|
.
THIỀN
KINH NIỆM XỨ
LƯỢC
GIẢI
Thích
Thông Huệ
 |
 |
LỜI NÓI
ÐẦU
Kinh
Niệm Xứ, một bài Kinh trình bày một cách căn bản về Thiền
Vipassana (Minh-Sát-Tuệ), thuộc truyền thống Thiền Nguyên thủy.
“Minh-Sát-Tuệ” là sự quán sát sáng suốt, từ đó phát
sinh trí tuệ. Nội dung Minh Sát gồm hai phần: Chánh niệm là
an trú vững chãi trong giờ phút hiện tại; Quán niệm là quán
sát một cách sâu sắc vào trong tự thân của thực tại, mục
đích nhận ra sự diễn tiến của thực tại ÐANG LÀ bằng
tâm định tĩnh. Vipassana chứa đựng nội dung của Chánh niệm,
Quán niệm, Niệm tuệ, Tuệ quán; vì nhờ tâm định tĩnh quán
sát mọi sự vật mà tuệ phát sinh. Thiền Vipassana rất phổ
biến lưu truyền ở các nước Phật Giáo Nam tông như Tích
Lan, Thái Lan, Miến Ðiện...; và hiện nay đang có chiều hướng
phát triển ở các nước phương Tây.
Có
thể nói, Kinh Niệm Xứ có một tầm quan trọng rất lớn trong
hệ thống Kinh điển Nguyên thủy. “Niệm “theo nghĩa thông
thường là nhớ, nhưng nghĩa sâu xa hơn là chú tâm, để ý,
không xao lãng. “Xứ “là chỗ nơi, đối tượng. Thiền Niệm
Xứ chủ yếu là thắp sáng chánh niệm trên bốn lĩnh vực
Thân (Kàya) - Thọ (Vedanà) – Tâm (Citta) – Pháp (Dhamma). Ðây
là lối thiền tập để nhìn rõ thực tại ÐANG LÀ. Tất cả
mọi sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta đều luôn luôn
chuyển biến, không một phút giây dừng trụ. Nếu chúng ta
thực hiện chánh niệm trong mọi oai nghi mọi hoạt động hằng
ngày, đó là chúng ta đang công phu thiền tập. Bởi vì, nội
dung căn bản của thiền tập là chánh niệm, không có chánh
niệm thì khó mà đạt được thiền chứng. Thiền Niệm Xứ
giúp chúng ta khám phá những bí ẩn của Thân – Thọ – Tâm
– Pháp. Những bí ẩn này sẽ được khám phá khi ta có chánh
niệm.
Thiền
là gọi tắt của Thiền-na, phiên âm từ chữ Dhyàna (tiếng
SansKrit); hay Jhàna (tiếng Pàli); tiếng Nhật gọi là Zen, đều
có nghĩa là Tịnh-lự, hay Thiền-định. Thiền định nhằm
giải phóng con người ra khỏi mọi phiền não khổ đau và
đạt tới sự Minh triết Tối thượng (Vô thượng Bồ đề).
Nói
đến Ðạo Phật là phải nói đến Thiền định, vì Ðức
Phật nhờ nỗ lực Thiền định suốt bốn mươi chín ngày
đêm mới thành Chánh giác; và cũng nhờ tâm Thiền định mới
có thể truyền pháp trong bốn mươi lăm năm. Giữa Ðạo Phật
và Thiền có một sự gắn bó mật thiết; nếu Ðạo Phật
không còn Thiền thì sẽ mất hết sức sống, trở thành một
môn triết học bình thường như bao triết thuyết khác mà
thôi. Vì thế, trong các Kinh điển, nếu muốn đạt đến cứu
cánh, Phật đều dạy phải nhiếp tâm Thiền định. Dù đang
tu theo pháp môn nào, hành giả đều phải theo lộ trình Tam
Vô Lậu học là Giới - Ðịnh - Tuệ. Giữ giới là dừng mọi
việc ác, làm mọi điều lành, tạo cho mình một đời sống
căn bản đạo đức. Thiền định là dứt bặt các duyên,
giữ tâm ý thanh tịnh, ngoài không theo các tướng, trong sạch
mọi vọng tưởng. Trí tuệ phát sinh khi tâm được an định,
hành giả sẽ thấy tất cả pháp nơi tận cùng thực tướng
vô tướng.
Vì
chúng sanh có tám vạn bốn ngàn trần lao phiền não, nên Ðức
Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn ngần ấy để đối trị
căn bệnh cho chúng sanh. Ðó là những phương tiện tu tập
mà mọi người có thể lựa chọn, tùy căn cơ trình độ của
mình. Nhưng dù dùng phương tiện nào, hành giả cũng phải
đi trên con đường Thiền tập, là căn bản Phật - Tổ muốn
truyền trao. Hiểu được điều này, chúng ta mới thăng tiến
trên đường tu, mới chuyển hóa được đời sống tự thân,
và góp phần làm đẹp cho đời sống gia đình và xã hội.
Kinh
Niệm Xứ, hay Tứ Niệm Xứ, hiện tại được tìm thấy bốn
bản kinh tương đương nói về Thiền pháp này:
1.-
Phẩm Nhập Ðạo, còn gọi là Nhất Nhập Ðạo phẩm (con đường
vào duy nhất), do Ðạt Ma Nan Ðề đời Ðông Tấn dịch từ
Phạn văn ra Hán văn. Bản chữ Việt nằm trong Kinh Tăng Nhất
A Hàm tập I, trang 132, do Hòa Thượng Viện Trưởng Thiền Viện
Trúc Lâm chuyển dịch.
2.-
Kinh Niệm Xứ - Trung A Hàm, do Tăng Già Ðề Bà đời Ðông
Tấn dịch từ Phạn văn ra Hán văn. Bản chữ Việt là Kinh
Niệm Xứ – Trung A Hàm tập II, trang 563, do Viện Cao Ðẳng
Phật học Hải Ðức Nha Trang chuyển dịch.
3.-
Kinh Ðại Niệm Xứ – Trường Bộ tập II, trang 185, do Hòa
Thượng Minh Châu dịch từ Pàli ra Việt.
4.-
Kinh Niệm Xứ – Trung Bộ tập I, trang 131, do Hòa Thượng Minh
Châu dịch từ Pàli ra Việt. Ðây là bản Kinh chúng tôi chọn
đem ra lược giải, vì nội dung trình bày sáng sủa, đơn gọn
và mang tính nguyên thủy hơn cả.
Chúng
ta chiêm nghiệm bài Kinh này thật kỹ, hiểu cho thấu đáo,
để phát khởi niềm tin vững chắc vào con đường tu đạo.
Khi đã có chánh tín, chúng ta mới có thể vượt qua mọi trở
ngại khó khăn để gia công tu tập một cách tinh cần. Một
điều cần nói, là dù sau này Phật Giáo phát triển thành
nhiều Thiền pháp, trong đó có Thiền Ðại Thừa, Tối Thượng
Thừa... cũng phải đặt căn bản trên các Thiền Kinh Nguyên
thủy, xem đó là nền móng trong công phu thiền quán.
Dù
sao, những kiến giải của chúng tôi trong Thiền Kinh Niệm
Xứ này, cũng chỉ như một hạt cát giữa bãi sa mạc mênh
mông. Kính mong các bậc Thức giả và những người hữu duyên
khi đọc tác phẩm này, vui lòng chỉ bảo cho những điều
lầm lỗi thiếu sót, để dịp tái bản được hoàn bị hơn.
Thiền
thất Viên Giác
Ngày
19 - 09 Canh Thìn
THÍCH
THÔNG HUỆ
PHẦN
I
CHÁNH
VĂN
KINH NIỆM XỨ
(Satipatthanasutta)
*
Trích trong Kinh Trung Bộ - tập I.
