Nguyễn
Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, là người anh hùng dân tộc,
văn võ kiêm toàn, người có tài làm hay, làm đẹp cho nước,
con người tiêu biểu nhất cho trí tuệ và tinh thần Việt
Nam ở thế kỷ XV. Vì những cống hiến to lớn của ông đối
với sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển của văn
hoá, năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm sinh của ông, ông đã
được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hoá thế giới.
Nhưng
cuộc đời Nguyễn Trãi cũng lại là một trong những tấn
bi kịch đau đớn nhất của lịch sử Việt Nam. Từ trong bi
kịch ấy, chúng ta không bất ngờ khi biết rằng, người anh
hùng dân tộc văn võ kiêm toàn lại là một con người có
tâm hồn Thiền học.
Đỉnh
cao của tấn bi kịch này là vụ án Lệ Chí viên bi thảm diễn
ra trong một thời kỳ được xem là “vàng son” của chế
độ phong kiến đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới
nghiên cứu. Nhiều người đã cố gắng đi tìm lời giải
đáp cho nguyên nhân của tấn bi kịch này. Có người cho rằng
đó dường như là một thứ “định mệnh”: “Là trí thức,
đó là niềm vinh dự và đó cũng là nỗi khổ đau đã theo
đuổi Nguyễn Trãi suốt cuộc đời”.
Nhưng
từ nội dung các tác phẩm của ông, nhất là Quốc âm thi
tập, từ hiện thực lịch sử và từ chính cuộc đời Nguyễn
Trãi, chúng ta thấy, tấn bi kịch của người trí thức Nguyễn
Trãi có căn nguyên cụ thể của nó. Có người xem đó là
kết quả tất yếu của mối “xung đột giữa hai định hướng
văn hoá”, một bên “là những đại biểu xuất sắc của
các vùng văn vật” (như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm
Văn Xảo…) “theo định hướng Nho giáo hoá” và một bên
là “các đại thần – võ tướng là người Mường, hoặc
người Việt nhưng sinh ra và lớn lên ở vùng chưa có truyền
thống văn vật lâu đời”. Bởi vì, như giải thích của
một nhà nghiên cứu khác, “không có ai, trong đám võ tướng
đó, am hiểu công việc quản lý nhà nước nên các công việc
hành chánh, ngoại giao, tổ chức triều đình và các lộ mới
lấy lại đều giao cả cho ông”, nên Nguyễn Trãi trở thành
đối tượng của mọi sự đố kị, ganh ghét, dèm pha, thậm
chí hãm hại là điều chúng ta có thể hiểu được.
Nằm
trong định hướng đề cao vai trò của văn hoá Nho giáo, có
nhà nghiên cứu khẳng định rất quả quyết, đó là “mâu
thuẫn giữa các Nho sĩ với toàn thể quan liêu còn lại, kể
cả vua”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, tấn bi kịch của người
trí thức Nguyễn Trãi dường như đụng chạm tới một vấn
đề rộng lớn hơn vấn đề của văn hoá Nho giáo, bởi ông
không chỉ mâu thuẫn với các đại thần, võ tướng người
Mường, hoặc người Việt “kém văn hoá” Nho giáo, mà còn
mâu thuẫn với cả những người không thể nói là không am
hiểu văn hoá Nho giáo (như Học sĩ Lê Cảnh Xước, hoạn quan
Lương Đăng…), hay có thể với cả những “tân sĩ phu”
Minh Nho (sau hai mươi năm đô hộ của Trung Hoa), cũng như với
những nỗ lực đen tối nhằm “thánh hoá” ngôi vua của
chính “đấng chí tôn” và đám triều thần hãnh tiến, cùng
cái “thói đời” “được chim bẻ ná, được cá quăng
câu” của những kẻ thống trị đâu chỉ một thời này…
Theo
chúng tôi, thông qua việc phản ánh mối xung đột với những
biểu hiện xấu xa của lòng người và thói đời cụ thể
trong tác phẩm, Nguyễn Trãi muốn trình bày bằng nghệ thuật
một mối xung đột mới trong thời đại ông, đó là mối
xung đột giữa “trí thức” và “phản trí thức”, nảy
sinh dưới một vương triều xuất thân ít nhiều “phi trí
thức”, được xác lập trên những truyền thống văn hoá
ít nhiều “phi trí thức”, trong chủ trương trọng dụng
một đội ngũ quý tộc, tướng lĩnh, quan lại ít nhiều “phi
trí thức”, và thực hành một đường lối chính trị cũng
ít nhiều “phi trí thức” – Tấn bi kịch và mối xung đột
này lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử, và lần đầu
tiên được thể hiện một cách nghệ thuật trong văn học
càng làm cho các tác phẩm của Nguyễn Trãi có thêm những
giá trị to lớn trong lịch sử văn học.
