VII
. PHẨM PHÂN BIỆT TRÍ
Phẩm
Hiền Thánh đã nói rõ quả vị vô lậu, giác ngộ. Còn nhân
duyên vô lậu dẫn đến kết quả đó chính là trí tuệ và
thiền định. Trí tuệ là thân nhân, thiền định là sơ duyên,
nên trí tuệ được phân biệt giảng giải trước trong phẩm
Trí này. Ðặc sắc của trí là tính quyết định đối với
sự lý các pháp, đặc sắc của tuệ là tính phân biệt rõ
ràng sự lý các pháp. Tuy nhiên trí và tuệ cũng cùng một
thể, nên có khi nói trí, có khi nói tuệ mà nghĩa cũng như
nhau. Vì vậy trong bản dịch cũ để là phẩm Phân biệt Tuệ.
Chẳng những thế, trí hoặc tụê còn được gọi bằng nhiều
tên tùy theo tác dụng đặc thù của nó như quán, nhẫn, kiến,
quang, minh, giác, phương tiện v.v... cho đến chánh kiến, chánh
tư duy, trạch pháp v.v... trong 37 đạo phẩm. Tu hành cố nhiên
cần có trí tuệ mới khỏi bị lạc đường mà giác ngộ
cũng cần có trí tuệ mới rốt ráo viên mãn. Kinh A-hàm nói:
"Minh (trí) vi nhất thiết thiện pháp chi căn bản". Do đó,
kế tiếp phẩm Hiền Thánh tất phải là phẩm Trí Tuệ. Phẩm
Trí này gồm 61 bài tụng, chia ra hai đọan lớn: I. Nói về
các trí sai biệt gồm 33 bài tụng. II. Nói về công đức do
Trí thành đạt được gồm hai mươi tám bài tụng.
| Khoa
mục phẩm Trí |
Các
trí sai biệt |
-
Nhẫn, Trí, Kiến
-10
Trí
-
Hành tướng 10 Trí
-
các mặt của Trí |
| Công
đức do Trí thành đạt |
-Công
đức không chung
-
Công đức chung |
Ðoạn
I. CÁC TRÍ SAI BIỆT: (gồm bốn tiết)
*
TIẾT I: NHẪN, TRÍ, KIẾN SAI BIỆT
Chữ
nhẫn của phẩm này là trí tuệ. Muốn rõ trí tuệ trước
tiên hãy biện biệt nhẫn, trí, kiến. Vì ba thứ này đều
lấy tuệ tâm sở làm thể, như xưa nay từng nói: "Thể đ?ng
mà dụng khác". Thể đồng là ba thứ đều là tuệ tâm sở
trong Ðại địa pháp, nhưng vì tác dụng bất đồng mà lập
ra nhẫn, trí, kiến. Khi tuệ tâm sở với công dụng suy đạt
tầm cầu thì gọi là kiến, với công dụng quyết đoán thì
gọi là trí, với công dụng suy đạt nhẫn khả (chấp nhận)
thì gọi là nhẫn. Vì vậy cùng là tuệ mà có khi nhẫn chứ
không phải trí, có khi trí mà không phải kiến, có khi cả
trí và kiến mà không phải nhẫn. Trường hợp có nhẫn mà
không có trí như trong phẩm trước đây nói đến tám nhẫn
đối với tám đế của cõi Dục và hai cõi trên, như khổ
pháp trí nhẫn, khổ loại trí nhẫn v.v... Vì sao? Vì trong khi
nhẫn khởi lên, những điều nghi hoặc chính nó phải đoạn
trừ, thì chưa đoạn trừ được, nghĩa là nó chưa đạt đến
mức quyết đoán trước đối cảnh vậy. Luận Tỳ-bà-sa 95
nói: Tại sao Vô lậu nhẫn (chỉ tám nhẫn thuộc Kiến đạo
vị, chứ không phải nhẫn vị trong Tứ gia hạnh, hay là nhẫn
nhục, an thọ khổ nhẫn) chỉ gọi là nhẫn mà không phải
là trí?
Ðáp:
Vì vô lậu nhẫn đối với đế lý sở quán tuy nhẫn mà chưa
quyết, quán mà chưa thẩm xét, tầm cầu mà chưa rốt ráo,
tư sát mà chưa biết rõ, hiện quán mà chưa thuần thục, chỉ
có công dụng gia hạnh không ngừng, nên chỉ gọi là nhẫn,
không gọi là trí". Trái lại, tận trí, vô sanh trí như sẽ
nói dưới đây, là hai thứ trí được khởi lên ở vô học
vị, nó chỉ gọi là trí mà không gọi là kiến. Vì hai trí
này có khả năng quyết đoạn đối cảnh không còn phải suy
đạt tìm cầu nữa. Ngoài ra, tất cả vô lậu tuệ như tám
trí của Hữu học vị (đó là khổ pháp trí, khổ loại trí
v.v...) và chánh kiến của Vô học vị, đều có cả tính chất
trí và kiến mà không phải là nhẫn. Vì các vô lậu tuệ
này đã dứt hết nghi hoặc chính nó phải dứt (trí), lại
có tính suy đạt tìm cầu (kiến) và vì đã qua khỏi giai đoạn
ban đầu của sự thấy (sơ kiến) nên không gọi là nhẫn.