Nguyên
bản Pàli.
Việt
dịch: HT Thích Minh Châu.
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm)
là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ-kheo.
Các
Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn.
Thế
Tôn thuyết như sau:
-
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến
thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ
ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn
Niệm Xứ.
Thế
nào là bốn? - Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán
thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở
đời.
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên
thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng,
đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết
già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác,
vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài,
vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị
ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy
tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy
tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi
sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ
thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở
vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”,
vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học
trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi
quay dài” hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi
thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”;
hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở
ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”; “Cảm giác toàn
thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân,
tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi
sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ
thở ra”, vị ấy tập. Như vậy, vị ấy sống quán thân
trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống
quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống
quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận
trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân
đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, mới hy vọng hướng
đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa,
không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như
vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”; hay
đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay ngồi, tuệ tri: “Tôi
ngồi”; hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được
sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán
thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội
thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên
thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị
ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”,
vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến
chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết
rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc
mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang
làm; khi mang áo Sanghati (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết
rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc
mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình
đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết
rõ việc mình đang làm. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên
nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán
thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán
tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên
thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”,
vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến
chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ
bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da
và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này:
“Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận,
tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,
bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp
xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ,
hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu
xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt,
đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây
là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là
mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên,
trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những
vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật,
đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng,
nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy,
vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân
trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại
thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống
quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt
trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như
vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và
vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật
gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị
trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này
có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này
các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ
tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt
chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và
về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại,
thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Như vậy vị ấy sống
quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân;
hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy
sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt
tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có
thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng
hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không
nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này
các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể
ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo
quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản
tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như
vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán
thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại
thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống
quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt
trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như
vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và
vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật
gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các
loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài
chó ăn, hay bị các loài dã can ăn, hay bị các loài côn trùng
ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là
như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất
ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay
sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội
thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên
thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán
tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Này
các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết
với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân
cột lại...; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không
còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường
gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính
máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn có xương
không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây
là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống,
ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây
là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân
ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là
như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị
ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên
ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy
sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán
tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống
an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh
trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không
chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như
vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu
vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ
còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy
như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như
vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy
sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại
thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị
ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh
diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân
trên thân.
Này
các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên
các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc
thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ
thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất
khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất
lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ
tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm
giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm
giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ
thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ
thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc
vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc
vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc
vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ
thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ
không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ
bất lạc thọ không thuộc vật chất”. Như vậy, vị ấy
sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên
các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại
thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay
sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh
sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.
Này
các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri:
“Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không
tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với
tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có
si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri:
“Tâm không si”. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm
được thâu nhiếp”. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm
bị tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: “Tâm
được quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, tuệ
tri: “Tâm không được quảng đại”. Hay với tâm hữu hạn,
tuệ tri: “Tâm hữu hạn”. Hay với tâm vô thượng, tuệ
tri: “Tâm Vô thượng”. Hay với tâm có định, tuệ tri: “Tâm
có định”; hay với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không
định”. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải
thóat”; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không
giải thoát”.
Như
vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm
trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm.
Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt
tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có
tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với
hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống
không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.
Này
các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các
pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên
các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm
triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có
ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm
không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”.
Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như
vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị
ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt,
tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay
nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”;
hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không
có sân hận”. Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị
ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được
đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã
được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy
tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ
tri: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm
không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi không
có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa
sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm
thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri
như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt,
tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay
nội tâm có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi có trạo hối”;
hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi không
có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được
đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối
đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị
ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: “Nội
tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: “Nội
tâm tôi không có nghi”. Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn
diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn
diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như
vậy.
Như
vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội
pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên
các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống
quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”,
vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương
tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với
năm triền cái.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc
tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập,
đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập, đây
là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là
hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức
diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp;
hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp
trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh
sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên
các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có
những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như
vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và
vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật
gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại
xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt và
tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh
khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh
nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với
kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi
nữa, vị ấy tuệ tri như vậy... tuệ tri tai và tuệ tri các
tiếng... tuệ tri mũi và tuệ tri các hương... tuệ tri lưỡi
và tuệ tri các vị... tuệ tri thân và tuệ tri các xúc... tuệ
tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử
sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa
sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết
sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy;
và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không
sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy vị ấy
sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên
các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại
pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay
sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh
sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy
sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến
chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với
sáu nội ngoại xứ.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với Bảy Giác Chi. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi? Này
các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ
tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không
có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có niệm giác
chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy
tuệ tri như vậy; và với niệm giác chi đã sanh, nay được
tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có
trạch pháp giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn
giác chi... (như trên)... hay nội tâm có hỷ giác chi... (như
trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi... (như trên)... hay
nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có
xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có xả giác chi”; hay
nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không
có xả giác chi”. Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay
được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy
vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp
trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp,
ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống
quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”,
vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương
tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với
Bảy Giác chi.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp
đối với Bốn Thánh Ðế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Ðế? Này
các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là
Khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”; như thật
tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây
là con đường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy vị ấy sống
quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại
pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay
vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán
tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt
trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh
đế.
Này
các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong
bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây:
Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu
dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần
gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này
như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba
năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một
trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện
tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này
các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu
tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng
một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong
hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy tháng, một vị nào
tu tập Bốn Niệm Xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong
bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong
nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây:
Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu
dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần
gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong
bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây:
Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn
hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn... Này các Tỷ-kheo, đây
là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh,
vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh
trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ
lời dạy của Thế Tôn.
|
PHẦN
II
LƯỢC GIẢI
A.
- DUYÊN KHỞI
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế-Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm)
là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ-kheo.
Các
Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn!
Thế
Tôn thuyết như sau:
-
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến
thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ
ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn
Niệm Xứ.
Mở
đầu bài kinh, chúng ta thấy Ðức Phật gọi các vị Tỷ-kheo,
và giới thiệu về “Con đường độc nhất”. Ðây là thể
“Vô vấn tự thuyết”, nghĩa là Ðức Phật thuyết giảng
không vì đại chúng thưa thỉnh, mà chính Ngài thấy đúng
nơi, đúng lúc nên tự ý nói ra.
Ngay
từ đầu, Phật đã đi thẳng vào vấn đề: Nêu ra hai khả
năng đặc biệt quan trọng của Bốn Niệm xứ, tức là kết
quả tu tập của một hành giả nếu đi theo lộ trình này.
Một là, giúp hành giả được thanh tịnh, vượt khỏi sầu
não, diệt trừ khổ ưu: đó là Giải-thoát. Hai là, giúp hành
giả thành tựu chánh trí, tức đẩy lui được vô minh: đó
là Giác-ngộ. Giác ngộ và Giải thoát là hai đức tính của
Niết-bàn. Chính Bốn Niệm xứ là con đường duy nhất đưa
đến cứu cánh ấy.
Thế
nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân
trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự
tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống
quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để
chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sau
khi nói về Niết-bàn là kết quả tu hành, Ðức Phật giới
thiệu những điều kiện để đạt đến kết quả ấy. Chúng
ta thấy Ðức Phật quả là một nhà tâm lý học đại tài.
Ngài biết chúng sanh ưa thích sự an lạc, hạnh phúc, nên đề
cập đến Niết-bàn là quả vui xuất thế gian trước nhất;
sau đó mới giảng về nhân vui xuất thế gian. Muốn chứng
ngộ Niết-bàn, chúng sanh phải an trú trong bốn lĩnh vực Thân,
Thọ, Tâm, Pháp; đó là bốn đối tượng phải chú tâm, để
ý, không được xao lãng, mà Phật gọi là Bốn Niệm Xứ.
