LỜI
GIỚI THIỆU
Thầy Tuệ
Không Phạm Thiên Thư một sinh viên tốt nghiệp Phật Khoa Vạn
Hạnh đã có sáng kiến và can đảm thi hóa Kinh Kim Cương để
cúng dường chánh pháp.
Tôi nói
sáng kiến vì rất ít có Phật tử nếu không phải là chưa
có, đã dùng thể thơ mà diễn đạt nghĩa chân không diệu
hữu của Đại Thừa.
Tôi nói
can đảm vì chỉ có tuổi trẻ mới can đảm làm những chuyện
phi thường và thật là phi thường khi cả gan thi hóa bản
kinh "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Thật sự, xưa kia Đức
Phật cũng đã dùng thể kệ (gàthà hay sloka) để thuyết pháp
độ sanh. Thể kệ tức là thể thơ ngày nay vậy.
Gọi là
để tán thán công đức thi hóa của thầy Tuệ Không, tôi
ghi sau đây bài kệ bằng chữ Sanskrit. bản kệ này được
dịch ra chữ Hán như sau:
Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm
thanh cầu ngã
Thị nhơn
hành tà đạo
Bất năng
kiến Như-Lai
Ye màm
rùpena càdràksurye
Màm ghosena
cànvaguh
Mithyàprahàna
prasrtà
Na mà
draksyatite janà
Thích Minh
Châu
Viện
Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh
TỰA
Đứng
trước cảnh tàn sát, lắng nghe tiếng rên siết, tự cảm
thấy mình bất lực, mà tụng niệm kinh Kim Cương thì lại
thấy tâm hồn dịu lại.
Mầu
nhiệm thay Kim-Cương!
Lạ
lùng thay Kim-Cương!
Ước
gì lòng tôi biến thành Kim-Cương để xóa tan biên giới Ta
với phi Ta, để liễu ngộ sinh tử, để hết trụ vào Ta,
cho cái tâm giải thoát.
Phải
chăng đấy là cái Tâm "Ưng vô sở trụ mà sinh" nó đã dẫn
dắt Huệ Năng về Tào Khê, nó đã làm cho Thái-Tông khoát
nhiên tự ngộ vai trò lãnh đạo nhân dân "dĩ thiên hạ tâm
vi tâm - dĩ thiên hạ dục vi dục". Vào sinh ra tử suốt cả
một đời ngõ hầu thực hiện cái nghĩa vô tâm:
"Lưu
thủy hạ sơn phi hữu ý
Bạch
vân xuất tụ bản vô tâm"
Không
có ý mà làm, với cái tâm không tâm ! Thật khó lắm thay !
Cao siêu thay !
Ở
vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu
thánh chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường
cho hành động vô tâm tưởng như chỉ còn tâm lý nghệ thuật
họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở
thế giới. Vì chỉ có cảm xúc mỹ nghệ mới gợi đuợc
ở lòng người ý vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nhìn
thế giới với đôi mắt kim cương:
Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn bào ảnh
Như
lộ diệc như điện
Ưng
tác như thị quán
Vậy
thầy Phạm Thiên Thư đã cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương
Bát Nhã.
Nên
lắm thay!
