Trong
nền thi văn Việt nam hiện nay số người làm thơ bằng chữ
Hán thật là ít ỏi. Có lẽ vì thời đại của chữ Thánh
Hiền đã qua rồi. Bây giờ ít có người chịu học chữ Nho
ngoại trừ những nhà Nho học còn sót lại, hay một số học
giả chuyên về Hán văn, hoặc các vị tu sĩ đạo Phật học
chữ Nho để đọc kinh Phật. Thật ra đây cũng là vấn đề
đáng lo cho tiền đồ của Nho học ở nước ta, nhưng đây
là một vấn đề khác không phải là chủ đích của bài viết
này nên không bàn đến. Trong giới Phật học không ai lạ
gì tài năng ưu việt của Thầy Tuệ Sỹ về chữ Hán. Mấy
bài thơ chữ Hán mà người viết đề cập trong bài viết
này được Thầy sáng tác hầu hết ở trong tù từ 1979-1980
và từ 1984 đến nay. Rất tiếc là người viết không có đầy
đủ tất cả thơ chữ Hán của Thầy. Chắc chắn là Thầy
còn làm nhiều thơ chữ Hán hơn nữa nhưng ở đây người
viết không thể sưu tập được. Thôi thì cứ viết theo những
gì đã có trong tay của mình để góp phần vào việc xưng
tụng công đức vô lượng của Thầy đối với dân tộc,
đạo pháp và văn học nước nhà.
Thơ
khởi đi từ trong sự nhập thể nhiệm mầu của tâm và cảnh,
là âm ba vang động theo bước chân của người lịch nghiệm
cuộc tồn sinh. Vì thế, trong lời thơ có muôn ngàn hình thái
linh hoạt của cuộc sống. Trong vận thơ có tiết tấu của
những cung bậc là tiết điệu của lòng, của cảnh, của
đất trời khi trầm, khi bổng, lúc vội vàng, lúc khoan thai.
Cho nên, đọc thơ là bước vào thế giới kỳ diệu của thực
tại mà kẻ dẫn đường chính là ngôn ngữ uyên nguyên của
thơ. Nhà thơ mở cửa tâm hồn không biên giới của mình ra
để đón thực tại vào lòng. Khi sự phối ngẫu đạt đến
giai kỳ viên mãn, cảm thức trào ra cuồng cuộn như ba đào
và lưu lộ trên từng nét chữ. Ở đó chúng ta thấy được
tất cả cái vẻ thiên hình vạn trạng của cuộc sống từ
sự an lạc đến sự thống khổ triền miên.
Phụng
thử ngục tù phạn
Cúng
dường Tối Thắng Tôn
Thế
gian trường huyết hận
Bỉnh
bát lệ vô ngôn
(Cúng
Dường)
Tạm
dịch:
Dâng
chén cơm tù này
Cúng
dường lên đức Thế Tôn Tối Thắng
Nghĩ
đến thế gian máu lửa hận thù triền miên
Nên
vừa bưng chén cơm mà nghẹn ngào đẫm lệ
(Cúng
Dường)
Thương
cho thế gian, thương cho dân tộc, thương cho đạo pháp đang
trong cảnh lầm thang, điêu linh và thống khổ mà bậc đại
sỹ phải rơi lệ. Và cũng chính vì muốn giải trừ sự khổ
đau và nghiệt ngã cho thế gian, cho dân tộc và đạo pháp
mà bậc đại sỹ đã không ngần ngại hy sinh dù là lao tù
hay tánh mạng. Đó chính là tâm nguyện đại từ bi. Với tâm
đại từ bi thì hễ thấy chúng sanh đau khổ là thị hiện
cứu khổ, không phải suy tính thiệt hơn, giống như bà mẹ
thấy con lâm nạn thì xông tới cứu cấp dù là phải nhảy
vào lò lửa, hay hang hùm miệng cọp. Tình thương của mẹ
đối với con cái khởi phát không phải qua sự tính toán so
đo, mà phát xuất một cách tự nhiên vô công dụng hạnh.
Tâm đại từ bi của đại sỹ đối với chúng sanh cũng vậy,
hiển phát một cách vô công dụng hạnh.
Tâm
đại từ bi không nói rằng điều ấy có lợi hay không rồi
mới làm vì, khi khởi niệm phân biệt lợi hại hơn thua là
lúc đánh mất đại từ bi tâm của mình rồi vậy.
