Phật
giáo Việt Nam chúng ta có chia ra nhiều tông phái, nhưng xét
kỷ thì có ba tông: Thiền tông, Tịnh Ðộ tông và Mật tông.
Song gần một trăm năm nay Thiền tông dường như ít ai biết
đến mà chỉ biết Tịnh Ðộ thôi. Chúng tôi thấy sự kiện
giữa Thiền và Tịnh rất quan trọng nên muốn giải thích
cho quý Phật tử biết rõ điểm nào Thiền tông hòa hợp được
với Tịnh Ðộ, điểm nào Thiền tông cách biệt với Tịnh
Ðộ. Quý Phật tử nghe biết, không còn nghi ngờ trên đường
tu.
1-
Chỗ Không Gặp Gỡ Giữa Thiền và Tịnh
Ðiểm
thứ nhất: Như chúng ta biết, tu Tịnh Ðộ thì luôn
luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh Ðộ phải
có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin; tin chắc có cõi
Cực Lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật rước
về Cực Lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành, tức cố gắng
Niệm Phật, gọi là Hạnh. Niệm Phật rồi phải phát nguyện
sanh về cõi Cực Lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện,
trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu.
Ngược
lại, Thiền tông không lấy lòng tin, mà lấy Trí huệ làm
bước đầu. Trí tuệ thì giản trạch, phân biệt; còn lòng
tin thì khẳng định như vậy, cứ tin rồi làm thôi, thành
ra hai bên khác n hau. Tu theo Thiền tông, muốn bước vào cửa
Thiền phải đi từ cửa Không. Cửa Không chính là trí tuệ
Bát Nhã. Từ trí tuệ Bát Nhã, nhận định hiểu thấu được
sự thật của muôn pháp trên thế gian, không bị lầm mê cho
giả là thật. Các pháp chỉ là tướng duyên hợp tạm bợ
hư dối, biết như vậy, chúng ta không còn gặp khó khăn trong
sự tu hành, tâm yên lặng thanh tịnh. Rõ ràng người tu Thiền
muốn cho tâm thanh tịnh phải dùng trí tuệ quán chiếu thấu
suốt, hiểu rõ không bị nhầm lẫn, nhờ thế không cố chấp,
không vướng kẹt, cho nên tâm rỗng rang nhẹ nhàng. Ðó là
bước đầu của người đi vào đạo.
Ðiểm
thứ hai: Tịnh Ðộ tông tu nguyện sanh về cõi Cực
lạc. Có vị nào tu Tịnh Ðộ mà không cầu sanh về Cực Lạc
đâu? Ai cũng niệm Phật để khi lâm chung được Phật đón
về Cực Lạc. Trong kinh nói Cực Lạc ở phương Tây, cách
cõi Ta Bà năm mười muôn ức thế giới. Thật là xa. Bởi
vậy, nếu Phật không đón thì không biết đường đâu mà
đi. Như chúng ta hiện giờ muốn qua Nhật, qua Pháp hay qua Mỹ,
nếu người chưa từng đi thì phải có thân nhân ở bên đó
đón rước mới dám đi. Huống là cõi Cực lạc cách cõi Ta
bà này tới mười muôn ức thế giới thì làm sao mà chúng
ta dám đi? Do đó, phải niệm Phật và nguyện Phật đón tiếp
chúng ta, khi nhắm mắt được về cõi Cực lạc. Như vậy,
tu Tịnh Ðộ tức là chúng ta phóng ra ngoài, nhắm hướng Tây
phương, nhắm cõi Cực Lạc để được sanh qua đó.
Còn
Thiền tông dạy chúng ta tu quán sát lại nội tâm của chính
mình. Về phần nội tâm, nhà Phật phân nhiều loại. Theo Duy
thức học, chúng ta có những tâm vương, tâm sở. Trong tâm
sở lại có tâm sở thiện, tâm sở ác v.v... nhưng người
tu Thiền không phân biệt như vậy, chỉ thấy trong tâm niệm
của chúng ta, có những tâm mà lâu nay chúng ta ngỡ là tâm
mình, nhưng thật ra không phải. Như quý Phật tử suy nghĩ,
tính toán việc gì thường cho tâm suy nghĩ tính toán đó là
tâm của tôi. Nếu nó là "tâm của tôi" thì những phút giây
không suy nghĩ, không tính toán, tôi còn hay tôi mất? Nếu nó
là tôi, thì khi nó không hiện, tôi cũng phải mất luôn. Nhưng
thật ra, không suy nghĩ, không tính toán, tôi cũng hiện tiền.
Do đó, nếu cho tâm suy nghĩ tính toán là tôi là một lầm
lẫn rất lớn. Song tất cả chúng ta đa số đều lầm như
vậy. Người tu Thiền biết rõ tâm suy nghĩ tính toán đó không
phải thật mình nên để nó lặng xuống, tìm cho ra cái mình
chân thật. Ðể nó yên lặng tức là dùng phương pháp định
tâm. Vì vậy gọi là Thiền Ðịnh. Lặng vọng tâm rồi, chúng
ta nhận ra được tâm chân thật của chính mình, đó là mục
đích của người tu Thiền. Như vậy, người tu Thiền nhìn
lại nội tâm mình chớ không cần hướng ra ngoài, còn người
tu Tịnh Ðộ thì trông về cõi Cực Lạc bên ngoài, do đó
không giống nhau.