Gia
Định nay tựa mồng một, tháng tư, năm Canh Tuất
NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC
Nguyên
Khoa Trưởng Đại Học Văn-Khoa Saigon
Nguyện
cúng dường kinh tạng thơ hoa
Trải
tam thế mộng một tòa sắc hương
Kiếp
sau làm chim trong sương
Về
bay hóa độ mười phương trời vàng
Phạm
Thiên Thư
NGỢI KINH
thân như
sương đầu cỏ
tụ mười
cõi trăng sao
nhập dòng
thơ thâm diệu
mộng thức
dưới hoa đào
DÂNG KINH
cánh lan ngọc
cong cong
mười viền
trăng thu khuyết
hoa khép
tay trầm hương
qui-y tôn
kính Phật
MỞ KINH
giấy cỏ
hoa mây trắng
chép đôi
dòng kinh thơ
suối nào
vi diệu tụng
trang nghiêm
cõi Phật thừa
I
Mây hào quang
về hội
hoa suối
cũng yên nghe
pháp hội
nhân do
con chim thu
cõi tịnh
cũng về
hội ta bà
trùng trùng
mây mây biếc
hoa trải
cúng dường hoa
trong khu vườn
mai trắng
sương đọng
mấy từng hoa
sao tụ nước
xá-vệ
hương ngát
mười cõi xa
trên trụ
đá mây đỏ
trải chiếu
cõi lưu ly
Phật kết
kim cương tọa
chim tụng
pháp diệu kỳ
hai ngàn năm
trăm vị
tỳ-kheo
rực pháp-y
dưới thềm
đá mây nổi
dưới thềm
hoa uy nghi
II
Giữa rừng
hoa tịch mặc
Thoảng tiếng
suối thần rơi
Thiện hiện
khải thinh
giữa đại
chúng tịch mịch
hiền giả
tu-bồ-đề
đứng dậy
chắp tay ngọc
hoa trắng
trải hoàng-y
vô ngàn,
vô ngàn năm
mây hương
một lần tỏa
vô ngàn,
vô ngàn năm
cõi ngọc
nở sao lạ
đức vô
thượng như-lai
chúng sanh
cầu đạo cả
chí an trụ
nơi đâu
pháp trừ
tâm huyễn vọng ?
III
hoa vàng khe
đá cũ
trang nghiêm
cõi đại thừa
đại thừa
chính tông
thiện nam
như ngọc trên đài sen
như hoa mai
đông một sớm nở
lắng nhuần
sương tụ mười cõi sao
chúng sinh
cầu đạo cả
như trăng
hiện hư không
hào quang
vô lượng biển
mười cõi
sáng mênh mông
nguyện độ
hết chúng sanh
loài sinh
từ trứng ngọc
loài sinh
từ thai hoa
loài sinh
hồ suối nước
loài hóa
sinh cõi trời
loài có
sắc không sắc
lãng đãng
bụi vàng rơi
loài có
tưởng, không tưởng
tan hợp
thoáng mây trôi
chúng sinh
như sương tụ
chúng sinh
như mây tan
mười cõi
bóng mây nổi
nhập vô-dư
niết-bàn
vô lượng,
vô biên độ
mà không
một chúng sanh
đồng cùng
như tánh trí
từ biển
lặng vô minh
bồ tát thiên
chấp ta
của ta,
rồi khác ta
chấp chặt
thọ gỉa tướng
chúng sanh
tướng hằng sa
chưa thành
bồ tát đạo
IV
dặm mây
hồng muôn cõi
nào vì ngấn
lệ hoa
diệu hành
vô trụ
thực hành
pháp bố thí
chẳng chấp
thức căn trần
vô ngã vô
sở trụ
vô ngại
cõi phù vân
như mười
phương sao biếc
mười phương
cõi hư không
bố thí
vô tướng trụ
công đức
chẳng suy lường
bồ tát trụ
tâm ta
như trăng
tụ sương ngọc
như tĩnh
lự mặt trời
mạch sống
mười cõi nước
V
Phiến hoa
mai trắng nở
cửa động
khép xuân thu
như lý thực
kiến
dùng tâm
thân huyễn vọng
nhìn vạn
pháp mây trôi
thấy chăng
như lai tướng ?
chỉ thấy
nước trăng xuôi
thân tướng
không chân thực
gỉa dối
bóng mây đưa
vượt qua
vô chướng ngại
phương tiện
như lai thừa
VI
ba cõi ngọc
lưu ly
nở mặt
rời không tiện
chính tín
hy hữu
tu bồ đề
tác bạch:
đứng vô
thượng pháp vương
chúng sinh
có tin thực
cửa trí
huệ chân thường
người tu
trì phước huệ
nguyện phát
thanh tịnh tâm
tin pháp
ngọc chân thực
muôn xưa
thiện kiếp trồng
vô lượng
kho châu ngọc
nghiệp đức
tụ trăm sông
không chấp
vạn hữu tướng
ngã, pháp,
sạch tâm không
chính pháp
như bè ngọc
dùng qua
ngọn suối hồng
chân đến
bờ vi diệu
bè cũng
thả xuôi sông
VII
mây hồng
kết giải suối
nào cần
thuyền trăng đưa
vô đắc
vô thuyết
nầy hiền
gỉa bồ đề
diễn bầy
ý chân thực
tôi được
chính pháp chăng ?
