LUẬN
BỐN
TÍNH
KHAM NHẪN
TRONG
ĐỜI SỐNG ĐẠO PHẬT
Dẫn
khởi
Chúa
ơi, đường của ngài, không phải của tôi
Nó
tối tăm biết bao!
Hãy
dẫn dắt tôi bằng cánh tay của ngài,
Hãy
chọn cho tôi lối bước
Dù
nó gập ghềnh hay bằng phẳng,
Mãi
mãi vẫn là con đường tuyệt diệu.
Dù
cong hay thẳng, nó đưa
Thẳng
đến chỗ nghĩ ngơi của ngài,
Hãy
chọn tôi bằng cả những bạn hữu,
Và
bệnh tật hay sức khỏe của tôi.
Hãy
chọn tôi bằng cả những lo lắng
Và
sự sang giàu hay túng quẩn.
Đừng
chọn tôi bằng cân nhắc
Những
điều hoặc lớn hoặc nhỏ;
Ngài
hãy là hướng đạo và sức mạnh của tôi
Và
sự khôn ngoan và tất cả của tôi.
(Ghi
chú của dịch giả :
Đáng
lẽ phải dịch là “tính thụ động”, nhưng xét nội dung
tác giả cố ý đề cập đến nỗ lực bằng tha lực. Như
vậy không có tính cách tiêu cực như là thụ động theo nghĩa
thường được hiểu. Chữ “kham nhẫn” vốn là dịch ý
của Passivily, có thể gợi cho chúng ta nỗ lực chủ động
khi tự phó thác sự cứu rỗi cho một tha lực. Trong thiền
luận này khi Passivily được dùng trong ý nghĩa tiêu cực, sẽ
được dịch là “Tính thụ đông”. Ngược lại, là “Tính
kham nhẫn”. Thỉnh thoảng, cả hai được dùng cùng lúc.)
Cảm
giác về tính kham nhẫn trong kinh nghiệm tôn giáo như bài thơ
trên đây diễn tả một cách điển hình, cảm giác ấy phổ
quát và tự nhiên, vì rằng ý thức tôn giáo, một đằng cốt
ở chỗ nhận ra sự bất lực của một sinh vật hữu hạn,
và đằng khác là sự che chở một thực thể vô hạn, dù
người ta quan niệm ra sao về nó. Thể tánh hữu hạn của
chúng ta có thể phản đối rằng: “Sao người bỏ ta?” nhưng
khi sự phản đối này nằm trong chúng ta thì không có kinh
nghiệm tôn giáo; và chúng ta chưa được cứu rỗi trọn vẹn.
Bởi vì sự cứu rỗi chỉ hiện đến lúc chúng ta có thể
nói: “Lạy Cha, con gởi hồn con vào đôi tay Cha” hay “Lạy
Chúa, dù ngài giết chết con, con vẫn tin Chúa”.
Đấy
là sự nhẫn nại hay vong ngã, vốn là một trạng thái thụ
động, sẵn sàng để cho “ý người” ngự trị trên thế
giới của những sinh vật hữu hạn. Đây là thái độ đặc
trưng của một tâm hồn tôn giáo bày tỏ về sự sống và
cuộn đời; và chúng ta biết rằng tất cả kinh nghiệm tôn
giáo, trên phương diện tâm lý, quan hệ chặt chẽ với cảm
giác về tính kham nhẫn. Chủ đích của Luận này là thử
xem cảm giác ấy điều hành ra sao và nó biểu lộ bằng những
hình thức nào trong đời sống của đạo Phật, kể cả Thiền
tông.
I
GIÁO
LÝ VỀ NGHIỆP
Nhìn
sơ qua, tính thụ động, hay tính kham nhẫn đường như không
phù hợp với khuynh hướng chuộng trí năng của Phật giáo,
nhất là của Thiền tông vốn thiên trọng tinh thần tự tin
như được thấy trong các đoạn văn này: “Bồ tát đại
sĩ (Bodhisattva-mahãsattva) hoàn toàn lánh mình vào nơi cô tịch.
Phải phản quan tự kỷ, bằng vào tri giác nội tại của mình,
đừng nương tựa vào ai khác”[1], hay chúng ta đọc thấy
trong kinh Pháp Cú (Dhamma-pãda):
Tự
mình làm điều ác
Tự
mình sanh nhiễm ô
Tự
mình không làm ác
Tự
mình thanh tịnh mình
Thanh
tịnh, không thanh tịnh
Đều
do tự chính mình
Ai
thanh tịnh cho ai?[2]
Ngoài
ra, bốn Diệu Đế, Mười hai nhân duyên, Tám chánh đạo, vân
vân, tất cả hướng tới giác ngộ và giải thoát, chứ không
hướng tới sự nương tựa hay chấp nhận tuyệt đối. “Nhìn
bằng đôi mắt của chính mình, không bị buộc ràng”, đấy
là cách ngôn của đạo Phật, và có vẻ như không dành chỗ
cho tính thụ động hay kham nhẫn. Bởi vì tính thụ động
chỉ xuất hiện khi người ta khứng nhận một quyền năng
bên ngoài.
Sự
thành tựu của tính kham nhẫn trong đạo Phật đặc biệt
bị cản trở bởi giáo lý về nghiệp (karma). Thuyết Karma
tung hoành qua tất cả những kiến trúc tư tưởng của Ấn
Độ, và đạo Phật như là một sản phẩm của suy tưởng
Ấn, không thể lẫn tránh không đưa vào kết cấu của mình.
Những mẫu chuyện Jãtaka, nói về lịch sử của Phật khi
còn là Bồ Tát và đang tụ tập vì sự giác ngộ cứu cánh
vô thượng, cũng chỉ là ý niệm về Nghiệp được áp dụng
cụ thể và được miêu tả bằng công hạnh của một nhân
cách toàn thiện. Đức Thích Ca không thể thành Phật nếu
ngài không tích tụ phước đức (kusalamula) trải qua nhiều
đời trong quá khứ.
Nguyên
tắc của Nghiệp là “gieo gió, gặt bão” và nguyên tắc
ấy chi phối toàn thể đời sống của Phật tử; bởi vì,
sự thực, cái dựng lên cá biệt tính của một ngươi không
gì khác hơn chính là Nghiệp của y. Chúng ta đọc thấy trong
Milandapanha: “Tất cả chúng sinh đều có tư sản là Nghiệp
của mình, chúng là những kẻ thừa tự của Nghiệp, chúng
sinh ra từ Nghiệp. Nghiệp là nơi trú ẩn của chúng, Nghiệp
ban cho chúng sinh sự sang hay hèn”. Điều này được xác nhận
trong kinh Samyuktamkãya :
Những
hành vi tốt và xấu của nó,
Kẻ
trần gian nào cũng làm khi ở đây;
Nó
có thế gọi đấy là sở hữu của mình;
Nó
mang theo cái đó khi chết,
Cái
đó đi theo nó,
Như
hình bóng không rời.
Theo
Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga), chương XIX, có thể chia
Nghiệp thành nhiều nhóm theo thời gian, thứ tự quả báo và
cộng tác; 1. Nghiệp cảm quả trong đời nay, nghiệp cảm quả
trong đời sống kế, nghiệp cảm quả không định thời, và
nghiệp không có hiệu quả; 2. Nghiệp đè nặng, nghiệp tích
lũy, nghiệp sắp chết và nghiệp tập quán ; 3. Nghiệp thác
sinh, nghiệp duy trì, nghiệp cản trở quá, nghiệp hủy diệt[3].
Như vậy, có một vòng tròn của nghiệp và một vòng tròn
của quả, chúng quay không ngớt. Nhưng kẻ quay nghiệp và quả
là ai?
Tác
nghiệp nhưng không tác giả,
Và
cũng không có thọ giả,
Chỉ
do các uẩn chuyển biến
Chính
đó là thấy biết đúng
Và
nghiệp như thế và quả như thế
Mỗi
mỗi tuần hoàn từ nguyên nhân
Như
tuần hoàn của cây và giống
Không
ai nói được đầu mối chúng
Không
có quả ở trong tác nghiệp
Không
tác nghiệp ở trong cảm quả
Mỗi
cái mỗi cái đều trống không
Nhưng
chẳng quả nào lại không nghiệp.
Cũng
như lửa không cất giữ
Trong
ngọc, phân bò, mặt trời
Cũng
không có ở ngoài đó
Không
lửa nào không nhiên liệu
Cũng
thế, chúng ta không hề nhận
Quả
chín mùi ở trong tác nghiệp
Nhưng
tác nghiệp được thấy ra
Không
phải ngoài hay trong nghiệp
Tác
nghiệp hiện hữu ngoài cảm quả
Và
cảm quả ở ngoài tác nghiệp
Nhưng
chính do tác nghiệp
Mà
cảm quả xuất hiện
Không
có thiên giới hay phạm thiên giới
Tạo
ra vòng luân hồi bất tận
Chính
do các uẩn chuyển tiếp
Xuất
phát từ nhân và duyên.[4]
Tác
động của nghiệp hình như hoàn toàn vô ngã, theo giải thích
của những trích dẫn trên đây; và cũng có vẻ như không
dính dáng gì đến cái người làm một việc thiện hay ác
nào đó. Không có tác giả của những tác nghiệp hay hành
vi, không có thọ giả hay người hưởng quả. Năm uẩn tụ
và tán theo định luật nhất định của nghiệp; dù không
có người chủ tác ở hậu trường cảm nhận thực sự giá
trị của nghiệp, nhưng không hẳn không lý đến tính cách
của hành vi đang được tạo tác và tính cách của hậu quả
phát xuất. Những người theo đạo Phật vẫn được khuyên
là đừng làm điều xấu:
Người
lỡ làm điều ác
Chớ
tiếp tục làm theo
Chớ
vui trong điều ác
Chứa
ác, tất thọ khổ.[5]
Tại
sao khổ? Tại sao vui? Lý luận của nhà Tiểu thừa diễn ra
một cách có quy cũ, nhưng đối với vấn đề tâm lý thực
hành, chỉ lý luận suông không được gì. Phải chăng sự
cảm thọ không thực cho bằng sự nối kết nhau của năm uẩn?
Sự tập hợp - nghĩa là cái nhất thể - hình như không phải
chỉ là để tập hợp mà thôi. Thế nhưng, vì tôi sẽ không
thảo luận chi tiết về nghiệp ở đây, nên chỉ cần nêu
lên một trích dẫn khác từ Trung quán luận tụng (Mulamadhyamakakarika)
của Nagarjuna, ch.XVII, nơi đây thuyết về Nghiệp hiện ra trong
một trang phục mới mẻ[6]:
“Tất
cả các loài hữu tình sinh ra theo nghiệp của chúng: Thiện
nhân sinh thiên đường, ác nhân sinh địa ngục và ai thực
hành Chánh Đạo thì chứng đắc Niết Bàn. Do tụ tập lục
độ nên có thể làm ích lợi chúng sinh bằng nhiều đường
hướng, và chắc chắn sẽ được hưởng phước lạc không
những chỉ đời này mà cả đến đời sau. Nghiệp có thể
có hai loại: tư (cetana) hay nội tâm và tư sở tác (cetayitva),
phát hiện bằng lời và bằng vận động của thân”.
“Nghiệp
còn được chia là Biểu (vijnapti) và Vô Biểu (vijnapti). Biểu
nghiệp là một hành vi mà người khác có thể nhận thấy
chủ đích của nó, vô biểu nghiệp hoàn toàn không biểu lộ
trong những vận động của sắc thân, do đó khỉ một biểu
nghiệp mạnh được thực hiện nó khơi dậy xu hướng trong
tâm của tác giả khiến y tạo ra những tác nghiệp nữa, hoặc
tốt hay xấu, có cùng bản chất tương tợ.
“Cũng
như một hạt giống từ nó phát sinh ra chồi non và sẽ kết
trái bởi nguyên tắc tương tục; ngoài hạt giống ra không
có sự tương tục, và do có sự tương tục này mà có kết
quả Hạt giống có trước, rồi đến trái; ở khoảng giữa
hai, không có gián đoạn, không có thường hằng. Sau khi một
động lực đầu tiên trỗi lên, tiếp theo là một chuỗi liên
tục những hoạt động tâm lý, và từ đó đưa đến kết
quả. Nếu không có động lực đầu tiên của tâm, sẽ không
có dòng tư tưởng biểu lộ trong hành động. Như vậy, có
sự tương tục của nghiệp và kết quả của nó. Cho nên,
khi mười thiện nghiệp thanh tịnh được thực hiện, tác
giả chắc chắn sẽ thụ hưởng hạnh phúc trong đời này
và sau khi chết được sinh lên các cõi trời.”