Ðiểm
thứ ba: người tu Thiền cốt làm sao cho hiện đời,
bao nhiêu thứ phiền não nghiệp chướng sạch, tâm phiền não
nghiệp chướng sạch rồi thì thể chân thật sẵn có hiện
ra, đó là Niết Bàn, đó là Phật Tánh. Còn Tịnh Ðộ, gần
đây có nhiều vị cho rằng tu Tịnh Ðộ rất dễ, chỉ cần
niệm Phật mười câu thì Phật đón về Cực lạc liền. Dù
kẻ tạo nghiệp ác, trộm cắp nhưng niệm 10 câu cũng được
Phật đón về Cực Lạc; bởi vì họ nghĩ "đới nghiệp vãng
sanh", tức là mang nghiệp vẫn sanh về bên đó, không cần
đợi thanh tịnh mới được vãng sanh. Người tu Thiền không
chấp nhận như vậy. Cực lạc là cõi thanh tịnh của Phật
mà mang nghiệp xấu ác ô uế thì ai mà chấp nhận cho vào.
Như vậy nói "đới nghiệp vãng sanh" là chuyện không thể
chấp nhận được.
Thí
dụ chúng ta nuôi con chó, nó bị ghẻ lở, ta nghĩ tại ta nuôi
dưới đất nên nó bị ghẻ; bây giờ đem lên lầu chắc nó
hết ghẻ nhưng không phải. Ở dưới đất hay trên lầu, chưa
trị được hết ghẻ thì nó cũng bệnh như nhau. Ghẻ lở
ngứa ngáy là dụ cho nghiệp, nếu chưa lành, thì dù có đem
đi đâu ở chỗ nào, đẹp hơn, tốt hơn cũng không tránh khỏi.
Muốn cho nó khỏi phải làm sao? Chúng ta nuôi nó ở dưới
đất mà biết tìm thuốc trị cho nó hết, nó lành thì ở
dưới đất hay trên lầu gì cũng mạnh cả.
Cũng
như vậy, nếu cho rằng ở Ta bà, chúng sanh mê muội tạo nghiệp,
về Cực lạc hết tạo nghiệp thì chuyện ấy chưa chắc.
Một bên dạy muốn nhập chỗ thanh tịnh thì phải hết nghiệp
chướng, còn một bên nói mang nghiệp chướng đến cõi thanh
tịnh rồi sẽ sạch sau. Như vậy, hai chủ trương không giống
nhau. Ðó là những điểm Thiền tông và Tịnh Ðộ tông không
gặp gỡ nhau được.
2-
Chỗ Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông Gặp Ðược Nhau.
Ðiểm
thứ nhất: Về Tịnh Ðộ, trong Kinh A Di Ðà có một
đoạn nói rằng người thiện nam tín nữ nào niệm Phật từ
một ngày, hai ngày, ba ngày... cho đến bảy ngày "nhất tâm
bất loạn" thì khi lâm chung thấy được Phật và Thánh chúng
hiện trước mắt. Như vậy niệm Phật được nhất tâm bất
loạn tối đa là bảy ngày, hoặc sáu ngày, hoặc năm ngày,
hoặc bốn ngày, hoặc ba ngày cho đến cuối cùng là một ngày
thôi thì nhắm mắt cũng thấy Phật và Bồ Tát hiện ở trước.
Chúng ta nghe dễ quá phải không?
Tôi
đọc trong A Hàm (Kinh A Hàm dạy tu Thiền theo Nguyên thủy),
bài kinh Tứ Niệm Xứ, Phật dạy: nếu người nào tu quán
Tứ niệm xứ từ một ngày, hai ngày, ba ngày, cho đến bảy
ngày tâm không rời Tứ niệm xứ thì người đó khi nhắm
mắt chứng tối thiểu là sơ quả Tu đà hoàn, nhị quả Tư
đà hàm, tam quả A na hàm, tứ quả A La hán. Như vậy, chỉ
quán Tứ niệm xứ trọn vẹn bảy ngày, không di chuyển, không
di đổi, người đó nhắm mắt chứng được quả A La hán.
Nếu kém hơn hoặc sáu, hoặc năm ngày thì chứng quả A na
hàm, bốn ngày hoặc ba ngày thì có thể chứng quả Tư đà
hàm. Nếu kém nữa, chỉ một ngày tâm không di đổi thì chứng
quả Tu đà hoàn. Tu đà hoàn là quả bất thối chuyển, còn
bảy đời sanh tử nhưng chỉ đi lên chứ không đi xuống.
Vậy Kinh A Di Ðà và Kinh Tứ niệm xứ trong A Hàm nói không
khác.