và trao quyền
pháp ý ?
không pháp
nào vô thượng
phương tiện,
phương tiện thôi!
ngài chưa
thuyết một pháp
vì tánh
chẳng y lời
đạt ý,
như thực ý
lìa lời,
như thực lời
đạt trí,
như thực trí
ý, lời
ngọn sóng khơi
vô lượng
hiển thánh tăng
pháp vô
vi tu hành
từ chân
tâm vắng lặng
sái biệt
độ quần sanh
VIII
tặng trùng
hoa giọt ngọc
nào bằng
thơ đại bi
y pháp xuất
sinh
người đem
biển châu ngọc
vô lượng
núi lưu ly
rộng cho
muôn cõi nước
khắp cỏ
hoa phù đề
công đức
vô biên lượng!
chưa bằng
tụng một dòng
kim cương
biển trí tuệ
hoặc diễn
vi diệu thơ
cúng dường
nhất thiết tướng
vì vô lượng
Như-Lai
từ phẩm
kinh ngọc này
chứng vô
thượng chính giác
phật pháp,
không phật pháp
mới tạm
gọi phật thừa
thế gian
tức phật pháp
nhuần làn
giải thoát mưa
cỏ cây
trổ hoa ngát
IX
cõi đất
hồng mã não
nở muôn
chúng hoa thơm
nhất tướng
vô tướng
thánh quả
tu-đà-hoàn
gọi nhập
dòng giải thoát
chẳng gọi
tu-đà-hoàn
vì thực
không quả đạt
như đầm
sâu bùn tanh
ngại vì
hoa trổ ngát
thánh quả
tư-đà-hàm
còn một
lần sinh tử
chẳng gọi
tư-đà-hàm
vì chẳng
nơi lai khứ
như ao bợn
bùn nhơ
khóm sen
xanh thường trụ
thánh quả
a-na-hàm
chẳng trong
vòng dục-giới
không gọi
a-na-hàm
vì chẳng
nơi ngăn ngại
muôn cõi
một cơn mây
mưa từ
vô lượng trải
thánh quả
a-la-hán
bậc an trụ
niết bàn
chẳng là
a-la-hán
vì ngã,
pháp mây tan
như mặt
trời thanh tịnh
muôn cõi
giáp tâm đan
nay con tu
tịch tịnh
vắng lặng
như hư không
nên chẳng
gọi tịch tịnh
vì động
tĩnh ngoài vòng
X
một bông
hồng tịnh mặc
trang nghiêm
cõi bụt vàng
trang nghiêm
phật độ
xưa hội
Phật Nhiên Đăng
tôi đắc
pháp nào chăng ?
ngài đắc
vô sở đắc
vượt ngã,
pháp tâm băng
vô lượng
bồ-tát-hạnh
cõi Phật
làm trang nghiêm
hạnh nguyện
không sở nguyện
trang nghiêm
thực trang nghiêm !
bồ tát khởi
sinh tâm
thanh tịnh
như hư không
vô nguyện,
vô sở trụ
viên mãn
một tâm đồng
như mưa
khắp phương cõi
riêng gì
chốn tây đông
XI
cao cao từng
mây biếc
sao kết
dòng thơ hoa
vô vi thắng
phúc
người phát
tâm bố thí
ngọc, sao
đầy hư không
vàng, cuộn
long giang cát
chưa bằng
tụng kinh này
hoặc kết
dòng thơ ngọc
vào mật
ý như lai
tạo vô
lượng nghiệp đức
vô lượng
trợ thần oai
vàng ngọc
thêm chấp chặt
tham si lệ
đổ hoài
thấm dòng
thơ giải thoát
cứu độ
khắp trần ai
XII
trăng không
lìa đáy suối
sen trắng
ngát đầm xanh
tôn trọng
chính giáo
người diễn
nói kinh này
dù một
câu đạo vị
khắp cõi
quỷ, trời, người
cúng dường
như tháp Phật
tôn kinh này
nơi đâu
đó hào
quang chư Phật
trì tụng
trang ngọc kinh
tựu thành
pháp bậc nhất
XIII
y trụ trang
diệu kinh
lắng tan
ba nghiệp vọng
như pháp
thụ trì
hiền giả
tu-bồ-đề
dưới thềm
mây đá biếc
tôn kinh
này tên gì ?