“Trong
nghiệp, có cái không bao giờ mất ngay dù đã được làm xong,
cái đó, được gọi là không mất (Avipranasa), như một thứ
trái khoán, và nghiệp giống như một món nợ. Người ta có
thể tiêu dùng cái mà mình vay mượn, nhưng do trái khoán, một
ngày đó y phải trả nợ cho trái chủ. Cái “không mất”
này luôn luôn được giữ lại dù nghiệp đã được làm xong
và không bị tiêu diệt bởi trực giác triết lý. Nếu nó
có thể bị tiêu diệt như thế, Nghiệp sẽ không bao giờ
dẫn đến kết quả. Khả năng duy nhất đối trị “cái không
mất” này la sự tu đạo. Mỗi tác nghiệp một khi được
thực hiện, nó liên tục tạo ra hậu quả do cái “không mất”
cho đến khi chứng quả A-la- hán, hay chết, hay khi đã sinh
ra quả, dòng liên tục của nó mới bị cắt đứt. Định
luật về nghiệp này áp dụng đồng đều cho các bành vi thiện
và bết thiện.
Trong
khi ý kiến của Nãgãrjuna là tước bỏ tất cả những quan
niệm như “tác giả”, “ác nghiệp” và “thọ giả’,
nói cách khác, toàn bộ cơ cấu của lý thuyết về nghiệp,
sự đề khởi về ý niệm “không mất” này có tính cách
răn dạy và có nhiều ám chỉ.
Tuy
nhiên, trong toàn bộ có nhiều chỗ tối tăm trong thuyết về
Nghiệp tương tục, nhất là khi sự tác động thực tiến
của nó mà được mô tả xác thực, và, cũng trên khía cạnh
lý thuyết, chúng ta không chắc hẳn về tính chất bảo trì
trọn vẹn của nó. Nhưng chúng ta có thể giới thuyết một
cách đại khái rằng Nghiệp có khuynh hướng coi trọng tự
do cá nhân, trách nhiệm luân lý, và cảm giác tự nhủ; thêm
nữa, theo quan điểm tôn giáo, khỏi cần giả định về một
Thượng Đế, một hóa công, hay một quan tòa của đạo đức
phán quyết hành vi con người, tốt hay xấu,
Theo
trường hợp đó, cái xác tín của Đạo Phật cho rằng đời
là khổ tất nhiên sẽ đưa đến một học thuyết chặt chẽ
về tự khắc phục, tự thanh tịnh tự giác ngộ, và trọng
tâm của đạo đức luôn luôn được đặt trên chính mình
chứ không ở một chủ thể bên ngoài nào. Đấy là nguyên
tắc về nghiệp được áp dụng để biện chứng Niết Bàn.
Nhưng chúng ta có thể hỏi, cái “tự mình” ấy là gì? Lại
nữa, cái gì không hề “mất” trong nghiệp được thực
hiện bằng tâm lý hoặc vật lý?
Cái
gì móc nối giữa cái “chính mình” và cái “không mất”?.
Chính cái “không mất” này nằm ở đâu?
Giữa
thuyết vô ngã của đạo Phật và chủ trương cho rằng phải
có cái “không mất” trong sự liên tục của nghiệp lực
nhờ đó mà nghiệp lực bảo đảm mang lại kết quả, có
một hố cách phải được vượt qua bằng cách này đó nếu
triết lý đạo Phật muốn tiến triển thêm. Theo ý tôi, khái
niệm về A lại da thức (Alayavij nana) mà những chủng tử
của nghiệp được ký thác trong đó, là một hậu quả tất
nhiên. Nhưng ở đây chúng ta hãy thử xem cái “tự mình”
thực sự chỉ cho cái gì.
KHÁI
NIỆM VỀ NGÃ CHẤP
“Ngã”
là một ý tưởng phức tạp và mông lung, và khi nói rằng
người ta phải chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình,
chúng ta không hiểu rõ tầm mức của cái “ngã’ này và
nội dung của nó là gì. Bởi lẽ, những cá thể liên hệ
mật thiết với nhau không chỉ trong đời sống cộng đồng
mà cả trong toàn thể của hiện hữu - quả tình, nó mật
thiết đến độ có thể nói thực sự không có những cá
thể, nói theo ý nghĩa tuyệt đối của chữ này.
Cá
biệt tính chỉ là một phương diện của hiện hữu. Trong
tư tưởng, chúng ta tách rời cá thể khỏi nhau; và trên thực
tế cũng vậy, chúng ta thảy đều có vẻ như phân ly. Nhưng
khi suy nghiệm vấn đề sít sao hơn chúng ta thấy rằng cá
biệt tính là một hư cấu, vì không thể quy định những
giới hạn của nó, vì không thể biết chắc tầm rộng và
bờ mé của nó; chúng được trộn lẫn nhau không chừa một
vết đậm nào giữa những cái mệnh danh là cá thể. Ở đây
nổi bật lên một trạng thái tương liên vô cùng thâm thiết;
và hình như nói đúng hơn là: những cá thể không hiện hữu,
chúng chỉ là những điểm đánh dấu, mà ý nghĩa thì không
thể nhận ra khi mỗi cai được coi là tự hữu và tự tôn
phân ly những cái khác.
Cá
thể chỉ được nhận ra khi chúng được nghĩ đến trong tương
quan với cái không phải cá thể; dù nghịch lý, chúng chỉ
là cá thể khi nào chúng không phải là cá thể. Bởi lẽ khi
một sinh thể cá biệt được cô lập như thế, lập tức
nó hết còn là một cá thể. “Bản ngã cá biệt” là một
hư tưởng.
Như
thế, bản ngã không có hiện hữu tuyệt đối và độc lập.
Trách nhiệm đạo đức hình như là một thứ sản phẩm trí
năng. Có nên coi tên trộm đích thực phải chịu trách nhiệm
những hành vi của hắn? Cá thể này có thể bị cô lập thành
một kẻ phải thọ lãnh tất cả những hậu quả về thái
độ chống hợp quần của nó? Nó có thể thực sự chịu
trách nhiệm tất cả những gì làm nên tinh thể của nó? Phải
chăng tự tính (svabhava) của nó là tất cả sự tạo tác của
chính nó? Đây là điểm ách yếu của vấn đề: “Một cá
thể phải đáp ứng hành động của mình đến mức nào?”.
Nói cách khác, cái “Nó” này tách rời khỏi cộng đồng
mà nó dự phần đến mức nào? Há rằng xã hội không phản
ảnh nơi nó? Há rằng nó không phải là một sản phẩm do
xã hội tạo nên?
Ở
cõi Tịnh độ, không có những tội phạm, không có những
linh hồn tội lỗi. Không hẳn vì những thứ ấy không sinh
ra ở đây; mà chính vì tất cả thác sinh ở đây đều trở
nên trong trắng do bầu không khí chung mà chúng được nuôi
dưỡng trong đó. Mặc dù hoàn cảnh không phải là tất cả,
nhưng nó - nhất là hoàn cảnh xã hội - giữ một vai trò lớn
trong sự hình thành những bản sắc cá biệt. Nếu như vậy,
chúng ta phải tìm kiếm ở đâu ý nghĩa đích thực của học
thuyết về Nghiệp?
Trí
năng cần có một biểu tượng minh bạch, một hình ảnh rõ
rệt ở đây nó có thể gán vào đó một hành vi hay cái “không
mất’ của hành vi; và tính ra, Nghiệp đáng mô tả như là
có chủ tể khởi nguồn phạm tội, chiu quả, vân vân của
nó. Nhưng một khi thực sự không có cá thể và phải coi nghiệp
không bắt nguồn từ một chủ tể đặc biệt khả định
nào, thì học thuyết về nghiệp theo như đạo Phật chủ trương
thành ra cái gì? Rõ ràng, không có một hành vi thiện, ác hay
vô ký; không có ai thực sự cắm một con dao trủy thủ, và
không có kẻ thực sự chết dãy vì bị đâm như thế; nhưng
chúng ta sẽ phải nói ra rằng không có người giết, sự giết
và kẻ bị giết? Vậy thì, trách nhiệm luân lý sẽ thành
ra thứ gì? Làm sao có thể có sự việc như tích tập phước
đức hay thanh đạt giác ngộ? Sau hết Phật là ai? Phàm ngu
mê muội là ai?
Há
chúng ta có thể bảo rằng xã hội - mà không, phải nói cả
vũ trụ - phải chịu trách nhiệm về hành vi giết nếu một
khi sự kiện này diễn ra? Và rằng tất cả những nguyên nhân
và điều kiện đưa đến đó, và tất cả những hậu quả
quan hệ đối với nó, đều phải được ghi dấu ngay trong
vũ trụ? Hay chính cá thể là một sự kiện cứu cánh tuyệt
đối và cái gì xuất phát từ nó sẽ trở về với nó, không
dính dáng gì đến đồng loại và hoàn cảnh của nó, xã hội
cũng như vật lý?
Trong
trường hợp thứ nhất, trách nhiệm luân lý tan biến thành
một thực thể phổ biến vô hình; trong trường hợp thứ
hai toàn thể vô hình được kết tinh thành một cá thể, và
quả thực có trách nhiệm luân lý, nhưng mỗi cá thể đứng
cô lập tựa hồ mỗi chúng ta như một hạt cát không can hệ
đến những cái gần gũi nó. Trong những lập trường này,
đằng nào chính xác hơn phù hợp với những sự kiện của
kinh nghiệm loài người? Áp dụng vào học thuyết về Nghiệp
của đạo Phật, vấn đề thành ra như vầy: Phải thấu hiểu
Nghiệp của Phật giáo trên khía cạnh cá biệt hay vũ trụ?
LÝ
THUYẾT VỀ NGHIỆP TRONG PHẬT GIÁO ĐẠI THÙA
Xét
về lịch sử, đạo Phật bắt đầu với giải thích về nghiệp
trên khía cạnh cá biệt; và khi nó đạt đến chóp đỉnh
của đà phát triển trong sự hưng khởi của Đại thừa, học
thuyết này được hiểu theo khía cạnh vũ trụ. Nhưng không
theo đường lối triết lý, trừu tượng và mơ hồ như từng
được cứu xét trước kia mà theo chiều hướng cụ thể và
tâm linh như vầy: màn lưới vũ trụ dàn trải ra trong không
gian và thời gian từ trung tâm gọi là “bản ngã”, ở đó
bản ngã cảm thấy rằng mọi tội lỗi trong vũ trụ đều
nằm trên đôi vai của chính nó. Để cứu chuộc những tội
lỗi này, bắt buộc y phải gởi mình vào một hệ thống đào
luyện tâm linh và đạo đức mà y cho là sẽ rửa sạch y hết
mọi bất tịnh; và do rửa sạch mình, y rửa sạch luôn những
xấu xa cho cả thế giới.
Đây
là lập trường của Đại thừa. Thực tình, sự phân biệt
giữa những hình thái Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáo
đáng được coi là do luận thuật khác nhau đối với khái
niệm về nghiệp này. Như thế Đại thừa nhấn mạnh phương
diện “Tha Nhân” hay “toàn diện” của Nghiệp nên nhấn
mạnh sự giải thoát đại đồng. Còn Tiểu thừa tán thành
phương diện “tự mình”. Khi Nghiệp được tạo tác, theo
các nhà Tiểu thừa, trông có vẻ vô ngã nhưng sự thực là
cá biệt; đời sống khổ não .này phải được trữ khử
bằng cách tự khắc phục, tự khổ hạnh và tự tri. Không
ai ở ngoài có thể giúp kẻ chịu khổ thoát ra khỏi những
khốn nạn của y. Đức Phật chỉ có thể dạy y con đường
xa lánh, nhưng nếu y không tự mình bước đi trên đường
này, không ai có thể làm cho y bước thẳng đến trước, dù
cho năng lực và công hạnh của đức Phật cũng không thể.
“Hãy là ngọn đuốc cho chính mình và là nơi trú ẩn cho
chính mình (attadipa attasarana)” là di giáo của đức Phật
để lại cho các môn đệ Tiểu thừa của ngài. Bởi vì đức
Phật không thể san xẻ sự thành đạt và công hạnh tâm linh
của ngai cho các tín đồ và đồng đạo của ngài. Theo lập
trường đại thể của các nhà Tiểu thừa, đây là lẽ đương
nhiên:
Hoặc
trên trời, dưới biển,
Hay
trốn vào động núi
Không
chỗ nào trên đời
Trốn
được quả ác nghiệp[7]
Nhưng
Đại thừa không hài lòng với viễn tượng tâm linh hạn hẹp
này. Đại thừa muốn trải rộng đức Từ bi (Karuna) đến
giới hạn kỳ cùng. Nếu tuệ giác (Prajna) của ta có thể
ôm vào lòng cả thế giới hệ bao la, tại sao đức Từ bi
lại không thể đặt thế giới hệ vào đôi cánh che chở
của nó? Tại sao thệ nguyện (Pranidhana) của đức Phật muốn
tế độ mọi chúng sinh lại cũng không thể thực thi hướng
tới sự thể hiện của nó? Đức Phật đã thành đạo giác
ngộ sau khi chứa nhóm biết bao nhiêu điều phước thiện trong
vô số kiếp. Chúng ta có nên coi sự tích tập phước đức
này chỉ làm được lợi ích cho riêng ngài?
