LUẬN
BA
HAI
KHÓA BẢN THIỀN
I
BÍCH
NHAM TẬP 碧 巖 集
Bích
nham tập hay Bích nham lục là một trong những tác phẩm có
giá trị nhất của phái Thiền Lâm Tế, đặc biệt ở Nhật
Bản. Sách gồm những bài bình tụng của Tuyết Đậu về
một trăm “tắc”[1] hầu hết được tuyển từ Truyền đăng
lục, và gồm những lời bình xướng của Viên Ngộ. Tuyết
Đậu là một bậc thầy cỡ lớn của dòng Thiền Vân Môn
và khai hóa khoảng đầu đời Tống (980-1052). Sư nổi danh
nhờ tài năng văn học, và khi những bài bình tụng về một
trăm tắc này ra mắt công chúng tức thì được tán thưởng
khắp nơi trong giới văn học đương thời.
Trong
khi Viên Ngộ (068-1135) cư ngụ tại Thục đô, để đáp ứng
thỉnh cầu của đám đệ tử, sư lấy tác phẩm của Tuyết
Đậu làm khóa bản giảng Thiền. Về sau, sư đến Linh Tuyền
Thiền viện Giáp Sơn, thuộc Lễ châu, suốt trong niên hiệu
Chính Hòa (1111-1118), lại được thỉnh cầu giảng sách này.
Những
lời chú do đám đệ tử ghi lại được soạn thành một tác
phầm hẳn hoi. Mỗi một tắc bắt đầu bằng lời dẫn, kế
đó là tắc với những lời bình chú theo lề lối riêng của
Thiền, và sau hết những bài tụng của Tuyết Đậu cũng được
trình bày theo cách đó.
Bởi
vì Viên Ngộ không để tâm kiểu chính và duyệt lại nhưng
ghi chú của các môn đệ, nên những lời chú này đầu
tiên
lưu hành trong đám đồ đệ dưới hmh thức lỡ cỡ. E rằng
mai sau sách khó tránh khỏi tình trạng lộn xộn, một trong
số đệ tử của Viên Ngộ là Quan Hữu Vô Đăng thấy phải
có ấn bản thẩm quyền, có thế mới ngăn chận tất cả
những sai chạy có thể có do các bản hỗn tạp. Rồi sách
được ấn hành mùa xuân năm 1925, hai mươi năm sau giảng khóa
thứ ba của Viên Ngộ. Nhưng, cả người in, quan Hữu Vô Đăng,
lẫn người viết tựa, Phổ Chiếu, không cho biết bản văn
có được tác giả thân hành đọc lại trước khi in hay không.
Về
sau, Đại Huệ, một đệ tử xuất sắc nhất và tài ba nhất
của Viên Ngộ, đối Bích nham tập, vì thấy rằng sách không
giúp gì cho việc thấu hiểu trung thực về Thiền. Thực tình
sư đã làm gì thì không rõ lắm, nhưng hình như sách bị ngưng
lưu hành. Gần một trăm năm sau (1302), Trương Minh Viễn, ở
Ngụ Trung, tìm thấy một bản Bích nham tập còn nguyên vẹn
ở Thục đô. Ông đối chiếu với những bản khác tìm được
ở Nam Hoa, và kết quả là bản lưu hành mà chúng ta có ngày
nay.
Đạo
Nguyên (Dògen), người sáng lập dòng Thiền Tào động ở Nhật,
theo truyền thuyết đây là người đầu tiên mang Bích nham
tập từ Trung Hoa về, vào năm thứ ba thời Kạroku (l127), khoảng
80 năm trước ấn bản Thanh. Người ta không biết chắc bản
Thanh được mang vào Nhật lúc nào, nhưng vì có sự trao đổi
thực sự giữa các thiền sư Nhật và Hoa thời bấy giờ,
nên đương nhiên sách nhập cảnh do một vài nhà sư Nhật
sang Hoa học Phật. Đầu thế kỷ XV chúng ta đã có một ấn
bản Nhật của Bích nham tập.