Thái
độ, tình cảm, tâm trạng của Nguyễn Trãi trong những hoàn
cảnh vô cùng khó ngặt của cuộc đời ông lúc bấy giờ
được phản ánh một cách khá chân thực trong tập thơ Nôm
Quốc âm thi tập. Trước hiện thực của cuộc đời và lòng
người đen tối, đầy chông gai và hiểm hóc, Nguyễn Trãi
đã bộc lộ rất rõ tâm trạng đau buồn, cô độc và thất
vọng của mình. Nhưng như một nghịch lý, thơ Nguyễn Trãi
càng buồn bao nhiêu, càng cô đơn bao nhiêu, càng lạnh giá
bao nhiêu, càng tuyệt vọng bao nhiêu thì lại như càng hàm
chứa bấy nhiêu nỗi khát khao, niềm hy vọng, những ước
mơ cháy bỏng về con người và cuộc đời tươi đẹp, nồng
thắm, nhân tình. Trong nỗi buồn đau, Nguyễn Trãi xây đắp
nên những giấc mơ đẹp cho tâm hồn mình, và vì thế mà
nó cũng là giấc mơ đẹp cho tâm hồn con người cả một
thời đại.
Nguyễn
Trãi thường được nói tới như một nhân vật “dấn thân”
tiêu biểu của Nho giáo Việt Nam thế kỷ XV. Nhưng ta cũng
thấy, trong bế tắc và tuyệt vọng, Nguyễn Trãi đã từng
mơ những giấc mơ lão Trang đắm mình trong cây cỏ, trong hư
vô và quên lãng. Ông muốn lấy tiếng suối Côn Sơn xoá đi
mọi nỗi ưu phiền, lấy tiếng gió thông Côn Sơn làm đàn
cầm đưa mình vào cõi hư vô, lấy phiến đá rêu phong trên
núi Côn Sơn nâng giấc mộng hư huyền… Côn Sơn ca là một
bài ca buồn khi Nguyễn Trãi để tâm hồn mình phiêu du trong
thiên nhiên kỳ thú, trong tiếng gọi trở về:
Côn
Sơn hữu tuyền
Kỳ
thanh lãnh lãnh nhiên
Ngô
dĩ vi cầm huyền
Côn
Sơn hữu thạch
Vũ
tẩy đài phô bích
Ngô
dĩ vi đạm tịch
(Cô
Sơn có suối
Tiếng
nước chảy rì rầm
Ta
lấy làm đàn cầm.
Côn
Sơn có đá
Mưa
tẩy rêu xanh biếc
Ta
lấy làm chiếu sạch…)
Nhưng
nỗi buồn đau của ông vẫn không hề nguôi ngoai. Trong những
kiếm tìm gần như vô vọng một sự “giải thoát” cho tâm
hồn đau khổ, ta thấy Nguyễn Trãi đã có khi đến với nhà
Phật. Ông muốn một sự yên tĩnh thật sự. Trong một lần
đối diện với cảnh giới Thiền của chùa Đông Sơn, nghe
tiếng chim kêu trên mái chùa, Nguyễn Trãi bất giác giật mình
thức tỉnh. Và ông chợt thấy mình đã lỡ một lời ước
hẹn. Mấy mươi năm đi qua như một giấc chiêm bao. Những
lời nguyện ước khi xưa của ông đã bị quên lãng. Điều
nguyện ước của ông là gì vẫn sẽ mãi là bí ẩn đối
với chúng ta. Nhưng sự bừng tỉnh của ông khiến cho người
ta nghĩ về một sự ngộ giải. Lời thơ như là một sự bừng
giác ngộ, một sự trở về, lại như một niềm nuối tiếc:
Quân
thân nhất niệm cửu oanh hoài,
Giản
quý lâm tàm túc nguyệt quai.
