VÀI Ý NGHĨ
VỀ BÀI VIẾT CỦA HOẢ THƯỢNG THÔNG LẠC (8)
Nguyễn
Hòa
(Nét
chữ mầu đen là nguyên bản của HT Thông Lạc.
Nét
chữ mầu xanh đậm là của Nguyễn Hòa)
Đường Về
Xứ Phật Tập 8
Lời nói đầu
Sau
khi đọc xong tập 4, tập 5 và tập 6 "Ðường Về Xứ Phật",
quý vị đã thấy rõ âm mưu thâm độc của Bà La Môn Giáo,
họ có thâm ý từ xưa quyết tâm diệt Phật Giáo trên hành
tinh này, nên đã khéo léo lồng giáo pháp của mình vào kinh
sách của Ðạo Phật để rồi biến Bà La Môn Giáo trở thành
Phật Giáo Ðại Thừa bằng những bài kinh gạch nối trong
các bộ kinh A Hàm, nhất là bộ kinh Tăng Nhất A Hàm, để
ngang nhiên khinh chê hạ liệt giáo lý chân chánh của Ðạo
Phật thành giáo lý Tiểu Thừa.
Khi
chống PG Đại Thừa, HT Thông Lạc sử dụng ngôn từ nghe rất
quen trên đài, và báo trong nước, như :"âm mưu thâm độc",
"bao che sự gian ác", v.v.., là một chuyện lạ, đáng nghĩ
ngợị Đây không phải là chuyện đối pháp, dù là tranh cãi
gay gắt, mà như trận chiến một mất một còn giữa hai tư
tưởng hệ, hai tôn giáo (?) không muốn cùng đội chung
trời . Cũng may là "Tiểu Thừa " và Đại Thừa hiện vẫn
còn tồn tại song song dưới bầu trời này, và đều giúp
cho Phật giáo phát triển, rộng ra khắp thế giớị.
TL
tố cáo PG Đại Thừa là Bà La Môn giáo thì hoàn toàn không
đúng, vì Đại Thừ a cũng không chấp nhận cái Ngã theo quan
niệm Bà La Môn, không đưa Phạm Thiên hay các vị thần linh
của Bà La môn vào Phật giáọ Các vị cổ Phật và Bồ Tát
của Đại Thừa không liên hệ gì với Bà La Môn. Chỉ có
Mật giáo Ấn độ và Mật tông Tây Tạng có vài phần gần
gũi, nhưng cũng không giống nhau hẳn. Dù sao, phải nhận Phật
giáo xuất phát từ Bà La Môn giáo, chấp nhận cũng như bác
bỏ một số giáo ly, cách tu tập của Bà La Môn. Như đã viết
đó là những quan niệm về Nghiệp lực, nhân quả, luân hồi,
niết bàn, cõi ta bà, các tầng trời, pháp Thiền Định, ăn
chay, tụng niệm, trì chú, v.v...Tất nhiên, có nhiều thứ
rất khác giữa Phật giáo và Bà La môn, vì Phật giáo đã
tiếp nhận những gì từ Bà La Môn giáo của truyền thống
Ấn Độ, một cách có chọn lọc, và sau đó cải tiến,
thay đổi nhiều thứ. Với một tinh thần cởi mở rộng rãi,
người ta có thể tìm hiểu Bà La Môn để hiểu Phật giáo
hơn, ít ra để hiểu đ+ợc tại sao Đức Thích Ca đã từ
bỏ đạo Bà La Môn đồng thời đã giữ lại một số giáo
lý, cách hành trì. Những vị cao tăng đầu tiên và sau này
của Phật giáo, dù thuộc Tiểu Thừa hay Ddại Thừa, thường
xuất thân từ truyền thống Bà La môn, thường có học
thức sâu rộng , nên giảng pháp tinh tường , biện luận
sâu sắc khi xiển dương Phật pháp. Sau cùng thì đạo Bà La
Môn cũng không có gì là xấu, tôi muốn nói không phải là
thứ tà đạo ghê gớm như cách nhìn của ông Thông Lạc. Bây
giờ được cách tân , có vay mượn ít nhiều tư Phật giáo,
nó trở thành Ấn độ giáo, có được gần một tỷ tín đồ
và cũng truyền bá rộng ra thế giới, qua các hình thức như
Yoga, Thiền Định. Sự tiếp nhận, trao đổi những gì hay
tốt, hoặc tinh hoa giũa các tôn giáo là chuyện thường , miễn
là không làm mất chỗ cốt lõi, bản sắc riêng của tôn giáo
mình.