Kết
cấu của sách đại lược như sau:
(1)
Mỗi tắc mở đầu bằng lời dẫn của Viên Ngộ: Thùy thị
垂 示
(2)
Kế đó nêu lên tắc, xen kẽ những câu bình chú: Cử 舉
(3)
Rồi đến phần bình xướng về tắc;
(4)
Tiếp theo là bình tụng của Tuyết Đậu, cũng có xen kẽ những
nhận định của Viên Ngộ
(5)
Sau hết, chúng ta có nhưng bình giải về bài tụng.
Dưới
đây là đoạn dịch của Tắc 55, cố trung thành sao cho kết
cấu của nguyên bản có thể dễ đọc; chính nguyên bản thì
rất là khó hiểu đối với những ai không quen với văn học
Thiền. Độc giả sẽ nhận ra điều này khi theo dõi đoạn
dịch, dù không dịch sát.
TẮC
LV - ĐẠO NGÔ[2] VÀ TIỆM NGUYÊN ĐIẾU TANG
a)
Lời dẫn:
[Đối
với thiền sư đã triệt ngộ]. Toàn Chân được giấu kín
trong lòng, mà lại đương trường ấn chứng; lội ngang dòng
nhưng vẫn xoay chuyển vật và nhìn thẳng vào bản tính như
như của vạn hữu. Như ở giữa đá xẹt, chớp nhoáng, ngài
chặt đứt ngay những điều lếu láo. Cưỡi đầu cọp mà
lại nắm lấy đuôi cọp Sừng sững như vách cao nghìn trượng.
Hãy thử xem ngài khai thị đạo lý cho kẻ khác bằng đường
lối nào đây. Đây thử xem.
b)
Trình bày tắc:
Đạo
Ngô và Tiệm Nguyên đến một nhà nọ điếu tang.
Tiệm
Nguyên vỗ vào hòm, nói: .
- Sống
ư? Chết ư? (Nói gì thế? Tốt lắm, chẳng tỉnh táo. Gã này
còn lờ mờ giữa hai đằng)[3]
Đạo
Ngô bảo:
- Sống
ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói. (Rồng gầm thì sương
mù dậy. Cọp gừ thì gió trỗi lên. Nón đội vừa đầu Lòng
bà nội thiết tha thay!)
Tiệm
Nguyên:
Tại
sao không nói ? (Trật lất rồi! Quả nhiên, hỏng bét!)
Đạo
Ngô:
- Không
nói là không nói. (Nước dơ đổ lên đầu. Mũi tên trước
còn nhẹ. Mũi tên sau mới sâu).
Cả
hai trên đường về. (Rất tỉnh táo nhé!)
Tiệm
Nguyên nói:
Bẩm
hòa thượng, nói cho con nghe đi? Nếu hòa thượng không nói,
con quật ngã hòa thượng liền. (Có thế chứ! Ít gặp được
kẻ khôn ngoan. Đa số là bọn ngu ngơ. Bọn này vào Địa ngục
lẹ như mũi tên).
Đạo
Ngô:
- Quật
thì cứ việc quật, còn nói thì không nói đa! ( Việc hệ
trọng phải lặp lại. Bị cuớp mà không hay. Cái lão này
bết bùn cùng mình. Sơ tâm vẫn không sứơ).
Tiệm
Nguyên bèn đánh cho. (Hay lắm, đánh đi! Nhưng, hãy nói, đánh
mà làm gì? Té ra có kẻ bị ăn đòn vô cớ).
Về
sau, khi Đạo Ngô đã tịch. Tiệm Nguyên đến với Thạch Sạch
và đem chuyện trước kia kể lại. (Biết mà cố phạm. Chẳng
biết phải hay không phải. Nếu phải thì thiệt là quá kỳ)
Thạch
Sương:
- Sống
ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói. (Mới mé quá chừng.
Thứ cơm nước hằng bửa này mà lại có kẻ dùng).
Tiệm
Nguyên:
- Tại
sao không nói ? (Lời tuy một, mà ý lại hai. Thử hỏi, giống
hay khác câu hỏi trước kia?)
Thạch
Sương:
- Không
nói là không nói. (Trời đất! Sóng Tào khê cũng như vậy.
Biết bao kẻ phàm ngu bị chết đuối trên cạn).
Do
lời này mà Tiệm Nguyên tỉnh ngộ. (Cái gã mù! Đừng mà
mắt sơn tăng này nha!)