Nghiệp
phải có ý nghĩa vũ trụ. Sự thực, cá thể chỉ là cá thể
bao lâu người ta còn nghĩ đến chúng trong tương quan với
nhau và với toàn bộ cơ cấu mà chúng họp thành. Một làn
sóng, tốt hay xấu, một khi bị quấy động, không thể gây
ảnh hưởng toàn phần của nước. Đối với kỷ luật đạo
đức và thành tựu tâm linh của đức Phật cũng thế, những
cái đó không nằm yên nơi ngài như một biến cố cô lập
trong đời sống cộng đồng mà ngài tham dự. Vì vậy, người
ta nói rằng khi ngài được giác ngộ, toàn thể vũ trụ đều
dự phần vào trí tuệ và đức lý của ngài. Đại thừa lập
cước trên ý niệm căn bản này về giác ngộ; và thuyết
Như lai tạng (Tathagatagarbha) hay A lại da thức của nó phản
ảnh giải thích về nghiệp trên khía cạnh vũ trụ luận.
II
.
SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA Ý NIỆM TỘI LỖI TRONG ĐẠO PHẬT
Trong
lúc Tiểu thừa Phật giáo hạn cuộc sự ứng dụng của Nghiệp
vào những hành vi cá biệt, các môn đệ của nó cố khuất
phục Nghiệp bằng cách tự khắc phục. Đời sống là khổ
và khổ là sản phẩm của ta hạnh trước kia; và để dứt
mình ra khỏi, cần phải vận dụng một năng lực đối trị.
Như thế, mọi việc diễn ra hoàn toàn có tính cách khoa học,
với các nhà Tiểu thừa; nhưng khi các nhà Đại thừa nhìn
lại, họ thấy ở Nghiệp có cái khác hơn cá thể, không bị
buộc ràng vào những giới hạn của cá biệt tính. Kế hoạch
giải thoát của họ dĩ nhiên phải vượt ngoài chủ trương
cá thể của ngành Tiểu thừa. “Tự lực” không đủ sức
đương đầu với vấn đề Nghiệp trên khía cạnh vũ trụ
luận và dựa trên cái “tự mình” này, coi như riêng rẽ
đối với toàn thể hữu tình, không hoàn toàn chính đáng
và chân thực.
Bởi
vì, bản ngã không phải là một sự kiện tối hậu; và theo
đuổi kỷ luật tôn giáo của mình với ý niệm sai lầm về
bản ngã sẽ rốt ráo dẫn người ta đến một kết cuộc
trái ý và có thể không mang lại kết quả nào. Một giai đoạn
mới đến bây giờ được trỗi dậy trong ý thức tôn giáo
của Phật tử mà trước kia các nhà Tiểu thừa chỉ cảm
thấy một cách mong manh, bởi lẽ với ý nghĩa vũ trụ của
Nghiệp được phát triển như thế, thì ý niệm tội lỗi
cùng khởi theo.
Trong
Phật giáo, tội lỗi tức vô minh, nghĩa là, vô minh theo nghĩa
cá thể hay số phận cuối cùng của bản ngã. Trên phương
diện tích cực, tội lỗi là sự chấp nhận bản ngã coi như
một tự tính (svabhava) căn bản trong việc làm, ý nghĩ và
nói năng. Khi một người vượt qua hai chướng ngại này, vô
minh và ngã chấp, y được coi là không tội lỗi. Do đó, làm
thế nào để vượt qua chúng, bấy giờ là vấn đề của
các nhà Đại thừa.
Calderon,
một kịch gia nổi tiếng của Tây Ban Nha, viết: “Tội trạng
lớn nhất của con người là nó đã sinh ra đời”. Câu này
rất chí lý, bởi vì tội lỗi chính là chúng ta đã đến
với cõi đời như những cá thể phân ly với toàn thể mọi
loài. Nhưng nếu, theo một quan điểm nào đó, vì không thể
chối bỏ sự kiện này, chúng ta phải cố vô hiệu hóa những
hậu quả xấu xa bằng cách quay chiều sang hướng khác. Và
sự trở chiều này chỉ có thể diễn ra bằng cách đồng
hóa mình với vũ trụ, với toàn thể hiện hữu, với Phật
tánh (Buddhata), trong sinh mệnh của chúng ta. Tính cách tất
nhiên của tội lỗi như thế trở thành cơ hội hiến mình
cho một bình diện hiện hữu cao hơn, ở đó nổi bật lên
một nguyên tắc khác hơn chủ trương cá thể về Nghiệp.
Khi
Nghiệp được coi là có thể kiểm soát được bởi tự ta,
nhiệm vụ dứt mình khỏi những hiệu quả xấu xa của nó
tương đối là một nhiệm vụ dễ dàng; bởi lẽ, cuối cùng
nó chỉ liên hệ đến bản ngã mà thôi. Nhưng nếu tin vào
thực tại rốt ráo của một linh hồn cá biệt và thực hành
theo tin tưởng ấy là tội lỗi, cơ hồ việc cứu rỗi chỉ
dựa trên tự khắc phục và tự giác ngộ, thì công tác của
nhà Đại thừa lớn hơn công tác của Tiểu thừa nhiều. Vì
công tác này vượt ngoài cá thể, trọng tâm của nhà Đại
thừa phải triển khai một cái khác hơn cá thể để cho công
tác của nó có hiệu quả. Cái mệnh danh là bản ngã phải
được hỗ trợ bởi một quyền năng siêu việt những hạn
cuộc của bản ngã, nhưng những hạn cuộc này phải có tương
quan nội tại với nó, nếu không, không thể co một hoạt
động rất nhịp nhàng và thực sự tương trợ giữa ngã va
phi ngã .
Sư
thực, ý niệm tội lỗi, rồi đến cảm thọ khổ nảo, được
tạo ra từ sự thiếu quan hệ nhịp nhàng giữa cái được
coi là chính ta và cái không phải chính ta. Kinh nghiệm tôn
giáo ở các nhà Đại thừa là phải được mô tả bằng những
hạn từ dễ hiểu hơn ở các nhà Tiểu thừa
MỘT
THỰC TẠI SIÊU BẢN NGÃ
Phật
tánh (Buddhata) hay Pháp tánh (Dharmata) là danh từ các nhà Đại
thừa đặt ra chỉ cho cái không phải là ngã nhưng nằm trong
ngã. Bởi cớ đó, các nhà Đại thừa mới có ý thức về
tội lỗi, và đồng thời, về khả tính của giác ngộ. Phật
tánh là tinh thể của Phật quả, nếu không có Phật quả
không bao giờ đạt được trong thế gian. Khi đức Phật được
nhìn nhận một cách vô ngã và khách quan, thì đấy là pháp
(Dharma) - luật tắc, chân lý hay thực tại; và Phật tánh (Dharmata)
là cái thiết lập ra Pháp (Dharma). Pháp tánh và Pháp có thể
tương giao, nhưng kinh nghiệm của các nhà Đại thừa được
mô tả nhiều hơn trong phạm vi Phật tánh.
Với
quan niệm Phật tánh, đức Phật lịch sử trở thành một
đức Phật siêu việt; ngài hết còn là ẩn sĩ của dòng họ
sakyas, giờ đây ngài là sự biểu lộ của đức Phật vĩnh
cửu, một hóa thân của Phật tánh, và như thế ngài không
còn là một nhân cách cá biệt giới hạn trong không gian và
thời gian; bản thể tâm linh của ngài vượt ra khỏi ngài,
và mọi năng lực của nó đều ảnh hưởng đến đồng loại
của ngài trong sự tiến bộ hay tiến triển của chúng hướng
tới Phật quả. Ảnh hưởng này sẽ diễn ra cân xứng với
cường độ khát vọng và thành tín nỗi lực mà chúng thúc
đẩy để đạt tới mục đích.Mục đích đó là tẩy sạch
tội lỗi, và tội lỗi là do tin có thực tại bản ngã (svabhava),
do chấp nhận những đòi hỏi của nó là cùng đích, và không
ý thức về sự tiềm ẩn của Phật tánh trong chính mình.
Do
đó, tẩy sạch tội lỗi, trên khía cạnh trí năng, là nhìn
vào cái chân lý rằng trong cái mà người ta cho là bản ngã
còn có cái hơn thế nữa; và trên khía cạnh thực hành là
muốn và thực hiện ý chí của cái siêu việt bản ngã nhưng
tác động ngang qua bản ngã ấy.
Đây
là điểm khó khăn trong lập trường của Đại thừa, bị
khép kín trong cái mà chúng ta, những sinh vật có tâm tính
tương đối, chúng ta coi là bản ngã nhưng lại vượt lên
trên nó và nhận thức cũng như ước muốn cái chừng như
không trực thuộc bản ngã. Đây là nỗ lực tối đa hầu
thành tựu một tính chất bất khả, nhưng nếu chúng ta không
thành tựu cái này, sẽ không có sự thanh bình của tâm trí,
không có sự an ổn của tâm hồn. Bằng mọi cách chúng ta
phải thực hiện điều đó một khi chúng ta đụng phải vấn
đề trong tiến trình kinh nghiệm tôn giáo của mình. Nó phải
được kiện toàn bằng cách nào?
Nói
rằng chúng ta quá nhiều tội lỗi; trong đạo Phật, nói thế
không có nghĩa là chúng ta có rất nhiều động lực, khát
vọng hay xu hướng xấu xa; nếu bỏ đi, chúng có thể gây
thành sự diệt vong của chính ta cũng như kẻ khác; ý tưởng
này còn sâu xa hơn và bắt rễ ngay trong tự thể của chúng
ta; bởi vì tưởng tượng và hành động coi cá biệt tính
như một thực tại cứu cánh là tội lỗi. Bao lâu chúng ta
vẫn nguyên tự thể, chúng ta không có cách nào trốn thoát
tội lỗi, và điều đó nằm trong căn để của mọi phiền
não của chúng ta. Đấy là điều mà các môn đệ Phật giáo
Chân tông muốn nói đến khi họ bảo rằng tất cả mọi tạo
tác, ngay dù trên đại thể được coi là những việc lành,
thảy đều ô nhiễm, bao lâu chúng còn là những nỗ lực của
“tự lực”; và không lôi kéo chúng ta ra khỏi sự ràng buộc
của Nghiệp. Phải tăng thèm năng lực Phật tánh cho bản ngã
hay phải thay đổi nó hoàn toàn nếu chúng ta muộn giải thoát.
Phật tánh, nếu nó nội tại – chúng ta không thể nghĩ khác
đi được - tất phải được khơi dậy sao cho nó thể hiện
hành động của nó cho chúng ta, những kẻ bị đè bẹp dưới
nhưng hạn cuộc của chủ trương cá thể.
Sự
phát khởi và tạo tác của Phật tánh trong các phàm nhân tội
lỗi không thể hoàn thành bằng luận lý và tư biện; lịch
sử tôn giáo chứng minh điều đó. Mặc dù khuynh hướng trí
năng nổi bật, đạo Phật dạy chúng ta hãy kêu gọi đến
sự thể khác. Ý thức sâu xa về tội lỗi, cường độ khát
vọng mong thoát khỏi hữu hạn tính của hiện hữu cá biệt,
và sự nhiệt tình của nỗ lực cố phát khởi Phật tánh
- đấy là những điều kiện chính yếu. Kinh nghiệm tâm lý
kết quả từ đó dĩ nhiên sẽ có quan hệ với cảm thức
về tính thụ động hay kham nhẫn.
MỘT
GIAI ĐOẠN MỚI CỦA PHẬT GIÁO
Phật
giáo, với khuynh hướng trí năng của nó, đã giải thích thuyết
về Nghiệp trên khía cạnh cá thể dù có giáo lý vô ngã (anatta),
rồi ra cũng giải phóng chúng ta khỏi những xích sắt của
Nghiệp bằng cách viện đến khái niệm về Phật tánh. Như
thế, những sinh vật hữu hạn được kéo ra khỏi tiến trình
luận lý của nhân quả trong một thế giới của loài sinh
động, nhưng đồng thời ý niệm tội lỗi, tự yếu tính
vốn được gắn chặt vào chúng theo giới hạn không gian và
thời gian, ý niệm ấy đã xâm chiếm ý thức tôn giáo của
chúng. Bởi vì tội lỗi có nghĩa là sự bất lực của những
sinh vật hữu hạn không siêu việt nỗi chính mình. Dù sao
việc tẩy trừ tội lỗi sẽ là việc phí thác mình cho một
thực thể vô hạn, tức là khước từ ý đồ tự cứu rỗi,
mà gây ra một trạng thái thụ động của tâm linh nhờ đó
sửa soạn căn cơ để bước vào một thực
tại
cao hơn mình. Wordsworth diễn tả:
Tôi
chẳng tưởng có những quyền năng
Ghi
dấu trong tâm hồn chúng ta,
Và
cũng chẳng tưởng có thể nuôi dưỡng tâm mình
trong
một bản tính thụ động khôn ngoan.