Trên
đây là phân biệt về vô lậu tuệ, còn hữu lậu tuệ thế
nào? Tất cả hữu lậu tuệ đều nhiếp thuộc về trí, vì
kẻ phàm phu từ vô thỉ có tâm thường quan sát đối cảnh
nên chính đó là trí, không thế gọi là nhẫn, vì nhẫn có
nghĩa là đối với lý Tứ đế từ trước chưa thấy nay mới
bắt đầu thấy (sáng kiến), trong khi đó, đối cảnh của
kẻ phàm phu là cảnh thường được thấy luôn, chứ không
phải nay mới bắt đầu thấy, nên các hữu lậu tuệ của
phàm phu không thể gọi là nhẫn. Chỉ có trí vô lậu của
Thánh ở địa vị kiến đạo bắt đầu thấy lý Tứ đế
mới gọi là nhẫn. Và trong các hữu lậu tuệ gồm có cả
sáu kiến là năm thứ kiến ô nhiễm như thân, biên, tà, kiến,
giới, cọng với một thứ chánh kiến hữu lậu, chúng đều
có tính suy đạt tìm cầu, nên chúng cũng thuộc về kiến.
Luận Bà-sa 44 nói:" Hỏi: Các vô lậu nhẫn (chỉ tám nhẫn)
tại sao không phải trí? Ðáp: Ðối với lý Tứ đế
chưa từng thấy nay mới bắt đầu thấy, bắt đầu nhẫn
(chấp nhận chứ không chống đối hay thấy ngược lại) chứ
chưa quán sát kỹ càng nhiều lần. Cần phải cùng loại liên
tục quán sát lý Tứ đế nhiều lần đơn thuần thục, mới
gọi là trí".
*
TIẾT II: MƯỜI TRÍ SAI BIỆT
Trí
tuệ gồm có hai loại: Trí hữu lậu và vô lậu. Trí hữu
lậu là trí còn mang tính chất phiền não hữu lậu xấu xa,
không có khả năng dứt các phiền não (hoặc) mê lý mà chỉ
là thứ trí tuệ phổ thông biết đến những cảnh vật thế
tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên
cũng gọi là trí thế tục. biết đến những cảnhvật thế
tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên
cũng gọi là trí thế tục. Trái lại trí vô lậu là trí tuẹ
thanh tịnh, không nhơ bẩn ngoài mọi thứ phiền não xấu xa.
Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí
biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có
khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay
ở cõi Dục khởi lên.
Loại
trí là trí cùng loại tương tợ với Pháp trí, có khả năng
biết lý Tứ đế của hai cõi trên ngang qua lý Tứ đế của
cõi Dục, hoặc nói cách khác là biết lý Tứ đế của hai
cõi trên theo cách loại suy với trí biết lý Tứ đế của
cõi Dục, do đó có khả năng dứt mọi phiền não do mê lý
Tứ đế của hai cõi trên khởi lên. Từ Pháp trí và Loại
trí lại cùng hai trí trong hai cách quán lý Tứ đế, và quán
mỗi đế thì thành mỗi trí nên phát sinh ra 4 trí nữa là
Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Ðạo trí chúng có khả năng
dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên. Từ
sáu trí là Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Ðạo thuộc Hữu
học vị trên đây tiến lên tại Vô học vị phát khởi hai
trí là Tận trí và Vô sanh trí. Bậc Thánh giả vô học tự
biết rằng: ta đã biết Khổ, ta đã dứt Tập, ta đã chứng
Diệt, ta đã tu Ðạo(ngã dĩ tri Khổ, ngã dĩ đoạn Tập, ngã
dĩ chứng Diệt, ngã dĩ tu Ðạo), đó gọi là Tận trí, tức
là trí biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế. Nói cách
khác, ngay trong khi dứt hết tư hoặc phẩm thứ chín của cõi
Hữu đảnh (chót cõi trời Vô sắc) thì tất cả mọi phiền
não của ba cõi đều tiêu sạch, bước lên địa vị Vô học,
và phát khởi sáu trí Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Ðạo,
đấy gọi là Tận trí. Vô sanh trí là đối với tác dụng
biết, dứt, chứng, tu, thành được phi trạch diệt. Gọi là
vô sanh. Trí quán thấy được lý vô sanh đó, gọi là vô sanh
trí. Nói cách khác, bậc Thánh vô học sau khi đã biết: ta
đã biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Ðạo; bây giờ còn
biết thêm: ta đã biết Khổ, không còn phải biết nữa; ta
đã dứt Tập, không còn phải dứt nữa; ta đã chứng Diệt,
không còn phải chứng nữa; ta đã tu Ðạo, không còn phải
tu nữa. Cái trí tuệ có được nhờ biết rõ hành tướng
vô sanh (không còn biết, dứt, chứng, tu nữa) đó, gọi là
vô sanh trí. Tuy nhiên bậc Vô học A-la-hán có hạng độn căn,
có hạng lợi căn. Hạng độn căn còn bị thối thất, không
thể phát khởi vô sinh trí, hạng lợi căn bất động tính,
không còn bị thối thất mới có thể phát khởi vô sinh trí.