Một
hôm, Tiệm Nguyên vác xẻng vào Pháp đường, đi qua đi lại.
(Đó là gã sống lại trong cái chết. Tốt! Nhờ tiên sư mớm
hơi cho. Đừng hỏi ai hết. Hãy xem gã bẽn lẽn).
Thạch
Sương hỏi:
Làm
gì vậy? (Nhắm mắt bước càn theo chân người).
Tiệm
Nguyên:
- Tìm
linh cốt tiên sư. (Trễ rồi, treo gói thuốc sau xe tang. Hối
hận ban đầu không cần thận. Nhà người báo sao?)
Thạch
Sương:
- Sóng
sông nhấp nhô, sóng biển ồ ạt. Tìm linh cốt nào của tiên
sư? (Cái này, nên để cho ông thầy khác mới được. Thành
bè thành bọn mà làm gì?)
Đây
là lời của Tuyết Đậu: Trời ơi! Trời ơi! (Trẻ rồi. Giặc
đã bỏ chạy rồi mới giương cung. Thiệt đáng chôn chung
một chỗ).
Tiệm
Nguyên nói:
- Chính
là lúc ra sức. (Nói thử xem, rồi ra sao? Tiên sư đã từng
nói với nhà ngươi những gì? Thủy chung, gã này không làm
sao dứt mình ra khỏi).
Đây
là lời của Thái Nguyên Phù: Linh cốt của tiên sư còn đó.
(Đại chúng có thấy không? Y như làn chớp. Đấy là đôi
dép rách. Vẫn cứ lầm).
c)
Bình xướng .
Đạo
Ngô và Tiệm Nguyên một hôm đến một nhân nọ điếu tang.
Tiệm Nguyên vỗ vào hòm vào nói: “Sống ư? Chết ư? Và Đạo
Ngô bảo: “Sống ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói. Nếu
bước thẳng ngay vào nhưng câu này thì sẽ tìm ra manh mối.
Chính đây chứ không đâu khác là chìa khóa mở ra ngục tù
của sinh tử. Nếu chưa được như vậy, hãy cứ tìm cách
thoát ra bất cứ lúc nào. Hãy xem cổ nhân hăng hái biết bao!
Dù đi đứng, hay nằm ngồi, luôn luôn các ngài chuyên tâm
vào đây. Ngay khi vừa đến tang gia, Tiệm Nguyên không chút
chần chờ, vỗ vào hòm mà hỏi Đạo Ngô: “Sống ư? Chết
ư?” Đạo Ngô lập tức trả lời: “Sống ư? Ta không nói.
Chết ư? Ta không nói”. Tức thì Tiệm Nguyên trợt ngay trên
ngôn ngữ văn tự nên mới hỏi thêm: “Tại sao không nói?”
Đạo Ngô trả lời rằng: “Không nói là không nói”. Tấm
lòng của ngài tha thiết là bao! Nhầm lẫn này nối theo nhầm
lẫn khác.
Tiệm
Nguyên chưa tỉnh táo. Trên đường trở về, lại hỏi nữa:
“Bẩm hòa thượng, nói cho con nghe đi! Nếu hòa thượng không
nói, con quật ngã hòa thượng liền”. Gã này chẳng biết
lành dữ gì hết. Cơ sự này chính là lòng tốt không được
đền bù. Nhưng Đạo Ngô, vẫn đầy lòng tha thiết như bà
nội, đáp rằng: “Quật thì cứ quật, còn nói thì không
nói”.
Rỗi
thì Tiệm Nguyên đánh. Dù có việc chẳng may như vậy, Tiệm
Nguyên cũng đã chiếm được một nước. Từ tâm để, Đạo
Ngô làm mọi điều để khai ngộ cho đệ tử của mình. Nhưng
quả tình đệ tử không nắm ngay ý nghĩa vào lúc đó. Nhưng
khi bị đệ tử đánh như vậy, Đạo Ngô bảo: “Tốt hơn,
con hãy rời khỏi chùa trong một thời gian. Nếu thầy thủ
tòa của chúng ta hay được việc này thì sẽ làm khó dễ
cho con”.