Trong
đoạn kinh này, Ðức Phật thường nhắc đi nhắc lại cụm
từ “nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham
ưu ở đời”. Nếu tu hành mà không nhiệt tâm, không tinh
tấn, không dồn hết tâm lực của mình vào việc đẩy lui
vô minh, tiêu trừ dục vọng, thì làm sao vượt qua mọi khó
khăn trở ngại trên đường tu, thành tựu đạo quả? Chính
tâm nồng nhiệt nóng bỏng, lại vững chắc trước sau như
một, mới giúp chúng ta tăng tiến, giúp chúng ta luôn luôn
tỉnh giác, tức biết rõ mọi điều đang xảy ra trong thân
tâm và cảnh vật xung quanh ta. Cũng chính nhờ có nhiệt tâm,
chúng ta mới luôn luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại,
luôn luôn sống với thực tại “đang là”: đây là tinh thần
của Chánh niệm. Khi tâm thanh tịnh, bao nhiêu tham ưu trên đời
đều không còn ảnh hưởng đến chúng ta được nữa.
B. - NỘI
DUNG.
I-
QUÁN THÂN TRÊN THÂN.
1.-
Chánh niệm qua hơi thở.
Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên
thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng,
đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết
già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác,
vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài,
vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị
ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy
tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy
tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi
sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ
thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở
vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”,
vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học
trò người thợ quay thiện xảo, khi quay dài, tuệ tri: “Tôi
quay dài”; hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi
thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”;
hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở
ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn
thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân,
tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi
sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ
thở ra”, vị ấy tập.
Trước
tiên, Ðức Phật dạy chúng ta phương pháp chánh niệm qua hơi
thở. Ðây là chi phần thứ nhất trong lĩnh vực Quán thân
trên thân. Nơi thiền tập phải là nơi trống vắng, có không
khí trong lành, gần với thiên nhiên, xa lánh sự ồn náo. Dường
như trong suốt cuộc đời của Ðức Phật, rừng núi và cảnh
thiên nhiên hoang sơ luôn gắn bó với Ngài: Lúc đản sinh tại
vườn Lâm-Tỳ-Ni thời ấy vẫn còn nguyên sinh hoang dã; khi
xuất gia và quyết liệt khổ hạnh trong sáu năm cũng tại
rừng già; lúc thiền định bốn mươi chín ngày đêm, thành
tựu Phật quả dưới cội cây Tất-bát-la gần sông Ni-liên-thuyền,
cũng ở trong rừng. Cho đến khi nhập Niết-bàn, lại cũng
tại rừng Ta-la Song-thọ. Chính ở những nơi vắng vẻ, thoát
khỏi sự ồn náo của cuộc sống, hành giả mới dễ thu nhiếp
thân tâm.
Về
tư thế công phu, thì tọa thiền, nhất là kiết già, vẫn
là tư thế thù thắng hơn cả. Khi ngồi theo tư thế hoa sen,
lưng thẳng, khí huyết dễ lưu thông hơn các cách ngồi khác,
nên hành giả có thể kéo dài thời gian thiền tập. Lúc ngồi,
mắt khép hờ, không duyên theo sắc trần bên ngoài; các căn
khác cũng không có cơ hội chạy theo trần cảnh, nên dễ định
tâm, nhất là đối với người sơ cơ. Hành giả lúc bấy
giờ an trú vào chánh niệm, tức đặt tâm vào giờ phút hiện
tại, bắt đầu theo dõi hơi thở.
Vì
sao Ðức Phật dạy chúng ta dùng hơi thở làm đối tượng
để thực tập chánh niệm?
Hơi
thở là một công năng của hệ hô hấp, thuộc về thân, nhưng
cũng có sự liên hệ chặt chẽ với tâm. Cuộc sống con người
gắn liền với hơi thở, nếu thở ra không hít vào, con người
sẽ mạng vong. Khi đặt tâm chuyên chú vào hơi thở, không
duyên theo trần cảnh bên ngoài, đến một lúc nào đó, giữa
tâm và hơi thở sẽ có sự hợp nhất. Chủ thể (tâm) và
đối tượng (hơi thở) ở trong trạng thái hợp nhất, đó
là nội dung của chánh niệm. Cho nên, Quán niệm hơi thở là
một pháp tu nổi tiếng về thiền tập. Pháp tu này không phải
chỉ từ thời Phật mới có, mà thật sự đã phát triển
từ trước, nhất là trong những lối tu của ngoại đạo như
Tứ thiền Bát định. Ðức Phật áp dụng pháp môn này và
triển khai một cách toàn diện và triệt để.
Nhân
đây, chúng ta cũng nên học tập tinh thần khách quan của Ðức
Phật. Ngài nhận thấy pháp môn nào có thể áp dụng một
cách hiệu quả thì Ngài cho lưu truyền, không kỳ thị pháp
môn ấy là của tông phái hay tôn giáo nào. Trên đường tu,
chúng ta không nên mang một ấn tượng, một cảm tính đối
với pháp môn nào, vì sẽ trở ngại cho sự nhận thức đúng
đắn về chân lý. Tất cả pháp môn của Phật, từ kim khẩu
Ðức Phật nói ra, đều có đồng một vị giải thoát. Tùy
căn cơ trình độ của mỗi người mà tự ý lựa chọn pháp
tu cho thích hợp. Bênh vực pháp tu của mình và chê bai những
pháp khác, đó là hành vi của bản ngã, không đúng với tinh
thần của đạo Phật.
Mặt
khác, nếu chúng ta học Phật mà chỉ nhằm củng cố và bổ
sung kiến thức về Phật pháp mà thiếu nội tu, đó là chúng
ta vô tình làm giảm giá trị của đạo Phật. Người tu Phật
không chỉ là học giả, mà còn phải là hành giả; nghĩa là
phải học cách hành trì, cách áp dụng lời Phật dạy vào
công phu tu tập, mục đích để chuyển hóa tự thân, xa lìa
khổ não và thoát ly sinh tử luân hồi.
Trong
phần Chánh niệm qua hơi thở, Ðức Phật dạy tuần tự qua
bốn giai đoạn:
1-
Tỉnh giác theo dõi hơi thở vô và ra.
2-
Tuệ tri hơi thở vô và ra.
3-
Cảm giác toàn thân khi thở vô và ra.
4-
An tịnh toàn thân khi thở vô và ra.
a.-
Giai đoạn 1:
“Tỉnh
giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra”: Lúc thở
vào và thở ra, chúng ta đều tỉnh giác biết rõ. Ðiều này
thật quá đơn giản, nên mới nghe, có nhiều người xem thường.
Vì sao chỉ theo dõi hơi thở vào và ra mà gọi là Thiền? -
Hằng ngày, chúng ta tất bật lo kiếm sống, tâm dong ruổi
theo các pháp, không biết xoay lại chính mình, cho nên không
khi nào ý thức được mình đang thở. Nhưng nếu không thở,
con người còn tồn tại không? Của cải quyền lực lúc ấy
còn ý nghĩa gì? Ðức Phật dạy chúng ta theo dõi hơi thở
để nhận định rõ ràng rằng, bản chất của đời sống
là hô (thở ra) và hấp (hít vào). Tất cả sinh mạng, tài
sản, địa vị đều treo lơ lửng trên hơi thở, vì thế chỉ
toàn là vay mượn, không vững bền, không thật có. Tỉnh giác
theo dõi từng hơi thở ra vào, vọng niệm không có chỗ xen,
đó là con đường hướng nội, là chánh niệm. Ðó tức là
Thiền tập.
b.-
Giai đoạn 2.
