From: Hoa
Nguyen (thanhhuy@m..)
Date: Sun
Ju l8, 2002 9:15 pm
Subject: Vương
Duy, Nhà Thơ Phật
Chào quý
đạo hữu,
Xin chép lại
tiểu sử và vài bài thơ tiêu biểu của Vương Duy để quý
đạo hữu đọc thưởng thức và đồng cảm với một nhà
thơ tài danh thời xưa mà nguồn cảm hứng rất gần với đạo
Phật. Riêng gởi đ/h Tịnh Thủy, người đang chăm sóc vườn
thơ Phật, thơ Thiền cho thư viện Hoa Sen.
Vương Duy
(701 - 761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, nay thuộc phủ Thái
Nguyên, tỉnh Sơn Tây, Trung quốc. Cha làm quan đến chức Tư
Mã, mẹ rất sùng bái đạo Phật, nên có ảnh hưởng nhiều
đến tư tưởng của Vương Duy sau nàỵ Ông được xếp ngang
hàng với ba đại thi hào đời Ðường là Lý Bạch, Ðỗ Phủ
và Bạch Cư Dị. Ông thật đa tài : giỏi thi ca, tinh thư
pháp, thông âm nhạc và sành hội họa. Ðời sau tôn ông
là “Khai sơn tổ sư” của lối vẽ “Thủy mặc Nam Phương”.
Năm 21 tuổi,
Vương Duy thi đỗ tiến sĩ, được phong quan đến chức Thượng
Thư Hữu Thừa. Vợ mất lúc ông ba mươi tuổi, nhưng ông không
tục huyền, sống yên tĩnh với chức quan văn nhàn hạ, “suốt
ngày gãy đàn thổi sáo, làm phú vịnh thơ “. Và ” mỗi
lần bãi triều thì về đốt hương ngồi một mình, tụng
niệm kinh Phật”.
Ông ăn chay
trường, thường kết bạn, đàm luận với các nhà sư, và
cung cấp thức ăn cho hơn mười vị tăng . Tư tưởng ấy có
ảnh hương sâu sắc đến ngôn từ và cảm xúc trong thơ. Ông
có địa vị khá cao trong Thiền phái Nam Tông, và người đương
thời rất tôn trọng, gọi ông là “Thi Phật”. Những khía
cạnh nghệ thuật mà ông tinh thông, như thi ca , hội hoạ,
âm nhạc đều được phối hợp chặt chẽ, cân đối trong
các tác phẩm của ông. Thơ ông có trên nghìn bài, nhưng sau
loạn An Lộc Sơn, chỉ còn sót một phần mười, và sau này
em trai ông góp nhặt được bốn trăm bài. Văn hào Tô
Ðông Pha đời Tống đã ca tụng các tác phẩm của ông : “Thưởng
thức thơ của Ma Cật, trong thơ thấy có hội hoạ, ngắm những
bức họa của Ma Cật lại thấy trong đó có thơ” ( vi Ma
Cật chi thi, thi trung hữu hoạ, quan Ma Cật chi họa, họa trung
hữu thi).
Trong các
bài thơ ông, đặc biệt trong thời vãn niên, thơ sơn thủy
điền viên chiếm đa số, mang chất nghệ thuật cao tạo nên
một phong cách độc đáo, và trở thành nét chủ yếu trong
“chân diện mục” của ông “Phật thơ”. Ông thường mô
tả cuộc sống nơi nông thôn yên tĩnh, trong sáng, con người
nhàn nhã,với lời thơ nhuần thấm một cách hài hòa tâm thanh
tịnh “vô sinh, bất tử” của đạo Phật và phong thái vô
vi, nhàn tản của Lão Trang.
Sau đây là
ba bài thơ tiểu biểu cho tư tưởng đạo Phật của ông .
Quá Hương Tích Tự
Bất tri
Hương Tích tự
Sổ lý
nhập vân phong
Cổ mộc
vô nhân kính
Thâm sơn
hà xứ chung
Tuyền
thanh yết nguy thạch
Nhất
sắc lãnh thanh tùng
Bạc mộ
không đàm khúc
An thiền
chế độc long .
Vương
Duy
Ghé Chùa Hương Tích
Chẳng
hay Hương Tích chùa đâu
Trèo lên
mấy dặm núi cao mây hồng
Một đường
cây cổ vắng không
Chuông
đâu nghe vẳng chỗ cùng non xa
Tiếng
khe bên đá tuôn ra
Vẽ trời
lạnh lẽo bơ phờ cây thông
Chiều
hôm đầm vắng uốn vòng
Phép Thiền
mầu nhiệm, độc long nép mình .