Tiệm
Nguyên bèn lặng lẽ bỏ đi. Tấm lòng của Đạo Ngô tha thiết
làm sao! Về sau, Tiệm Nguyên đến tại một ngôi chùa nhỏ,
tình cờ nghe một tục gia đệ tử tụng Kinh Phổ môn, đến
câu: “Ưng dĩ Tì khưu thân đắc độ giả, tức hiện Tì
khưu thân nhi vị thuyết pháp”. Nghe thế, Tiệm Nguyên hốt
nhiên đại ngộ và tự nhủ: “Quả ta đã lầm. Lúc ấy ta
chẳng hiểu tiên sư làm gì hết. Sự tình này thiệt chẳng
ở nơi lời Cổ nhân có nói: "Dù cho kẻ trí phi thường cũng
còn sẩy chân vì lời nói". Có kẻ mừng đem lý sự mà giãi
bày thái độ của Đạo Ngô, bảo rằng khi ngài không chịu
nói rõ sự vụ, mà kỳ thực ngài đã có nói, và rằng thái
độ như thế là một bước nhảy lùi khiến cho người ta
không biết đâu mà mò. Nếu lời giải này đúng, ta sẽ bảo
rằng: làm sao chúng ta có thể luôn luôn thưởng thức được
sự thanh bình của tâm trí ? Chỉ khi nào chúng ta đặt
chân lên đất thật, mới biết đạo lý không mảy may cách
biệt.
Hãy
xem này, khi bảy vị hiền nữ dạo chơi trong Rừng Thây Chết,
một nàng chỉ một xác chết và hỏi: "Xác chết nằm đây,
còn người thì đâu?" Nàng lớn nhất bảo: "Cái gì ? Cái gì?".
Rồi thì cả bọn thảy đều chứng được vô sinh pháp nhẫn
(anutpattikadharmaksanti) ; chứng ngộ sự thật rằng vạn hữu
nguyên lai không sinh. Ngày nay, trong chúng ta, được bao nhiêu
người đến chỗ đó? Có lẽ trong trăm nghìn chỉ được
một.
Về
sau, Tiệm Nguyên đến với Thạch Sương và thỉnh cầu ngài
soi sáng cho sự tình đã được kể trên đây. Nhưng Thạch
Sương cũng lặp lại Đạo Ngô, nói: "Sống ư ? Ta không nói.
Chết ư? Ta không nói". Khi Tiệm Nguyên hỏi: "Tại sao không
nói?" Thạch Sương lặp lại: "Không nói là không nói". Nhờ
thế tâm trí của Tiệm Nguyên bừng tỉnh.
Một
hôm, Tiệm Nguyên vác xẻng bước vào Pháp đường, đi qua
đi lại. Bản ý là để giãi bảy sở kiến với thầy. Quả
nhiên, Thạch Sương hỏi: "Làm gì vậy?" .Tiệm Nguyên nói:
“Tìm linh cốt của tiên sư". Thạch Sương bèn muốn làm cho
Tiệm Nguyên hổng chân nên nói: "Sóng sông nhấp nhô, sóng
biển ồ ạt. Linh cốt nào của tiên sư mà tìm ở đây?"
Tiệm
Nguyên đã bày tỏ là muốn tìm linh cốt của tiên sư sao Thạch
Sương lại nói thế? Nếu các ngươi hiểu ra những ẩn tàng
trong câu "Sống ư? Ta không nói. Chết ư? Ta không nói", các
người sẽ hiểu rằng từ thủy chí chung Thạch Sương đã
mở hết cõi lòng ra cho các ngươi xem tỏ. Nhưng ngay khi các
ngươi bắt đầu lý sự, so đo và nghiền ngẫm, chẳng bao
giờ thấy được sự tình.
Tiệm
Nguyên đáp: "Chính là lúc ra sức". So với lúc chưa thâm nhập,
thái độ của Tiệm Nguyên khác lạ biết bao. Xương sọ của
Đạo Ngô sáng trưng như vàng ròng, khi gõ vào nó ngân lên
như chuông đồng. Tuyết Đậu nhận xét: “Trời ơi! Trời
ơi!” Nhận xét này có hai ý; còn câu nói của Thái Nguyên:
“:Linh cốt của tiên sư còn đó” tự nhiên trúng đích và
thỏa đáng.