Giải
trừ sự khổ đau cho nhân quần xã hội giống như việc giải
trừ khổ đau cho chính mình không phải thấy có lợi rồi
mới làm, cũng không thể định hạn kỳ đạt đến thành
công. Gốc của khổ đau là vô minh và phiền não. Trừ diệt
vô minh và phiền não đừng nói đến chuyện hạn kỳ lâu
mau hay thành đạt lợi ích trước mắt. Còn khởi niệm mong
cầu thành đạt lợi ích là còn tạo cơ duyên cho vô minh và
phiền não tiếp tục hiện hữu.
Qua
bài thơ, chúng ta thấy được cái bi kịch thống thiết nhất
của dân tộc đã phơi bày ra đó với những máu và nước
mắt. Máu và nước mắt của đại khối dân nghèo hay của
những bậc đại sỹ, những người trên tay không có tấc
sắt, và trong tâm không một ý niệm hận thù, hay đấu tranh
vì bất cứ quyền lợi tư kỷ nào!
Thảm
trạng của đất nước suốt hơn hai mươi năm qua đã xô đẩy
người dân Việt vào chỗ điêu linh tột cùng. Chế độ đương
quyền đã áp đặt chính sách hà khắc bất công lên đầu
lên cổ người dân. Họ hô hào và chủ trương đấu tranh
giai cấp, mạnh được yếu thua biến đất nước thành bãi
chiến trường mà kẻ thủ lợi là tập đoàn lãnh đạo ăn
trên ngồi trước. Người dân được nhà nước tôn vinh bằng
khẩu hiệu là người làm chủ đất nước nhưng thật ra đã
trở thành kẻ bị thống trị không nương tay. Các tôn giáo,
các nhà trí thức chân chánh đều bị coi như là thành phần
đối nghịch với chế độ mặc dù họ chỉ muốn được
sống bình đẳng và có cơ hội góp phần vào việc xây dựng
nước nhà. Chế độ đương quyền đã gieo rắc hận thù và
phân hóa sâu đậm trong lòng dân tộc, đã phá nát di sản
tâm linh, văn hóa, đạo đức quý giá của giống nòi mà trải
qua bao nhiêu thế hệ mới gầy dựng được.
Người
Việt nam yêu nước chân chính nào thấy thảm trạng đó mà
không xót xa đau đớn! Đây chính là động lực làm cho những
vị đại sỹ có tâm từ bi không thể ngồi đó khoanh tay mà
không làm gì trước sự khổ đau và điêu đứng của dân
tộc, của đồng đạo. Nhưng oái oăm thay, dưới chế độ
độc tài đảng trị, hễ người dân nào lên tiếng dù là
tiếng nói của lương tâm, của sự thật đều là hành động
chống lại chế độ. Và cuối cùng đều bị vào tù hay bị
thảm sát!
Bài
thơ diễn tả một hình ảnh thật thiêng liêng và cảm động:
một vị tu sĩ ở trong tù đến giờ ăn trưa vẫn cử hành
nghi thức thọ trai một cách nghiêm cẩn. Hai tay nâng bát cơm
lên để cúng dường đức Phật trước khi vị ấy thọ thực.
Vừa nâng bát cơm lên vừa quán tưởng đến sự khổ đau
của chúng sanh, của dân tộc mà bậc đại sỹ cảm nghe thương
xót ngậm ngùi! Bậc đại sỹ đau xót vì chúng sanh đau khổ.
Khi chúng sanh hết khổ đau thì bậc đại sỹ mới hết đau
xót. Đó là tấm lòng từ bi của Bồ Tát vậy.
Bậc
đại sỹ chỉ vì dân, vì đạo và vì sự thật. Người có
làm gì đâu mà sao nên tội đọa đày? Chính vì vậy, có lúc
Thầy cũng đã tự hỏi:
Vấn
dư hà cố tọa lao lung
Dư
chỉ khinh yên bán ngục khung
Tâm
cảnh tương trì kinh lữ mộng
Cố
giao gia tỏa diện hư ngung
(Tự
Vấn)
Tạm
dịch:
Hỏi
mình vì sao phải ngồi trong lao tù
Ta
bảo rằng làn khói mỏng bị giam trong ngục thất
Tâm
và cảnh quyện lấy nhau trong cơn mộng lữ thứ kinh hoàng
Lời
dạy ngày trước dù bị giam cầm, mặt vẫn ngước nhìn trời
(Tự
Hỏi)
Đối
với bậc đại sỹ vì đại bi mà nhập thế giải trừ khổ
nạn cho chúng sanh, cho nên không bao giờ khởi niệm hận thù
tàn độc đối với bất cứ ai. Chính vì thế, tâm của bậc
đại sỹ không có chỗ cho phiền não tham sân trú ngụ. Người
lúc nào cũng thong dong tự tại như áng mây, như làn khói.