phụng trì
sao như thực ?
này hiền
gỉa bồ đề
tên kinh
gọi kim cương
bát-nhã
ba-la-mật
thụ trì
như danh trên
Phật thuyết
ba-la-mật
chẳng phải
ba-la-mật
mới thật
ba-la-mật
lìa tướng
như thực tâm,
phương tiện
lời biện biệt
chính pháp
như bè ngọc
phương tiện
vượt sông mê
bừng tự
tánh bồ-đề,
bè sông
như thực trí
vô cùng bụi
nhỏ vàng
khắp đại-thiên
thế-giới
ông nghĩ
bụi nhiều chăng ?
vô lượng
bụi vàng này
cũng không
nhiều, không nhỏ
tạm gọi
bụi vàng thôi
Như-Lai gọi
thế giới
thế giới
thực không nơi
tạm gọi
là thế giới
như gợn
mây đáy nước
lìa bóng
để nhìn trời
mây mười
phương tan tụ
bóng nào
có một nơi
lìa kinh
một chữ nhỏ
tức xa như
thực lời
nệ chấp
một câu nhỏ
chân tướng
mãi xa vời
chấp sóng
chẳng thấy nước
vọng tâm
mãi nổi trôi
lìa sóng
để thấy nước
sóng, nước
một trùng khơi
vào, ra không
ngăn ngại
chân , vọng
chẳng riêng nơi
ba mươi hai
tướng quý
có thấy
được Như-Lai
bóng hoa
in đáy suối
nào biết
thực hoa mai
chẳng nệ
tướng mây nổi
sá gì nghĩa
Như-Lai
người mang
vô thủy kiếp
như đáy
cát sông trong
phát đại
nguyện bố thí
như người
chuyển kinh này
in tụng
dòng thơ nhỏ
hoặc diễn
giải thoát thơ
chúng sinh
vô lượng độ
phúc đức
ngút mây mờ
XIV
cánh cửa
ngọc vi diệu
mở tụng
mười cõi sao
ly tướng
tịch duyệt
mười phương
trời châu ngọc
thắp sáng
từng lời kinh
xuôi về
biển trí tuệ
hiền gỉa
tu bồ đề
đức vô
thượng Như-Lai
mở cửa
ngọc vi diệu!
con từ vô
thủy nay
mới nghe
kinh mầu nhiệm
ý tuyệt
vời mây bay!
có người
nghe mật nghĩa
vào biển
thanh tịnh tâm
khởi tướng
vàng chân thực
tựu thành
đức hy hữu
thật tướng,
tức không tướng
mới là
thâm mật thân
thật tánh,
tức không tánh
thân, ý
nắm phù vân
nay con được
thụ trì
nương từ
âm thần lực
thâm hiểu
ngọc vàng kinh
để vào
Như-Lai-Ý
vô lượng
kiếp kiếp sau
người tụng
đôi lời ngọc
phát tâm
vô lượng từ
tựu thành
nhất thiết đức
lìa gỉa
ngã huyễn vọng
chẳng nệ
tướng tụ tan
chúng sinh
nguyện độ hết
địa ngục
chuyển niết bàn
sau nghiệp
chúng sâu dầy
có người
tụng kinh ngọc
sợ hãi
chẳng sinh lòng
vì tịnh
không ngã, pháp
hy hữu,
hy hữu thay!