Tóm
thâu toàn thể cớ sự lại và phóng ra trước mắt các ngươi
, bấy giờ hãy nói cho ta hay điểm ách yếu của câu chuyện
này nằm ở đâu? Và các ngươi phải ra sức tại điểm nào?
Các ngươi há không biết rằng “Một chỗ qua lọt thì một
vạn chỗ cũng nhất thời qua lọt?”.Nếu các ngươi qua lọt
chỗ Đạo Ngô nói “Không nói là không nói” các ngươi có
thể khớp mỏ cả thiên hạ. Nếu không qua lọt, hãy rút lui
vào tịnh thất vô tận lực để tỏ ngộ đạo lý của Thiền.
Đừng để cho ngày giờ luống những trôi qua.
d)
Bình túng của Tuyết Đậu
Thố
mã hữu giác
Ngưu
dương vô giác
Tuyệt
hào tuyệt ly
Như
sơn như nhạc
Huỳnh
kim linh cốt kim do tại
Bạch
lãng thao thiên hà xứ trước
Vô
xức trước
Chích
lý Tây quy tằng thất ước
Thỏ,
ngựa có sừng (cắt đứt ra. Thiệt là lạ lùng. Thiệt là
mới mẻ
Trâu,
dê không sừng (cắt ra. Thành hình thù gì! Mà mắt ai thì được,
ta thì đừng hòng).
Không
chút mảy may (Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Các
ngươi mò ớ đâu?
Bằng
núi, bằng non (ở chỗ nào? Đất bằng sóng dậy. Hãy vuốt
mạnh cái mũi của ngươi đi).
Linh
cốt vàng ròng nay còn đây (Cắt lưỡi, chẹn họng. Để sang
một bên. Chỉ e không ai hiểu y).
Sóng
biển ồ ạt, thôi hết đường. (Bỏ qua một chút. Chân bước
trật rồi. Mắt, tai để không vô).
Thôi
hết đường. (Quả nhiên lại chuyện đó. Quả nhiên chìm
lỉm trong hố sâu).
Lê
dép về Tây bặt.dấu luôn. (Cha ông làm không xong, để lụy
đến con cháu. Khi đánh, phải nói: Tại sao lại ở đây?)
e)
Bình giải bài tụng
Đây
là bài bình tụng của Tuyết Đậu, cho thấy ngài thấu suốt
tắc này ra sao. Vốn là dòng dối Vân Môn, phàm trong một câu,
ngài đặt búa rìu cả ba câu. Nhắm vào chỗ khó nói mà nói
toạc ra. Nhắm vào chỗ khó khơi mở mà khơi mở ra. Bài tụng
đi ngay vào chỗ khẩn yếu. Tụng rằng:
Thỏ
ngựa có sừng
Dê
trâu không sừng
Thử
hỏi, thỏ và ngựa làm sao có sừng, mà trâu và dê lại không
sừng? Nếu các ngươi thấu triệt công án nêu trên, mới biết
Tuyết Đậu vì sự ích lợi của kẻ khác ở chỗ nào. Có
kẻ nhầm lẫn mà cho rằng, không nói tức là nói, không lời
tức là lời. Như thỏ và ngựa vốn không sừng mà nói có
sừng, trâu dê có sừng lại bảo không sừng.
Hiểu
cớ sự như thế, chẳng ăn nhập gì đến đây. Há không biết
rằng, cổ nhân thiên biến vạn hóa, hiện ra thần thông như
vậy, cốt là vì các ngươi để các ngươi phá tan hang tối
của ma quái. Nếu các ngươi qua được đây, chẳng có gì
đáng giá cả.
Thó,
ngựa có sừng
Trâu,
dê không sừng
Không
chút mảy may
(Nhưng)
Bằng núi bằng non
Bốn
câu này như một ma ni bửu châu mà Tuyết Đậu ném hết ra
trước mặt các ngươi Những câu chót cứ theo khoản mà kết
án:
Linh
cốt, vàng ròng nay còn đây
Sóng
biển ồ ạt, thôi hết đường.
Chỗ
này nói tới những lời của Thạch Sương và Thái Nguyên Phù.
Nhưng tại sao lại nói:
Thôi
hết đường
Lê
dép về Tây bặt dấu luôn.