Vì
trong kinh sách Ðại Thừa đã hù dọa người ta như vầy: "Nếu
Phật tử có tâm quan niệm trái bỏ kinh luật Ðại Thừa thường
trụ, cho rằng không phải của Phật nói mà đi thọ trì kinh
luật tà kiến và tất cả các giới của Thanh Văn, Nhị Thừa
cùng ngoại đạo ác kiến, Phật tử này phạm khinh cấu tội".
Ðó là những lời hăm dọa trong kinh "Phạm Võng" đã in thành
sách, do Hòa Thượng Trí Tịnh lược giảng, câu kinh trên ở
trang 144. Ðây là bằng chứng rất cụ thể đã in thành
kinh sách giấy trắng mực đen thì không còn ai muốn bao che
sự gian ác của Ðại Thừa Giáo được.
Từ
thời Phật giáo chia thành bộ phái và sau đó có Tiểu Thừa
với Đại Thừa, thì cả hai bên (hay nhiều bên) đều cố
giữ gìn giáo nghĩa và giáo đồ riêng , đồng thời bài xích
các nhóm khác, nhất là khi có gì khác biệt nhaụ Chuyện đó
kéo dài cả ngàn năm, cho nên những lời lẽ không tốt đẹp,
hay nặng nề dành cho nhau là chuyện hiểu được. Điều quan
trọng là phải nhận thức được chuyện đó
đã thuộc về quá khứ, qua đã lâu, và không nên để
lòng sân hận vì một câu viết, lời nói từ hai ngàn
năm trước, trong lúc tranh biện giữa hai nhóm cùng một lý
tưởng giải thoát.
Cuối
cùng Bà La Môn Giáo quét sạch Phật Giáo Tiểu Thừa với chiêu
bài "Đức Phật Di Lặc là Giáo Chủ Phật Giáo thời vị lai".
Như thế người ta thay đổi Giáo Chủ của một tôn giáo như
thay đổi một nhà vua trong thời phong kiến mà tất cả tín
d-ồ Phật Giáo không hề hay biết, mà vẫn còn ủng hộ đấng
Giáo Chủ nàỵ Thật là Bà La Môn Giáo rất khéo léo
trong việc lật đổ Đức Phật Thích Ca Mâu Nị
Tư
tưởng về Di Lặc và tịnh độ của ngài đã thấy ở
kinh A Hàm, là kinh điển Tiểu Thừa bản Phạn ngữ được
dịch ra Hán tự Tên Di Lặc viết bằng Phạn ngữ là
Maitreya, và bằng chữ Pali là Metteyyạ. Cho nên khi tốcáo
Di Lặc là ông Phật (hay Bồ Tát) riêng của Đại Thừa thì
HT Thông Lạc không biết đến các điều trên. Tuy nhiên, ngài
Di Lặc được nhắc tới và kính trọng nhiều hơn trong kinh
điển Đại Thừa, và được Mật tông Tây Tạng thờ cúng
rộng rãị. Đại Thừa có truyền thuyết là Di Lặc sẽ
thành Phật dước cây Long Hoa, sẽ giảng pháp ba
hội để giáo hoá chúng sinh và tịnh hoá nhân gian
, vào một thời đại trong tương lai còn rất xạ
Ðại
Thừa Giáo đã biến Phật Giáo thành ba tông phái lớn ở khắp
thế giới:
1- Thần Giáo (Tịnh Ðộ Tông)
2- Huyền Bí Giáo (Mật Tông)
3- Hữu Ngã Giáo (Thiền Tông)
Với
mục đích thâm độc đưa ra ba tông phái như ba mũi tên độc
nhắm bắn vào một mục tiêu là "tín đồ Phật Giáo", cho
nên toàn thể tín đồ Phật Giáo không thể có một người
nào thoát khỏi ba mũi tên độc này; nếu không bị mũi tên
này thì lại dính mũi tên kia.
Những
tín đồ bình dân ít học và phụ nữ thì rơi vào Tịnh Độ
mê tín, cúng bái, cầu khẩn, tụng kinh, niệm Phật, xin xăm,
bói quẻ, cầu siêu, cầu an, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ
tốt xấu, làm ma chay, cúng vong, tiển linh, làm tuần, mở cửa
mã, v.v...
