VÀI Ý NGHĨ
VỀ BÀI VIẾT CỦA HOẢ THƯỢNG THÔNG LẠC (5)
Nguyễn
Hòa
(Nét
chữ mầu đen là nguyên bản của HT Thông Lạc.
Nét
chữ mầu xanh đậm là của Nguyễn Hòa)
Đường Về
Xứ Phật Tập 5
Lời nói đầu
Vì
trải qua nhiều thời gian năm tháng, trước kia tôi chỉ nghe
các bậc tôn túc thuật lại sự tu chứng đắc của các Tổ
mà không trực tiếp thấy, còn hiện giờ tôi đã thấy biết
rất rõ ràng với thời gian hơn thế kỷ nay (100 năm).
Thầy Tổ của chúng tôi từ người nầy đến người khác
qua đời (viên tịch), không để lại cho chúng tôi một niềm
tin sâu sắc với Phật Pháp.
Vậy
mà đạo Phật vẫn truyền thừa từ đời này qua đời khác,
ngay cả vào những thơì kỳ khó khăn nhất trong lịch sử.
Đúng ra, đạo Phật VN gặp nhiều khó khăn vào thời Hậu
Lê, Trịnh Nguyễn, Tây sơn khi Nho giáo được ham chuộng,
nhiều nho gia chỉ trích đạo Phật, và trong hoàn cảnh đất
nước chiến tranh liên miên khiến lòng người ly tán, không
còn có những ước vọng cao siêu, hay chỉ cầu mong giữ được
cái mạng sống lây lất qua ngàỵ Đến thời Pháp thuộc,
chữ Hán bị bãi bỏ trong thi cử , ít còn ai theo học,
cũng là trở ngại lớn cho người học Phật, vì tất cả
kinh điển truyền lại cho tới lúc đó đều được ghi
chép bằng chữ Hán. Tuy nhiên, trong khi Nho Giáo bị tiêu diệt
hoàn toàn trước làn sóng văn minh của Tây phương, thì Phật
giáo vẫn tồn tại, tuy suy yếu, tuy kinh kệ ít người đọc
hiểu, và cac' bậc cao tăng không còn , nhưng vẫn đứng
vững, để chờ cơ hội phát triển sau này khi có
phong trào chấn hưng Phật học (của nhóm các ông như Lê Đình
Thám, báo Hải Triều Âm). Và trong lịch sử Phật giáo VN có
lẽ thời kỳ gần đây có nhiều người quan tâm đến
đạo Phật nhất, và kinh sách đạo Phật cũng được phiên
dịch, in ấn nhiều nhất, phổ biến rất rộng, dù ở trong
nước hay ngoài nước.
Khi
còn sống, các Ngài thuyết pháp rất hay, nào là thấy các
pháp như mộng, như huyễn; nào là tiếp xúc với sáu trần
như hoa đốm giữa hư không; nào là chết biết ngày, biết
giờ, biết khắc, biết được tánh linh; nào là làm chủ sự
sống chết. Nhưng đến giờ phút cuối cùng chúng tôi chỉ
thấy một hình ảnh đau thương nằm trên giường bịnh mệt
nhọc khổ sở, đau đớn trăn trở và còn có lúc lại mê
man chẳng còn biết gì cả trước khi viên tịch (chết).
Cuộc
sống vô thường, cái thân tứ đại phải chịu hư hoại,
cái khổ đau của bệnh, lão, tử do Phật giáo giảng dạy
rất sát hợp ở chỗ nàỵ Tu theo đạo Phật không phải nhằm
tìm kiếm cái chết khôngđau đớn, tuy cũng có người tu có
được cái chết nhẹ nhàng, nhất là với cái tâm thanh
thản , không đau khổ vì tiếc nuối như người
trần tục bình thương.
Thầy
Tổ chúng tôi, họ đều là những bậc chơn tu, tinh cần siêng
năng, thức khuya, dậy sớm, xâu chuổi không rời tay, lúc nào
cũng thấy ngồi thiền, niệm Phật, công phu, bái sám không
thời nào không có mặt, trừ khi làm Phật sự hoặc bịnh
đau.
Vậy
thời nào cũng có các bậc chân tu , khả kính.
Từ
lúc bé tám tuổi, tôi đã được vào chùa tu học với các
Thầy Tổ; đến ở chùa nào cũng mang dòng phái Thiền Tông:
Lâm Tế, Tào Ðộng, Liễu Quán, Thái Thượng, v.v...; nhưng
không thấy Thầy Tổ tu Thiền Tông, mà lại tu Tịnh Ðộ Tông.