Trần
Trọng Kim dịch
Chung Nam Biệt Nghiệp
Trung thế
phả hiếu đạo
Vân gia
Nam sơn thùy
Hứng
lai mỗi độc vãng
Thắng
sự không tự tri
Hành đáo
thủy cùng xứ
Tọa khan
vãn khởi thì
Ngẫu
nhiên tri lâm tẩu
Ðàm tiếu
vô hoàn kỳ
Vuơng
Duy
Nhà Riêng Ở Núi Chung
Nam
Trẻ từng
yêu mùi đạo
Già ở
núi Nam này
Lúc hứng
riêng mình dạo
Khi vui
chỉ tự hay
Ði theo
nguồn nước đổ
Ngồi
ngắm áng mây bay
Chợt
gặp ông già núi
Quên về,
nói chuyện say
Lê Nguyễn
Lưu dịch
Thu Dạ Ðộc Tọa
Ðộc tọa
bi song mấn
Không
đường dục nhị canh
Vũ trung
sơn quả lạc
Ðăng
hạ thảo trùng minh
Bạch
phát chung nan biến
Hoàng
kim bất khả thành
Dục tri
trừ lão bệnh
Duy hữu
học vô sinh .
Vương
Duy
Ðêm Thu Ngồi Một
Mình
Ngồi chạnh
thương làn tóc
Canh hai,
nhà lặng yên
Trong mưa
rừng trái rụng
Dưới
nến dế giun rền
Tóc trắng
thay nào được
Thuốc
vàng luyện khó nên
Bệnh
già mong dứt tuyệt
Vô sinh
hãy học chuyên .
Lê Nguyễn
Lưu dịch
Ðiểu Minh Giản
Nhân nhàn
quế hoa lạc
Dạ tĩnh
xuân sơn không
Nguyệt
xuất kinh sơn điểu
Thời
minh xuân giản trung .
Vương
Duy
Khe Chim Kêu
Người
nhàn, hoa quế rụng
Ðêm vắng,
núi xuân xa
Trăng
lên chim rừng dậy
Khe xuân
vẳng giọng ca .
Theo Lê
Nguyễn Lưu
Bài dịch
2 :
Người
nhàn trông cánh quế rơi
Ðêm xuân
vắng vẻ núi đồi lặng yên
Chim rừng
chợt thấy trăng lên
Giật
mình kinh sợ kêu bên khe này .
Ðỗ Bằng
Ðoàn & Bùi Khánh Ðản
Tống Biệt
Sơn trung
tương tống bãi
Nhật
mộ yểm sài phi
Xuân thảo
minh niên lục
Vương
tôn quy bất quy .
Tiễn Ðưa
Núi xanh
vừa tiễn khách
Cổng
cài lúc chiều buông
Cỏ xuân
sang năm biếc
Vương
tôn về lại không ?
Theo Lê
Nguyễn Lưu
Bài dịch
2 :
Cùng nhau
trong núi tiễn đưa
Cửa sài
vội khép trời vừa hoàng hôn
Sang năm
xuân đến cỏ non
Biết
đâu rằng khách vương tôn có về .
Ðỗ Bằng
Ðoàn & Bùi Khánh Ðản
Lộc Trại
Không sơn
bất kiến nhân
Ðản
văn nhân ngữ hưởng
Phản
ảnh nhập thâm lâm
Phục
chiếu thanh đài thượng .
Vương
Duy
Trại Lộc
Núi vắng
người không thấy
Chỉ nghe
tiếng người vang
Nắng
soi vào rừng thẳm
Rêu xanh
đọng nắng tàn .
Theo Lê
Lưu Nguyễn
Bài dịch
2 :
Trăng non
chẳng thấy một ai
Chỉ còn
nhe vọng tiếng người nơi nao
Trời
chiều bóng ngã rừng cao
Nhặt
thưa bóng lại chiếu vào rêu xanh .
Ðỗ Bằng
Ðoàn & Bùi Khánh Ðản
Trúc Lý Quán
Ðộc toạ
u hoàng lý
Ðàn cầm
phục trường khiếu
Thâm lâm
nhân bất tri
Minh nguyệt
lai tương chiếu .
Vương
Duy
Quán Trúc Ly
Khóm trúc
ngồi riêng bóng
Gảy đàn
lại hát ca
Rừng
sâu người đâu biết
Trăng
sáng đến cùng ta .
Hữu Nguyên
Bài dịch
2 :
Thẩn thờ
dưới đám trúc râm
Một mình
dạo mãi khúc cầm ngồi ca
Rừng
sâu ai kẻ biết ta
Canh khuya
có bóng Hằng Nga soi vào .
-
Ðỗ Bằng
Ðoàn & Bùi Khánh Ðản