Về
Thần giáo có lẽ HT TL muốn chỉ các tôn giáo thờ Thượng
Đế và Thần linh (God và gods). Như thế thì Tịnh Độ tông
của Đại Thừa không giống thần giáo chút nàọ Thượng
Đế được tin là tạo ra vũ trụ và loài người, còn thần
linh thì giúp thượng đế làm các việc quản trị, do đó
con người có bổn phận tôn thờ cả hai . Ở Nhất thần giáo
như Thiên chúa giáo, Hồi giáo chỉ có thượng đế được
tôn thờ, và giáo lý của đạo là lơì dạy đến từ thượng
đế mà loài người phải theo giữ để khi chết được lên
thiên đàng vĩnh viễn sống sung sướng với thương đế, bằng
làm trái lời dạy sẽ bị đày xuống điạ ngục khổ sở
đời đờị
Tịnh
Độ tông chấp nhận tất cả lơì dạy của Phật Thích Ca
được chép trong kinh điển Phật giáo, và giữ giới luật
chung của đạo Phật. Nhưng trong hành trì tu tập họ dồn
nhiều nỗ lực vào việc niêm danh hiệu, và quán tưởng hình
ảnh Phật A Di Đà, và tin nếu giữ được nhất tâm bất
loạn (như vào Định) khi chết họ sẽ tái sinh vào cõi
Tịnh Độ hay thế giới Cực Lạc ở tây phương do Phật
A Di Đà phát nguyện lập ra để cứu độ những ai có tín
tâm ở ngàị Nơi đó có nhiều thuận tiện để họ tiếp
tục tiến tu hoàn thành Phật quả.
Vậy
Tịnh Độ tông là một tông phái Đại Thừa lấy viêc. niệm
Phật, quán tuởng, tín tâm ở Phật A Dia Đà làm trọng điểm
tu hành. Vì trông chờ ở sự cứu độ từ vị Phật
bên ngoài nên gọi là trông cậy ở tha lực (không phải ở
sức chính mình) , và phải có nhiều lòng tin để làm động
lực tu tập, cho nên ngay trong Đại Thừa cũng có nhiều tông
phái khác chỉ trích Tịnh Đô ., nhất là Thiền Tông lấy
việc tự lực tham thiền làm chính.
Nói
chung thì pháp môn Niệm Phật và Quán tưởng hình tượng Phật
cũng đã có ở kinh điển Đại Thừa trước khi trình bày
trong các kinh riêng của Tịnh Độ Tông, và phát triển thành
cách tu tập quán niệm riêng của Tịnh Độ Theo D.T. Suzuki,
kinh Văn Thù Vấn đã đề cập đến một thứ Đại Định
(Sammadhi) được gọi là Nhất Hành Tam muội :
"Nếu
thiện nam, thiện nữ muốn nhập Nhất Hành Tam muội, phải
ngồi ở nơi vắng vẻ, bỏ hết thảy tư tưởng tạp loạn,
không nghĩ đến các tướng , chuyên tâm buộc niệm vào một
đức Như Lai, giữ chặt danh tự, và khéo nghĩ dung nghi
của ngàị..".
Pháp
môn này sau được khai triển xa hơn trong các kinh Tịnh Độ
tông thành "trì danh và quán tưởng " đức Phật A Di Đà.
Bây giờ ở hình thức tu tập đơn giản nhất (cho người
căn cơ thấp ?) chỉ còn thấy áp dụng cách trì danh Phật
A Di Đà.
Những
tín đồ bình dân ít học và phụ nữ thì rơi vào Tịnh Độ
mê tín, cúng bái, cầu khẩn, tụng kinh, niệm Phật, xin xăm,
bói quẻ, cầu siêu, cầu an, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ
tốt xấu, làm ma chay, cúng vong, tiển linh, làm tuần, mở cửa
mã, v.v...
Niệm
Phật thì trong Tiểu Thừa cũng đã có, nhưng chỉ niệm "Nam
Mô Phật". Còn những thứ mà HT Thông Lạc kết tội Tịnh
Độ tông như :" xin xăm, bói quẻ,
cầu siêu, cầu an, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu,
làm ma chay, cúng vong, tiển linh, làm tuần, mở cửa mã, v.v...
".,
thì không hề là của Tịnh Độ tông. Đó là những hình thức
tập tục, tín ngưỡng trong dân gian, hay đạo giáo khác,
có gốc rễ của VN hay từ Trung quốc trước khi đạo Phật
truyền bá tới, và những người theo đạo Phật không có
ý thức về nguồn gốc những điều đó đã đưa vào chùa,
hay các sư tăng phải chiều theo ý muốn của "thập phương
bá tánh".. Có nhiều điều cũng chẳng hại gì, còn những
thứ khác thì cuộc sống văn minh mới và tinh thần Phật giáo
thuần thành sẽ xoá dần đi .
Những
tín đồ ham mê thần thông, những sự huyền bí linh hiển
thì lại rơi vào Mật Tông chuyên bắt ấn, niệm chú, luyện
bùa, trị bệnh tà ma, quỉ quái, đàng dưới, bà Thuỷ, Long
Vương, v.v...