Thế
thì dù niệm Phật, hay tu Thiền quán mà tâm chuyên chú an định
từ một ngày cho đến bảy ngày thì nhất định người đó
đạt được đạo quả. Tu Tịnh thì được thấy Phật, còn
tu Thiền thì chứng từ sơ quả đến tứ quả. Chúng ta thấy
tu có khó không? Phật hạn chỉ bảy ngày thôi. Cả đời chúng
ta bao nhiêu ngày mà chỉ cần 7 ngày chuyên nhất không tạp
cho đến dù một ngày thôi, tinh chuyên như vậy thì sẽ đạt
được đạo quả. Nhưng sao không ai chịu hy sinh một ngày,
hai ngày cho đến bảy ngày, hoặc niệm Phật nhất tâm bất
loạn, hoặc chuyên tâm, không di chuyển khỏi Tứ niệm xứ
thì sẽ được Phật đón về Cực Lạc hay chứng Tứ quả
Thanh văn?
Bây
giờ quý vị thử niệm Phật từ sáu giờ sáng hôm nay cho
đến sáu giờ sáng ngày mai, không có một niệm thứ hai chen
vô thì nhất định được Phật đón về Tây phương. Người
tu Thiền, quán thân bất tịnh, thọ thì khổ, tâm vô thường,
pháp vô ngã; luôn luôn di chuyển trong bốn phép quán đó, không
để niệm nào chen vô, trong bảy ngày hoặc ít nhất một ngày
đêm thì chứng Tu đà hoàn, nhất định tiến lên Thánh quả,
chớ không lùi trở lại.
Như
vậy sự tu hành dễ hay khó, có thể làm được không? Nhưng
tại sao lâu nay chúng ta cứ trật vuột hoài , leo lên tụt
xuống? Là vì sức định tâm của chúng ta yếu, nên đang nghĩ
việc này thì không bao lâu thứ khác chen vô mất. Như quý
vị đang lần chuỗi niệm Phật được dăm ba câu, bỗng có
niệm khác chen vô. Cứ thế lặp đi lặp lại , không biết
chừng nào xong. Nhớ người thì bóng người hiện, nhớ chùa
thì bóng chùa hiện, nhớ huynh đệ thì bóng huynh đệ hiện.
Phật bảo chỉ có bảy ngày mà không ai làm được dù một
ngày, như vậy có dở không? Rõ ràng tu Tịnh Ðộ hay tu Thiền
gì cũng vậy, nếu chúng ta quyết tâm xem như chết trong câu
niệm Phật, chết trong quán Tứ niệm xứ thì đều thành công
như nhau. Như vậy mới thấy sự tu rất dễ mà cũng rất khó.
Rất dễ vì thời gian không cần nhiều. Rất khó vì tán tâm
không làm được. Ðể thấy rằng trên đường tu, việc làm
chủ tâm mình là vấn đề rất hệ trọng. Làm chủ mười
người, hai mươi người dễ hơn làm chủ tâm mình. Ví như
ông chủ sở, hay chủ xí nghiệp quản lý mấy chục nhân viên,
bảo họ làm việc này, việc kia thì dễ mà bảo nhìn lại
tâm mình thì làm không được. Nếu làm đúng như lời Phật
dạy thì có lẽ chúng sanh thành Phật nhiều lắm rồi. Nhưng
vì kẻ trộm lẻn vào phá hoài làm cho ta rối rắm mất hết
công phu, nên Phật bảo điều khiển được mình là một việc
làm rất khó. Tu chính là phải điều khiển được mình.
Ðối
với người khác, vì thế lực của mình, vì quyền lợi của
người, nên người ta phải nghe lời mình, tuân theo mình. Còn
đối với chính mình, không có quyền lợi, không có thế lực
gì cả, niệm trước bảo phải làm cái này, nhưng niệm sau
nảy ra cái khác, chạy tán loạn hết. Vì vậy nói đến việc
tu tưởng như dễ, cầm xâu chuỗi lần có gì khó? Nhưng nếu
lần chuỗi để lần chuỗi thì ai làm cũng được, còn lần
chuỗi niệm Phật để nhất tâm thì thật khó làm. Ngồi Thiền
nửa giờ, một giờ thì ai cũng ngồi được, mà ngồi một
giờ không có vọng tưởng dấy động, thì chuyện đó khó
có người làm được.
Trên
phương diện hình tướng cụ thể của thân, của cảnh sắp
đặt rất dễ. Còn tâm không hình tướng, không chỗ nơi,
cứ bỏ hở là vọng tưởng nó nhảy ra phá công phu của chúng
ta. Vì vậy người tu năm này tháng nọ dồn hết công phu cố
gắng gìn giữ tâm không để trống hở, như canh chừng mấy
đứa trộm không cho nó chen vào, như vậy mười năm, hai mươi
năm còn chưa thể được, huống là xem thường. Tu là canh
chừng vọng tưởng. Nhiều người nói: vọng tưởng thì
cứ cho nó nghĩ chớ việc gì phải canh chừng? Nó là tâm mình
thì cứ để nó nghĩ đã rồi thôi.