“Thở
vô dài, vị ấy tuệ tri “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài,
vị ấy tuệ tri “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị
ấy tuệ tri “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy
tuệâ tri “Tôi thở ra ngắn”.
Giai
đoạn 2 là Tuệ tri, đây là cái biết bằng trí tuệ. Khi tâm
bám sát hơi thở ra, vào - dài, ngắn ta đều biết rõ, cái
biết lúc này đã tiến được một bước. Ðiều cần lưu
ý, chúng ta không nên cưỡng ép, bắt hơi thở phải dài hay
ngắn theo ý mình, vì sẽ làm chúng ta tức ngực và khó thở.
Chỉ để tâm tỉnh biết thôi, hơi thở thế nào tuệ tri như
thế ấy, dù thời gian bao lâu chúng ta cũng thấy thoải mái
để thắp sáng chánh niệm trên hơi thở. Kết quả của công
phu trong giai đoạn này là có sự liên hệ chặt chẽ giữa
tâm và hơi thở.
c.-
Giai đoạn 3.
“Cảm
giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác
toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập: Trong giai đoạn
này, nhờ tâm bám chặt vào hơi thở nên bắt đầu chúng ta
thấy toàn thân có cảm giác tươi mát khi thở vào và ra. Hơi
thở trở thành một gạch nối giữa thân và tâm.
d.-
Giai đoạn 4.
“An
tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh
toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập”: Khi thở vào
và ra, chúng ta thấy một trạng thái an tịnh khắp châu thân.
Ở đây, chánh niệm là do cái biết tự nó phóng xuất, là
cái biết của trực giác, không qua trung gian suy luận. Kết
quả của giai đoạn này là có sự hợp nhất giữa thân và
tâm.
Một
điều cần lưu ý, Ðức Phật thường nhắc đến từ “tuệ
tri”. Tuệ tri là ý thức một cách minh mẫn, với một tâm
an định, đây là cái biết thuộc về trí tuệ của người
có công phu thiền tập. Cần phân biệt với “Thức tri”
là cái biết bằng thức tưởng phân biệt của phàm phu, biết
mà phân biệt đối đãi, với tâm tán loạn.
Một
ví dụ về người thợ quay tơ lành nghề hay học trò giỏi
của người ấy, khi làm việc chỉ chú tâm vào công việc
đang làm, người làm và việc làm hợp nhất. Liên hệ với
lời dạy của Hòa-thượng Trúc Lâm: “Làm việc gì chỉ biết
việc ấy”. Khi chúng ta chỉ chuyên tâm vào công việc, không
nhớ nghĩ đến bất cứ điều gì, việc làm tự nhiên sẽ
thành công tốt đẹp. Ðó là kết quả nhờ chánh niệm.
Như
vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán
thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân,
ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân;
hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh
sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh
niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một
vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán thân trên thân.
Ðức
Phật kết luận về chánh niệm qua hơi thở. Nhờ chánh niệm,
miên mật từng phút giây, hành giả sẽ đạt được sức
định tĩnh rất cao. Một nhà khoa học, muốn khảo sát cấu
tạo vi tế của một tế bào, phải tập trung chú ý vào kính
hiển vi điện tử, nhiều lúc quên cả mọi vật xung quanh.
Một người nhờ chánh niệm qua hơi thở mà vào định, thì
định lực này không có nhà khoa học nào bì kịp. Người
ấy sẽ đạt đến trạng thái thân và tâm hợp nhất, vì
khi ý thức rõ hơi thở vào và ra, từ lúc bắt đầu, tồn
tại và kết thúc, mỗi sát na đều an trú trong hơi thở, thì
vọng niệm không còn chỗ nào xen vào.
Khi
vị ấy tuệ tri “Có thân đây”, đó không phải biết có
thân bằng vọng niệm, mà là trực diện với thân ngay trong
giờ phút hiện tại. Ðây là cái thấy trong trạng thái như
thị, năng và sở nhập một, chủ thể và đối tượng không
hai. Ðạo Phật không bao giờ chủ trương những phương pháp
hành thiền quên thân quên cuộc đời, lối thiền tiêu nha
bại chủng, mà phải nhận ra thực tại đang trôi chảy trong
như thực tri kiến. Rõ ràng Thiền Niệm xứ mang nội dung của
Tối thượng thừa thiền!
Chúng
ta đã biết, chánh niệm là luôn luôn đặt tâm vào hiện tại;
nếu niệm nhớ nghĩ về quá khứ hay mơ tưởng đến tương
lai thì gọi là tà niệm hay thất niệm. Chánh trí là trí thấy
được các pháp hiện khởi trong giờ phút đang là, chánh trí
thành tựu khi ánh trực giác phát sinh. Nhờ an trú chánh niệm
như vậy, vị ấy thấy rõ thân mình (ngã), tất cả những
sở hữu của mình (ngã sở) và cả tâm thức của mình (tự
ngã), đều chỉ nằm trong hơi thở mong manh! Mọi dục vọng
tham đắm đối với thế gian cũng chỉ mỏng manh trong hơi
thở, vị ấy không còn chấp trước vật gì trên đời, không
còn phiền não nào làm xao động hồ tâm. Ngay đó là giải
thoát.
Con
người khổ đau phần nhiều là do tán tâm, phan duyên theo các
pháp, nhận lầm tấm thân tứ đại giả hợp và tâm vọng
tưởng điên đảo là thật mình. Do vậy, đôi khi vì một
chút lợi lộc nho nhỏ cho bản thân mà có thể dửng dưng
gây hại cho kẻ khác. Giờ đây, khi biết rõ được chính
mình, chúng ta mới thực sự biết thương người. Tùy mức
độ tu tập mà ta có thể quên mình vì người nhiều hay ít,
nhưng dù chưa đạt đến vô ngã, chúng ta cũng sống một cuộc
đời không vị kỷ. Nếu một tôn giáo, một triết thuyết
nào xiển dương cho ngã tướng, không từ một thủ đoạn
nào miễn đem lại lợi ích cho riêng mình, thì đó là con đường
sai lầm. Ngược lại, tôn giáo hay triết thuyết nào tiêu trừ
cái ngã, giúp con người biết quên mình vì kẻ khác, thì đó
là chánh đạo. Nội dung chủ yếu của thiền tập là chú
tâm vào một đối tượng - ở đây là hơi thở - nhằm đạt
đến sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật
- là vô thường, là duyên sinh, là giả hợp. Biết rõ mình,
biết rõ người, chúng ta mới phát sinh đồng thể đại bi,
mới có thể quên mình mà sống cho tất cả mọi người. Mặt
khác, do không còn tham đắm dục lạc thế gian, không còn chấp
trước điều gì trên đời, chúng ta sẽ bước từng bước
an lạc hạnh phúc trên trần thế. Chỉ có một pháp quán hơi
thở đơn giản như vậy, mà đã có kết quả giải thoát thật
tuyệt vời. Ðiều này khiến chúng ta càng tin tưởng, Phật
pháp quả thật nhiệm mầu; nếu chúng ta thực hành đúng lời
Phật dạy, sẽ có một ngày chúng ta viên thành đạo quả.