Bạn
có nghĩ rằng giữa tất cả số lượng to lớn này
của
vạn vật đang mải miết nói
Rằng
không có gì tự nhiên sẽ đến
nhưng
chúng ta vẫn cứ phải kiếm tìm?
Vậy
đừng hỏi tại sao, nơi đây, một mình,
khi
có thể bàn bạc,
Tôi
ngồi trên tảng đa xám ngàn xưa này,
Và
trải thời gian trong mộng tưởng.
Như
thế, tôi có thể nói rằng đối với các nhà Đại thừa,
Nghiệp được hiểu trong tính cách vũ trụ luận nhiều hơn;
hay, đối với họ, khía cạnh siêu cá thể của Nghiệp được
coi trọng hơn khía cạnh cá thể của nó. Nỗ lực của Nagarjana
cố hư hóa Nghiệp, là phương diện tiêu cực của tiến trình
này vốn đã xuất hiện trong lịch sử Phật giáo. Nếu Nghiệp
vẫn còn được công nhận theo tính cách cá biệt bởi các
nhà Tiểu thừa, họ không sao gây được một cảm giác về
tính thụ động. Nhưng với giải thích về Nghiệp của Đại
thừa, một cảm thức khống chế xâm chiếm tâm hồn của
những người theo đạo Phật, bởi vì bây giờ Nghiệp được
hiểu là có một nền tảng sâu, mạnh và rộng rài hơn kiến
giải trước kia. Nó sinh trưởng từ trong lòng vũ tru, mà những
cá thể hữu hạn không có chút năng lực chống lại nỗi.
Cảm giác bất lực này dĩ nhiên chuyên hướng các nhà Đại
thừa vào một thực thể có khả năng chế ngự tính chất
bạo hành của Nghiệp lực.
Còn
có một yếu tố khác trong ý thức tôn giáo của các nhà Đại
thừa khiến họ luôn luôn kêu gọi đến những quyền năng
siêu cá thể cua Phật tánh. Đấy là điều mà tôi gọi la
đại bi tâm vượt ngoài khung khổ cá biệt. Nói cho cùng, đây
la rnột tâm tình ray rứt, nó chống thẳng bản năng tự tồn.
Nhưng hiển nhiên cội rễ của nó dù không sâu lắm, nó vẫn
dựng lên nền tảng thiết thực của nhân tính.
Vậy
ra, từ tâm đi đôi với bi tâm, vì một từ tâm luôn luôn
ưu tư khi nhận thấy thế gian này ngu si mê muội biết bao,
và ý thức rằng trong mình có cái gì đó khiến y có cảm
thấy minh cùng san sẻ sự mê hoặc và bất công khắp mọi
nơi. Cảm thức tội lỗi là kết quả của tất cả thứ đó.
Có lẽ đây là một trong những lý do tai sao lối thực hành
khổ hạnh hết sức hấp dẫn những tâm hồn tôn giáo; chúng
cảm giác một ám ảnh sám hối, nhưng chẳng bao giờ hiểu
rõ tại sao. Khi sức mạnh bất khả kháng của Nghiệp được
kết hợp với từ bi, và luôn cả tội lỗi như thế, thái
độ của Phật tử đối với chính mình mang một sắc thái
khác hẳn. Y không còn là một cá thể tự tin; giờ đây y
cần đồng hóa chính mình với một quyền năng bao trùm toàn
thể vũ trụ thiên sai vạn biệt.
III.
TÂM
LÝ THỤ ĐỘNG
Tính
thụ động vốn là một yếu tố tâm lý; giải thích nó trên
phương diện siêu hình hay thần học là một vấn đề khác.
Cảm thức rằng mình đã rửa sạch tội lỗi, là một cảm
thức thụ động, nếu đề cập đến ý thức của kẻ phạm
tội. Sự kiện chủ quan này có thể được kiểm chứng một
cách khách quan, hoặc có thể không. Nhưng nói rằng trong ý
thức ấy tuyệt đối không có cảm giác nào ngoài thụ động
tính thì không đúng.
Cảm
giác này, xâm chiếm chúng ta rất ư là đường đột hay chúng
ta không ý thức về mọi bước tiến của nó, hiển nhiên
là cảm giác có ưu thế, nhất là khi chúng ta biết rằng với
nhưng nỗ lực tự nguyện lớn lao nhất chúng ta vẫn không
thể đạt đến địa vị giải thoát. Nhưng khi cảm giác được
phân tích và những thành tố của nó được xác định, chúng
ta nhận thấy rằng tính thụ động này chỉ có thể được
tạo ra khi nào ngay trong chúng ta có một yếu tố chủ động
vô cùng. Giả sử bối cảnh chủ động này hoàn toàn trơn
trụi, tuyệt đối trung tính, ở đây ngay đến cái bóng mờ
của thụ động tính người ta cũng không cảm giác được.
Chính sự kiện cho thấy có cảm giác về thụ động chứng
tỏ rằng nơi chúng ta có một quyền năng sẵn sàng ở địa
vị tiếp thụ. Thuyết chỉ có “tha lực” đôi khi được
chủ trương bởi các nhà Phật giáo Chân tông cùng như các
nhà tịch tĩnh của Thiên Chúa giáo, không thể đứng vững.
Khi
một người bị ghép vào khuôn mẫu cá biệt chấp nhận nó
một cạch hữu ý hay vô tình, luôn luôn y có cảm giác bi áp
chế mà y có thể giải thích là tội lỗi; và khi tâm trí
bị ám ảnh bởi điều đó, chẳng còn có “tha lực” nào
bước vào hành sự, con đuờng bị cản trở hẳn. Vì vậy,
tự nhiên ý nghĩ tưởng rằng xóa bỏ chướng ngại ấy mình
trở nên trống rỗng hoàn toàn. Nhưng xóa bỏ chướng ngại
đó không chỉ có nghĩa là trống không trơ trọi mà là hư
vô tuyệt đối. Dù vậy, vẫn không có gì để cho tha lực
tác động
Xả
bỏ tự lực là cơ hội cho tha lực xuất hiện đương trường;
xả bỏ và xuất hiện cùng diễn ra một lúc, không phải sự
xả bỏ diễn ra trước tiên, căn cứ được dọn quang đãng
thành một chân không, rồi sau hết “tha lực” mới chiếm
lấy chỗ đó.
Những
sự kiện kinh nghiệm không chứng minh giả thuyết này, bởi
vì không có gì có thể tác động trong một khoảng chân không.
Trái lại phải có một cứ điểm để cho “tha lực” có
thể cố định ở đó, hay một hình thức mà nó có thể đáng
gọi là lẻn vào đó; sự tự định của tha lực ấy không
thể có nếu chỉ có sự trống không tuyệt đối của tính
thụ động. Giải trừ bản ngã không có nghĩa là nó bị hư
hóa hoàn toàn, mà là nó rất sẵn sàng tiếp nhận này chúng
ta đừng quên rằng có một quyền năng tiếp nhận, một quyền
năng được biến thành thụ động. Học thuyết về “tha
lực” tuyệt đối không có hiệu lực trên khía cạnh tâm
lý, cũng không đứng vững trên khía cạnh siêu hình.
CHỦ
TRƯƠNG TUYỆT ĐỐI THỤ ĐỘNG VÀ CHỦ NGHĨA TỰ DO
Học
thuyết về tính thụ động tuyệt đối thường là sản phẩm
của những hậu quả tai hại, có hai cách. Thứ nhất, có thể
gọi là tiêu cực vì nó hướng tới chủ trương tịch mặc:
giải đãi, trầm ngâm, hay diệt tận định (Nirodhadhyana); đằng
khác, dĩ nhiên là nó tích cực, rất xârn lược và tự phụ
trong tác dụng thực tiễn như được chứng tỏ bởi học
thuyết và đời sống của những người theo tinh thần tự
do ở thế kỷ XIV; đấy là một thí du. Khi cái “tôi” bị
hư hóa hoàn toàn và được thay đổi hoàn toàn bởi Thượng
đế, thế thì không phải chính cái “tôi” đó suy nghĩ,
ước muốn hay vận dộng. mà là chính Thượng đế, ngài chiếm
cứ trọn vẹn cai “tôi” ấy, ngài hoạt động qua nó, ngài
ước muốn ở trong nó. Sau đây là trích dẫn từ The Twelve
Beguines của Ruysbroech,[8] trong đó ông nên rất rõ lập trường
của phái theo tith thần độc lập ở Belgium:
“Không
có tôi, Thượng đế sẽ không có nhận thức, không có ý
chí, không có quyền năng, vì chính tôi cùng với Thượng đế
đã sáng tạo nhân cách của riêng tôi và vạn hữu. Từ đôi
tay tôi rũ xuống bầu trời, trái đất và hết thảy tạo
vật. Với tôi, tôi chẳng có hy vọng, chẳng có tình yêu.
Mọi sự tôn vinh hướng về Thượng đế ấy là hướng về
tôi, vì trong tinh thể thiết yếu của tôi, tự bản chất,
tôi là Thượng đế. Đối với tôi, chẳng có hy vọng, chẳng
có tình yêu, chẳng có niềm tin hay xác tín Thượng đế. Tôi
chẳng có điều gì để phải khẩn nguyện, vì tôi không tôn
vinh Thượng đế ở bên trên chính mình. Bởi vì trong Thượng
đế, không có sự phân biệt, không có Chúa Cha, không có Chúa
Con, không có Thánh linh (...) bởi vì tôi vòi Thượng đế là
một, và cũng là một với tinh thể của ngài (...) và nếu
không có tôi, ngài không là gì cả”.
Một
tác giả khác[9] trích dẫn đối thoại sau đây, giữa một
sư huynh của giáo phái tinh thân độc lập và người hỏi:
Vị
tài phán Ebernard de Freyenhausen hỏi Conrad Kannler:
“Tự
do của tinh thần là gì?”
“Nó
có mặt khi mọi hối hận của ý thức không còn và con người
không còn có thể tạo tội nữa”.
“Sư
huynh đã đạt đến giai đoạn toàn thiện này chưa?”
“Đã:
nếu như tôi có thể tiến bộ nhờ ân sủng, vì tôi với
Chúa là một, và Chúa với tôi là một”.
“Một
sư huynh của tinh thần độc lập có phải phục tùng uy quyền?”
“Không,
y không phục tùng ai hết, y không bị ràng buộc bởi những
quy điều của giáo hội. Nếu có ai ngăn cản y làm theo sở
thích, y có quyền giết hắn. Y có thể tuân hành tất cả
những động lực của bản tính, y không làm nên tội lỗi
khi buông theo những ham muốn của mình”.
Thuyết
phản đạo đức chủ trương mót đời sống bản năng và
trực giác, kết quả tốt hay xấu tùy theo thái độ căn bản
của tác giả. Tất cả đời sống tôn giáo hướng đến thuyết
phản đạo đức nhất là của thần bí. Thái độ đó trở
thành vô luân và nguy hiểm khi lý trí không phải đủ sức
tự lập hay bị đẩy lui vào một địa vị phụ thuộc. Điều
này thường xảy ra đối với những ai mà cảm giác về thụ
động tính và cái mệnh danh là tự do tâm lình liên kết nhau
theo mức độ khả dĩ, và kết quả là có hại. D'Aygalhers
(pp.46-47) diễn tả quan điểm của một số người theo phái
tinh thần độc lập như sau:
“Từ
đó họ mới nói rằng bao lâu con người còn thiên hướng
về những đức lý và ước mong thể hiện ý chí vô cùng
thâm thiết của Thượng đế, nó vẫn còn là bất toàn, vẫn
còn bị thành kiến chiếm hữu vạn vật (...). Vì vậy, họ
nghĩ không bao giờ có thể tin vào những đức lý, phúc lợi
hay phạm tội (...) Rồi ra, họ có thể chấp thuận mọi khát
vọng của bản tính hạ cấp, vì họ đã quay ngược về tình
trạng ngây thơ, và các luật tắc không còn áp dụng với
họ nữa.
“Từ
đó, nếu bản tính ấy bi cuốn theo chiều của sở thích,
và nếu, để phản kháng lai, sự biếng nhác của tinh thần,
dù nhẹ đi nữa, phải được ngăn chặn hay giải tỏa, họ
tuân theo những bản năng phù bẩm[10].
“Họ
thảy đều là những kẻ tiền phong chống Chúa, dọn đường
cho mọi thứ vô tín ngưỡng. Quả tình họ đòi hỏi tự do,
ở ngoài những mệnh lệnh và đức lý”[11]. “Hãy nói theo
sở thích, đừng bao giờ nói ngược lại; giữ vững ý chí,
đừng lệ thuộc một ai; đấy là điều họ gọi là tự do
tinh thần. Tự do trong xác thịt, họ dành cho thể xác những
gì nó ham muốn (...). Đối với họ, sự tinh khiết tối thượng
đối với con người cốt ở chỗ luôn luôn tuân theo bản
năng phú bẩm của mình chứ không theo một áp lực nào, hóa
ra y có thể phó thác mình cho mọi kích thích thoả mãn những
đòi hỏi của thể xác (...)”[12] “Họ muốn tạo tội và
mặc tình làm những chuyện dơ bẩn mà không sợ hãi hay dày
vò của tâm thức.[13]”[14]
Trên
khía cạnh tâm lý, người ta có thể giải thích, khi nhà thần
bí có cảm giác rằng y hoàn toàn là sở hữu của Thượng
đế, hay cái gì đó cao hơn chính mình, thì y có thể phó tahc1
mình cho đời sống nhục cảm, bởi vì trong tất cả tôn giáo
đều có một xu hướng chấp nhận bản năng hay những kích
thích tự nhiên không bị kiểm soát bởi luận lý tư biện.