Quý
vị chưa tu nên nói vậy, chớ có tu sẽ thấy. Lâu nay chúng
ta cứ lầm lẫn ngỡ vọng tưởng là tâm mình. Vì ngỡ là
tâm mình, nên đuổi theo dục lạc thế gian rồi tạo nghiệp
đi trong sanh tử luân hồi, đi này kiếp nọ liên miên. Do nó
là chủ tạo nghiệp nên nó có sức mạnh dẫn chúng ta đi
trong sanh tử. Dẹp được nó, tức là chúng sanh làm chủ được
mình, không tạo nghiệp, hết sự ràng buộc, tự do tự tại,
thì sanh tử làm gì lôi kéo được! Phật gọi người này
đã giải thoát khỏi sanh tử.
Tôi
thường hỏi: - Chúng ta tu để làm gì?
- Ðể
giải thoát sanh tử
- Cái
gì dẫn mình đi trong sanh tử?
- Nghiệp
dẫn chúng ta di trong sanh tử.
- Cái
gì tạo nghiệp?
- Thân,
miệng, ý là ba chỗ tạo nghiệp.
Rõ
ràng mục tiêu của chúng ta là giải thoát sanh tử. Vậy
phải làm sao hết nghiệp? Thân nằm dài, miệng ngậm câm phải
không? Không phải vậy. Thân hoạt động, miệng nói năng gốc
từ ý. Tuy nói thân, khẩu, ý , nhưng thật ra ý nghĩ tốt thì
miệng nói tốt, thân làm tốt; ý nghĩ xấu thì miệng nói
xấu, thân làm xấu. Nói ba nhưng ý là gốc chủ động. Muốn
hết nghiệp, chúng ta phải dứt niệm của của ý. Muốn dứt
ý niệm thì đầu tiên chúng ta phải biết ý niệm là cái
hư giả không thật. Lâu nay chúng ta khẳng định, "tôi nghĩ
như vậy" tức ngầm cho cái ý là thật. Bây giờ biết nó
hư ảo không thật, tìm cách dừng lặng để không bị nó
tác oai tác quái nữa. Người tu Thiền hay niệm Phật cũng
vậy, niệm đến nhất tâm thì ý không còn loạn động. Tu
Thiền được định thì ý cũng lặng yên. Nhân tạo nghiệp
không còn thì cái gì dẫn chúng ta đi trong sanh tử?
Thân
này do tứ đại hợp, khi chết trả về cho tứ đại. Chúng
ta biết thân sẽ hư hoại, ý nghĩ cũng huyền ảo. Khi dừng
được ý hư ảo rồi thì còn gì nữa không? Tu là để nhận
ra cái gì giải thoát, chớ thân hoại ý lặng rồi, chẳng
lẽ mất hết sao? Cho nên tu là luyện lọc thân tâm, ngay nơi
tâm thức của chúng ta cái gì thật, cái gì hư. Biết cái
hư, bỏ không theo nó thì cái thật hiện ra, đó gọi là giải
thoát sanh tử.
Cái
chân thật ấy có nhiều tên gọi như Phật tánh, Chân như,
Bồ đề, Niết Bàn... luôn sẵn trong ta. Song lâu nay chúng ta
bị chú "Ý" này che phủ đi. Quý vị thử ngồi chơi trong năm
phút mà không có ý niệm nào dấy lên xem. Nói ngồi chơi,
chớ nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, không bao giờ tâm rỗng rang
nên chúng ta cứ bị ý thức che phủ mãi, vì cái ảo giác
đó cứ làm quay cuồng nên chúng ta không nhận ra được cái
chân thật của mình. Vì vậy ngồi thiền để định tâm hư
ảo, định những thứ quay cuồng đó lại. Ðịnh được rồi
thì cái thật sẽ hiện ra.
Tu
Thiền cốt để dừng những niệm hư ảo của ý thức. Niệm
Phật nhất tâm cũng để dừng niệm hư ảo của ý thức.
Một bên thấy Bồ đề, Niết Bàn, một bên thấy Ðức Phật
A Di Ðà tới đón. Vì ý nghĩa sâu kín mầu nhiệm như vậy,
chúng ta mới dụng công tu hành, chớ nếu tầm thừơng thì
tu làm gì? Có thông hiểu thấu suốt chúng ta mới thấy việc
làm của người tu không phải là hình thức cúng kính bên
ngoài; nó sâu thẳm ở bên trong. Khi làm chủ được ý niệm
lăng xăng cuả mình rồi, những vọng tưởng lặng xuống thì
cái chân thật hiện tiền. Sống được với cái chân thật
đó là giải thoát sanh tử, đời đời không bao giờ mất.
Còn mang nghiệp do ý tạo thì mất thân này chụp thân kia,
mất thân kia chụp thân nọ, sanh tử biết bao giờ cùng?
