàng theo chỗ
đáng dùng của nó.
Sau
khi duyệt lại tất cả những mệnh đề, những khai thị hay
những diễn tả do các thiền sư đưa ra nếu có ai đến kiếm
tôi và đặt câu hỏi: “Cuối cùng, ý nghĩa từ Tây Trúc
sang của Bồ Đề Đạt Ma là gì?” Tôi phải nói gì với
y? Nhưng vì tôi không phải là một bảo thủ trong Thiền tỏng,
tôi chẳng biết trả lời thế nào theo lập trường siêu nghiệm
luận của Thiền tông, trả lời của tôi sẽ là trả lời
của một kẻ phàm tâm, vì tôi sẽ nói: “Lẽ đương nhiên!”
Từ đâu mà có cái “Lẽ đương nhiên” này? Không ai biết
thế nào, ở đâu và tại sao, bởi lẽ nó như thế là như
thế. “Cái đó không ở đâu cả” không từ đâu đến và
“không đi về đâu”.
Chín
năm trời, ngồi đấy, nào ai biết
Một
chiếc dép, về quê, không đón đưa[14]
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Cửu Lý sơn thượng vọng thuyền chu 九 里 山 上 望 船 舟.
Sư làm “thơ một câu” (D.G )
[2]
Thiên niên cổ mộ xà.
天
年 古 墓 蛇
Kim
nhật đầu sinh giác
今
日 頭 生 角
[3]
Gia phong , được hiểu như là đường lối phương pháp riêng
biệt
[4]
Lương phong khước thối thiềm tiền thử 涼 風 卻 退 簷
前
[5]
Sương tuyết phong lạc diệp 霜 雪 風 落 葉 , xem
tiếp chú thích dưới. (D.G.)
[6]
Phùng xuân hựu khước sinh 逢 春 又 卻 生 Hai câu trả
lời ghép thành một bài “Song tuyệt” và hình như là: “gió
cây trút lá trăng ngàn ngậm gương”. (D.G )
[7]
Xuân lai hoa tự phát 春 來 花 自 發
[8]
Mẫu đơn tu thị tam xuân chiết 牡 丹 須 是 三 春 折
Huỳnh cúc hoàn tha cửu nhất khai 黃 菊 還 他 九 一 開
[9]
Thu chí diệp tiên điêu 秋 至 葉先凋
Nguyễn
Du nói: “Xuân lan. thu cúc thanh hư sự!” (D.G.)
[10]
Mẫu đơn tu thị tam xuân chiết 牡 丹 須 是 三 春 折
[11]
Huỳnh cúc hoàn tha cửu nhất khai 黃 菊 還 他 九 一 開
[12]
“Không luận bằng câu, không nói bằng lời”. (D.G)
[13]
Tuyết Đậu bình bằng hai bài thơ:
龍
牙 山 裏 龍 無 眼
Long
Nha sơn lý long vô nhãn
死
水 何 曾 振 古 風
Tử
thủy hà tằng chấn cổ phong
禅
板 蒲 團 不 能 用
Thiền
bản bồ đoàn bất năng dụng
只
應 分 付 與 盧 公
Chỉ
ưng phân phó dữ Lô công
盧
公 付 了 亦 何 憑
Lô
công phó liễu diệc hà bằng
坐
倚 休 將 祖 繼 燈
Tọa
ỷ hưu tương tổ kế đăng
堪
對 墓 雲 歸 未 合
Kham
đối mộ vân qui vị hiệp
遠
山 無 限 碧 層 层
Viễn
sơn vô hạn bích tằng tằng
Trong
núi Răng Rồng, Rồng không mắt
Nước
khựng đâu từng trỗi gió hiu
Thiền
bản, bồ đoàn không đụng được
Thôi
thì cho quách ông Liu điu
Cho
quách ông Liu chẳng được gì
Ngồi
lưng không thẳng, dẹp Thiền đi
Coi
giống mây chiều còn rải rác
Non
mờ lớp lớp biếc lê thê.
(D.G)
[14]
Phần lớn nhưng dẫn chứng trong thiền luân này rút từ tác
phẩm nhan đề Thiền lâm loaị tự, 20 quyển tất cả soạn
tập từ năm 1307. Sách này nay rất hiếm