đệ nhất
ba-la-mật
chẳng phải
ba-la-mật
mới thật
ba-la-mật
nhập thể
tánh tròn đầy
xa lìa ngôn
tự thuyết
nhẫn nhục
ba-la-mật
mê, ngộ
chẳng xa lìa
ngã, pháp
thể không lặng
cầu gì
bên bờ kia
tiền thân
tôi một kiếp
từng bị
Ca-Lợi vương
hành hạ
cắt thân thể
tâm chẳng
sinh giận buồn
vì ngã,
pháp không lặng
lại nhớ
thủa quá khứ
tôi là vị
tiên tu
nhập đại
hạnh nhẫn nhục
ngã, pháp
tướng xa lìa
người cầu
đạo bồ đề
phát tâm
vô lượng độ
lìa gỉa
tướng mây hồng
bố thí
vô sở trụ
chư tướng,
không thực tướng
chúng sinh,
không chúng sinh
lời chân
như bình đẳng
không dối
trá mảy may
khởi hạnh
nguyện bố thí
chưa lìa
tướng huyễn mê
như người
trong ngục đất
quờ quạng
có thấy gì !
khởi hạnh
nguyện bố thí
chẳng vì
sự, tướng mê
như người
mở mắt sáng
dưới mặt
trời lưu ly
thấu rõ
pháp chân, vọng
mai sau có
người nào
thụ trì
phẩm kinh ngọc
vào biển
trí Như-Lai
tựu thành
vô lượng đức
XV
giọt sương
đọng đài sen
ảnh chiếu
ba cõi bụi
trì kinh
công đức
có người
đem thân mệnh
như phù
sa hồng hà
bố thí
muôn ức kiếp
có người
trộm nghe kinh
khởi lòng
tin thanh tịnh
đức vô
lượng vô biên
hơn đại
nguyện bố thí
trải thân
ngọc tam thiên
vàng ngọc
đắp ngục tối
dòng kinh
mở não phiền
vì người
khởi đại tâm
phát nguyện
tối thượng thừa
tôi mở
pháp vi diệu
ai đọc
tụng thọ trì
diễn giải
chân thực ý
vào biển
huệ lưu ly
tựu thành
vô lượng đức
là chuyển
đạo Như-Lai
cứu người
trong lửa vực
người chấp
trược ngã kiến
chúng sinh,
thọ gỉa kiến
như tù ngục
trong thân
đối với
kinh ngọc này
không thụ
trì tụng đọc
chẳng thấy
pháp NhưLai
chìm sâu
dòng suối độc !
nơi nào mở
kinh này
ngâm tụng
dòng thơ nhỏ
khắp cõi
quỉ trời người
cúng dường
vô lượng độ
như kim thân
Như-Lai
như tháp
thờ xá lợi
thường
tại giữa mây bay
XVI
vô cùng trăng
sao vỡ
vô cùng
bọt nước tan
năng tịnh
nghiệp chướng
người trì
tụng kinh này
bị người
khác khinh chê
vì nghiệp
trước sâu dầy
nay nghiệp
tội tiêu tan
khởi phát
thanh tịnh tâm
chứng vô
lượng đạo quả
như sen ướp,
trầm xông
trải qua
vô lượng kiếp
tôi theo
Phật Nhiên Đăng
cúng dường
vô lượng Phật
công đức
chẳng so bằng
người tụng
phẩm kinh ngọc
nghĩa thâm
diệu suy tầm
ngã, pháp
thể không tịch
thực chứng
đạo viên dung
XVII
rửa tay tam
giới mộng
sông cuộn
bụi vàng rơi
cứu kinh
vô ngã
Hiền gỉa
tu-bồ-đề
trải tọa
cụ lưu ly
chắp tay
lan bạch ngọc
tán thán
pháp diệu kỳ!
đức vô
thượng Thế-Tôn
truyền tâm
đạo Bồ-Đề
pháp nào
ý an trụ ?
pháp nào
đẹp huyễn mê ?
người thiện
nam, thiện nữ
khởi tâm
đại Bồ-Đề
hết thảy
chúng sinh độ
chúng sinh
diệt độ rồi
như không
một chúng sanh
mê, ngộ
vô sai biệt
đồng tánh
trí tựu thành
tu-bồ-đề
hiền gỉa
ý ông nghĩ
thế nào ?
tôi theo
Phật Nhiên Đăng
chứng đạo
vàng vô thượng ?
như mật
ý Như lai
xưa Nhiên
Đăng Phật hội
chẳng một
pháp ngoài tâm
không chính
đẳng, chính giác
nếu một
pháp ngoài tâm
tôi vào
vô thượng giác
cổ Phật
Nhiên Đăng nào
thụ ký
sao thành Phật:
hiệu Thích
Ca Mâu Ni
bồ tát chấp
ngã tướng
huyễn tướng
khởi trùng trùng
như mắt
quáng hoa không
chưa thành
bồ tát đạo !