Mật
tông Tây Tạng có bắt ấn, niệm chú, và đều là phương
thức tu hành riêng. Còn những thứ khác thì không thấy có
trong đạo Phật, mà thuộc về niềm tin dân gian với
nhiều mê tín, có khi từ nguồn gốc Trung Hoa, như bà Thủy,
Long vương.
Các
thiền sư Nam Tông mặc dù họ đang học tu theo giáo pháp Nguyên
Thủy, nhưng lại tu sai lời Phật dạy, lấy hơi thở hoặc
dùng cơ bụng (phình xẹp) hoặc tập trung chú ý quá sức vào
các hành d-ộng ngoại thân như đi, đứng, nằm, ngồi, mặc
y, mang bát, ăn, uống, v.v... ức chế tâm đến quá độ làm
cho ý thức ngưng hoạt động để rồi tưởng thức hoạt
động, khiến cho thân tâm sanh cảm giác "xúc tưởng hỷ lạc".
Các sư lầm tưởng đó là trạng thái hỷ lạc của thiền
định nên cố giữ và ôm chặt các trạng thái hỷ lạc tưởng
thức. Gặp trạng thái này các sư đều bị chết chìm
trong pháp d-ịnh tưởng nàỵ Lối tu như vậy, các sư
Nam Tông, do không có thiện hữu tri thức có kinh nghiệm nhập
Bốn Thánh Định và Tam Minh hướng dẫn, nên lạc vào thiền
tưởng giống như Thiền Đông Độ. Chứng minh cụ thể
như thiền sư Nam Tông A Jaan Chah khi trả lời những câu hỏi
đạo, ngôn ngữ của Ngài giống như thiền sư Đông Độ.
Tới
đây thì HT Thông Lạc công kích Nam Tông, cho là có nguồn gốc
Tiểu Thừa thì cũng gần với tông phái HT TL đang theọ Pháp
tu TL kể trên của Thiền Tuệ Sát ( Vipassana) thịnh hành ở
Miến, Thái đúng là cũng không phải Thiền Định của thời
Phật giáo nguyên thủỵ Nhưng từ lời dạy của Đức
Phật về Thiền Quán Niệm hơi thở, sống với hiện tại,
giữ chánh niệm, họ phát triển qua thời gian dài thành Thiền
Tuệ Sát hay Minh Sát ngày naỵ Chuyện tương tợ đã xảy ra
cho các pháp Thiền Định của Đại Thừa, và Thiền Tông,
Mật tông. Cách tu tập Tứ Thiền Định (và Tứ Niệm xứ)
như của HT TL thì Nam Tông vẫn còn bảo tồn (như ở Tích
Lan), nhưng không phải vì nó cổ xưa hơn (gần gốc Bà La Môn
hơn) mà chê bai lối tu tập được phát triển sau nàỵ
Còn
lối tu của thiền sư A Jaan Chah, nay cũng được nhiều người
biết tới, thì hãy để các sư tăng Thái Lan nhận định.
Thiền
Tông xây dựng một giáo lý tưởng tượng tuyệt đối "Bản
thể vạn hữu"còn gọi là "Phật tánh" với những lý luận
khéo léo, khiến cho các nhà khoa học lầm tưởng đó là khoa
học tâm linh. Nhưng đó chỉ là những mánh khóe lừa
đảo giới trí thức và các nhà khoa học. Vì thế sự
tu hành của họ cũng chẳng đi đến đâu cả, có nghĩa là
họ chưa làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp ngườị
Thiền
tông được HT Thông Lạc gán cho danh từ "hữu ngã giáo" như
trên là vì Thiền Tông chủ trương "Tâm tức Phật", con người
có tự tánh hay bản tâm, Phật tánh. Tu để chứng ngộ tức
là đạt tới chỗ "kiến Tánh", thể nhập được chân tâm,
Pháp tánh.