Vì
vậy trong kinh Ðức Phật nói, con người sanh ra rồi chết
đi, đời này qua đời nọ, mỗi một đời khóc bao nhiêu nước
mắt. Nếu gom hết nước mắt của chúng sanh trong nhiều đời
nhiều kiếp còn hơn nước của biển cả. Cái khổ luân hồi
sanh tử thật không cùng. Mấy chục năm hết một đời. Trong
một đời khóc bao nhiêu lần. Hồi lọt lòng mẹ đã khóc
rồi, cho tới già sắp chết cũng khóc nữa, thành một chuỗi
dài cứ khóc và khóc. Ðến khi mất thân này, tìm lại thân
khác tiếp tục khóc nữa, thành một chuỗi dài cứ khóc và
khóc. Còn nghiệp dẫn là còn khổ đau. Vì vậy muốn giải
thoát sanh tử phải dừng hết nghiệp. Muốn hết nghiệp phải
dừng từ trong ý, vì nó là động cơ chủ yếu tạo nghiệp.
Tại
sao chúng ta phải ngồi thiền hai ba tiếng đồng hồ, chân
tay đau tê cóng mà cũng ráng ngồi? Ngồi là trước để hàng
phục thân, làm chủ thân rồi kế đó hàng phục ý. Muốn
làm chủ ý phải có thời gian dài, vì nếu ngồi năm ba phút
hay nửa giờ, tâm mới vừa hơi yên thì hết giờ, nên ngồi
một hai tiếng để có thời gian dài chúng ta mới thấy rõ
ý thức còn sức mạnh hay đã yếu rồi. Trong các thiền viện
tôi bắt ngồi thiền hai ba tiếng đồng hồ. Có nhiều người
lúc đầu hăng hái đến xin tập tu, được vài hôm rồi xin
rút lui vì theo không nổi. Tôi chủ trương như vậy không phải
để hành hạ thân một cách vô ích. Bởi vì có hai lý do:
--
Một, nếu chúng ta không làm chủ được thân này thì chúng
ta dễ bị lệ thuộc nó, nên đau thì chịu đau, phải thắng
nó mới có thể vượt qua. Chúng ta ai cũng biết giờ phút
tắt thở là giờ phút đau khổ nhất, nếu không có sức làm
chủ thân thì không sao an ổn lúc lâm chung. Làm chủ được
thân thì giờ phút đó chúng ta mới định tĩnh ra đi. Bằng
không thì lúc đó rối loạn, thấy cái gì chụp cái ấy, thật
nguy khốn. Nên trứơc phải làm chủ cái thân.
--
Hai, là phải làm chủ được ý. Ý thức rất linh hoạt, dễ
phóng ra bên ngoài. Nếu không dùng phương tiện để điều
phục thì sẽ khó định tâm lặng ý. Do đó từ thời Phật
cho đến bây giờ, phương pháp tọa thiền được xem như tối
thắng nhất để định tâm. Vì vậy tôi chủ trương Tăng
Ni tu muốn tiến lên phải siêng năng tọa thiền. Làm chủ
được thân tâm rồi mới đi tới giải thoát sanh tử.
Chúng
ta nhìn lại đạo Phật, dù cho tông này hay phái kia khác biệt
nhưng rốt lại đều cùng một mục đích là dừng ý niệm
lăng xăng, để cái chân thật được hiện bày, đó là
chỗ gặp nhau. Vì vậy người tu Tịnh Ðộ hay nói "Tam nghiệp
hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương" nghĩa là ba
nghiệp hằng trong sạch thì đồng với Phật đi về cõi Phật
không nghi ngờ. Tu Tịnh Ðộ thì cầu về Cực Lạc, còn tu
Thiền là nhận được bản lai diện mục hay nhận được
Pháp thân v.v... Ðó là điểm tương đồng thứ nhất giữa
Tịnh Ðộ và Thiền.
Ðiểm
thứ hai: nói về lý và sự Tịnh Ðộ. Sự Tịnh Ðộ
là chúng ta tin cách đây mười muôn ức cõi có thế giới
tên là Cực lạc. Do tin chắc không nghi ngờ nên cố gắng
niệm Phật, đến khi nào nhất tâm, chừng đó nhắm mắt thấy
Phật rước về Tây phương, sung sướng không còn khổ sở
như ở cõi Ta bà này nữa. Ðó là Sự Tịnh Ðộ. Về Lý Tịnh
Ðộ thì trong kinh Duy Ma Cật nói: "Tâm tịnh thì Ðộ tịnh".
Nếu muốn cõi nước thanh tịnh trứơc hết phải tịnh tâm
của mình. Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh. Hoặc có
chỗ nói "tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ"; tức tánh của
mình là Phật Di Ðà, tâm của mình là cõi Tịnh Ðộ. Như
vậy Tịnh Ðộ và Ðức Phật Di Ðà ở ngay nơi mình chớ
không phải ở bên trời Tây. Lý Tịnh Ðộ này rất phù hợp
với Thiền.
Tại
sao phù hợp? Vì người tu thiền cốt xoay trở lại nội tâm
của mình. Khi dẹp sạch vọng tưởng lăng xăng rồi thì tâm
thanh tịnh hiện ra gọi là pháp thân bất sanh bất diệt hằng
giác, hằng tri. Nghĩa là chúng ta tu để nhận ra tâm thanh tịnh
không còn vọng tưởng, thể nhập được pháp thân bất sanh
bất diệt, hằng giác hằng tri. Thì Tịnh Ðộ nói Phật Di
Ðà là tự tánh, còn tự tâm thanh tịnh là cõi Tịnh Ðộ.