thực ra không
pháp nào
khởi tâm
cầu vô thượng
thực ra
không pháp nào
gọi chính
đẳng chính giác
xưa nay đạo
không lặng
mê, ngộ
chẳng ngoài vòng
một tâm
giáp mười cõi
biển lặng
bóng trăng trong
Như-Lai là
diệu nghĩa
như như
vạn pháp thường
xưa nay không
một pháp
như bóng
chớp hoa sương
không một
pháp bồ tát
không ta
cũng không người
không trang
nghiêm cõi phật
mật nguyện
hoa vàng tươi !
làm trang
nghiêm cõi Phật
tức trang
nghiêm cõi người
ngã, pháp
bóng mây nổi
vào ra dòng
nước xuôi
XVIII
một thể
nước thanh tịnh
mây sương
suôí biển đông
nhất thể
đồng quán
hiền giả
tu-bồ-đề
diễn bày
ý chân thực !
tôi có nhục
nhãn chăng ?
quả ngài
có nhục nhãn
hiền giả
tu-bồ-đề
diễn bày
ý chân thực !
tôi có thiên
nhãn chăng ?
quả ngài
được thiên nhãn
hiền giả
tu-bồ-đề
diễn bày
ý chân thực !
tôi có tụê
nhãn chăng ?
quả ngài
có tụê nhãn
hiền giả
tu-bồ-đề
diễn bày
ý chân thực !
tôi có pháp
nhãn chăng ?
quả ngài
chứng pháp nhãn
hiền giả
tu-bồ-đề
diễn bày
ý chân thực !
tôi có Phật
nhãn chăng ?
quả ngài
có Phật nhãn
vô lượng
số sông hồng
vô lượng
cát phù giang
như vô lượng
cõi Phật
vô lượng
tâm chúng sinh
tôi đều
như thực quán
tướng đồng
dị mang mang
hoá sinh
vô lượng kiếp
không ngoài
tâm viên đồng
thể không
sanh, trụ, diệt
XIX
mặt trời
trí huệ sáng
mười cõi
một tâm không
pháp giới
thông hóa
bố thí vô
lượng ngọc
bằng tất
cả tam thiên
phúc đức
nhiều vô lượng
từ một
đại nhân duyên
nếu như
phúc thật có
chẳng thể
lượng ít nhiều
vì vốn
không thật có
phương tiện
nói bao nhiêu
nghiệp duyên
như sóng nổi
phúc đức
như bọt trôi
khi gío yên
biển lặng
tìm đâu
bọt giữa khơi
XX
lìa sương
un bọt nổi
tâm hiện
một dòng trong
ly sắc ly
tưởng
nhờ kim thân
đầy đủ
có thấy
tướng Như-Lai
không qua
thân mây nổi
mà thấy
đức Như Lai
gọi sắc
thân đầy đủ
nào phải
sắc thân thường
mới gọt
thân đầy đủ
huệ đức
tạng Kim Cương
qua vạn tướng
tốt đẹp
có thấy
được Như-Lai ?
không qua
tướng mây gấm
mà thấy
dấu Như-Lai
đầy đủ
tướng tốt đẹp
không phải
tướng tròn đầy
mới tạm
gọi đủ tướng
như bóng
suối chim bay
như hoa nổi
hư không
như mây
chìm đáy nước
lìa sắc
tướng, tâm không
chẳng tìm
đâu một bước
XXI
không lời
vàng thức ngộ
tâm thể
có mê đâu
phi thuyết
sở thuyết
người chấp
Như-Lai pháp
là không
hiểu nghĩa mầu
nghe pháp
không chấp pháp
cầu pháp
không người cầu
tôi hằng
phương tiện thuyết
mê ngộ
có xa đâu
vô lượng
kiếp kiếp sau
người khởi
tâm thanh tịnh
biết cầu
đạo nơi đâu ?