Khi
hiện hữu được chấp nhận trong tư cách là một phần của
trí tuệ vô biên của Phật hay Chúa, sự chấp nhận thường
bao gồm sự đồng lõa mọi xấu xa mà xác thịt là di sản.
Chính vì vậy mà Chính thống giáo bao giờ cũng ghét chống
tai nghe theo giáo lý cảu phái thụ động một cách vô điều
kiện. Nơi đây luôn luôn có những hiểm nghèo đang rình rập.
Các vị tổ sư của Chân tông tuyên bố: “Hãy tự mình cứu
độ lấy mình”; hay thuyết cho rằng từ tâm vô lượng của
Phật A Di Đà bao trùm mọi phàm phu tội lỗi với tất cả
tội lỗi của chúng nư những ô nhiễm của chúng, dù chưa
được rửa sạch; đó là lý thuyết dễ khiến sa ngã nếu
nó khôgn được điều hòa bởi suy lý thâm trầm và cảm giác
đạo đức mãnh liệt. Những lời răn như “đừng nghĩ đến
đời sống của mình”, hay “ đừng bận tâm đến ngày mai,
vì ngày mai tự lo lấy nó”, đấy là những lời răn tế
nhị và các Phật tử cũng sẽ sẵn sàng chấp nhận cái sự
thật được chứa đựng trong đó; nhưng cùng lúc chúng ta
phải nhận ra rằng thứ chủ trương “sống theo khoảnh khắc”
đó vốn dĩ là một đời sống y như của hững loài chim chóc
và hoa đồng, và ngầm chứa cái viễn ảnh đâm đầu xuống
vực thẳm của chủ trương phóng túng và vô đạo.
Do
đó, nếu tôn giáo chân chính luôn luôn tránh óc chủ quan tuyệt
đối, đấy là điều chánh đáng. Thế nhưng, chúng ta không
đuợc phép làm ngơ trước những yêu sách tuyệt đối nhu
được diễn tả rất giản dị và ngây thơ trong đời sống
một Phật tử thuần thành dưới đây, ở đó không có những
xác quyết kịch liệt như các sư huynh của phái tinh thần
độc lập.
Kichibei
là một nông gia giàu có ở tỉnh Idzumo, nhưng khi đạo tâm
được phát khởi, y không còn có thể hài lòng với những
điều kiện trước đây nữa. Y bán hết tất cả đất đai
và với số tiền có đó y rảo khắp bốn phương để cầu
học đạo Phật Chân tông. Về sau y bán cả kho lẫm, vật
dụng và luôn cả nhà cửa, thế là dứt mình khỏi tất cả
kho tàng thế gian, y hiến mình cho việc học Phật, y vân du
khắp gần xa nghe các vị Thầy của Chân tông giảng đạo
mà không hề mệt mỏi. Năm này và năm khác trôi qua như vậy
và những người láng giềng của ông ta thường nhận xét:
“Kichibei rảo bước bằng đôi giày vàng”, nghĩa là tất
cả tiền bạc tư hữu của ông ta đã dồn hết vào tôn giáo.
Y không chút lưu tâm đến đời sống nghèo đói của mình,
nói rằng: “Sống ngày nay là đủ rồi”. Đến 70 tuổi,
ông vẫn còn đi bán cá để sống qua ngày mặc dù chỉ kiếm
được không hơn một vài xu nhỏ (tôbyaku). Nhân một hôm có
người con của người láng giềng mang cho ông một bó hoa,
ông hết lòng cảm tạ: “Nhờ ơn đức Phật Di Đà tôi sống
ngày nay để dâng cúng Ngài bó hoa này”. Ông đi đến bàn
thờ. Đứa nhỏ được thưởng hai đồng tôbyaku, là tất
cả số tiền kiếm được trong ngày.[15]
Một
Phật tử như thế há không phải cũng là một tín đồ tốt
của Chúa Ki tô? Y không nghĩ gì đến ngày mai, và trong thời
buổi hôm nay, dưới áp lực kinh tế, y sẽ phải sống ra sao?
Dù vậy, vẫn có cái vô cùng hấp dẫn trong một đời sống
như của Kichibei. Richard Rolle một nhà thần bí Thiên Chúa giáo
thế kỷ XV nói về, “một người ưa chiêm ngưỡng được
hướng về ánh sáng vô hình với một khát vọng lớn lao,
người ta thuờng coi y như là một tên điên khùng hay ngây
dại, bởi vì trái tim của nó đang rực lữa với tình yêu
của Chúa Kito. Ngay cả khi sắc thân nhục thể của nó bị
biến đổi, và trở thành xa lạ hẳn với mọi người, cơ
hồ như con của Chúa là “một người điên”[16]. Những
thành ngữ “người điên của Chúa” đều chỉ cho trường
hợp đó. Hẳn nhiên Kichibei cũng đã biến đổi ở cái dáng
bề ngoài của ông ta và đã trở thành “một người điên”
kỳ diệu[17]
MÔ
TẢ CUỘC SỐNG KHAM NHẪN
Trạng
thái tâm lý của đức tin tôn giáo như thế có thể được
giải thich theo lối nói của madame Guyon như sau:
“Thưa
các bạn thân mến của tôi; tôi sẽ nói hết với các bạn.
Và, trước hết, tôi thây1 hình như linh hồn của tôi được
hợp nhất với Chúa đến độ ý chí của tôi hoàn toàn lạc
mất trong Thiên ý. Vì vậy, nếu tôi có thể diễn tả tôi
sống ở ngoài chính mình và ngoài mọi tạo vật, sống trong
sự hợp nhất của Chúa, bởi vì sống trong sự hợp nhất
với ý của Ngài...như thế chính Chúa, bằng ân sũng thánh
hóa của Ngài, đối với tôi, Ngài là tất cả trong tất cả.
Cái bản ngã đã từng làm tôi điên đảo bây giờ đã bị
tống khứ, và tôi không còn thấy nó nữa. Và như thế, Chúa,
được nhận ra trong vạn hữu và vạn tượng, vốn là con
đường duy nhất trong đó cái TÔI LÀ, hay hiện hữu vô tận,
có thể được nhận ra; mọi vật đều trở thành thượng
đế đối với tôi trong một ý nghĩa nào đó. tôi tìm thấy
thượng đế trong mọi vật hiện tồn và trong mọi vật qua
khứ. Tạo vật là không chi ; Thượng đế là tất cả”.[18]
- Rồi,
căn cứ tiểu sử của Madame Guỵon và tài liệu văn học khác
đã ghi thêm cuộc đàm luận diễn ra giữa bà và Bossuett, đức
Tổng giám mục Meaux, vốn là lãnh tụ của giáo hội Pháp
vào thời bây giờ. Cuộc đàm luận soi sáng rất nhiều đối
với quan điểm của các nhà tịch tĩnh về phái kinh nghiệm
tôn giáo, và tôi xin phép trích dẫn sau đây:
BOSSUET:
“Tôi nhận thấy rằng những chữ và những câu mà bà dùng
đôi khi khác với những thứ mà tôi thường gặp trong các
tác phẩm thần học; và có lẽ lý do mà bà đã đề ra giải
thích điều đó. Nhưng chúng vẫn có thể bị hiểu lầm và
đưa đến chỗ lệch lạc; bởi vậy cần phải minh xác cái
đó có nghĩa là gì. Đôi khi bà mô tả điều mà bà coi là
trạng thái cao nhất của tôn giáo như là một trạng thái
của tính thụ động, và khi khác, như là chủ động một
cách thụ động. Thưabà, tôi thú thực rằng tôi sợ những
diễn tả mà tôi không lãnh hội trọn vẹn, và ít ra chúng
có cái dáng vẻ hơi trái ngược với trách nhiệm và hoạt
động đạo đức của con người.
MADAME
GUYON: “Thưa ngài, tôi không ngạc nhiên khi ngài đề cập
đến những thành ngữ này, nhưng tôi khó tìm thấy những
diễn tả khác hơn để sử dụng. Tôi sẽ cố gắng giải
thích. Trong những thời kỳ đầu tiên của kinh nghiệm tôn
giáo con người, ở trong cái cảnh có thể được gọi là
một đời sống hỗn tạp, đôi khi hành động do Chúa thúc
đẩy, nhưng thông thường hơn, trừ phi nó đã có tiến bộ
khả quan, hành động do chính mình. Dòng vận chuyển nội tại
của y, trừ phi được chỉnh đốnn bởi Thiên hưu, tự nó
diễu hành lấy và được đặc trưng bởi sự lệch hướng
vốn lệ thuộc những gì xuất phát từ nguồn suối đó.
Nhưng một khi linh hồn, bằng sở hữu của tình yêu trong
sạch và tròn đầy, được cải hóa hoàn toàn và những gì
trong nó đều trực thuộc Chúa, bấy giờ tình trạng của
nó luôn luôn hoặc thụ động hoặc hoạt động một cách
thụ động.
“Nhưng
tôi đang muốn xác nhận điều này - có lẽ là sẽ bắt gặp
nạn vấn của ngài - rằng có một vài lý do cho phép đề
cập đến chữ hoạt động một cách thụ động, bởi vì
linh hồn đã được thánh hóa. dù nó không còn có một ý
chí riêng tư nào nữa, chẳng bao giờ lại quá trơ lì. Dưới
mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, thực sự có một hành
vi rõ rệt nơi linh hồn, gọi là một hành vi hợp tác với
Chúa; dù trong một vài trường hợp nó chỉ là một sự hợp
tác với cái bây giờ, và tạo ra sự phục tùng và nhẫn nại
trong tôn giáo, còn trong những trường hợp khác, đấy là
một sự hợp tác với cái phải là và hàm chứa những thành
quả tương lai, do đó, nó là một trạng thái của vận động
và thi hành”.
BOSSUET:
Xin cảm ơn Bà. Tôi hiểu bà có sự phân biệt không nghi ngờ
được giữa hai thứ trường hợp như đã nhắc nhở, nhưng
vì chữ chủ động một cách thụ động sẽ áp dụng cho cả
hai, tôi nghĩ là cần phải xét đến. Bà dùng từ ngữ phức
tạp này, tôi giả thiết, bởi vì có hai hành vi hay hai tác
động rõ rệt phải được diễn tả, tức là hành vi của
ân sủng khai mào hay dự liệu, về phía Chúa, và hành vi hợp
tác về phía tạo vật; linh hồn thì thụ động, hay chỉ là
tri giác, trong trường hợp thứ nhất; và thụ động, dù luôn
luôn thuận theo sự chỉ đạo của thánh linh, trong trường
hợp thứ hai”.
“Chủ
động thụ động” hay “thụ động chủ động”, cả hai
đều diễn tả tâm trạng của các nhà thần bí thuộc nhóm
tịch tĩnh chủ nghĩa. Trên đại thể, họ không ý thức về
vai trò chủ động của chính mình trong kinh nghiệm tôn giáo
của mình, và có thể họ không muốn biết đến vai trò này
trên căn cơ triết học tôn giáo của mình. Nhưng, như tôi
đã nói trước đây tuyệt đối không có trạng thái thụ
động của tâm trí, bởi vì điều đó thường chỉ cho sự
trống không toàn diện, và thụ động có nghĩa rằng đã có
sẵn cái phải chấp nhận. Ngay cả Thượng đế cũng không
hành sự ở nơi chẳng có gì để làm ra, hay làm với. Thụ
động tính là một từ ngữ tương đối chỉ định một trạng
thái ý thức không được phân tích đầy đủ. Trong đời
sống tôn giáo của chúng ta, tính thụ động xuất hiện như
là cao điểm của tính chủ động tích cực; tính thụ động
mà không có điều kiện sơ khởi này thì nó thuần là không
hư, trong đó sẽ không có ý thức ngay từ đầu, bất cứ
hình thái nào của tính thụ động.
“Tôi
sống, nhưng không phải tôi mà là Chúa Ki tô sống trong tôi”.
Đấy là một chủ trương thụ động đối với kẻ khác nào
đó, chứ không phải chính ta, cái ta vốn đã sở hữu cái
sống thực, nhưng cái sống thực lúc nào cũng y nhiên. ở
đó. “Nhà ngươi chết, nhưng sự sống của ngươi được
cất giấu với Chúa Ki tô trong Thượng đế” (Colos, IV,3).