Thiền
Tông ở VN suy vi sau đời Trần, kể từ Hậu Lệ Thiền phái
Trúc Lâm sau vị tổ thứ Ba là Huyền Quang thì không còn
thấy có sự truyền thừa rõ ràng, kế tục được ghi chép,
và cao tăng bỗng nhiên vắng bóng. Thay vào đó, VN đón nhận
nhiều thiền phái Trung Hoa mới mẻ như Lâm Tế, Tào Động,
nhưng vào lúc cái phong thái đạo Phật ở VN không còn như
trước, nên các thiền phái trên đã không phát triển cao và
rộng. Ngoại trừ Tịnh độ, và Mật tông từng có gốc rễ
lâu đời, khi không còn có mặt ở triều đình được nữa
thì đi vào dân gian, trở than`h tín ngưỡng của đại chúng,
nên những giáo lý cao siêu bị mất mát dần, chỉ còn lại
một số hình thức, và bị gán cho là mê tín, dị đoan.
Thời
gian ấy, bỗng dưng làn gió Thiền Tông thổi đến, kinh sách
Thiền rộ nở như hoa mùa xuân: nào là Pháp Bảo Ðàn Kinh,
Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Kim Cang Kinh; nào là Nguồn Thiền, Luận
Tối Thượng Thừa, Sáu Cửa Vào Ðộng Thiếu Thất, Thiền
Luận, Thiền Ðốn Ngộ, v.v...
Càng
đọc những kinh sách này, tôi càng say mê và tưởng mình như
được của báu. Tôi được theo tu học thiền lớp học
đầu tiên tại tu viện Chơn Không, do Hòa Thượng Thích Thanh
Từ đảm trách hướng dẫn. Sau ba tháng an cư tu học
ở đó, tôi liền rời khỏi tu viện và về Trảng Bàng thuộc
tỉnh Tây Ninh, nhập thất tu tập suốt chín năm trời, chuyên
cần tu tập pháp môn Tri vọng (Biết vọng liền buông), và
hằng ngày thường sống nhìn các pháp như mộng, như huyễn,
thấy lục trần như hoa đốm giữa hư không....
Tới
đây tôi chép lại tài liệu của HT Thanh Từ nói về vấn
đề này , trong quyển Nguồn Thiền giảng giải, mà TL có nhắc
lại ở trên, để chúng ta nhận định vấn đề rõ hơn, ít
ra không có cái nhìn chủ quan của Thông Lạc :
"Vì
tôi có thói quen là cẩn thận, nên bảo các thiền sinh phải
học đủ ba năm, thiếu một tháng cũng không được, và ai
muốn ra làm thầy dạy người cũng phải ở Thiền viện
tối thiểu là ba năm.và có phương tiện nhập thất tối thiểu
cũng ba năm khả dĩ có chút đỉnh vốn liếng để làm lợi
ngườị Khoá đầu tiên tôi dạy Thiền ở đây có mười
người, sau ba tháng nghe giảng họ rút đi bốn người, vì
bốn người ấy cho là đã đủ rồi nên xin đị Tôi bảo
phải ở lại ba năm họ không tin tôi, xin đi tôi cho đị Nhưng
sau những vị ấy cũng ân hận , chớ không được gì ".
Làm
việc gì cũng vậy, muốn thành công phải có kinh nghiệm chín
chắn. nhất là việc tu hành cần phải cẩn thận nhiều hơn.
Đừng chợt nghe, chợt thấy cho là đủ, rồi ham làm thầy
thiên hạ ra dạy ng+ời, tu một lúc cả thầy lẫn trò đều
mang bệnh, nhất là bệnh ái kiến. (HT Thanh Từ, Nguồn Thiền,
trang 163)
Ở
đoạn trên ta thấy HT Thông Lạc viết "Sau
ba tháng an cư tu học ở đó, tôi liền rời khỏi tu viện
và về Trảng Bàng ", như vậy TL
là một trong bốn đệ tử đầu tiên của HT TT đã bỏ đi
sau vài tháng tu học vì tưởng là biết đủ về thiền "Tri
vọng " của HT TT hay về Thiền tông.
Gần
chín năm miệt mài tu hành, tôi ngộ tất cả công án thiền
tông, ngồi thiền thì không còn vọng tưởng, (chẳng niệm
thiện niệm ác) trạng thái tâm hồn yên lặng như hoà mình
trong vũ trụ. Lúc bấy giờ tôi tỉnh thức rất rõ; nhưng
xét lại không biết cách nào làm chủ sự sống chết, tâm
mình cũng vẫn còn bất an, bất toại nguyện, phiền não (tham,
sân, si), dù biết rõ rằng gặp những việc bất toại nguyện
thì phải thấy những việc đó như mộng, như huyễn, như
hoa đốm giữa hư không. Dù biết vậy, nhưng tâm vẫn
còn phiền não chưa thật sạch.