2.-
Chánh niệm qua bốn oai nghi.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”; hay
đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay ngồi, tuệ tri: “Tôi
ngồi”; hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được
sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán
thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội
thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên
thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị
ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”,
vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến
chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo,
như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Trong
bốn oai nghi đi - đứng - ngồi - nằm, Phật dạy chúng ta phải
tuệ tri. Vì sao phải như thế? Lâu nay, tâm chúng ta tán loạn,
tuy làm việc nhưng lại nghĩ đến chuyện khác, vì thế năng
suất không cao. Bây giờ trở về lại chính mình, luôn luôn
đặt tâm vào giờ phút hiện tại, mình đang làm gì đều
biết rõ. Trong bốn oai nghi đều có chánh niệm thì dáng vẻ
tự nhiên toát ra sự trầm tĩnh, thanh lương mà mọi người
xung quanh có thể nhận thấy. Ðiều này rất đơn giản nhưng
rất hiệu quả, vì chúng ta gieo nhân an lạc thì quả gặt
được chắc chắn là an lạc. Cho nên, đừng nghĩ Thiền là
một pháp môn quá cao siêu xa vời, cắt đứt sự sống và
lẫn tránh thực tại. Ngược lại, Thiền rất thực tế, rất
bình thường, rất gần gũi với cuộc sống. Thiền cũng chính
là sự sống vậy.
3.-
Chánh niệm qua các hành tướng của thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới bước lui, biết
rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc
mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang
làm; khi mang áo Sanghati (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết
rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc
mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình
đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết
rõ việc mình đang làm.
Trong
bài kinh này, Ðức Phật chỉ nói về các vị Tỷ-kheo, vì
thính chúng trong hội chỉ gồm những vị ấy. Nhưng thật
ra, các hàng cư sĩ cũng có thể áp dụng lời Phật dạy trong
công phu tu hành, vì mọi động tác của thân cũng như hơi
thở, không ai là không có. Ở đây, chánh niệm qua những động
tác của oai nghi, chi tiết hơn phần trước. Ví dụ khi giơ
tay, khi co duỗi chân... chúng ta biết rõ việc mình đang làm;
chi ly đến độ, khi ngó tới ngó lui chúng ta cũng ý thức
được. Lúc sự quán sát đã đến mức tinh tế như vậy,
những gì xảy ra trong hiện tại chúng ta đều sáng tỏ. Cho
nên, càng tu càng thông minh, ký ức càng kỳ đặc, sự hiểu
biết càng thấu đáo, vì trong từng giây phút của đời sống,
chúng ta đều thẩm thấu một cách toàn diện, vì mọi pháp
đều được thắp sáng bằng tâm định tĩnh. Ðời sống thiền
tập giúp chúng ta những kinh nghiệm trực tiếp bằng sự sống
của chính mình, các pháp sẽ hiện bày trước mắt chúng ta
một cách rõ ràng như thực.
Như
vậy, hằng ngày chúng ta có rất nhiều cơ hội để tu, dù
là người xuất gia hay cư sĩ. Bởi vì chúng ta tu ngay trong
từng hơi thở, trong mọi động tác của thân, nếu biết đặt
tâm an trú vào chánh niệm. Biết cách tu, chúng ta sẽ thấy
mình có rất nhiều thời gian tu hành và giúp ích cho người
khác, chứ không phải làm cư sĩ tại gia là quá bận rộn,
không tu được, như một số người đã quan niệm sai lầm.
Như
vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân, hay sống quán
thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân,
ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân;
hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh
sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh
niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước
một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo
sống quán thân trên thân.
Trong
hệ A - Hàm thường dùng cụm từ “Quán thân như thân” thay
vì “Quán thân trên thân” để chỉ sự khắng khít giữa
thân và tâm, cuối cùng là giai đoạn thân-tâm hợp nhất.
Một khi chánh niệm đến mức sâu xa, tâm chuyên chú không
còn vọng niệm dấy khởi, hành giả có thể thành tựu đạo
quả, nhân một cơ hội nào đó xảy đến rất đột ngột,
rất tình cờ: Thiền sư Linh-Vân ngộ đạo khi thấy hoa đào
nở, Thiền sư Hương-Nghiêm bừng sáng mắt tuệ khi nghe tiếng
sỏi chạm vào thân tre... Sở dĩ được như vậy là vì các
vị đã phải chú tâm tinh cần công phu thiền tập suốt mấy
mươi năm. Người ngày nay mới hiểu được đôi phần, tưởng
chứng ngộ là điều dễ dàng, chưa đến bờ đã vội buông
lung phóng túng, sao cho khỏi lạc vào đường tà!
Khi
đạt đến chánh trí, hành giả không còn nương tựa, tức
không dính mắc vào ngã và ngã sở. Tâm vị ấy sẽ bàng bạc
khắp không gian, không lệ thuộc vào thời gian và trở về
với tự thể của nó: Ðó là Chơn như, là Phật tánh, là
Niết-bàn.
Một
điều cần lưu ý khi dụng công: Lúc chúng ta đạt được
một kết quả nhất định nào đó trong công phu, những tâm
tư thầm kín và những dục vọng ngủ yên trong tàng thức
từ bao kiếp, bây giờ như sống lại. Do chúng ta đã có sức
tỉnh giác, nên mọi hành tung của vọng tưởng lộ diện ra
rõ ràng. Nếu chúng ta không có đủ chánh trí chánh niệm,
nếu không có biện pháp và khả năng diệt trừ, chúng sẽ
trở thành những nọc độc trong tâm, gây cho chúng ta những
nỗi đau khổ ray rứt không cùng. Ðiều này hiếm khi xảy
ra với người thế tục, vì họ không trực diện với chúng,
và lại có những thú vui giả tạm bên ngoài che lấp nỗi
buồn bên trong như ca nhạc, thể thao, phim ảnh... Cho nên, người
tu trước tiên phải nhận diện những gì đang xảy ra trong
thân, trong tâm ý và trong những hoàn cảnh xung quanh, để chuyển
hóa nó. Chánh niệm vì thế luôn luôn là phương tiện căn
bản hàng đầu trong đời sống thiền tập.
4.-
Quán niệm qua các thành phần của thân.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ
bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da
và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này:
“Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận,
tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,
bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp
xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ,
hai đầu trống, đựng đầy các loại hột như gạo, lúa,
đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có
mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo,
đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây
là mè, đây là hột gạo đã xay rồi”. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân
trở lên, trên cho đến đảnh tóc...(xin xem chánh văn).
Ðến
đây, Ðức Phật dạy chúng ta chuyển qua công phu Quán. Các
giai đoạn trước đặt nặng về Chánh niệm, là an trú tâm
trong giờ phút hiện tại vào một đối tượng (như hơi thở,
các động tác của thân). Khi tâm đã được an định, phải
chuyển qua Quán để phát sinh Huệ, ta gọi là Quán niệm. Thật
ra, Chánh niệm và Quán niệm có nội dung gần giống nhau, có
điều hơi khác là một bên đặt tâm vào giờ phút hiện tại,
còn một bên thấy rõ những gì xảy ra trong giờ phút hiện
tại.
Phần
này được gọi là Quán bất tịnh, vì quán thấy mọi thành
phần của thân đều được cấu tạo bằng những thứ dơ
bẩn; cũng gọi là Tích không quán, vì tự tánh của thân là
không, do nhiều yếu tố hợp lại mà thành nên nó không có
chủ tể. Phật dạy chúng ta quán sát thân mình từ chân lên
đầu, từ ngoài vào trong một cách tỉ mỉ. Quán đến độ
tâm trở nên sáng suốt vô cùng, thấy mọi thành phần của
thân rõ ràng như người đổ bao đồ ra, thấy rõ từng thứ
đựng trong bao, thứ nào ra thứ ấy, không lẫn lộn. Từ đó,
mọi chấp trước sai lầm về thân, như cho thân này là quý,
là thường hằng, là thật có... đều không còn. Chúng ta sẽ
nhận ra, thân này do nhiều thành phần hợp lại, không có
gì là tự thể của nó, nó vừa bất tịnh lại vừa duyên
hợp, do vay mượn nhiều yếu tố bên ngoài mà thành. Quán
niệm thành tựu, chúng ta không còn có chấp ngã trên thân
nữa. Ngã không còn thì ngã sở do đâu mà có được?