tìm mộng
trong giấc mộng
người mê,
chẳng thấy mê
xưa nay không
ngã, pháp
tìm đâu
lối bồ đề
XXII
mở mắt
dứt mộng lớn
mê ngộ
chẳng đôi bờ
vô pháp
khả đắc
đức vô
thượng Như-Lai
tâm không
chỗ sở đắc
đạo cả
chẳng trong ngoài
nào có được
mảy may
không một
pháp vô thượng
chẳng cho
cũng chẳng cầu
không hư,
cũng không thực
mới gọi
pháp nhiệm mầu
XXIII
tâm mười
cõi hư không
nẻo vào
đâu lối ngõ
tịnh tâm
hành thiện
pháp như
như bình đẳng,
không thấp
cũng không cao
vô ngã,
vô thọ gỉa
vô nhân,
vô chúng sanh
do tu vạn
pháp lành,
nẻo vào
vô thượng đạo
pháp lành,
không pháp lành,
dùng pháp,
không nệ pháp.
lợi lạc
khắp chúng sinh
niết bàn
vô thượng đạt.
XXIV
tiếng chuông
vàng thức chúng
cõi mộng
thoảng tơ sương
phúc trí
vô tỷ
có người
dùng báu ngọc,
góp triệu
dãy trường sơn.
rộng cho
đến côn trùng,
phúc đức
vô lượng bể.
không bằng
một dòng kệ,
trì tụng
hoặc diễn bầy,
ca ngâm kinh
ngọc này,
khiến bừng
tam giới mộng.
nghiệp đức
nước nghìn sông,
cứu độ
nhất thiết khổ,
cúng dường
Phật mười phương.
XXV
mưa ngọc
trải mười cõi
vô lượng
chúng hoa thơm
hóa vô sở
hóa
các ông chớ
bảo rằng
Như Lai độ
chúng sinh
vì ngã,
pháp không tịch
nhân duyên
tự độ mình
mình là
đảo ngọc sáng
giữa biển
vọng vô minh
mình, mắt
xích phiền não
độ người
tức độ mình
Như Lai tạm
nói ngã
chỉ phương
tiện giải bày
kẻ mê chấp
thật có
như lặng
suối tìm mây
XXVI
vàng vàng
hoa mướp nở
mang mang
hạt bụi rơi
pháp thân
phi tướng
ba mươi hai
tướng ngọc,
chẳng quán
được Như-Lai.
dùng sắc
không thấy Phật,
pháp thân
nào trong ngoài.
dùng thân
vàng thấy Phật,
dùng khánh
ngọc cầu ta,
người đó
lạc tà đạo,
đũa ngọc
gắp sao tà.
XXVII
ngọn suối
sương un trắng
rì rào bọt
nước xô
vô đoạn
vô diệt
xa lìa thân
huệ ngọc,
nên chứng
đạo bồ đề.
từ ý đó
cầu đạo,
vạn pháp
diệt tan đi.
vì phát tâm
vô thượng
không chấp
pháp đoạn trừ
xá chi mây
tan hợp,
chân thực
tướng như như.
XXVIII
vào ra cơn
mây nổi
áo rũ bụi
vàng rơi
bất thụ
bất tham
bồ tát dùng
thơ ngọc,
như cát
nổi cửu long,
vô lượng
kiếp bố thí.
có vị chứng
pháp không,
được tạo
thành pháp nhẫn.
công đức
kể vô cùng,
hơn núi
vàng biển ngọc.
vạn pháp
không thật ngã,
hòa hợp
đốm mây xanh.
chẳng tham
chấp phước đức,
không hưởng
phước quả sinh.
tâm ngọc
không đắm nhiễm,
tròn tịnh
nhật quang minh.
XXIX
chân khỏa
ngọn suối trong
tan mấy
từng sao biếc
vô nghi vô
tĩnh
có người
chấp Như-Lai,
là như lui,
như tới.
là như nằm,
như ngồi,
thật không
hiểu nghĩa nói,
Như-Lai không
đâu lại,
không do
nơi nào đi.
Như-Lai như
thực trí,
vì khởi
ngộ tan mê.
ngã, pháp
thể không tịch,
không đi
cũng không về.