Về
phần đó, Thiền Tông đã tiếp nhận quan điểm Phật Tánh
của trường phái Du Già hành (Duy Thức tông ). Nhưng mặt khác,
Thiền Tông cũng chấp nhận quan điểm Không của trường phái
Bát Nhã , Trung quán luận, và chân tâm, chân như được
nhìn sâu ở chỗ bản thể tuyệt đối, để thấy cũng là
Không Tánh. Cái Không Tánh của Đại Thừa xây dựng từ quan
điểm về vô ngã, nhưng còn đi xa hơn vô ngã, cho nên không
thể cho đó là chủ trương "hữu ngã" (của Bà La Môn). Thật
ra, Thiền Tông dùng từ Không nhiều hơn dùng Vô, vì Vô như
mang ý nghĩa chẳng còn có gì hết, thấy trong chữ "hư vô",
trong khi Không trong "hư không" cho thấy cái gì đó tuy không
nắm bắt được, nhưng không phải là không có. Cái Không
ở đây vượt lên cái nhìn thiên kiến về hữu
và vô, đứng ở chỗ trung đạo, để thấy được đường
ranh cựa kỳ nhỏ nhiệm giữa chân không và diệu hữu, hay
thật ra không còn có đường ranh phân chia nào nữa đó, mà
hoà quyện thành một : chân không chính là diệu hữụ
Tất nhiên, phải có cái nhìn quán chiếu thâm sâu của
các bồ tát Đại Thừa mới thấy được tơ"i chỗ vô cùng
vi tế đó. Ở chỗ đó thì chuyện có hay không sẽ không còn
là vấn đề. Nói chung, khi nhấn mạnh về bản Tâm, Tự Tánh,
thì đồng thời Thiền Tông lại hướng về cái Không nhiều
nhất so với các tông phái khác trong Phật giáọ
Trong
thế gian này, ai là người đã tu theo đạo Phật, sống đúng
giới hạnh, đạt được cứu cánh, nhập Bốn Thánh định,
thực hiện Tam Minh. Nếu quan sát nhìn chung khắp trên
thế giới hiện giờ chưa có một người nào thực hiện được
thì làm sao dạy tu tập theo đường lối của đạo Phật cho
đúng được, hầu hết đều dạy tu hành sai, theo kiến giải,
tưởng giải của mình, đó là cách thức tu mò, chứ không
đúng như lời của đức Phật đã dạy trong các kinh, vì không
có kinh nghiệm tu hành đúng như pháp và tu đến nơi đến
chốn.
Khi
HT Thông Lạc tự cho là nhập được bốn Định, có được
Tam Minh, thì nhiều người VN khác cũng tự cho là nhập được
Bát Định, đắc được Lục Thông. Nhưng có gì chứng
tỏ được là họ nói thật cái mức chứng đắc của họ
không. Có lẽ chỉ cần nhìn vào cái trí tuệ mà họ
"đắc" được. Nhìn lại lịch sử Phật giáo Tiểu Thừa,
có ai thấy được giảng sư đắc pháp nàọ, hay bậc A La
Hán nào giảng pháp như HT Thông Lạc hay không. Chắc là không
có, vì không thấy vị nào có lối nói vê ` đạo Phật
cạn cợt, sai lạc, không trí tuệ, và bằng ngôn ngữ mạ
lỵ nặng nề của thế gian.
Cho
nên thầy trò truyền nhau, mà chẳng có người nào tu đến
đâu cả, chỉ dậm chân tại chỗ, rồi lý luận nào là Bồ
Tát còn tạp khí; nào là tùy duyên tiêu cựu nghiệp; nào là
thấy các pháp như mộng như huyễn (Nhất thiết hữu vi pháp,
như mộng như huyễn v.v..), nào là thấy sáu trần như hoa đốm
giữa hư không v.v... và v.v... đó là những danh từ lý thuyết
suông mà thôi, chẳng có pháp hành, nên khó thực hiện được
giải thoát.
Tư
tưởng trong kinh Kim Cang Bát Nhã được dẫn ra này
quả là sâu kín, dành cho các bậc trí tuệ thượng thừạ
Nắm bắt được tư tưởng này thì đương nhiên hành được.
Có thể ai có trí tuệ cao tột sẽ như Lục Tổ Huệ Năng
của Thiền tông khi ngài ngộ ý nghĩa của câu "Ưng vô
sở trụ nhi sinh kỳ tâm" trong quyển kinh đó, và thấy được
pháp hành . Hay là từ chỗ thấy được cái
Như Huyễn, phi thực của vạn hữu nói trong kinh , người tầm
đạo sẽ đi tới chỗ Hành Thiền Như Huyễn của kinh Viên
Giác. Kinh văn Phật giáo Đại Thừa nhiều như rừng, không
thể dừng lại ở một gốc cây rồi cho là không thấy rừng
ở đâu, hay cho tất cả rừng chỉ là một gốc cây đang ôm.
Những điều HT Thông Lạc trích ra ở trên để phê bình
kinh Kim Cang là kinh nói chưa đủ pháp giải thoát, nhưng kinh
Kim Cang chỉ là một phần nhỏ nằm trong vài chục bộ kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đạ Dù sao, HT Thông Lạc nên đọc
kỹ và nếu cần phê phán ngay trên quyển dịch và giảng kinh
Kim Cang của HT Thanh Từ.