Như
con linh quy xóa dấu đi. Và đây là chỗ Tuyết Đậu xoay mình
vì kẻ khác. Cổ nhân nói: “Hãy xét câu sống, đừng xét
câu chết”. Nếu dấu vết đã mất, tại sao cả một bọn
người tranh nhau giành lấy?
II
VÔ
MÔN QUAN 無 門 關
Vô
môn quan là một khóa bản khác của Phật giáo Thiền tông;
những bài giảng thường diễn ra tại các tăng viện đều
căn cứ trên đó. Đây là một tác phẩm đơn giản hơn tác
phẩm Bích nham lục; vì nó chỉ gồm có bốn mươi tám
"tắc" và là tác phẩm của một người. Sự kết cấu của
nó cũng giản dị, gốm một tắc với nhưng bình xướng bằng
tản văn và vận văn, cả hai đều ngắn. Tác giả là Huệ
Khai (1183-1260), khai hóa vào cuối đời Tống (960-1279). Tục
truyền đăng lục chép sư là đệ tử của Vạn Thọ Sùng
Quán. Khi sư thấu hiểu những lẽ ẩn mật của Thiền nhờ
tham cứu chữ VÔ, sư tự giãi bày bằng bài thơ sau đây:
Thanh
thiên bạch nhật nhất thanh lôi
Đại
địa quần sinh nhãn hoát khai
Vạn
tượng sum la tề khể thủ
Tu
di bột khiếu vũ tam đài
Trời
quang mây tạnh, sớm dậy vang lừng
Mọi
vật trên đất, mắt bỗng mở bừng
Muôn
hồng nghìn tía cúi đầu làm lễ
Núi
Tu di cũng nhảy múa vui mừng.
Huệ
Khai đề tặng Vô môn quan cho Tống Lý Tông để cung chúc nhà
vua vào dịp kỷ niệm bốn năm đăng vị của ông (1229). Trong
bài tựa, sư viết:
"Tất
cả những lời dạy của Phật lấy Tâm làm tông, lấy
không
cửa làm cửa vào Đạo. Đã là không cửa, làm sao vào được?
Há không nghe cổ nhân nói: "Vào bằng cửa không phải là đồ
quý, do duyên mà có rồi thủy chung cũng thành hoại". Nói như
thể tợ hồ không gió mà sóng dậy, da thịt tốt mà nổi
ghẻ. Những ai tìm lý trong lời, chẳng khác vác gậy quơ trăng,
cách giày gãi ngứa. Có gì liên quan đến sự thật đâu?
“Mùa
hạ, niên hiệu Thiệu Định thứ nhất (1228), tôi làm thủ
chúng ở Long Tường, Đông gia, nhân được tăng chúng thỉnh
giảng pháp, bèn đem công án của cổ nhân làm viên gạch động
cửa. Tùy theo căn cơ mà dắt dẫn người học. Sao lục những
lời bình giải lại, rồi bỗng dưng thành tập. Không sắp
đặt thứ tự của bốn mươi tám tắc ở đây; gọi chung
là Vô môn quan.
“Nếu
là kẻ liều lĩnh không kể mất còn, một mình một dao bước
thẳng vào chỗ thù địch, dù Na Tra tám tay cũng không cản
nổi. Ngay cả hai mươi tám vị Tổ ở Tây thiên, sáu vị ở
Đông độ, chỉ nghe phong thanh cũng đủ cầu xin tha mạng.
Nếu chần chờ, chẳng khác nào đứng cách cửa sổ mà canh
chừng ky sĩ, chỉ trong chớp mắt y đã chạy mất rồi.
Tụng
rằng:
Đường
lớn không cửa
Có
nghìn lối vào
Qua
được cửa này
Càn
khôn lẻ bước.
Để
thấy chỗ khác nhau giữa Vô môn quan và Bích nham tập, sau
đây trích dịch Tắc thứ nhất:
TẮC
I: CON CHÓ TRIỆU CHÂU
Một
thầy tăng đến hỏi Triệu Châu, “Con chó có Phật tánh không?”.