Trong bạn, có cái thuộc về sự chết, sớm hay muộn nó phải
chết, nhưng cái phải sống vẫn sống mãi. Điều ấy không
có nghĩa rằng bạn bị tiêu hủy hoàn toàn, mà có nghĩa rằng
bạn đang sống, theo ý nghĩa sống động nhất của chữ này.
Sống là một tính cách chủ động; quả thực, nó là hình
thái cao nhất, của hoạt động tính. Tính thụ động tuyệt
đối, chính nó là sự chết.
TÍNH
KHAM NHẪN VÀ PHẬT GIÁO TỊNH ĐỘ TÔNG
Chính
nơi Tịnh độ tông mà ý niệm về tính thụ động trong đạo
Phật có thể thấy rõ nhất, ngay dù trong trường Thánh Đạo
nó cũng không hoàn toàn vắng mặt. Thân Loan, một đại luận
sư của thuyết “Tha lực” (tariki) dĩ nhiên chú trọng tính
kham nhẫn hay thụ động trong đời sống tôn giáo của các
môn đồ. Ý tưởng của ngài được thấy rõ ở những trang
sau đây, trong đó ngài bác bỏ “tự lực” (hakarai) , Ngài
nói :
“Tự
lực có nghĩa là tự ý chi của hành giả, nương theo chính
mình, qua các cơ duyên khác nhau trong đời sống, xưng niệm
các Phật hiệu khác (ngoài danh hiệu Phật A-di-đà) tự mình
tu hành các thiện căn khác (ngoài việc xưng danh hiệu Phật
A-di-đà); y xác nhận ý chí của riêng mình, bằng ý chí đó
y nỗ lực chữa trị mọi rối loạn khởi lên từ thân, khẩu,
ý và do làm cho mình trong sạch ra như thế, y muốn vãng sinh
vào cõi Tịnh độ.
“Trái
lại, hành giả theo “tha lực” đặt trọn niềm tin tâm huyết
của mình vào bản nguyện của Phật A-di-đà như được nói
lên trong Nguyện thứ XVIII, trong đó ngài phát nguyện tiếp
độ hết thảy chúng sinh vào cõi Tịnh độ của ngài nếu
chúng chỉ xưng niệm danh hiệu ngài và mong ước được ngài
cứu rỗi. Thánh nhân nói, ở đây không phải là sự thi thiết
của loài người mà chỉ có sự thi thiết của Như Lai. “Thi
thiết của loài người” có nghĩa là tự ý chí, và “tự
ý chí” là tự lực. Đối với tha lực, đấy là hết lòng
tin ở bản nguyện, và khi hành giả được quyết định vãng
sinh vào cõi Phật Di Đà như thế, thì không có sự thi thiết
của loài người nào trong tất cả phương sách ấy. Và do
đó, y khỏi phải lo lắng xem mình có được Như Lai tiếp
đón hay không vì tội nghiệp của mình.
“Y
phải nhất tâm bất loạn, ngay dù với tất cả những tham
dục của mình, bởi vi chúng nằm ngay trong bản chất của
kẻ phàm phu ngu muội và tội lỗi như y; cũng đừng tưởng
rằng mình sẽ vãng sinh nhờ thiện tâm và thiện hành của
mình. Bởi vì, bao lâu tâm tư của y còn tựa trên “tự lực”
của mình, thì y vẫn chưa có cơ hội để vãng sinh tịnh độ.[19]
Từ
vựng của Thận Loan thật là phong phú như trong các thành ngữ
“nghệ thuật không nghệ thuật”, “ý nghĩa không ý nghĩa”,
“không có thi thiết gì cả”, “cách tự nhiên”, “cách
như nhiên”, “quá trình tự nhiên của vạn vật”, “những
đoạn đường của tự do tuyệt đối”, ‘con đường không
trở ngại”, “siêu việt trí lực và nỗ lực của phàm
ngu” như là ý chí của Phật, “xác tín tuyệt đối ở bản
nguyện của Như Lai vốn không bị nhuộm màu nỗ lực của
phàm phu”, “tín tâm lớn là Phật tánh và Phật tánh là
Như Lai”...
Ý
nghĩa rốt ráo của tất cả những thành ngữ này rất phổ
thông trong từ vựng của Phật giáo Chân tông, nó là cung cách
xác chứng cho tính thụ động trong tâm lý của môn đồ phái
này. Hãy để cho Phật Di Đà hoàn thành bản nguyện của ngài
theo như ngài đã phát thệ trong lúc khởi đầu hành đạo,
nói thế có nghĩa là chúng ta hãy hết lòng tin ở bản nguyện
ấy và nó sẽ tự có đường lối đi vào những tâm hồn
tội lỗi của chúng ta một cách chắn chắn, tự nhiên, ngẫu
nhiên, khỏi cần đến sự nỗ lực nơi chúng ta, và nó sẽ
đưa ta vào cõi An lành và Thanh tịnh sau khi chết. Trong khi
chúng ta đang sống trên trần gian này vì nghiệp quả của
quá khứ bị ràng buộc bởi những luật lệ của xác thịt
và bị điều động bởi sự khẩn thiết sinh tồn của bản
năng và không tự chủ, chúng ta không thể trốn khỏi biến
trình của nó, nhưng vì còn có bản nguyện của Phật A-Di-Đà
vốn đã chứng tỏ hiệu nghiệm trong sự thành tựu giác ngộ
tối thượng của chính ngài, chúng ta khỏi phải lo lắng về
nhu cầu tội lỗi trong đời sống trần gian của mình.
Đức
tin tuyệt đối khiến chúng ta không còn những lao tâm khổ
trí vốn làm cho chúng ta mệt mỏi vì những tội lỗi của
mình. Nhlmg tội lỗi mà phàm phu chúng ta đã tạo nên, không
cần phải tiêu diệt, vì, chúng ta còn là những hiện hữu
tương đối, hữu hạn và bị chế ngự bởi những thế lực
vượt ngoài kiểm soát của “tự lực” nên chúng ta không
thể tự mình trừ khử trọn vẹn những đam mê, những ham
muốn và những đòi hỏi ô trọc. Dù vậy, chúng ta không bận
tâm đến tội lỗi, bởi vì tội lỗi của chúng ta không còn
ảnh hưởng đời sống của chúng ta sau khi chết, chúng ta
há không được sẵn sàng cứu rỗi bởi bản nguyện của
Phật A-di-đà mà chúng ta xác nhận vô điều kiện? Há không
phải chính ưu tư của chúng ta về đời sống sau khi chết,
hay bất tử như những người Ki tô giáo thường nói đến,
khiến cho chúng ta cảm thấy bị buộc ràng với tình trạng
tội lỗi này trên mặt đất?
Không
phải là chúng ta tiếp tục tạo tội, hay coi nhẹ việc tạo
tội, như một số người phản đạo chủ trương; thực sự,
chúng ta cảm thấy có quan hệ nghiêm trọng với việc tạo
tội, nhưng việc tạo tội này không làm lay động tin tưởng
của chúng ta đối với Phật A-di-đà, cũng như với giác ngộ
và giải thoát cứu cánh của mình. Linh hồn không còn bị
xáo trộn, nó vẫn giữ vững niềm thanh thản của mình, cũng
như hy vọng và niềm vui siêu việt của mình, với tất cả
những tội lỗi, những ăn năn, những hối hận. Richard Rolle,
tác giả của Amending of Life, là một nhà thần bí Thiên Chúa
giáo ở thế kỷ XIV. ý tưởng của ông về tội lỗi và về
sự thanh khiết của tâm hồn hẳn phải khiến chúng ta nhớ
lại quan điểm được trình bày ở trên. ông viết (pp. 75-76):
“Ai
có thể nói đứng đắn “Tôi khỏi tội lỗi?” Không ai
trong cuộc sống này; bởi vì, như Job nói, “Nếu tôi tắm
bằng tuyết và rửa sạch đôi tay hơn bao giờ hết, nhưng
nếu như bạn xô tôi vào hố thì chính áo quần của tôi sẽ
làm tôi kinh tởm”. “Nếu tôi tắm bằng tuyết” tức là
hối cải thực thụ; “và rửa sạch đôi tay hơn bao giờ
hết” là những việc làm vô tội; “nhưng nếu như bạn
xô tôi xuống hố” là những tội nhẹ không thể tránh khỏi;
“thì chính áo quần của tôi sẽ làm tôi kinh tởm” nghĩa
là, xác thịt tôi làm tôi ghê tởm, và nhục cảm mong manh,
thoáng chốc, sẵn sàng yêu thương vẻ đẹp cõi đời này,
thường khiến tôi làm nên tội lỗi. Vị tông đồ này nói:
“Đừng để tội lỗi ngự trị trong thân thể phàm trần
của ngươi”, nghĩa là, “tội lỗi nhất định có trong chúng
ta, nhưng nó không cần ngự trị trên chúng ta”... Dù đôi
khi y phạm một điều cấm nhẹ, thế nhưng, bởi vì tất cả
tấm lòng của y được hướng về Chúa, tội lỗi cũng bị
tiêu diệt. Ngọn lửa của tình yêu đốt cháy tất cả những
vết đỏ tội lỗi trong y, như một giọt nước vào lò lửa
bị tiêu mất.
Nơi
đây, nói tóm lại, là giáo thuyết về tha lực của đạo
Phật, và đây cũng là ý nghĩa về tính thụ động trong tâm
lý học của đạo Phật.
Ichiren-in
(1788-1860) là một môn đệ cận đại của phái “tha lực”;
sư thường giảng như vậy: “Nếu các ngài còn có những
điều gì khiến mình lo lắng, dù cho không quan trọng lắm,
niềm tin đối với Phật A-di-đà của các ngài không phải
là tuyệt đối Khi các ngài có một cảm giác bất an, dĩ nhiên
cái đó nó xa ngoài niềm tin ở Phật A-di-đà, nhưng ngay khi
các ngài đang vui sướng vì cuối cùng đã tìm thấy sự an
nghỉ, đây cũng không phải là chân thật. Nỗ lực hăng hái,
vì bạn chưa có một trái tim an ổn, cũng không hoàn toàn chính
đáng. Đặt niềm tin của mình vào một chứng nghiệm vì muốn
biết xem nó có xác tín ở Phật A-di-đà không, cũng lại là
sai lầm.
“Tại
sao? Bởi vì tất cả những điều đó là những cố gắng
nhìn vào tự tâm các ngài, quay lưng lai với Phật A-di-đà;
các ngài đã bị lạc hướng. Quả thật, nói “Hãy xả bỏ
tự lực” thì dễ, những kỳ cùng nó khó khăn biết bao.
Vì vậy, tôi mãi mãi lặp lại rằng: “Đừng nhìn đến tự
tâm, mà hãy nhìn thẳng vào chính đức A-di-đà”. Nương tựa
Phật A-di-đà tức là hướng tới tấm gương bản nguyện
và đối diện với Phật A-di-đà”
TÍNH
KHAM NHẪN LÀ CHẤP NHẬN SỰ SỐNG NHU THẾ LÀ NHƯ THẾ
Tính
kham nhẫn hay thụ động không phải là tự phản tỉnh hay
tự phản khảo nghiệm. Đó là một sự chấp nhận Phật A-di-dà
không điều kiện. Chừng nào còn có dấu vết của nỗ lực
ý thức (hakarai), các bạn chưa phó thác trọn vẹn cho Phật
A-di-đà. Các bạn không có sự đơn nhất; và sự đơn nhất
này phải được thành tựu bằng chấp nhận chứ không bằng
nỗ lực. Trong trường hợp này tính kham nhẫn có thể đồng
hóa với sự chấp nhận chứ không bằng nỗ lực. Trong trường
hợp này tính kham nhẫn có thể đồng hóa với sự chấp nhận
cuộc sống như thế là như thế.
Rồi
ra, tin tưởng là phải “là như vậy” chứ không phải “trở
thành như vậy". “Trở thành” hàm ý bất mãn cuộc sống,
muốn có một thay đổi, nghĩa là thực hiện “ý chí của
tôi” chống lại “ý chí của anh”; và dù chúng ta có nói
gì về nhưng lý tưởng toàn thiện, tôn giáo cuối cùng vẫn
là sự chấp nhận mọi sự “là như thế”, sự xấu cũng
như sự tốt. Tôn giáo trước hết muốn “là như thế”.
Do đó, “tin tưởng” là “sống đó” – đây là căn bản
của một tôn giáo. Khi điều này được phiên chuyển thành
những từ ngữ của tâm lý học, đạo tâm quay quanh trục
kham nhẫn. “Các người đều chính đáng y như tự tính của
mình” hay “đừng nghĩ tới ngày mai”, đấy là lời tối
hậu của mọi tôn giáo.
Chính
trong tinh thần đó, ngài Lâm Tế nói: “Người tu đạo chân
chính không làm gì hết mà tiếp tục sống với mọi cơ duyên
của cuộc sống trần gian này. Buổi sáng, y lặng lẽ thức
dậy, vận y phục và ra ngoài làm việc. Khi muốn đi dạo,
y liền đi dạo, khi muốn ngồi, y liền ngồi. Y không làm Phật,
không nghĩ tưởng xa vời. Sao lại có thể thế? Cổ nhân nói,
nếu bạn chuyên tâm tinh tấn cần cầu Phật quả, Phật của
bạn thực tình là căn nguyên của luân hồi miên viễn”[20].