5.-
Quán niệm qua tứ đại giả hờp.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị
trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này
có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này
các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ
tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt
chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và
về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại,
thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Như vậy, vị ấy
sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại
thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị
ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh
diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với
hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống
không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên
thân.
Ðây
là lĩnh vực thứ 5 trong pháp Quán thân trên thân, mục đích
để thấy rõ tính chất duyên sinh vô ngã của thân. Thân người
hợp thành do bốn đại: Ðất, nước, gió, lửa. Vì sao gọi
là “Ðại”? Vì như đất - nước - gió - lửa là bốn yếu
tố có mặt không chỉ ở trong thân, mà còn ở cùng khắp
thế giới và cả trong vũ trụ vô biên. Ðịa đại bên ngoài
là đất, bên trong là chất cứng của cơ thể như thịt, xương;
Thủy đại bên ngoài là nước, bên trong là chất lỏng như
máu, dịch tiết; Phong đại bên ngoài là gió, bên trong là
mọi sự chuyển động như hô hấp, tuần hoàn; Hỏa đại
bên ngoài là lửa, bên trong là hơi ấm của cơ thể. Sự hiện
hữu của bốn yếu tố này rất lớn lao và trùm khắp, nên
được gọi là Ðại.
Tứ
đại bên ngoài là Năng tạo, cơ thể chúng ta vay mượn chúng
để tạo nên thân này. Vào trong thân, chúng trở thành Tứ
đại Sở tạo. Nếu không vay mượn Tứ đại Năng tạo mỗi
ngày, cơ thể chúng ta sẽ không tồn tại được: Mũi hít
thở không khí từ mười lăm đến mười tám lần trong một
phút, là mượn phong đại bên ngoài; ăn cơm uống nước là
mượn địa đại và thủy đại... Nhưng mượn rồi cũng phải
trả, cho nên thân thể khỏe mạnh khi sự vay và trả được
thông suốt, khi tứ đại bên trong được điều hòa. Nếu
có vay mà trả ra không được, hoặc trong bốn đại có một
đại trội hơn, thì bệnh tật sẽ phát sinh.
Như
một người đồ tể hay học trò của người ấy, chia con
bò ra nhiều thành phần rồi xem xét, chúng ta cũng quán sát
thân này bằng cách chia thân thành bốn thành phần. Rõ ràng
thân là giả hợp, không có tự thể, thân là duyên sinh vì
nó vay mượn những thứ không phải nó để tạo thành nó.
Quán đến sâu xa, ta sẽ không thấy cái gì là tôi, của tôi
và tự ngã của tôi, mọi pháp đều bình đẳng trong tự tánh
không; đây là sự nhận biết của người đã thâm nhập quán
môn này.
Chúng
ta là phàm phu, thường phân biệt người này với người khác
qua hình tướng. Lại thêm cái lầm lẫn, lúc đất - nước
- gió - lửa còn ở bên ngoài thì biết là của trời đất,
nhưng lúc mượn vào thân thì lại cho đó là mình. Ðây là
cái thấy điên đảo, không đúng lẽ thật. Ngược lại, một
bậc đã thành tựu quán niệm, sẽ thấy mình và mọi chúng
sanh đều trong thể bình đẳng, vì đều do tứ đại giả
hợp thành thân, không có tự thể nên tánh nó là Không. Ðạt
được Bình - đẳng - quán, vị ấy sẽ không còn chấp ngã.
Ðây là kết quả của công phu Thiền quán.
Một
điều chúng ta cũng cần lưu ý: Xét về tâm lượng của tứ
đại. Như đối với đất, chúng ta thấy, đổ nước dơ trên
đất, đất không giận; đổ dầu thơm lên đất, đất chẳng
mừng; một kẻ gian ác đi trên đất, đất không buồn; một
bậc Thánh nhân đi trên đất, đất cũng chẳng vui. Nước,
gió và lửa cũng có tâm lượng như thế; bởi vì, tứ đại
vốn là vô chấp, vô trước, vô trụ. Bản tánh của chúng
là Như. Chúng ta không thấy được trạng thái Như thị của
tứ đại, không liễu ngộ được thật tướng của các pháp,
nên chúng ta còn chấp trước, phiền não và trầm luân. Cho
nên, tu hành không phải là tiêu diệt hay chối từ các pháp,
mà nhận chân được thật tướng của chúng. Lúc ấy, thân
tứ đại ngũ uẩn sẽ không còn là ràng buộc mà là một
thực thể nhiệm mầu. Chúng ta sẽ vận dụng thân này vào
trong pháp giới để hoằng hóa độ sanh, sao cho tất cả chúng
sanh đều được lợi ích như chính mình.
6.-
Quán niệm thi thể trong nghĩa địa.
Ðức
Phật dạy cách quán về sự bất tịnh của thân sau khi chết,
nhờ đối tượng là các tử thi bỏ trong Thi-lâm. Theo phong
tục Ấn Ðộ thời xưa, người chết thường được an táng
bằng cách thả trôi theo dòng sông, hay thiêu xác, hoặc để
nằm trong rừng cho muông thú ăn thịt. Rừng ấy được gọi
là Thi-lâm.
Chúng
ta thấy các vị Tỷ-kheo rất gan dạ, hàng ngày vào tại Thi-lâm,
trực tiếp nhìn các tử thi để thực hiện phép quán này,
lần lượt qua bốn giai đoạn:
a.-
Giai đoạn 1.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể
ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo
quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản
tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như
vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán
thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại
thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống
quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt
trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như
vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và
vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật
gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán thân trên thân.
Ðây
là giai đoạn đầu, một đến ba ngày sau khi tắt thở. Các
vị Tỷ-kheo trực diện với tử thi qua từng giai đoạn của
sự hủy hoại thân người. Các vị thấy tử thi bắt đầu
trương phồng lên, sau đó xanh đen lại và nát thối ra. Bản
chất của thân rõ ràng không ra gì, chỉ là một đống thịt
thối! Lúc còn sống, phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đẹp
xấu...; đến khi chết, nằm bất động ở đó thì ai cũng
như ai, chỉ là một vật vô tri, không có giá trị gì. Các
vị thực hiện pháp quán này, thấy rõ thân mình rồi cũng
như thế, tự nhiên nhờm gớm xác thân, không còn chấp ngã
và cũng không còn tham đắm dục lạc thế gian.
Một
số vị Tỷ-kheo, sau khi quán bất tịnh một thời gian, thấy
quá chán chê ghê tởm thân mình, nên nhờ người khác giết
chết mình. Ðức Phật biết được liền quở rất nặng,
sau đó dạy rằng, khi quán bất tịnh đã thành công thì phải
trở lại quán tịnh, mới khởi lên chánh trí. Ðồng thời,
Ngài chế ra giới luật “Tự tử cũng phạm giới sát sanh”.
Ngay giới cấm này cũng mang một ý nghĩa quan trọng, đặc
biệt đối với những người chịu quá nhiều đau khổ, truân
chuyên trong cuộc sống. Nhiều người muốn thoát những nỗi
khổ triền miên ấy, nên tự vẫn, cho là có thể trốn tránh
được nợ đời. Họ đâu biết rằng, quả khổ đời này
là do nhân của những đời trước đã tạo ra. Nếu không
cam lòng gánh chịu, lại hủy hoại đời mình, thì trong vòng
luân hồi, họ lại phải thọ nhận khổ đau cùng cực hơn
ở những kiếp sau. Bởi vì nghiệp theo sát chúng ta như bóng
với hình, không làm sao tránh khỏi, chỉ có tu hành theo chánh
pháp mới có thể chuyển được nghiệp.
b.-
Giai đoạn 2.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các
loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài
chó ăn, hay bị các loài dã can ăn, hay bị các loài côn trùng
ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là
như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất
ấy”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay
sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội
thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên
thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán
tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Ðến
giai đoạn tử thi bị chim muông, thú rừng ăn thịt, côn trùng
rúc rỉa, cấu xé từng mẩu từng phần. Mặc cho chúng làm
gì thì làm, thân ấy vẫn im lìm, không một chút phản ứng.