Tam
thập dư niên trần cảnh mộng,
Sổ
thanh đề điểu hoán sơ hồi.
Dịch
thơ:
Quân
thân vương vấn trong lòng,
Suối
rừng hổ thẹn vì không giữ nguyền,
Cõi
trần trải mấy mươi niên,
Tiếng
chim gọi những lãng quên thủa nào.
(Đề
Đông sơn tự)
Trong
những năm cuối đời, Nguyễn Trãi không chỉ vui với cảnh
sống ẩn dật mà còn có quan hệ gắn bó thân thiết với
các nhà sư. Bên cạnh “núi láng giềng, chim bầu bạn; mây
khách khứa, nguyệt anh tam”, “mây quen nguyệt khách vô tình”,
“ta cùng bóng liễn nguyệt ba người”… còn có những ngôi
chùa cổ, những vị sư già. Con người đã từng một thời
cùng Lê Lợi tung hoành nơi chiến trận, đã từng là người
“viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời”, nay
tìm niềm vui và sự an ủi nơi cửa Thiền. Chốn Thiền môn
bỗng trở thành một nguồn cảm hứng mới trong thơ ông, đem
đến cho thơ ông một nét mới về tư tưởng và nghệ thuật.
Trong bài thơ Du Nam hoa tự (Chơi chùa Nam Hoa), Nguyễn Trãi từng
tỏ ra hết sức hứng thú về phép huyền diệu của Phật
pháp.
Trong
cái thế giới vô tình và tàn nhẫn mà ông đang nếm trải,
trong cái hiện thực đắng cay đang bủa vây xung quanh, ông
đã tìm thấy sự huyền diệu của thế giới không hư. Và
đây chính là một nguồn cảm hứng mới mẻ và trong trẻo
hiếm hoi trong tâm hồn ông trong hoàn cảnh “khó ngặt qua
ngày xin sống”. Trước một tương lai mờ mịt và vô định
như con thuyền cuộc đời không chốn neo đậu:
Thuyền
mọn còn chèo chẳng khứng đỗ, Trời ban tối ước về đâu?
(Thơ
Nôm số 14)
Ông
đã tìm thấy những điều kỳ diệu dưới một mái chùa.
Và ông làm thơ ca ngợi mái chùa đó. Phải đặt bài thơ này
trong toàn bộ sáng tác của ông mới thấy hết giá trị của
nó, mới thấy được tâm trạng và tư tưởng của ông. Trong
cái không khí khá ảm đạm và tiêu điều của cuộc đời
ông, bỗng vút cao lên những âm thanh trong trẻo và tươi tắn
về một mái chùa và những điều huyền diệu của Phật pháp.
Ta như thấy một sức sống mới, một niềm tin mới, một
sự hồi sinh của tâm hồn đang tan nát:
Thần
tích phi lai kỷ bách xuân,
Bảo
lâm hương toả kế tiền nhân.
Hàng
long, phục hổ, cơ hà diệu,
Vô
thụ, phi đài ngữ nhược tân.
Điện
trắc khởi lâu tàng Phật bát,
Khám
chung di tích thuế chân thân,
Môn
thiền nhất phái Tào Khê thuỷ,
Tốt
tận nhân gian kiếp kiếp trần.
Dịch
thơ:
Gậy
thần bay đến mấy trăm niên,
Hương
hoả Bảo Lâm giữ trọn nguyền.
Phục
cọp hàng rồng sao phép diệu,
Chẳng
đài chẳng thụ vẫn lòng truyền.
Nơi
tàng bát Phật lầu bên ấy,
Dấu
lột xác phàm tháp giữ nguyên.
Trước
cửa Tào Khê dòng nước chảy,
Lâng
lâng gột sạch mọi trần duyên.
(Đào
Duy Anh dịch)
Bài
thơ như một khúc nhạc vui giữa cuộc đời buồn tủi của
ông.