Ðức Phật A Di Ðà tiếng Phạn đọc là Amitabha Buddha. Trung
Hoa dịch là Vô lượng thọ, Vô lượng quang. Vô lượng thọ
là sống lâu vô lượng, đồng nghĩa với pháp thân bất sanh
bất diệt. Vô lượng quang là luôn luôn sáng suốt, đồng
nghĩa với Phật tánh hằng tri hằng giác. Ðức Phật A Di Ðà
là biểu trưng cho Phật Tánh. Lý Tịnh Ðộ là lý Thiền, không
có gì khác nhau hết.
Ðối
chiếu như vậy để chúng ta thấy ý nghĩa của người tu Thiền
và người tu Tịnh Ðộ không hai, không khác. Do đó Phật Tử
chúng ta khi tu Phật đừng quan niệm rằng mình làm thế này,
thế nọ, Phật sẽ ban ơn ban phúc. Quan niệm như thế là sai
lầm. Tu để chủ động lấy mình. Ý nghiệp lặng xuống thì
được giải thoát chớ thật tình Phật không ban ơn ban phúc
cho chúng ta. Phật dạy nhân quả là gốc của sự tu. Nhân
tốt thì hưởng quả tốt, chớ không phải Phật ban cho ta
được. Song Phật tử chúng ta chỉ muốn xin Phật thôi. Tu
coi bộ phiền mất thì giờ. Cứ cúng một ít rồi Phật ban
cho con cái này cái nọ là xong. Chỉ cần mỗi tháng đi chùa
hai lần, để dành ít tiền ngày 30 hay Rằm, sắm hương hoa,
trái cây... quý thầy đánh chuông, lạy ba lạy, cúng đĩa quả
là đủ rồi. Phật tử đi chùa như vậy so với lý thật của
đạo thật là cách xa muôn dặm! Chúng ta phải ý thức rằng
tu Phật là cốt làm sao để mình trở thành con người giác
ngộ, không còn bị nghiệp lôi dẫn trên đường sanh tử nữa.
Ðó là mục đích tối thượng của chúng ta. Dù đời này
chúng ta tu không xong, còn phải tới lui cõi này nhưng mục
đích tối thượng đó phải giữ vững, đừng để lệch hướng.
Cũng như người đi biển cần có la bàn vậy, phải khẳng
định không nhầm lẫn. Nhắm đúng rồi, đời này tu được
bao nhiêu, đời sau tu tiếp nữa, cứ như vậy tu tiếp mãi,
chừng nào xong việc mới thôi.
Trong
kinh nói Ðức Phật tu vô số kiếp, hay là ba a tăng kỳ kiếp,
tức là ba vô số kiếp. Nghe ba vô số kiếp quý vị có ngán
không? Chữ kiếp không phải một đời của mình đâu. Kiếp
là trải qua bao triệu năm. Vậy ba vô số kiếp là bao nhiêu
triệu năm, qúi vị nghĩ mà ngán phải không?
Phật
vì sợ chúng ta ngán nên nói: Không sao! Nếu khéo tu thì mê
là chúng sanh, giác là Phật. Nhanh như trở bàn tay, đang úp
lật lại thành ngửa. Ðang mê mà giác thì thành Phật ngay
thôi. Nói như vậy có gạt chúng ta không? Không gạt, nhưng
thành Phật có nhiều cách. Bởi vì Phật là tự giác, giác
tha, giác hạnh viên mãn.
Ðối
với chúng ta, phần tự giác là muốn hết sức rồi lại phải
giác tha nữa. Tức là khi nào mình và người khác giác hết
mới thành Phật. Nên nhận ra được tánh Phật gọi là thành
Phật. Thành Phật đây chỉ là lóe thấy Phật của mình thôi.
Còn biết bao nhiêu phiền não, tập khí muôn đời phải trừ
bỏ nữa. Tôi thường ví dụ chúng ta tu như đi trong đêm ba
mươi trời chuyển mưa. Lâu lâu có chớp lóe lên, nhờ đó
ta thấy được một đoạn. Trời tối lại, rồi chớp lên
thấy được đoạn nữa. Cứ thế tu dần dần. Hiện người
tu bây giờ sức tỉnh giác cũng như ánh chớp ấy thôi. Giờ
này đang nghe kinh hoặc ngồi thiền thấy tỉnh lắm, nhưng
giờ khác tiếp xúc với mọi người liền quên mất, rồi
cũng buồn cũng giận. Khi ngồi lại tu thấy tỉnh, thấy giác
nhưng đụng việc cũng phiền não như ai . Cứ thế từ năm
này sang năm khác, rốt cuộc nhắm mắt cũng chưa xong xuôi.
Ðó là bệnh chung của mọi người. Chúng ta cần biết không
phải một lần giác là xong ngay.