Lúc sống thì tham sân si đầy dẫy, xem thân là quý, là thật
ta, ai đụng chạm đến là không chịu nhịn, ăn thua nhau từng
câu nói. Bây giờ nằm đó, thân xác bị xé làm trăm mảnh,
nó là của ai? Lúc này, bà con quyến thuộc ở đâu, ai đến
nâng niu chăm sóc cho mình?
c.-
Giai đoạn 3.
Này
các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết
với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân
cột lại...; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không
còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường
gân cột lại...; với các bộ xương không còn dính thịt,
dính máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn có
xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia.
Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương
ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở
đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán
thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh
là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy,
vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân
trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại
thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị
ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống
quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống
an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh
trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không
chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như
vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Khi
chim muông, thú rừng, côn trùng đã rúc rỉa hết da thịt,
tử thi bây giờ chỉ còn lại bộ xương. Lúc đầu xương
còn liên kết với nhau, còn dính ít máu thịt và còn những
đường gân cột lại. Lần lần, thịt máu tiêu hết, các
đường gân cũng không còn; bộ xương nguyên vẹn giờ rã
thành từng đốt, từng đoạn, rải rác chỗ này chỗ kia.
Ðến giai đoạn này, một con người từng hoạt động nói
năng, từng đấu tranh bon chen trong cuộc sống, không những
đã trở thành vật vô tri vô giác, mà ngay cả cái hình hài
nguyên vẹn cũng không còn! Con người ấy đang ở đâu, trong
một lóng xương tay, xương chân, hay trong cái xương sọ lăn
lóc trên mặt đất? Vị Tỷ-kheo quán thân người, rồi nhìn
lại thân mình cũng thấy cùng một tánh chất ấy.
d.-
Giai đoạn 4.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị
quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu
vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ
còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy
như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như
vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy, vị ấy
sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại
thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị
ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh
diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân
trên thân.
Ðây
là giai đoạn cuối cùng của sự phân hủy một tử thi. Ðống
xương rải rác trở nên màu trắng vỏ ốc, lâu dần mủn
ra thành bột. Gió thổi bột xương bay đi tứ phía, thân cát
bụi đã trả về cát bụi. Quán đến tận cùng và sâu xa
như thế, vị Tỷ-kheo thấy rõ tính bất tịnh, giả hợp và
vô thường của thân. Từ đó, ý thức chấp ngã không còn,
vị ấy xa lìa phiền não, chấp trước; đối với bao trở
ngại thăng trầm của cuộc sống, vị ấy vẫn thanh thản,
bình yên.
Tóm
lại, trong phạm trù về thân, Ðức Phật dạy chúng ta chánh
niệm và quán niệm về sáu lĩnh vực, từ trừu tượng như
hơi thở, rồi tứ đại giả hợp, đến hình tướng cụ thể
như các động tác hay các thành phần của thân; từ lúc thân
còn hoạt động nói năng hàng ngày đến khi trở thành một
tử thi bất động. Tùy theo từng lĩnh vực mà chúng ta thực
hiện chánh niệm hay quán niệm; nặng về quán ngay trên thân
mình (quán thân trên nội thân), hay quán thân người để soi
lại bản thân mình (quán thân trên ngoại thân), hoặc quán
toàn bộ các thành phần bên trong và bên ngoài cơ thể của
chính mình (quán thân trên nội thân, ngoại thân). Tất cả
phương tiện ấy đều giúp chúng ta xoay trở về con người
của mình. Khi dùng ánh sáng trí tuệ soi sáng từng ngõ ngách
sâu kín của xác thân, chúng ta sẽ nhận ra bản chất của
thân này là bất tịnh, là vô thường, là duyên sinh vô ngã.
Thân xác này rõ ràng chỉ là giả hợp, không thật có, không
phải là mình. Thân đã không thật thì những thứ thuộc về
thân cũng là giả tạm mà thôi. Cho nên, thân tướng của tất
cả chúng ta là giả tướng, còn tên họ địa vị quyền lực
cũng chỉ là giả danh. Từ đó suy ra, mọi danh vị trên thế
gian đều là giả danh, mọi hình tướng trên thế gian đều
là giả tướng. Quán chiếu sâu xa như thế, dùng tri kiến
như thật nhận rõ tự thân của các pháp, chúng ta sẽ không
còn tham đắm bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ xa lìa những
chấp trước, những khổ đau, an lạc bước từng bước vững
chãi trên bao trở ngại của cuộc sống đời thường.
Có
một vấn đề chúng tôi xin đặt ra: Kinh Niệm Xứ là một
bài kinh thuộc hệ Pàli. Ðức Phật dạy Chánh niệm qua hơi
thở, nội dung là theo dõi hơi thở vào và ra. Ðây là phương
pháp Tùy tức. Như vậy, pháp Sổ tức (đếm hơi thở) đã
được Ðức Phật dạy vào lúc nào, hay do các vị Tổ đời
sau chế ra cho phù hợp với trình độ của các hành giả sơ
cơ? Chúng tôi ngưỡng mong các bậc cao minh chỉ bảo thêm,
cho vấn đề được sáng tỏ.
II-
QUÁN THỌ TRÊN CÁC THỌ.
Này
các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên
các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi có cảm giác
lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác
khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ
bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất,
tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay
khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi
cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác
khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ
thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc
vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc
vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc
vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ
thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ
không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ
bất lạc thọ không thuộc vật chất”. Như vậy, vị ấy
sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên
các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại
thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay
sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh
sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp
trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.
Lĩnh
vực thứ hai trong Bốn Niệm Xứ, mà Ðức Phật dạy chúng
ta phải bám sát để theo dõi, là các cảm thọ, từ lúc chúng
bắt đầu phát sinh, tồn tại một thời gian cho đến khi hủy
diệt. Mục đích là để thực hiện sự chuyển hóa. Theo dõi,
nhận diện và chuyển hóa là quá trình của tỉnh thức, mà
đối tượng của sự tỉnh thức ở đây là các cảm thọ.
Từ
đâu phát sinh ra các cảm thọ? - Ðó là do sáu căn (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp) sinh ra các cảm thọ. Cảm thọ có phát
sinh, có tồn tại rồi có hủy diệt; cho nên chúng không có
thật và không thường hằng. Ta gọi chúng là Các cảm thọ
sinh diệt, gồm chín loại, được phân biệt như sau:
* Phân
biệt theo tính chất: Gồm ba loại:
-
Khổ
-
Lạc: vui
-
Bất khổ bất lạc: Còn gọi là Trung tính, tức không khổ
không vui.
* Phân
biệt theo nơi phát sinh: Có sáu loại: Ðó là các cảm thọ
của Mắt khi nhìn thấy Sắc, của Tai khi nghe tiếng, của Mũi
khi ngửi mùi, của Lưỡi khi nếm vị, của Thân khi xúc chạm,
và của Ý khi duyên theo các pháp.