Nếu
bảo rằng vô ngã như trong kinh Đại Thừa đã dạy, thì Đức
Phật đu không tự xưng "Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn"; nếu
bảo rằng vô ngã như trong kinh Đại Thừa thì Đức Phật
không tự xưng:
"Trên trời dưới trời,
Khắp trong thế gian,
Ta người duy nhất,
Vượt qua sanh, già, bịnh, chết"
HT
Thông Lạc muốn nói kinh Đại Thừa khi dạy Vô ngã mà nói
mọi thứ như huyễn, như ảo theo lời trích kinh ở đoạn
trên kia, là sai lạc (theo Thông Lạc). Nhưng khi kinh
Đại Thừa nói vạn pháp như mộng, huyễn, ảo, là để chỉ
cái tính chất giả tạm, giả hợp, giả danh , không
có thực thể của vạn pháp , thì không có gì sai với thuyết
vô ngã ban đầu của Phật giáọ Vô ngã chỉ dùng để
nhận thức thấy được thân tâm, vạn pháp, luôn luôn thay
đổi, không trường tồn, vì không có tự tính riêng, và khi
nhìn như thế một cách sâu sắc thì thấy được vạn hữu
được biểu hiện ra bằng những hình tượng tạm thời
giống như mộng, huyễn, ảo, không thực.Và từ đó phá được
cái chấp có ngã , có ngã sở (những gì cho là thuộc về
ngã) là đầu mối của nhận thức và hành động sai lầm
đưa đến đau khổ cho mình và cho ngườị Kinh Kim Cang khi
dạy phá tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng
thọ giả là dạy phá chấp ngã, phá chấp pháp một cách đúng
đắn và đến mức thật sâụ Như thế rất khác xa với
kinh điển (hữu ngã) của Bà La Môn mà HT TL có ý gán ghép
với kinh điển Đại Thừạ
Đạo
Phật chủ trương lấy thiện diệt ác, lấy đạo đức nhân
quả làm cuộc sống của mình không làm khổ mình khổ ngườị
Từ chỗ này chúng ta suy ra đ thấy đạo Phật không mâu thuẩn,
vì đạo Phật "Vô ngã ác pháp chứ không phải vô ngã thiện
pháp". Nếu chúng ta tu hành vô ngã cả thiện pháp và
lẫn ác pháp thì hóa ra chúng ta là cây, là đá; cây, đá là
một loại vô tri vô giác, đó là cái vô ngã của Đại Thừạ
đạo Phật không có vô ngã như kiểu đó.
Vả
lại, đức Phật dạy chúng ta quán Tứ Niệm Xứ: "Vô thường,
khổ, vô ngã". Chữ vô ngã ở đây chỉ cho chúng ta thấu
rõ thân, thọ, tâm, và pháp không có ngã tức là trong bốn
chỗ này không có cái gì là ta, của tạ Các nhà học
giả d-ã lầm chỗ pháp hành để ly dục ly ác pháp nhập Sơ
Thiền cho là "Đạo Phật Vô ngã".
Nếu
chúng ta tu hành để trở thành cây, đá thì chúng ta tu để
làm gì?
Cái
vô ngã đó chỉ là một lý luận suông, danh từ chữ nghĩa,
chứ đã là con người thì không thể tu tập đạt kết quả
vô ngã như vậy được.
Tới
đây thì Thông Lạc hiểu chưa đúng đắn, sai lạc
về Vô Ngã. Cái Vô ngã của Đại Thừa, trình bày rõ nhất
trong kinh Kim Cang, phát xuất từ cái nhìn Vô Tướng để đi
tới chỗ Vô Sở Trụ. Những cái gọi là "thiện
pháp" như bố thí, phước đức,
ngay cả các tầng trời nhiều an lạc mà Tứ Thiền Định
đưa tới chỉ là "thiện"
một cách tương đối, cái này có thể thiện hơn cái kia nhưng
còn là bất thiện so với cái khác, và cần phải vượt qua
để đi tới chỗ vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà trong
kinh lại gọi là vô chứng, vô sở đắc. Kinh văn Đại Thừa
không phải đọc qua mà hiểu được, rồi do không hiểu
thấu mà xuyên tạc.
Trong
khi chúng ta đang cần có một đạo đức làm người, không
làm khổ mình khổ người, thì Phật Giáo Nguyên Thủy đã
có đầy đủ những pháp môn dạy về đạo đức như vậy,
thế mà Đại Thừa Giáo đã dìm mất đi và biến đổi đạo
đức Phật Giáo trở thành một thứ đạo đức nhân quả
mê tín, tạo ra cảnh địa ngục hù dọa tín đồ, để lường
gạt tín đồ bằng cách cúng bái, cầu xin, v.v...