Phật
tử lúc nào cũng tin tưởng lời Phật dạy, tin tưởng lời
quý thầy giảng, biết nóng giận là tật xấu, là tiêu mòn
công đức. Nhưng vừa gặp người nói trái tai liền nổi giận
đùng đùng. Ai gan lắm thì kềm giữ không cho hiện ra ngoài
nhưng vẫn ấm ức trong lòng không an. Chúng ta biết đó là
tật xấu, biết rõ 100% như vậy mà muốn bỏ không phải là
dễ. Chúng ta thấy trải qua bao nhiêu kiếp mê lầm giờ đây
tỉnh lại nhưng bỏ vẫn không được. Giống như mấy chú
ghiền thuốc, ghiền rượu vậy. Biết rượu, thuốc là hại,
ngồi một mình, thì nhịn mà có bạn tới đưa thuốc thì
lấy liền. Như vậy mới thấy tập khí kéo lôi thế nào.
Người chưa từng ghiền thuốc dù có mời họ cũng không thèm
lấy, cho nên khi đã huân chủng tử lâu đi thì bây giờ bỏ
hết sức là khó.
Lâu
nay chúng ta thừơng nghĩ người lớn tuổi rảnh rang công việc
dễ tu, còn mấy đứa bé 15, 17 tuổi khó tu. Ðiều này chỉ
đúng phần nào thôi. Già thì rảnh rang có thì giờ, nhưng
tập khí đầy ắp bên trong, nên ngồi lại là nhớ chuyện
năm trên năm dưới, không làm sao tu được. Mấy đứa nhỏ
tuy lăng xăng công việc học hành thấy như khó tu, nhưng tâm
nó trong trắng chứa ít chủng tử. Như người không ghiền
rượu nghe Phật cấm rượu liền cười , dễ quá. Còn người
ghiền rượu nghe Phật cấm rượu liền thấy khổ ngay. Người
không ghiền, bảo bỏ rượu là chuyện thừa; còn người ghiền,
bảo bỏ rượu là việc cay đắng. Các thứ khác cũng vậy.
Cho nên, trẻ mà ham tu thì mau tiến. Còn người già tuy có
thì giờ rộng rãi nhưng tu lâu tiến, vì chủng tử nhiều
quá. Nó cứ quay lại, muốn bỏ, bỏ không được. Hơn nữa
người già tinh thần suy yếu không đủ sức mạnh gạt bỏ
những thói quen cũ nên khó bỏ. Do đó mỗi thế hệ có cái
khó riêng, mà cũng có cái dễ riêng. Hiểu vậy rồi chúng
ta mới thấy việc tu tập không dành riêng cho giới nào hết,
ai quyết tâm thì người đó tu được.
Chúng
ta tu là làm sao tiêu diệt được nhân tạo nghiệp. Nhân tạo
nghiệp lặng thì quả nghiệp không còn. Quả nghiệp không
còn thì chúng ta tự tại, không bị lăn lộn trong sanh tử,
đó gọi là giải thoát. Giải thoát sanh tử nhưng vẫn còn
cái chân thật hiện hữu nơi mình. Khi còn tại thế, có người
hỏi Phật: Thân này chết rồi còn hay hết? Phật không trả
lời. Bởi vì còn nghiệp thì còn sanh trở lại. Nếu nói hết,
người ta tưởng không còn gì cả. Chỉ người tu khi sạch
nghiệp rồi thì tự tại không bị nghiệp lưu chuyển trong
sáu nẻo. Phật dạy: Khi mất thân này, diệt được tâm niệm
sanh diệt rồi thì thể thanh tịnh sáng suốt của mình trùm
khắp. Thể ấy không có tướng mạo, không có gì chi phối
cả nên gọi là giải thoát sanh tử.
Hiện
tại lúc nào chúng ta cũng sẵn thể chân thật đó. Khi ý niệm
dấy khởi tính toán so đo, phân biệt hơn thua, lăng xăng, đó
là cái gốc tạo nghiệp. Nhưng khi ý nghiệp không dấy động
thì tâm có không? Tâm là cái "Biết" đó. Ý niệm tuy không
dấy động nhưng chúng ta vẫn biết. Mắt biết, mũi biết,
tai biết, lưỡi biết, thân biết, như vậy là hằng biết.
Cái biết ấy thênh thang, không chỗ nơi để chúng ta dò tìm,
nhưng luôn hiện hữu. Vì vậy khi các thứ che đậy, mê mờ
lặng rồi thì nó hiện rõ ràng, còn bây giờ vì vô minh che
lấp nên chúng ta không nhận ra nó. Khi nghĩ suy chúng ta nói
tôi nghĩ, tôi suy. Khi không nghĩ suy thì ta vẫn hằng tri hằng
giác. Có biết nhưng vì tánh biết bàng bạc nên chúng ta không
thể chỉ ra được.
Chỉ
khi ý thức dấy nghĩ mới có bóng dáng kèm theo. Như vừa nhớ
người thì bóng người hiện, nhớ chùa thì bóng chùa hiện,
nhớ huynh đệ thì bóng huynh đệ hiện. Nhớ là dấy niệm.