Mỗi
loại cảm thọ từ sáu nơi này, cũng được phân biệt có
Khổ, Lạc và Trung tính. Ví dụ, khi tai nghe tiếng khen ta thấy
vui thích (Cảm thọ Lạc của tai), nghe tiếng chê ta bực bội
(Cảm thọ khổ của tai), nghe tiếng xe chạy hoặc tiếng nói
ngoài đường mà ta không có ý niệm hay tình cảm gì (Cảm
thọ trung tính của tai). Tương tự cho các căn khác, khi tiếp
xúc với các trần tương ứng. Cho nên, theo dõi cảm thọ cũng
là con đường nội nhiếp, tức xoay trở lại chính mình. Quán
các cảm thọ cũng là thực hiện chánh niệm, cũng là tuệ
tri vì dùng trí tuệ để biết. Trong phần này, Ðức Phật
dạy chúng ta tuệ tri theo bốn tình huống:
1-
Khi có cảm giác lạc thọ, hay khổ thọ, hay bất khổ bất
lạc thọ.
2-
Khi có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất hay không thuộc
vật chất.
3-
Khi có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất hay không thuộc
vật chất.
4-
Khi có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất
hay không thuộc vật chất.
Cảm
thọ thuộc vật chất là những cảm thọ phát sinh khi các
căn tiếp xúc với những vật có hình tướng. Cảm thọ không
thuộc vật chất (tức là tinh thần) phát sinh đối với những
gì trừu tượng. Một số ví dụ sau đây sẽ minh họa vấn
đề này:
- Khi
ăn một món ngon, ta thấy thích thú: Cảm giác lạc thọ thuộc
vật chất của lưỡi.
-
Khi uống một viên thuốc Quinine quá đắng, ta không ưa: Cảm
giác khổ thọ thuộc vật chất của lưỡi.
-
Khi nghe một bản nhạc hay, tâm hồn ta lâng lâng khoan khoái:
Cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất của tai.
-
Khi nhớ đến một kỷ niệm buồn, tâm hồn ta xao xuyến, bồi
hồi: Cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất của ý.
Ðức
Phật dạy chúng ta khám phá những bí mật ở chính bản thân
mình, qua những lĩnh vực mà thoạt nghe, chúng ta thấy thật
tầm thường. Ðối với các nhà khoa học, muốn tìm tòi phát
minh một vấn đề gì, phải vào phòng thí nghiệm, sử dụng
những dụng cụ, những máy móc tối tân. Người tu chúng ta
cũng mở ra những cuộc thí nghiệm, cũng dấn bước trên con
đường phiêu lưu để tìm lại con người thật xưa nay của
chính mình. Nhưng Phật lại bắt chúng ta sống cuộc đời
phản quan tự kỷ, miên mật theo dõi từng động tác của
cơ thể, rồi từng diễn tiến của những cảm thọ, là những
gì ở ngay trong mỗi người chúng ta. Ðiều này có ý nghĩa
như thế nào? Kết quả của việc hành trì ấy ra sao? Chúng
ta cần nhận định những vấn đề này thật tường tận
để có niềm tin kiên cố về phương pháp mình sẽ thực hiện.
Một
người tu Phật phải giữ nhiều cấm giới: Ít nhất là năm
giới của các cư sĩ tại gia, cho đến hai trăm năm mươi giới
của Tỷ-kheo và ba trăm bốn mươi tám giới của Tỷ-kheo ni.
Nhưng chung quy, chỉ có một giới điều căn bản: đó là sống
tỉnh thức trong chánh niệm. Khi thực hiện chánh niệm trong
từng giây phút của cuộc sống, nghĩa là chúng ta luôn luôn
đặt tâm vào hiện tại; mọi diễn biến của thân thể, của
cảm thọ, chúng ta đều bám sát. Hàng ngày, khi sáu căn tiếp
xúc với sáu trần, chúng ta có rất nhiều cảm thọ. Nhưng
có khi nào chúng ta ý thức được điều này, thường cứ
để chúng trôi qua. Bây giờ, chúng ta bám sát các cảm thọ
nên theo dõi và nhận diện được chúng; cảm thọ nào phát
sinh, ta đều biết rõ. Ðây không phải là lối tu tiêu cực
vì không trốn tránh sự thật, không chủ trương diệt trừ
cảm thọ, nên không phải là pháp môn đối trị. Thiền Niệm
Xứ chỉ sử dụng cái BIẾT bằng trí tuệ, nên ở bất cứ
lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào, tình huống nào, chúng ta cũng
chỉ TUỆ-TRI. Và như vậy, chúng ta có thể thực hiện Thiền
pháp này trong mọi oai nghi, mọi nơi mọi lúc. Mục đích của
sự theo dõi và nhận diện này, chính là để chuyển hóa các
cảm thọ.
Thế
nào là chuyển hóa các cảm thọ? - “Chuyển hóa” là kết
quả đầu tiên của phương pháp Quán thọ trên các thọ.
Khi
theo dõi các cảm thọ, chúng ta thấy tường tận từng diễn
tiến của chúng qua ba giai đoạn: sanh khởi, tồn tại và hủy
diệt. Thực hiện chánh niệm miên mật từng phút giây, không
còn chỗ hở để vọng niệm xen vào, chúng ta sẽ có sức
tỉnh giác rất mạnh. Lúc thành tựu chánh niệm, cái hay biết
và cảm thọ bị biết trở thành nhất như, chính chúng ta
và cảm thọ trở thành một. Nước không nhận chìm được
nước, lửa không thể đốt cháy lửa; cũng vậy, khi chúng
ta và cảm thọ là một, thì cảm thọ không còn sai sử, chi
phối chúng ta được nữa. Không bị cảm thọ sai sử nên
chúng ta không còn bị kiết sử, tức trói buộc. Chúng ta sẽ
an lạc trong mọi hoàn cảnh, mọi thời khắc, mọi nơi chốn;
sống trong trần thế nhưng tự tại với tất cả. Ðó là
thực hiện chuyển hóa các cảm thọ.
Tinh
thần BÁM SÁT - THEO DÕI - NHẬN DIỆN các cảm thọ để cuối
cùng CHUYỂN HÓA, chúng ta có thể áp dụng trong bất cứ tình
huống nào, đặc biệt là đối với các nỗi đau khổ về
tinh thần hay về thể xác. Có những người mắc một số
chứng bệnh nan y, hàng ngày hàng giờ phải chịu nhiều cơn
đau mãnh liệt, cùng cực. Như các trường hợp ung thư ở
giai đoạn cuối, thầy thuốc phải chỉ định cho họ dùng
ma túy để tạm thời cắt cơn đau. Nếu không biết tu, khi
cơn đau nổi lên, bệnh nhân chỉ biết lăn lộn, rên rỉ;
như thế càng làm cơn đau mạnh hơn, người ấy khó chịu
đựng được nếu không có thuốc giảm đau. Nếu chúng ta
có sức tỉnh giác, đối diện với cơn đau, nhờ ánh sáng
chánh niệm ta theo dõi nó từ lúc bắt đầu phát sinh và suốt
thời gian tồn tại. Chúng ta không tìm cách diệt trừ, đè
bẹp nó hay trốn tránh nó; chúng ta chỉ TUỆ-TRI nó. Như ánh
sáng mặt trời chiếu sáng mọi loài, mặt trời không có ý
soi rọi, biến đổi hay nuôi dưỡng sự vật, nhưng muôn vật
nhờ ánh sáng mặt trời nên tự thân chuyển hóa. Cũng vậy,
thắp sáng sự tỉnh giác lên từng diễn tiến của cơn đau,
tự thân cơn đau được chuyển hóa, chúng ta trở thành một
với cơn đau, nên dù cơn đau vẫn còn hiện diện, chúng ta
vẫn có thể ôm ấp nó, hòa nhập với nó và chịu đựng
được nó. Cuối cùng, khi cơn đau biến mất, chúng ta vẫn
có mặt ở đó để chứng kiến: đây là giai đoạn hủy diệt
của cơn đau. |