XXX
một ngọn
suối cát trắng
thả mười
cõi mây bay
nhất hợp
ly tướng
nếu có người
thiện nam,
đem đại
thiên thế giới,
nghiền nát
như bụi vàng.
ông nghĩ
bụi nhiều chăng ?
tu-bồ-đề
tác bạch:
vô cùng
hạt bụi vàng
vì nếu
bụi có thực,
Như-Lai không
nghĩ bàn.
thực tướng
lìa ngôn thuyết,
ẩn dụ
ý mang mang.
những hạt
bụi nhỏ đó,
tức không
phải bụi vàng,
mới thật
là bụi nhỏ.
Thực tướng
khó suy bàn,
chẳng chấp
phương tiện thuyết,
ba nghìn cõi
đại thiên.
không ba
nghìn thế giới,
mới gọi
đại tam thiên.
vị thể
không biện biệt.
nếu cõi
kia có thực,
hình tướng
hợp như mây,
một hình
tướng hợp lại,
tức không
phải tướng này.
mới gọi
tướng hợp lại,
nhân duyên
giấc mộng vầy,
như ánh
chớp trời ngọc,
như thoảng
nắm sương bay.
hình tướng
mây tan hợp,
lời không
thể nghĩ suy.
lòng tham
chấp sự tướng,
nghe thêm
chẳng ích gì.
như dưới
cầu nước chảy,
vừa đó
đã qua đi.
tôi thuyết,
phương tiện thuyết,
người nghe,
không chấp nghe,
bỏ quên
lời bặt ý,
tự hiện
tâm bồ dề.
mười phương
nào ngăn ngại.
XXXI
máu huyết
cất nhật nguyệt
một cõi
ánh lưu ly
trí kiến
bất sinh
nếu có người
cho rằng:
Phật nói
ngã, nhân kiến,
chúng sanh,
thọ, gỉa kiến,
có hiểu
ý tôi chăng ?
người nào
đó hiểu nghĩa,
phương tiện
thuyết Như-Lai.
lời nói
không trọn ý,
người nghe
chẳng vẹn lời.
vì tập
kiến chấp chặt,
càng xa nghĩa
diệu vời.
người phát
tâm bồ đề,
tin, thấy,
biết như thực.
chấp trược
chẳng sinh lòng,
thực chứng
minh huệ đức.
viên ngọc
dấu trong tay,
nghe lời,
tin lời thế
chẳng khởi
tâm giữ lời,
cốt lìa
xem ngọc thể.
niềm tin
thoảng bóng mây.
XXXII
một cành
hoa mai nở
trang nghiêm
đồi thông hồng
vô hóa phi
chân
có người
dùng mưa ngọc,
rộng cho
khắp tam thiên.
phúc đức
vô lượng bể,
chưa bằng
viết dòng kệ.
trì tụng
hoặc diễn bầy
ca ngâm kinh
ngọc này,
khiến tỉnh
tam giới mộng.
nghiệp đức
nước trùng dương,
cứu độ
nhất thiết khổ.
đền ơn
Phật mười phương.
người nhập
kinh diệu này,
xa lìa huyễn
ngã pháp,
vô ngại
bóng mây bay,
cúng dường
nhất thiết vật.
tự tại
giữa vần xoay,
thể như
như bất động,
trùng trùng
pháp hữu vi,
như huyễn
mộng bọt nước,
như bóng
chớp sương mai,
thường
quán tưởng như thị,
Phật nói
kinh này rồi,
hoa cúng
dường phơi phới.
chim tụng
vi diệu âm,
mây về
mười cõi giới.
trưởng
lão tu-bồ-đề
tỳ khưu,
tỳ khưu ni,
ưu bà tắc
bà di,
khắp cõi
quỉ trời người,
hoa hỷ bừng
pháp hội.
KHÉP KINH
chẳng nương
bè trúc ngọc,
vượt qua
suối mây hồng,
con chim vô
lượng kiếp,
về tha trái
nhãn không.
ĐỘNG
HOA VÀNG
chim từ
bỏ động
hoa thưa
người từ
tóc biếc
đôi bờ
hạ đông
lên non
kiếm hạt
tơ hồng
đập ra
chợt thấy
đôi dòng
hạc bay