Cái
chủ trương của HT Thông Lạc đã nhiều lần lặp lại là
dừng ơ" chỗ
" một đạo đức làm người ",
cũng chưa chắc là đạo đức của các A La Hán. Trong khi đạo
Phật Đại Thừa đề cao một đạo đức của Bồ Tát quyết
tâm đi đến giải thoát, mà cũng còn giữ nhiều liên
hệ với con người qua ý nguyện và hành động độ sinh.
Mục
đích của đạo Phật ra đời là nhằm giải quyết bốn sự
khổ của kiếp làm người, tức là giải quyết giúp tâm bất
động trước các pháp và các cảm thọ, chứ không phải đi
tìm một "Phật Tánh cao siêu tuyệt vời".
Thì
đây là mục đích khác biệt giữ hai bên. Đạo Phật của
Thông Lạc và những người theo ông đi tìm cách chấm dứt
phiền não, đau khổ, bằng cách "giúp
tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ".
Như vậy vô tình Thông Lạc đi đến chỗ ông đã chỉ trích
ở trên về đạo Phật mà ông nói là của Đại Thừa
: trở thành vô giác, vô tri như gỗ đá. Một số người khác
theo Phật mong cầu đạt tới quả vị Phật, chẳng những
hết khổ đau, phiền não của cõi ta bà, mà đi vào được
chỗ an lạc, thường hằng. Có người còn muốn thâm
nhập vào lý tính tuyệt đối của Pháp Thân. Vậy thì phải
chấp nhận mỗi người theo đuổi một lý tưởng , một đường
tu giải thoát khác nhau, tuỳ theo nhận thức của họ về đạo
Phật. Phật pháp bao la, không ai biết hết, nói hết được
. Không nên dựa vào cái thấy từ chỗ đứng của mình để
chỉ trích điều mình không biết về cái thấy của người
khác từ chỗ đứng khác .
Người
tu theo Phật Giáo Nguyên Thủy đã thực hiện được đạo
đức nhân quả là người đã ly dục ly ác pháp; người đã
ly dục ly ác pháp là người nhập Sơ Thiền; người đã nhập
được Sơ Thiền là người nhập được bất động tâm định;
người đã nhập được bất động tâm định là người đã
sống trọn vẹn đạo đức nhân quả tức là sống toàn thiện.
Chính nơi đây chúng ta đã đạt được mục đích của đạo
Phật "ly dục ly ác pháp". Đó là kinh sách Nguyên Thủy
đã từng dạy như vậỵ Còn kinh sách Đại Thừa lại
dạy khác hơn: "Kiến tánh thành Phật", chỉ thấy tánh mới
thành Phật, còn không thấy tánh thì chưa thành Phật.
Pháp
Thiền HT Thông Lạc đang tu tập, ở đây là Sơ Thiền, còn
thấp vì mới " ly dục ly ác pháp
" chỉ là kết quả tiêu cưc, để rồi nếu tiến dần lên
sẽ tới Tứ Thiền, nhằm mục đích được lại an lạc cho
thân tâm. Và hành giả cũng tin nếu đắc Thiền nào khi
chết sẽ lên các tầng trời tương ứng của Tứ Thiền Thiên
. Đó là chủ trương ban đầu của ngoại đạo, của Bà La
Môn ngày xưạ. Đạo Phật không hề cho tu tập Tứ Thiền
Định sẽ đưa tới giải thoát, tuy cũng dùng ở bước đầu
để có được định lực, và thanh tịnh. Còn "kiến
Tánh" tức thể nhập vào được
Tự Tánh của mình thì theo Thiền Tông sẽ được chứng ngộ,
là khởi đầu đi tới giải thoát. Vì Thiền Tông
còn nói " Kiến Tánh khởi tu",
từ sau khi kiến tánh mới hiểu rõ con đường tu hành của
mình là đúng đắn.
Tu
theo đạo Phật, qua sự hiểu biết nông cạn của tôi, chẳng
phải tu để làm Phật mà để được thoát ra khỏi bốn sự
đau khổ của kiếp làm ngườị Khi tôi tu đến đây,
tôi biết rõ tâm mình bất động trước các pháp, dù trong
hoàn cảnh nào tôi vẫn thấy tâm mình an vui và thanh thản,
vì đã sống một đời sống đạo đức không làm khổ mình
khổ người, như thế tôi cũng hạnh phúc lắm rồi, tôi không
dám đòi hỏi những cái cao siêu, huyền bí hơn: làm Phật,
Thánh, Tiên, v.v... và cũng không dám mơ thần thông, phép tắt,
tàng hình, biến hóa, kêu mây, gọi gió, biết chuyện quá khứ
vị lai, v.v...