Và
những người bạn tri kỷ của ông trong những năm tháng khó
khăn và cô quạnh này, không phải là những người ông đã
từng kề vai sát cánh trong kháng chiến, cũng không phải những
người đã từng cùng ông chia sẻ nỗi ấm lạnh ở chốn
quan trường, mà lại là một vị sư già nơi non thẳm. Nguyễn
Trãi có nói về quan hệ gắn bó hơn 10 năm giữa ông với
Thiền sư Đạo Khiêm.
Chắc
chắn đây là một mối quan hệ sâu sắc. Thiền sư Đạo Khiêm
là một trong số bạn bè ít ỏi cùng sẻ chia với ông những
lẽ đời cũng như lẽ đạo. Trong bài thơ Tống tăng Đạo
khiêm quy sơn (Tiễn Thiền sư Đạo Khiêm về núi), Nguyễn
Trãi đã bày tỏ những tình cảm hết sức chân thành và quyến
luyến đối với vị sư này. Chính người bạn tâm giao này
đã giúp Nguyễn Trãi giác ngộ lẽ đạo. Thậm chí, ông xem
mình cũng là một người đồng đạo, cùng tu thượng thừa
với Đạo Khiêm. Và một lần nữa, phải đặt bài thơ này
trong bối cảnh cuộc đời ông, giữa bao nhiêu là thói đời
ấm lạnh, nhân tình thế thái đen bạc:
Bể
hiểm nhân gian ai kẻ biết,
Ghê
thay thế nước vị qua mềm.
(Thơ
Nôm số 115)
Ai
thấy rằng cười là thế thái,
Ghê
thế biến bạc làm đen.
(Thơ
Nôm số 124)
Chúng
ta mới thấy hết được ý nghĩa của nó. Trong cái thế giới
lạnh lẽo giá băng ấy, bài thơ như một vầng lửa sưởi
ấm tâm hồn Nguyễn Trãi. Chúng ta cảm thấy bớt lo lắng
hơn, bớt đau xót hơn về thân kiếp của người anh hùng.
Trong cái xã hội con người đầy vô tình ấy, nhà Phật lại
là cả một thế giới “hữu tình”. Vì vậy mà lời thơ
Tiễn Thiền sư Đạo Khiêm về núi của ông vô cùng trong trẻo
và ấm áp:
Ký
tằng giảng học thập dư niên,
Kim
hựu tương phùng nhất dạ niên.
Thả
hỉ mộng trung phao tục sự,
Cách
tầm thạch thượng toại Thiền duyên.
Minh
triêu Linh Phố hoàn phi tích,
Hà
nhật Côn Sơn cộng thính tuyền.
Lão
khứ cuồng ngôn hưu quái ngã,
Lâm
kỳ ngã diệc thương thừa Thiền.
Dịch
thơ:
Nhớ
từng giảng học mười năm,
Gặp
nhau đây hãy cùng nằm một đêm.
Trong
mơ trần luỵ chẳng phiền,
Lại
tìm trên đá luận bàn duyên xưa.
Ngày
mai Linh Phố vân du,
Côn
Sơn nghe suối bao giờ cùng nhau?
Già
ngông còn lạ chi đâu,
Rẽ
đường ta cũng đi tu thượng thừa.
(Phan
Võ, Đào Phương Bình dịch)
Những
bài thơ mang cảm hứng Thiền của Nguyễn Trãi tuy rất ít
ỏi, nhưng chúng đã soi rọi khá sáng tỏ một góc sâu thẳm
tâm hồn Nguyễn Trãi mà bấy lâu nay chúng ta chưa để ý đến.
Giữa một thế giới đầy đau buồn, cô đơn, giá lạnh và
tăm tối, những vần thơ mang cảm hứng Thiền đã đem đến
ít nhiều niềm vui, sự giao cảm và hơi ấm tình người. Mới
hay, tinh thần Thiền học vẫn là một cứu cánh, một bè mảng
đưa con người vượt qua những năm tháng khó ngặt của cuộc
đời. Nguyễn Trãi không mong cầu một bến bờ yên vui nơi
cửa Phật. Nhưng cửa Phật ít nhiều đem lại yên vui cho tâm
hồn đa đoan của ông trong những tháng ngày đau khổ.
(Tạp
San Nghiên Cứu Phật Học)
05-29-2007
04:50:24