Triệu Châu đáp “Vô”
Vô
môn bình:
Học
Thiền phải lọt cửa Tổ sư. Diệu Ngộ phải cùng tâm bặt
nẻo. Cửa Tổ không lọt, nẻo tâm không bặt, chỉ là hỗn
ma nương cây tựa cỏ. Vậy thử hỏi: Cửa Tổ là gì? Chỉ
là một chữ Vô, vốn là quan ải của cửa Thiền. Nên sách
này đề là Vô môn quan.
Ai
đã qua lọt được, chẳng những chính mắt thấy Triệu châu,
mà còn thấy hết thảy Tổ sư đời đời tiếp nối Đạo
Thiền.
Tay
trong tay cùng bước, mặt đối mặt song song; cùng một mắt
thấy, cùng một tai nghe, há chẳng khoái trá sao?
Các
ngươi có muốn qua lọt quan ải đó không?
Nếu
muốn, hãy đem toàn thân với ba trăm sáu mươi đốt xương,
tám vạn bốn nghìn lỗ chân lông mà tham cứu chữ VÔ. Ngày
đêm nghiền ngẫm trong lòng. Đừng coi đó là cái không vô,
cũng đừng đọ với hữu vô. Phải như đang nuốt một cục
sắt đỏ rực, muốn nhổ mà nhổ không ra. Hãy quét sạch
hết những sở tri sở kiến xấu xa trước kia đi. Dần dần
thành thục, tự nhiên nhồi thành một khối. Như người câm
chiêm bao, thấy được mà nói không được, chỉ riêng mình
biết. Đến lúc bùng vỡ, thật kinh thiên động địa. Chẳng
khác nào cướp được Thanh Long đao của Quan Vũ cầm tay, tùy
thích mà múa. Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ. Tự
do tự tại trên đầu ghềnh sinh tử. Hiện du hí tam muội
mà rong chơi trong lục đạo tử sinh.
Nhưng
thử hỏi, làm sao nghiền ngẫm chữ VÔ? Hãy dốc hết khí
lực bình sinh vào công án, đừng để gián đoạn, rồi đến
lúc ngọn đèn Chánh pháp như bừng sáng lên.
Tụng
rằng:
Con
chó Phật tánh
Nêu
trọn chính lệnh
Vừa
dẫm hữu vô
Vùi
thây mất mạng
[1]
Tắc: có thể hiểu như là một quy tắc; nhưng xét theo nội
dung, người ta phải hiểu là công án.
[2]
Đạo Ngô, tên thiệt là Viên Trí, đệ tử của Dược Sơn
Duy Nghiễm, tịch năm 835, đời Đường, thọ 67 tuổi. Nhân
một hôm cùng Vân Nham đứng hầu Quy Nghiễm, Nghiễm hỏi Viên
Trí: “Chỗ trí không dò tới nỗi thì đừng có nói: nói
tức đầu mọc sừng. Ông nghĩ sao?”. Sư bèn bỏ ra, không
nói. Vân Nham hỏi Dược Sơn: “Sao sư huynh Viên Trí không
trả lời hòa thượng?” Dược Sơn nói: “Hôm nay ta đau lưng.
Ông đi hỏi viên Trí. Y hiểu đấy”. Vân Nham đến kiếm
sư huynh Viên Trí của mình hỏi: “Hồi nãy sao anh không trả
lời hòa thượng?” Viên Trí nói: “Đi hỏi hòa thượng tốt
hơn”. Đây là lối ám chỉ cẩn mật của Viên Trí.
Thạch
Sương là đệ tử của Đạo Ngô Viễn Trí. Một hôm sư hỏi
Đạo Ngô: “Sau khi thầy trăm tuổi, thoảng có ai hỏi điều
quá khó làm sao trả lời?”. Viên Trí không đáp mà gọi sa
di. Sa di lên tiếng. Viên Trí bảo: “Con lấy nước chế thêm
vào tịnh bình”. Một đỗi, hỏi Thạch Sương vừa nói gì.
Thạch Sương lặp lại câu hỏi. Viên Trí đứng dậy đi ra
khỏi phòng. Bỏ đi ra cố nhiên là cách bày tỏ Đạo Thiền
ưng ý nhất của Đạo Ngô Viên Trí.
Những
ngôn ngữ và hành vi khác được ghi trong Truyền đăng lục
XIV.
[3]
Những chữ nghiêng trong ngoặc là những binh chú của Tắc.
(D.G.)