HT
Thông Lạc viết là sau ba tháng học tập với HT TT đã bỏ
ra 9 chín năm nhập thất tham thiền. Nhưng tất cả đều là
tự học Thiền bằng cách đọc kinh sách Phật. Cả sau này
khi chuyển qua Thiền Nam tông, TL cũng tự đọc sách mà tu tập.
Vì vậy nếu không có kết quả tốt thì cũng là chuyện hiểu
được . Ngay cả các ý nghĩa thâm sâu của Đại Thừa về
cac' pháp như mộng huyễn, bào ảnh, v.v.. trong kinh Kim Cang,
HT Thông Lạc cũng không có cơ hội nghe các bậc thạc đức
giảng dạy đầy đủ để hiểu thấu đáo, nên quay lại
chê baị
Ðối
với các pháp Ðại Thừa, từ Tịnh Ðộ Tông cho đến Mật
Tông, sự tu tập đối với tôi gần như mất hy vọng, vì
chính ông thân của tôi là một tu sĩ Mật Tông, chú thuật
của ông có nhiều thần lực lạ kỳ, nhưng lại để trị
bịnh, bói toán như một phù thủy, bùa chú tuy linh hiển nhưng
tôi không thấy nó làm chủ sự sống chết, tự tại an vui
trong cuộc sống mà chỉ làm chuyện danh lợi như các nghề
khác trong thế gian.
Như
trên có nói Mật Tông ở VN sau này suy thoái đi, chỉ còn là
những phương thức hành đạo mang nặng hình thức "huyền
bí " và tính chất của tín ngưỡng dân gian, bao gồm nhiều
thứ mê tín dị đoan, xa rời giáo pháp chân chính của đạo
Phật.
Tôi
tư duy, suy nghĩ và rất khắc khoải trong lòng, nghĩ đến mình
tu hành đến giờ nầy, "Ðời chẳng ra đời, Ðạo chẳng
ra đạo. Nếu bây giờ tôi trở ra đời thì quá muộn
màng, tuổi đã 44 rồi còn gì nữa, ở trong đạo thì biết
pháp nào tu cho đến nơi đến chốn đây: Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm, độ hết chúng sanh thì thành Phật. Những
điều kinh sách Ðại Thừa đã dạy, tôi đều chuyên cần
siêng năng, tinh tấn tu hành không dám biếng trễ thế mà xét
lại tâm mình chưa được làm chủ, cuộc sống còn nhiều
bất toại nguyện, tâm vẫn còn ham muốn danh lợi, ăn ngủ
còn thích, thấy nữ sắc còn muốn nhìn; suốt chín năm trời,
sự tu hành dường như tránh né và trốn chạy các pháp thế
gian, không tìm thấy một sự giải thoát chân thật ở nội
tâm mình; tôi tư duy và suy nghĩ: có phải chăng các pháp môn
Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ là pháp môn ức chế tâm chăng?".
Như
trên chúng ta đã thấy TL không theo học đúng mức,
đầy đủ về giáo pháp Phật giáo, phần nhiều ông chỉ
là tự học bằng cách đọc sách dịch của Đại Thừa
và Thiền tông vào cái thời mà kinh sách cũng còn ít, các
dịch giả, giảng sư tài giỏi cũng chưa có nhiềụ Cho nên
kết quả thế nào có thể thấy trước được.
Ðể
được trả lời câu hỏi này một cách cụ thể nên sau này
tôi đã tự tu giới, định, tuệ, pháp môn của Ðức Phật,
theo kinh sách Nguyên Thủy dạy. Tôi thấy kết quả xả
tâm ngay khi bắt đầu tu rất rõ ràng. Thấy rõ nhờ có
tu tập, có kết quả trong pháp môn Tam Vô Lậu Học. Bây
giờ tôi đã thấu biết được rõ và mới dám quả quyết
xác định: kinh sách Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ là pháp
môn ức chế tâm thuộc loại thiền tưởng (tà thiền).
Tam
học vô lậu , gồm Giới, Định và Tuệ, là giáo lý căn bản
của đạo Phật đã bị TL bỏ qua không thèm biết tớị Đến
khi trở lại có lẽ đã muộn màng.
Trên
chúng ta đã biết Thông Lạc chỉ học với HT Thanh Từ trong
một thời gian rất ngắn. Nếu theo học lâu hơn, đến được
chỗ sở đắc của thầy thì TL sẽ thấy như HT Thanh Từ
về kinh điển Đại Thừa qua đoạn viết sau đây khi
HT Thanh Từ đọc tới chỗ "Tam luân Không tịch" trong kinh Kim
Cang :
"Tôi
lắc đầu than: "Kinh Đại Thừa dạy cao siêu khó tu quá, tu
không được thì làm sao thành Phật?