Thích
Thông Lạc.
Người
theo đạo Phật đều nghĩ tu để thành Phật, với nghĩa Phật
Đà (Buđdha) là giác giả, người giác ngộ, tức phá
bỏ được các lớp vô minh, phiền não dầy đặc đã che lấp,
trói buộc từ bao nhiêu kiếp sống. HT Thông Lạc tu Phật không
để thành Phật thì muốn thành gì ? Rõ ràng là không biết
tôn chỉ, mục đích của đạo Phật. Nhưng nếu TL không muốn
thành Phật thì làm sao thoát khỏi được sinh tử, luân hồi,
tức ra khỏi cái vòng sinh, lão, bệnh , tử. Rõ ràng lý
lẽ không thông suốt. Sau cùng, ông Thông Lạc nói là
không mơ (không phải ai cũng mơ) thần thông, biết chuyện
quá khứ vị lai, thì tại sao lại khoe là có được Tam Minh
(thần thông thấy được nhiều kiếp). Như vậy là lời lẽ
bất minh.
Nguyễn
Hòa
From:
vuong van <vuongvanvan@..>
Date:
Mon Jun 30, 2003 3:10 am
Subject:
Re: [hoasen-1] Vài ý nghĩ về bài viết của HT Thông Lạc
Chào
D/H Hoà,
Rất
tiếc bài viết này TL không đề cập gì đến giáo lý
& tông phái nào của BLM đã " tự biến" BLM thành PGDT.
BLM
với 5000 năm truyền thôn'g đã phát triển lên tới tột cùng
ở Ấn Độ xây dựng hoàn thành hệ thống tôn giáo thống
trị vững chắc và gần như độc tôn trong tư tưởng dân
Ấn kể từ giòng Maurya ( Giòng này có vua Acoka thời hưng
thịnh của PG Ấn Độ) bị sụp đổ vào thế kỷ 185
trước TL cho tới ngày naỵ BLM gốc thuộc phái Vedas-Upanishads-Bhagavasgita-Vedanta
đã hoàn toàn đồng hoá và triển khai các môn phái triết
học tâm linh rất danh tiếng khác có rất lâu đời :Kỳ Na,
Samkhya, Yoga, Vaicesica thành Ấn Độ Giáo hay BLM. Trong
lịch sử nền tư tưởng của Ấn Đô, đã sớm ảnh hưởng
đến văn minh Hy Lạp, Cận Ddông. Sách sử chép rằng Pythagore
đã từng học đạo ở Ấn Độ trở về Hy Lạp thành lập
1 học phái lừng lẫy sau nàỵ Chính phần lớn tư tưởng
Ấn Độ Giáo tạo dân tộc Ấn thiên trọng về siêu
hình học về tâm linh học sản sinh ra ra những tu sĩ hoặc
triết gia siêu phàm hơn hẳn bất cứ 1 dân tộc nào khác.
Với
sự phát triển huy hoàng như thế - cho rằng : BLM tự biến
thành PGDT (một cách hạ mình không chút danh dự như thế)là
hoàn toàn vô căn cứ và coi thường hệ thống tư tưởng BLM
một cách qúa đáng nếu không nói là không biết gì về BLM
cả.
Trước
sự hưng thịnh của BLM kể từ năm 185 BC phong trào phát triển
triết học siêu hình trong PG nhằm chống đở sự truyền bá
của BLM đánh dấu sự phát triển của PGDT, các luận sư lừng
danh Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước và Thế Thân đã lần lần
trước tác các kinh luận gây âm hưởng rất lớn trên đất
Ấn từ 185 BC tới thế kỷ thứ 9. Sau đó phong trào PG dần
dần bị sút kém ở Ấn va truyền bá một cách sương thạnh
ở bên ngoài như Tây Tạng, TH, Cao Ly, Mông cổ , NB, VN,
TLan, MĐiện..Trên đất Ấn PGTH còn giữ được ảnh
hưởng ở Tích Lan mà thôị
Ngày
nay, ở Ấn Ddộ, BLM vẫn ở thế thượng phong - PGTT &
DT vẫn ở thế thua kém - cho rằng BLM âm mưu dùng DT dể tiêu
diệt TT không thuận tai chút nàọ
Phải
chi đưa ra chứng cớ hoặc lý luận về tư tưởng mới có
chuyện nói được - Còn không chỉ là lời vu khống không
hơn không kém.
VVV
For
Printing or Down Load
Trở
Về Mục Lục