Nhà Phật gọi đây là pháp trần. Phần này rất phù hợp
với khoa tâm lý học. Như hôm rồi xuống bắc Mỹ Thuận,
tôi thấy chú thanh niên một chân bị hư máng trên vai, còn
một chân, chống cây gậy. Trước khi thấy chú, trong tâm tôi
không có bóng dáng đó; nhưng thấy rồi thì đến nay nhớ
lại, hình ảnh ấy hiện ra rõ ràng. Bóng dáng mà tôi nhớ
ở trong lòng đó, nhà Phật gọi là "pháp trần". Chữ "trần"
là những hình dáng tế nhị chớ không phải thô phù; hình
dáng ấy lưu lại trong tâm ta nên khi nhớ đến thì chúng hiện
ra ngay. Như vậy từ nhỏ đến già những bóng dáng đó ghi
vào tâm thức của chúng ta nhiều hay ít? Nếu phân ra không
biết mấy trăm, mấy ngàn lớp? Do đó, khi ngồi yên, lớp
này nhẩy ra tới lớp khác liên miên chập chồng. Vì vậy,
khi tu là chúng ta cố gắng gạt nó qua một bên để cái chân
thật được hiện bày. Bởi vì chỉ khi bóng dáng đó lặng
hết thì ông chủ xưa nay mới hiển lộ. Do đó dụng công
tu là việc hết sức tế nhị chớ không phải thường.
Người
ta thấy ở chùa quá đơn giản, gõ mõ tụng kinh, đi tới đi
lui có gì là quan trọng. Nhưng thật ra người tu phải quan
sát nội tâm, luôn luôn chiếu soi để làm chủ trọn vẹn
được mình, không còn lệ thuộc với pháp trần là điều
rất khó. Tóm lại, tất cả pháp của Phật dạy tuy có chia
ra nhiều môn, nhiều phái, song các phái đều y cứ theo những
gì Phật dạy mà tu hành. Tuy phương tiện có khác nhưng cứu
kính đều gặp nhau. Người tu Tịnh Ðộ thì niệm Phật
cho tới Nhất tâm. Người tu Thiền thì phải được Ðịnh.
Có
người nói Thiền-Tịnh song tu, tức là tu một lượt cả hai
pháp. Như vậy làm sao tu? Bởi vì Tịnh Ðộ đặt lòng tin
lên trên. Tin có cõi Cực Lạc, tin có Ðức Phật Di Ðà chuẩn
bị đón tiếp nên cố lòng niệm Phật, niệm chí tâm đến
chỗ nhất tâm, thì thành công. Nhờ niềm tin mạnh cho nên
quyết tâm tu, mà quyết tâm thì thành công. Còn tu Thiền là
biết rõ các pháp duyên hợp, như huyễn không thật nên không
tham trước, không dính mắc, cố gắng dẹp những bóng dáng
che phủ nội tâm khiến cho nó lặng sạch nên tâm được định.
Như vậy, một pháp tu suốt đời chưa rồi mà dồn hai pháp
lại làm sao kham? Lại Ngài Bạch Ẩn, một Thiền Sư Nhật
Bản nói thí dụ này: Người sợ tu Thiền không đủ, phải
tu thêm Tịnh Ðộ giống như người muốn qua sông gấp, sợ
đi một chiếc đò chậm, nên kêu hai chiếc rồi đứng một
chân chiếc này, một chân chiếc kia. Như vậy đi được tới
bờ không, hay nửa đường đò sẽ bị rơi? Chúng ta phải
hiểu thật kỹ. Nếu không chín chắn, muốn cho mau chóng và
dễ tu, không ngờ chính chúng ta làm trở ngại sự tu của
mình.
Tu
các pháp môn của Phật giống như người leo núi. Một ngọn
núi cao, người ở hướng Tây có lối lên của hướng Tây,
người ở hướng Ðông có lối lên của hướng Ðông, hướng
Nam, hướng Bắc cũng vậy. Trong bốn lối đó chúng ta thích
lối nào thì đi lối đó. Ðã chọn rồi phải quyết chí đi.
Dù leo lên thấy khó, cũng ráng mà leo lên đến đỉnh. Ðường
đi từ bốn hướng khác biệt, nhưng tới đỉnh rồi thì đều
gặp nhau. Cũng vậy, pháp môn Tịnh Ðộ, pháp môn Thiền v.v...
tên có khác, hướng tu có khác, nhưng cứu kính đều gặp
nhau.
Hiểu
như vậy rồi, chúng ta tu không còn chê bên này, khen bên kia,
mà chỉ nên tự trách mình chưa cố gắng, chưa quyết tâm.
Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng thực hiện công phu tu
hành của mình đạt đến kết quả viên mãn, theo nhân duyên
riêng của mỗi người trong tinh thần hòa hợp và đúng với
tinh thần của Phật dạy.
Hòa
thượng Thích Thanh Từ
(Tuần
báo Giác Ngộ, số 196-197-198, tháng 01-2000)