Tôi
bị bế tắc ngang đó. Tôi nghĩ kinh Đại Thừa chỉ để trên
gác mà thờ lạy thôi, chớ không áp dụng tu được. Lúc đó
tôi lại thân cận với Thượng Toạ Minh Châụ Thượng Toạ
đưa cho tôi bộ A Hàm đọc, tôi thích quá và nghĩ rằng :
_
Mình nên áp dụng kinh A Hàm tu theo Tiểu Thừa, chớ áp dụng
kinh Đại Thừa nói không hiểu và làm cũng không được.
Sau
nhập thất tu, tôi sáng ra, và nhận thấy rằng kinh Đại Thừa
là quý báụ "
(HT
Thanh Từ, Nguồn Thiền, trang 106)
Thế
mới biết cái thấy của thầy và trò rất khác nhau,
khi trò chỉ học Phật với thầy trong có ba tháng.
Chẳng
niệm thiện niệm ác; thấy các pháp như mộng, như huyễn;
thấy sáu trần như hoa đốm giữa hư không, tôi đã thực
hiện những câu này tới mức nằm lòng; hễ có các pháp đến
thì những câu này xuất hiện nhanh chóng, tôi dùng nó đuổi
các ác pháp đi, hoặc tâm tham muốn của mình (tâm dục), đuổi
một lúc nó mới chịu tan biến. Ðuổi chúng mãi, chúng
mới đi, nhưng chẳng bao giờ diệt chúng được, lý do hiển
nhiên là vì không có đối tượng thì chúng không có mặt,
mà hễ có đối tượng thì chúng hiện ra. Thấm thoát thời
gian gần chín năm trời mà tâm tôi vẫn chưa an. Tự cảm
thấy như mình là kẻ trốn chạy các pháp thế gian, tránh
né sáu trần và cuối cùng suy xét lại thấy các pháp môn
tu hành của Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ này không thể
giải thoát được thân tâm.
Chỉ
vì TL không hiểu pháp môn Thiền, và không tu tập theo đúng
đường lốị Vậy mà ở đoạn trên lại khoe là " Gần
chín năm miệt mài tu hành, tôi ngộ tất cả công án thiền
tông ",. Chuyện "ngộ tất cả công án" này làm sao có thật
được. Trong Thiền tông cũng chắc chưa ai khoe là ngộ được
nhiều công án như thế.
Theo
lộ trình "Tam Vô Lậu Học, sống đúng giới hạnh, lấy giới
luật phòng hộ sáu căn, đời sống thiểu dục tri túc, ít
muốn, biết đủ, luôn theo pháp Ðịnh Tư Cụ, ngăn ác, diệt
ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện. Nhờ đó, kết quả
tâm hồn thanh thản, an lạc, tâm thường quay vô, không phóng
dật, biết rõ những hoạt động trong nội thân, tâm luôn
không để ý sáu trần, nên thấy rõ thân tâm có một cuộc
sống giải thoát an lạc, vô sự.
Càng
giữ gìn giới luật, càng tu tập Tứ chánh cần thì kết quả
thân tâm giải thoát rất rõ ràng và cụ thể. Càng tu
lại càng ham thích, tự tâm siêng năng và tinh tấn không cần
cố gắng nhiều và bắt buộc mình, tự nó siêng năng tinh
tấn.
Không
ai nói pháp Thiền có nguồn gốc Tiểu Thừa không đem lại
kết quả tốt cho người tu tập. Nhưng mỗi người có một
mục đích riêng trên đường tu học, và họ chọn pháp Thiền
nào giúp đạt tới muc. đích riêng của họ Ở Đaị Thừa
và Thiền Tông pháp Thiền nhắm đạt tới trí tuệ giải thoát,
hơn là dừng lại ở tâm an chỉ, thanh tịnh.
Tôi
trở về pháp môn Nguyên Thủy tu tập chỉ trong vòng sáu tháng,
làm chủ được tâm, không còn thấy các pháp như mộng, như
huyễn, sáu trần như hoa đốm giữa hư không nữa mà lại
được giải thoát.
Kinh
ghi,
Thích
Thông Lạc.
Tu
Viện Chơn Như
Ngày
11- 12- 1998
Như
vậy là HT Thông Lạc dừng lại ở "Pháp Hữu" (và Ngã
không ?) . Vậy cũng không là điều lạ khi ông từ bỏ pháp
Thiền Đại Thừa, chê bai lời giảng trong kinh Kim Cang, cùng
chủ trương đi tới chỗ thể nghiệm được Ngã Pháp đều
không.
Nguyễn
Hòa
For
Printing or Down Load
Trở
Về Mục Lục