Với phong thái như vậy thì tù ngục không còn là chỗ trói
buộc thân tâm. Bậc đại sỹ xem cuộc đời như cơn mộng,
nhìn cuộc lữ như trò chơi thoáng chốc. Cho nên, chỉ còn
lại trong người giáo nghĩa giải thoát và giác ngộ nhiệm
mầu. Lấy giáo nghĩa ấy mà làm đuốc soi đường đi lên.
Còn sợ gì những chướng nạn của ma quân giả dối. Ngước
mặt thẳng lên trời không hổ thẹn với lương tâm, với
hạnh nguyện, với đất trời, với chúng sanh.
Bài
thơ âm vận nghe hùng khí ngất trời. Câu cuối cùng từng
chữ gieo xuống như thái sơn trụ địa, hiên ngang kiêu bạc
như kiếm kim cương vừa tuốt ra khỏi vỏ!
Đã
xem cuộc đời là mộng, cuộc lữ như trò chơi, nhìn lao tù
như ngục thất giam giữ làn khói mỏng, cho nên bậc đại
sỹ lúc nào cũng tự tại ung dung. Xin nghe mấy bài thơ sau
đây:
Trách
lung do tự tại
Tán
bộ nhược nhàn du
Tiếu
thoại độc ảnh hưởng
Không
tiêu vĩnh nhật tù
(Trách
Lung)
Tạm
dịch:
Ở
trong lồng chật hẹp mà vẫn tự tại
Đi
bách bộ thật là nhàn hạ
Cười
nói một mình mình nghe
Cũng
qua đi một ngày tù dài
(Lồng
Chật Hẹp)
Cái
lồng chật tức là ngục thất nhỏ bé tối tăm trong lao tù
dưới chế độ Cộng sản. Cũng có thể là phòng biệt giam
chật hẹp chỉ vừa đủ cho một người nằm không thoải
mái. Ở trong thế giới chật hẹp và tù túng ấy, dễ mấy
ai có cảm giác giải thoát tự tại. Vậy mà bậc đại sỹ
đạt được trạng thái ấy một cách dễ dàng, bởi vì bậc
đại sỹ vốn đã an lạc tự tâm và thâm liễu rằng ba cõi
là tù ngục, là nhà lửa đang rực cháy, có chỗ nào trên
thế gian này không là hỏa ngục!
Hoặc
là:
Tảo
khởi xuất tẩy tịnh
Thung
dung lập phiến thì
Tự
hữu thần tiên thái
Hà
tu sơn thủy vi
(Tảo
Thượng Tẩy Tịnh)
Tạm
dịch:
Sáng
sớm ra rửa mặt
Ung
dung ngay trong khoảnh khắc
Vốn
đã có phong thái thần tiên
Cần
gì phải là miền sơn thủy!
(Sáng
Sớm Rửa Mặt)
Phong
thái thần tiên là phong thái phiêu diêu tự tại không một
chút phiền muộn và khổ đau. Bậc đại sỹ dù ở trong hoàn
cảnh nào tâm vẫn an nhiên tự tại vì nhận thức rằng các
pháp hữu vi giả dối không thật như mộng mị, như quáng
nắng, như bọt nước, như bóng chớp! Khi tâm đã được tự
tại như vậy rồi bậc đại sỹ cần gì phải tìm đến thâm
sơn cùng cốc mới có thể an nhàn. Tâm bình thì thế giới
bình vậy.
Phong
thái tự tại siêu thoát kia đã đạt đến mức tuyệt cùng
qua ý chỉ của bài thơ "Biệt Cấm Phòng" dưới đây:
Ngã
cư không xứ nhất trùng thiên
Ngã
giới hư vô chân cá thiền
Vô
vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa
quan thiên nữ tán hoa miên
(Biệt
Cấm Phòng)
Tạm
dịch:
Tôi
cư trú ở từng trời Không Vô Biên Xứ
Thế
giới tịch lặng ấy của tôi đúng thật là cõi thiền
Không
vật, không người, không lắm chuyện
Ngồi
mà chiêm quan thiên nữ rải bông hoa
(Phòng
Biệt Giam)
Không
Vô Biên Xứ Thiên là cõi trời thứ nhất trong bốn cõi trời
Tứ Không (Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu
Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ) mà một hành giả khi
nhập định Tứ Không Xứ an trụ trong đó. Định Không Vô
Biên Xứ là trạng thái mà người nhập định đã xả bỏ
tất cả niệm về giới hạn của không gian và thời gian để
nhập thể vào cõi vô biên vô hạn. Tất nhiên, trong trạng
thái định đó thiền giả không còn ý niệm về vật, về
người và về muôn ngàn ý tưởng điên đảo khác. Cõi ấy
không đúng là thiền thì là gì! Bậc đại sỹ ngồi trong
phòng biệt giam tối tăm và chật hẹp không tưởng tượng
nổi mà vẫn an nhiên tọa thiền nhập định. Cho nên, đối
với Thầy đó là đạo tràng thanh tịnh có các thiên nữ rải
bông hoa cúng dường. Thế mới biết đạo lực của bậc đại
sỹ không thể nào đem trí đức thô lậu của phàm phu mà
so sánh được. Bài thơ dệt nên cái phong cảnh thanh tịnh
siêu thoát tỏa ra từ đạo lực cao dày của vị tu sĩ khiến
cho người đọc quên rằng tác giả đang diễn tả sinh hoạt
của mình trong một phòng tù biệt giam!