Hoài
nghi tức là tự sát; cần cầu, với ý nghĩa “phủ nhận”,
theo cách ngôn của đạo Phật, là vĩnh viễn trôi lăn trong
biển sinh tử.
Có
một người tên là “Jôyemon, ở tỉnh Mino, quá dao động
về tâm hồn của mình. ông đã nghiên cứu đạo Phật nhưng
lâu ngày mà không thành đạt. Cuối cùng, ông lên Kyoto, nơi
đây Ichiren-in, vốn là một đại sư của Phật giáo. Chân
tông, đang trụ trì, ông giãi bày tâm huyết với sư xin được
chỉ giáo về giáo thuyết của Thân Loan Thượng nhân, Ichiren-in
nói: “Ông đang già như là ông đang già” (Sự tế độ của
Phật A-di-đà vốn chấp nhận bạn đang như là chính bạn).
Jôyemon không được thỏa mãn, lại còn phiền trách nữa;
rồi thì Ichiren-in lặp lại : “Ông được cứu rỗi như là
được cứu rỗi”.
Người
cầu đạo này chưa ở vào tâm trạng chấp nhận lời nói
của sư tức khắc, y chưa vượt khỏi sự lệ thuộc vào những
tinh tấn và cần cầu. Y vẫn theo đuổi thầy với nhiều thắc
mắc nữa. Nhưng thầy không chịu bỏ qua đoạn đầu, mà cứ
lặp lại “Ông được cứu rỗi như là được cứu rỗi”
và lặng lẽ rút lui. May thay, sư là một luận sư của “tha
lực”, vì nếu sư đã là một thiền sư, tôi chắc rằng
Joyemon sẽ được dắt tay trong một cung cách khác[21].
John
Woolman (1720-1772), một người Quaker, chết vì bệnh đậu mùa;
lục sắp chết, ông đau yếu hầu nặng nên không thể nói.
Ông xin viết, mực và viết một cách khó nhọc: “Tôi tin
rằng tính mệnh của tôi đây là ở trong trí khôn của Chúa
Kitô, tôi không biết gì về sư sống hay sự chết”. Sự
bộc bạch này rất phù hợp với Thân Loan khi sư nói trong
Thân dị sao (Tannishô): “Tôi nói sự Niệm Phật của tôi
như đã được tiên sư của tôi giảng dạy. Còn tính mệnh
của tôi sau khi chết thác sinh vào Tịnh độ hay địa ngục,
tôi không có ý gì hết”.
Thân
Loan thường đề cập đến tính Bất khả tư nghì của Phật
tri. Tính mệnh của chúng ta đây hoàn toàn do trí tuệ
đó; và trí đó, kiến thức hữu hạn của chúng ta không dò
vào chỗ uyên áo của nó, cũng không cần thực thi ý chí hữu
hạn của chúng ta vì nó; chúng ta cứ chấp nhận hiện hữu
đang như thế, và xác tín của chúng ta hoàn toàn được đặt
vào trí tuệ vô biên của Phật A-di-đà, và những gì mà chúng
phải làm là đứng vững với xác tín này, niềm tin này, sự
chấp nhận này và với sự ngu muội này. Kỳ diệu của chỗ
sự ngu muội này lại chứa đựng cái trí tuệ khiến chúng
ta hết sức bằng lòng với đời này và đời sau[22]
Kiến
thức thần bí hay vô trí thần bí, và sự thỏa mãn có từ
đó, cũng được phác họa bởi bài thơ 31 chữ của Nhất
Biến. Thượng nhân ( 1229-1289). Khi sư đang học Thiền với
ngài Pháp Đăng ( 1203-1298); Pháp Đăng muốn biết Nhất Biến
hiểu thế nào ý nghĩa của câu “Một niệm khởi là có tỏ
ngộ”
Nhất
Biến trả lời bằng thơ :
Khi
xưng tụng Danh hiệu
Không
Phật cũng không Ta
Duy
chỉ nghe có tiếng
Nam
mô A Di Đà Phật
Nhưng
Thiền sư không cho rằng Nhất Biến lãnh hội đích đáng,
nên sư đọc thêm bài thơ nữa :
Khi
xưng niệm Danh hiệu
Không
Phật cũng không ta
Chỉ
có
Nam
mô A Di Đà Phật
Nam
mô A Di Đà Phật
Bài
sau được thiền sư tán thưởng. Trong tôn giáo của Nhất
Biến, chúng ta thấy Thiền tông và Chân tông là một đường
lối thực tiễn nhất. Khi ý niệm NHƯ THẬT
(Yathãbhutam)
này được diễn dịch thành những quan hệ nhân gian, chúng
ta có đoạn văn sau đây, trong đó tự lực bị bác bỏ coi
như trở ngại công việc của đấng Toàn Nhất, tức A-di-đà.
“Khi
các ngài loại bỏ ý chí phản kháng của tự lực, các ngài
nhận ra ý nghĩa của niềm xác tín ở Phật A-di-đà. Các ngài
mong muốn được cứu rỗi và Phật thì sẵn sàng cứu rỗi,
nhưng việc vãng sinh Tịnh độ của các ngài không có vẻ
thành hình quá dễ dàng.
“Tại
sao? Bởi vì ý chí phản kháng của các ngài vẫn còn tự quyết.
Nó giống như cuộc hợp hôn giữa thiếu niên và thiếu nữ.
Cha mẹ hai bên muốn thấy cả hai được phối ngẫu.
Một
bên nói: “Nàng dâu không cần có nữ trang gì hết”. Nhưng
bên kia cho là cần thiết vì rằng chàng rể thuộc một gia
đình rất giàu có. Nhưng nếu không cho dâu của hồi môn dù
chỉ một bộ đồ thì cũng không phải lẽ. Đôi bên sẵn
sàng cả nhưng tính kiêu ngạo ngăn cản họ. Nếu nhà gái
nhận đề nghị đúng theo tinh thần ở bên kia, mục đích
mong mỏi sẽ được hoàn thành khỏi phải rầy rà.
Mối
quan hệ giữa Phật và chúng sinh cũng vậy. Phật nói: “Hãy
đến!”. Tại sao lại không đến với ngài dù bạn đang là
gì? Nhưng ở đây chí phản kháng đè đầu nó và bảo: “Dù
là thiện chí của ngài, tôi không thể đến với ngài như
tôi đang là đây, tôi phải làm điều gì để xứng đáng
với lời gọi".
Đấy
là tự kiêu. Những gì Phật đòi hỏi ở các ngài không nhiều
vậy; và bất cứ điều nào thừa thãi xuất phát tự lòng
tự tôn và kiến thức hẹp hòi của các ngài đều trở ngại
đoạn đường ân huệ của Phật đi vào lòng các ngài. Bởi
vì, bạn chỉ cần phải đưa tay ra trước, Phật sẵn sàng
gieo đồng tiền cứu rỗi vào đó. Đức Phật đang ra dấu
cho các ngài, con thuyền đang đợi đưa các ngài sang bờ bến
kia, không phải trả giá, chỉ có việc bước thẳng lên bến.
Các ngài không thể phản đối rằng: đấy là một công việc
khó khăn”. Vậy tại sao các ngài không hoàn toàn phó mình
cho bản nguyện cứu vớt của Phật và để cho ý chí của
ngài ngự trị trên mình?”[23]
Molinos
viết cho Petrucci: “Một trong những quy luật căn bản giúp
tâm hồn tôi giữ bền sự thanh bình nội tại là như vầy:
Tôi không nuôi dưỡng niềm khát khao[24] lẽ thiện riêng rẽ
này hay kia, mà chỉ lẽ thiện nào cao nhất trong tất cả,
và tôi phải dọn mình cho tất cả những gì mà lẽ thiện
tối cao ngày mang lại cho tôi và đòi hỏi nơi tôi. Đấy là
những lời vắn vỏi nhưng chúng chứa đựng rất nhiều[25]”.
Nếu có người hỏi một luận sư Chân tông những lời nào
vắn vỏi mà lại chứa đựng nhiều, có ích cho lẽ thiện
tối cao, ông sẽ nói ngay: Nam mô A-Di-Đà Phật, Nam mô A-Di-Đà
Phật?”. Bởi vì, thực sự, đấy là câu thần chú mang thẳng
các bạn sang bên kia bờ sinh tử.
VÔ
TRÍ VÀ KHAM NHẪN
Sự
kiện quan trọng đối với kinh nghiệm tôn giáo, cần phải
ghi nhận nơi đây. Là nó ráo riết đòi hỏi kẻ tìm kiếm
Thượng Đế hay chân lý vứt bỏ tất cả kiến thức và học
thuật mà y thâu lượm được. Dù là Kitô hữu hay Phật tử,
dù là Tịnh độ hay Thánh đạo, sự đòi hỏi ráo riết ấy
đều quan trọng ngang nhau.
Điều
hiển nhiên là kinh nghiệm tôn giáo tuyệt đối tương phản
với kiến thức của trí khôn, vì học thuật và đa văn không
bảo đảm người ta thành một phần tử của nước Chúa,
nhưng “giống như trẻ thơ” không những chỉ do sự khiêm
tốn của tâm hồn mà còn là sự đơn thuần của tư tưởng.
Những màu sắc của tính khoa đại, ngã mạn, tự ái, với
danh nghĩa những sự trung chính của con người, quả thực
chúng “giống như một trang phục hoen ố” mà mỗi chúng
ta phải cỡi bỏ; nhưng tại sao sử dụng trí khôn cũng cần
phải xa lánh? Tâm hồn có thể mong cầu sự cô liêu và im
lặng, nhưng tại sao việc tụng đọc kinh sách không ngót sinh
ra chán ngán? Tại sao đức Jésus cảm ơn đức Chúa Cha che
giấu các hiền triết và hiền minh “những sự này” và
khỏi thị chúng cho các con trẻ[26], vốn không đủ sức suy
tư chín chắn và lý luận tinh tế?”
Thánh
St. Bonaventura dạy chúng ta “đừng dựng thành một quan niệm
về bất cứ sự gì, cả đến Chúa, bởi vì bằng lòng với
những biểu tượng, hình ảnh, và định nghĩa không phải
là điều hoàn hảo, dù chúng có tinh vi khéo léo, dù đó là
ý chí hay lẽ thiện, tam vị hay nhất vị, dù chính cả bản
chất linh thánh cũng không.”[27]
Thánh
St. Augustin độc thoại: “Lạy Chúa, con đã lang thang, như
một con lừa lạc lõng, tìm kiếm Ngài ở bên ngoài với lý
luận thao thức trong khi ngài ở bên trong con. Con đã quá mệt
mỏi đeo đuổi ngài ở bên ngoài, nhưng ngài lại ở bên trong
con, nếu con chỉ mong mỏi Ngài và khao khát Ngài. Con đi vòng
quanh những đường, những phố của thị thành trong thế gian
này đế tìm kiếm ngài, nhưng con không tìm thấy ngài, bởi
bì con đã luống công tìm kiếm ngài ở bên ngoài, mà ngài
vốn ở trong con.”[28]
Lý
do tại sao các bậc Đạo sư không ưa lối trí năng là thế
này: nó không mang lại cho chúng ta bản thân sự vật, mà chỉ
có những biểu tượng, những hình ảnh, những giải thích
và những liên hệ của chúng; luôn luôn nó dẫn chúng ta ra
khỏi chính mình, nghĩa là chúng ta lạc vào rừng rậm của
suy lý và tưởng không cùng, không cho chúng ta sự thanh bình
nội tại và sự an dưỡng tâm linh. Trí năng bao giờ cũng
nhìn
ra ngoài, quên rằng “có một cái nhìn bên trong có khả năng
trực nhận Thượng Đế chân thật Độc Nhất.” Gerson diễn
tả như vầy: “Dù tôi có trải qua 40 năm đọc kinh và cầu
nguyện, nhưng tôi không bao giờ có thể tìm thấy một sự
gì hiệu nghiệm hơn, không, để đạt được khoa thần học
thần bí, một sự gì trực tiếp hơn mà tinh thần phải trở
thành y như một trẻ thơ và một kẻ ăn mày trước mặt Thượng
Đế.”
Tuy
nhiên, Phật Giáo, tự căn bản là một tôn giáo chống lại
sự vô trí (avidyà) chứ không vì nó, như đã được chứng
tỏ trong các dẫn chứng trước đây. Ngu si (Ba la), mê hoặc
(Bhrànti) và hạ trí (prithagiana) bị kết án rất nhiều trong
các kinh điển Phật giáo coi như là không thể vươn tới chân
lý sâu xa nhất của giác ngộ.
Sự
thật, đạo Phật trọng trí năng hơn Thiên Chúa giáo và toàn
thể xu hướng của tư tưởng Phật giáo nhằm khích lệ trực
nhận tánh Không của hiện hữu thay vì được ấp ủ trong
tình yêu của một thực thể tối cao. Nhưng dù vậy, vẫn
có một nguồn mạnh mẽ trong giáo lý đạo Phật nhấn mạnh
tính chất hư ảo của mọi nỗ lực trí năng trong kinh nghiệm
của đời sống Phật tử vốn dĩ loại bỏ mọi cố gắng
từ chính ta và mọi thành kiến siêu hình. Đấy là để giữ
ý thức trong sự thanh khiết trọn vẹn hay trong một trạng
thái vô ký; nói cách khác, để làm cho tâm hồn đơn giản
như của trẻ thơ vốn không bị nhét kiến văn và ngạo mạn.
Pháp
Nhiên Thượng Nhân (Hoen Shônin 1133-1212) mô tả thái độ của
Tịnh độ tông đối với sự Vô tri và tâm hồn thuần phác:
“Tôi
không nói niệm Phật như các hiền giả Hoa và Nhật nhắc
đến, cũng không phải là xưng tụng Phật hiệu vốn được
hành trì như là kết quả của học tập và hiểu biết đối
với ý nghĩa niệm Phật. Mà chỉ là đọc lên danh hiệu A-di-đà,
không hoài nghi rằng điều đó có đưa đến sự vãng sinh
Tịnh độ của người tin hay không; chỉ có điều đó, những
việc khác không cần thiết. Người ta thường nói đến ba
tâm và bốn hạnh nhưng tất cả đều có đủ cho niềm tin
rằng sáu chữ “Nam mô A-di-đà Phật” quyết định sự vãng
sinh Tây phương. Nếu ai nghi gì khác hơn thì sẽ không nhận
được những ân đức của hai đấng Thánh Nhân. Phật A-di-đà
và Phật Thích Ca, và bị đặt ra ngoài bản nguyện. Những
ai tin tưởng niệm Phật, dù có học hết những giáo thuyết
của đức Thích Ca Mâu Ni, phải xử sự như một gã si độn
vô tri, hay như một tín nữ có tâm hồn thuần phác; hãy tránh
xa sự thông thái rởm, và hãy xưng niệm Phật hiệu với một
tâm hồn thuần phác”.
Thân
Loan Thượng Nhân (1173-1262), môn đồ Pháp Nhiên, cũng thốt
lên tâm tình tương tự trong Tán dị sao.
“(Có
người bảo rằng) không thể tin rằng những ngườikhông đọc
tụng và học hỏi kinh luận mà lại được cứu rỗi. Một
quan niệm như vậy thật quá xa vời đạo lý. Tất cả cáckinh
điển nhằm giải thích về sự thật của tha lực chứng tỏ
rằng ai ai cũng sẽ thành Phật, do tin tưởng bản nguyện mà
niệm Phật. Ngoài ra, học hỏi có cần gì cho vãng sanh tịnh
độ? Những ai hoài nghi về điểm đó cứ để họ chuyên
cần học hỏi để thấu hiểu ý nghĩa của bản nguyện. Đáng
thương thay, có kẻ dù chuyên cần học hỏi kinh điển mà
không thể thấu hiểu ý nghĩa chân thật của Thánh Giáo. Bởi
vì danh hiệu có hình thức như được xưng tụng bởi một
người có tâm hồn thuần phác, y có thể chẳng hiểu gì về
kinh điển dù chỉ một câu; đấy gọi là pháp môn dễ hành”.
Căn
cứ theo đường lối mà các sử gia Thiền tường thuật về
Lục tổ Huệ Năng, người ta có thể thấy rằng khi trình
bày ngành Thánh Đạo của Phật Giáo, thiền tông cũng tránh
né việc việc học hỏi và đọc tụng kinh điển, bởi
vì ngài Huệ Năng dược coi là một gã bán than dốt nát so
với đối thủ của ngài là Thần Tú, mà tài bác học của
sư đã là sở nguyện giữa năm trăm môn đồ của Hoằng Nhẫn;
người ta cũng có thể nói theo một trong cách ngôn của Thiền
đồ là “Bất lập văn tự”; vì thực tình, đây chính là
điểm tấn công Thiền của các luận sư Thiền thái tông ở
đời Tống.
Những
ai đã từng nghiên cứu Thiền tông đều biết rõ đâu là
thái độ của Thiền đối với bác học và tri thức. Văn
học Thiền dẫy đầy những đoạn như vầy: “Ta không có
lời nào để dạy thiền cho các người”; “trong 49 năm ta
chưa từng nói đến một chữ”; “đấy là sở học của
ngươi; hãy cho ta biết ngươi đã thấy ra được gì trong chính
ngươi”; ngươi sẽ làm gì với việc tụng đọc kinh điển
vốn chẳng dính gì đến tự tính của mình?”; “ngươi tin
là có thể đương đầu với sự chết nỗi bằng tất cả
kiến văn quảng bác của mình ư?”; tất cả những kinh luận
mà các ngươi kính cẩn học hỏi há không phải chỉ là đống
giẻ rách chùi bụi?” vân vân và vân vân.
Trong
tất cả những lý do tại sao sự vô tri và sự thuần phát
của tâm hồn được tán dương như vậy trong kinh nghiệm tôn
giáo, lý do quan trọng nhất có lẽ phải được tìm thấy
ngay trong bản chất của tri năng. Vì vốn dĩ mang chất nhị
nguyên, nó đòi hỏi một điểm sở y để từ đó khởi sự
lập nên một phát biểu hay đề ra một luận chứng hay đem
lại một phán đoán.
Tập
quán này - cái tập quán cần có một mệnh đề được đảm
bảo xác thực và cần ôm chặt lấy nó - phản lại điển
hình của đạo tâm mà trên nguyên tắc vốn chấp nhận hiện
hữu như thế là như thế chứ không thắc mắc, không chống
đối, không nghi ngờ. Kinh nghiệm tôn giáo bộc lộ trong những
câu nói đơn gỉan, chắc nịch, và thẳng thắn, quyết không
chịu những lối quanh co và hiện chứng. Dù đấy là Phật
giáo Thiền hay Phật giáo Tịnh, trực giác thần bí tràn trề
trong một tâm hồn vốn không có thành kiến, nhất là được
nuôi dưỡng bởi học thuật. Khi đài gương của tâm thức
đã sạch hết bụi bậm của trí năng, nó phản chiếu vinh
danh và tình yêu của Thượng đế, như nhưng Kitô hữu thường
nói. Vậy thì, Vô trí và ngây thơ đi đôi với tính thụ động.
NGÃ
KHÔNG VÀ PHÁP KHÔNG
Khi
giáo Thuyết về tính kham nhẫn này được lồng vào cú pháp
triết lý, nó là thuyết vô ngã (Abãtman) mà một khi được
khai triển ra nữa, thì trở thành thuyết Tánh Không (sũnyãta).
Như tôi đã từng cắt nghĩa, chủ trương không có bản thể
tự hữu không phải là hư vô luận như các học giả phi Phật
giáo tưởng; vì sự từ chối bản ngã này vẫn luôn luôn
là những khẩu quyết của các nhà thần bí Thiên Chúa giáo.
Khi
Thánh St. Bernard, dẫn chứng Isaiah X.15: “Cái rìu há lại khoe
mình cũng người cầm rìu ư? Cái cưa há lại dấy nghịch
cùng kẻ cầm cưa ư? Thế cũng như cái roi vận động kẻ
giơ roi, cái gậy nâng đỡ cánh tay cầm gậy!”; ngài kết
luận: “Sự thực, điều có thể làm vinh danh Chúa vốn đến
từ Chúa” ; chúng ta há không thể rút ra một kết luận
khác rằng: “Thượng đế trong tất cả và tất cả, không
có bản ngã”? hay “ở nơi ngài mà chúng sinh tồn, vận động
và hiện thể, và do đó mọi hiện hữu tương quan đều như
là không (sũnya) và vô sinh (anutpanna)”? Nói theo luận lý,
khi khai triển đề tài này, các nhà Phật học rất bộc trực,
triệt để và quả quyết.
Tác
giả Theologia Germanica nói: “Chúng ta phải hiểu nó như Thượng
đế nói: “Ai muốn ở ngoài ta hay không theo ý ta, kẻ đó
muốn chống lại ta; bởi vì ý của ta là không được có
ý khác ta, không có ý nào ngoài ý ta. Cũng vậy, ngoài ta không
có bản thể, không có sinh tồn, không có cái này, không có
cái kia; cũng không có ý chí nào ở ngoài ta, và không “do
ta”.
Diễn
dịch đoạn trên ra ngôn ngữ của tâm lý học Phật giáo thì
đấy là: “không nơi nào ta là cái gì vì một ai, vì không
nơi nào có cái gì của một ai vì ta” Hoặc giả, Thanh tịnh
đạo luận (Visuddhi Magga) (Ch.XVI).
Chỉ
có sự khổ, không có người thọ khổ;
Không
có tác giả, duy chỉ có tác nghiệp
Có
Niết bàn, nhưng không có người tìm Niết bàn
Có
Thánh Đạo, nhưng không có hành giả.
Chúng
ta phải nhớ rằng thuyết Vô ngã của Phật không phải là
hậu quả của phân tích tâm lý mà là một phát biểu của
trực giác tôn giáo trong đó không có suy lý nào được dùng
đến. Bằng tri kiến trực tiếp, kinh nghiệm của đạo Phật
khám phá ra rằng khi trái tim của người ta đã rửa sạch
những ô nhiễm của những tham dục do ngã ái, ở đây không
còn để lại một tàn tích nào đáng gọi là tự ngã. Chính
nền triết học của đạo Phật tạo ra lý thuyết này, nhưng
chính nghiêm của đạo Phật cung cấp cho nó các sự kiện.
Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ chân lý này, rằng tôn giáo
trước hết bắt đầu với kinh nghiệm và sau đó mới triết
lý và do đó, phê bình triết học phải dựa trên nhưng sự
kiện chứ không dựa trên triết lý như đã được quy định.
Thuyết Tánh Không (sunyatà) cũng là một phát biểu về trực
giác tôn giáo, nó không phải là một công thức trừu tượng
về ý tưởng không hư. Nếu là không hư, nó không bao giờ
có thể là một khái niệm căn bản của tất cả các tông
phái Đại thừa Phật giáo, và có một ảnh hưởng khích lệ
lớn lao đối với đạo tâm của các môn đệ của nó. Chủ
đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong quyển Khảo
Cứu kinh Lăng già của tôi và tôi sẽ không lặp lại ở đây,
mà chỉ nói rằng Tánh Không, thường được dịch là không
hư, mà theo văn nghĩa, không nên giải thích bằng nhưng từ
ngữ của tri thức tương đối và phân tích luận lý; nhưng
nó là sự diễn tả cái trực kiến nhìn thẳng vào bản chất
của hiện hữu. Bất cứ nền triết lý nào quy tụ quanh đây
đều là thêm thắt về sau và là tác phẩm của các học giả
Phật giáo.
IV.
THỤ
ĐỘNG VÀ KHAM NHẪN HAY KHIÊM TỐN
Nếu,
một đằng, đời sống của thụ động tính hướng đến
chủ nghĩa tự do, thì đằng khác nó chứng tỏ là quá xa vời
với những quan hệ nhân sinh. Tuy nhiên, có một vài đức lý
thực tiễn phát xuất tử kinh nghiệm của thụ động tính,
hay nói ngược lại, ở đâu có nhưng đức lý này, ở đó
chúng đều do kinh nghiệm mà có. Chúng là đặc chất cao của
đời sống tôn giáo tùy theo nền thần học của nó, dù là
Phật tử hay Ki tô hữu.
Trong
đạo Phật, những đức lý được thể hiện như thế thông
thường được ghi có sáu, gọi là sáu Ba la mật (Pàramità):
bố thí (Dãna), trì giới (sĩla), nhẫn nhục (ksânti), tinh tấn
(vìrya), thiền định (dhyãna), và trí tuệ (prajnã). Thiền
định (dhyãna) và trí tuệ (prajnã) có thể không quan hệ trực
tiếp nào đối với tính thụ động, và ở đây chúng ta sẽ
không nói nhiều đến. Bốn Ba la mật còn lại đều quan trọng
và chúng ta có thể nói rằng đời sống Đại thừa được
đúc kết trong chúng. Nhưng, trong bốn Ba la mật này, Ba la mật
thứ nhất, là sự thực hành về nhân ái, trong đạo Phật
nó còn bao gồm cả việc thí xả mệnh sống của mình cho
chính nghĩa; và Ba la mật thứ hai tuân thủ những giới điều
có thể không gây chú ý của chúng ta ở đây. Bởi vì tôi
muốn đưa ra nhận định riêng biệt về một hoặc hai điển
hình cổ điển của Ksanti (nhẫn nhục) và Vĩrya (tinh tiến);
tôi cho là cả hai đều có quan hệ mật thiết đối với đời
sống thụ động tính và triết học về Tánh Không. Chúng
ta có thể nghĩ r