Tất
cả đạo lực tự tại và siêu thoát ấy đều là kết quả
tất yếu của một quá trình tu chứng mà Thầy đã lịch nghiệm
từ giáo nghĩa Khổ Không đến thực tại đời sống sinh động
trong đó bao hàm những ngày lao tù khổ nhọc. Kinh nghiệm ấy
như là những tôi luyện tinh ròng từng bước từng bước
dẫn Thầy đến vực thẳm, chỗ tận cùng của mê và ngộ,
để rồi một mai khi bước chân vừa khởi đi là hốt nhiên
rơi xuống vực thẳm. Nhưng chính từ trong vực thẳm ấy,
cánh cửa nhiệm mầu lại mở ra, muôn pháp sáng rực dưới
nhãn quang bùng vỡ của người về từ miền đất lạ. Xin
hãy đọc bài Tự Thuật sau đây thì rõ:
Tam
thập niên tiền học Khổ Không
Kinh
hàm đôi lũy ám tây song
Xuân
hoa bất cố xuân quang lão
Thúy
trúc tà phi túy mộng hồn
Nhẫm
nhiễm trường mi thùy hoại án
Ta
đà tố phát bán tàn phong
Nhất
triêu cước lạc huyền nhai hạ
Thủy
bả Chân Không đối tịch hồng
(Tự
Thuật)
Tạm
dịch:
Ba
mươi năm trước học giáo nghĩa Khổ Không của đạo Phật
Kinh
đã học chứa đựng chất đống cao như tường che khuất
cả cửa sổ trời tây
Xuân
tươi thắm mà không đoái hoài đến nên xuân già cỗi
Trúc
xanh biếc thoáng lượn qua làm say hồn mộng mị
Thắm
thoắt hàng mi dài rũ xuống chiếc bàn cũ kỹ
Ngày
qua tháng lại tóc trên đầu đã bạc nối theo với tuổi già
sức kiệt
Một
sớm bước chân rơi xuống vách núi cheo leo
Mới
lấy Chân Không mà đối trị lại đêm hồng
(Tự
Thuật)
Giáo
nghĩa Khổ Không của đạo Phật nếu không được nghiệm
chứng thực sự trong cuộc sống trầm luân khổ lụy thì chỉ
trở thành là cái kho tàng chữ nghĩa làm che khuất cả chân
tâm. Vì chỉ chú trọng vào triết lý suông không thôi cho nên
người tầm đạo đôi khi không có đủ đạo lực để ứng
phó với những cơn say hồn lúc bước vào trận đồ vô minh
phiền não. Rồi vì dong ruổi theo mê lộ của tư tưởng triết
lý đạo học mà quên đi ngày tháng, đến nỗi khi chợt tỉnh
ra thì mái
đầu
xanh đã trắng bạc tự bao giờ. Nhưng mà, quá trình lịch
nghiệm cuộc sống ấy không phải là quá trình hoang phí đối
với mục tiêu cứu cánh của đời người. Nó đích thực
là chặng đường thử thách và tôi luyện tinh mật để sửa
soạn cho một giai kỳ bí nhiệm khác. Giai kỳ ấy lộ hiện
ra khi người tầm đạo vừa lao mình xuống vực thẳm uyên
nguyên. Đi tìm sinh lộ ngay trong chính giữa lòng của cõi chết.
Đó là phương cách thần diệu nhất, mà chỉ có những ai
dám vận dụng tất cả chí khí bình sanh đương đầu một
lần quyết liệt với con người vô minh điên đảo của chính
mình, để cải tử hoàn sanh. Chết đi con người vô minh và
phiền não để tái sanh con người giác ngộ và giải thoát.
Từ sau đó, người hành đạo không còn quái ngại đối với
vô minh phiền não gì cả vì trong ông ánh sáng rực ngời của
trí tuệ Bát Nhã lúc nào cũng chiếu rọi tròn đầy.
"Một
sớm bước chân rơi xuống vách núi cheo leo
Mới
lấy Chân Không mà đối trị lại đêm hồng."
Trí
tuệ Bát Nhã liễu đạt vạn pháp là Chân Không Diệu Hữu
xa lìa các vọng chấp của Có, Không hay Đoạn, Thường. Vì
thực tại vạn hữu không thể nói là Có hay là Không một
chiều theo quan kiến nhị biên và phân biệt lưỡng lập. Chỉ
có Trí Tuệ Bát Nhã ấy mới có đầy đủ diệu lực để
rọi chiếu vào tận cùng nguồn lạch vi tế của vô minh và
ái nhiễm.
Đối
với bản thân thì bậc đại sỹ không còn bận bịu đến
lẽ tử sanh sinh diệt vô thường, nhưng lòng đại bi đối
với chúng sanh khổ lụy thì không bao giờ gián đoạn. Nghĩ
đến sứ mệnh hoằng truyền chánh pháp phổ độ chúng sanh,
bậc đại sỹ trầm tư thâu canh trước ngọn đèn leo léc
trong lao tù.
Trục
nhật lao tù sự cánh mang
Trung
tiêu độc tọa đối hàn đăng
Không
môn thiên viễn do hoài mộng
Quy
lộ vô kỳ nhiệm chuyển bồng
(Dạ
Tọa)
Tạm
dịch:
Ngày
trôi qua việc lao tù lại thêm mờ mịt
Trong
phòng tù một mình ngồi đối diện với ngọn đèn lạnh lẽo
Hình
ảnh chốn thiền môn xa xưa lòng vẫn hoài tưởng
Đường
trở về không hạn kỳ sứ mệnh thật rối rắm
(Đêm
Ngồi)
Đường
về của bậc đại sỹ hay đường về của cả dân tộc không
còn có thể hạn kỳ được vì đất nước đang bị phủ
trùm lên ngổn ngang những thảm cảnh bi thương, những bế
tắc và khủng hoảng khắp các mặt xã hội từ kinh tế đến
văn hóa và đạo đức. Trước cơn mạc vận của dân tộc
như vậy người dân thương nước thương nòi nào mà không
cảm thấy rối rắm trong lòng!
Bài
thơ dệt lên cái hình ảnh thật bình dị nhưng cũng thật
như thực và cảm xúc. Hình ảnh một vị tu sĩ ban đêm trong
tù vì suy tư đến vận nước, vận đạo mà không an giấc.
Thức dậy ngồi một mình trước ngọn đèn dầu leo léc. AÔnh
sáng nhạc nhòa của ngọn đèn trông lạnh lẽo và cô liêu
lạ thường trong đêm khuya giữa chốn lao tù.
Trong
lòng Thầy lúc nào cũng nghĩ đến chốn thiền môn cổ kính
ngày nào. Phải, chỉ có đạo giải thoát mới là nhà đích
thực của một tu sĩ, chỉ có Không môn mới là cánh cửa
dẫn đến thế giới siêu thoát tự tại. Tất cả đều là
huyển mộng như cái huyển mộng của chính kiếp người. Có
gì khác hơn là cứu cánh giác ngộ đáng để bậc đại sỹ
phải bận lòng, phải tham đắm dù là lợi danh mà người
đời không ngớt tìm cầu. Chính vì thế, bậc đại sỹ ra
tay cứu nước cứu dân không phải vì bả danh lợi thế tục
mà vì hạnh nguyện cứu khổ độ sanh của Bồ Tát. Việc
cứu nước cứu dân trong cơn quốc phá gia tan là việc nên
làm của tất cả những người mang hạnh nguyện vị tha không
luận là thuộc thành phần nào của xã hội. Nhà văn, nhà
thơ, nhà tu hành, nhà chính trị, ông nông phu, bà bán hàng
rong, cô học trò, em bé chăn trâu, v.v... tất cả đều có
trách nhiệm trọng đại đối với quốc gia dân tộc. Cho nên,
đừng nói rằng người này nên gánh vác trách nhiệm ấy người
kia không nên. Người viết cho rằng sự hy sinh của Thầy cho
dân tộc, cho đạo pháp quả thật xứng đáng và không uổng
phí chút nào. Thầy quả là một Tuệ Trung Thượng Sỹ của
thời đại hôm nay. Xin vạn lần xưng tụng công hạnh vị
tha cao cả của Thầy.