Ngoài
chín trí (trí thế tục, pháp, loại, khổ, tập, diệt, đạo,
tận, vô sanh) nói trên, còn có tha tâm trí là trí biết tâm
niệm kẻ khác, được thành tựu do bốn trí: pháp trí, loại
trí, đạo trí (vô lậu) và thế tục trí (hữu lậu) nói trên.
Tuy biết tâm niệm kẻ khác, nhưng tâm niệm kẻ khác ở trong
cấp bực đồng loại mà thôi.Vì vậy tha tâm trí ở bậc
dưới không thể biết tâm niệm kẻ ở bậc trên, tha tâm
trí của kẻ độn căn không thể biết tâm niệm của kẻ
lợi căn, chỉ biết tâm niệm hiện tại chứ không thể biêït
tâm niệm quá khứ vị lai, và tha tâm trí thuộc pháp trí không
biết được loại trí, loại trí không biết pháp trí. Ví
như hai người ở cùng một chỗ, một người trông trời,
một người ngó đất, hai người hướng đến hai nẽo, không
thể thấy mặt nhau.
Tóm
lại, trừ hai trí hữu lậu và vô lậu mà tuần tự phải
chia nó ra mười trí: thế tục trí, pháp trí, loại trí, khổ
trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tha tâm trí, tận trí,
vô sanh trí. Mười trí này bao gồm tất cả trí.
Hỏi:
Tại sao hữu lậu trí, vô lậu trí lại chia ra mười trí?
Ðáp:"
Do
bảy duyên cớ, lập hai làm mười. Bảy duyên cớ là:
1.
Do tự tánh nên lập thế tục trí. Vì thế tục trí là pháp
hữu lậu thế tục không thể lấy trí thắng nghĩa vô lậu
làm tự tánh của nó.
2.
Do đối trị mà lập ra pháp trí, loại trí. Vì hai trí này
có khả năng đối trị phiền não của cõi Dục và hai cõi
trên.
3.
Do hành tướng khác biệt lập ra khổ trí, tập trí. Vì cảnh
sở duyên của hai trí này là tướng nhân quả của thế gian
tuy không khác biệt, nhưng hành tướng năng duyên của hai trí
lại không đồng nhau. Với trí duyên Khổ đế thì có bốn
hành tướng phi thường, khổ, không, phi ngã. Với trí duyên
Tập đế thì có bốn hành tướng: nhơn, tập, sinh, duyên;
nên phải lập hai trí khác nhau.
4.
Do hành tướng và cảnh lập ra diệt trí, đạo trí. Vì về
hành tướng năng duyên của hai trí này không đồng nhau. Với
trí duyên Diệt đế thì có bốn hành tướng: diệt, tịnh,
diệu, ly. Với trí duyên Ðạo đế thì có bốn hành tướng:
đạo, như, hành, xuất; nên lập ra hai trí riêng nhau.
5.
Do gia hạnh mà lập ra tha tâm trí. Vì tha tâm không phải chỉ
biết tha tâm mà không biết tâm sở kẻ khác, chẳng qua lúc
tu gia hạnh mục đích chỉ muốn tha tâm, nhưng đến lúc gia
hạnh thành tựu cuũng biết luôn tâm sở người khác. Như
vậy theo lẽ trí này còn có thể gọi là trí tha tâm sở,
nhưng đây chỉ căn cứ lúc tu gia hạnh nên chỉ gọi là tha
tâm trí.
6.
Do việc đã thành biệt lập ra tận trí, vì với bậc Thánh
vô học còn được xưng là việc cần làm đã làm xong (sở
tác dĩ biện) tức là làm xong việc biết Khổ, dứt Tập,
chứng Diệt, tu Ðạo, và tất cả sự nghiệp cần làm để
đưa đến giải thoát đạo. Trí này là trí khởi lên đầu
tiên của bậc vô học.
7.
Do nhân viên mãn lập ra vô sanh trí, vì vô sanh trí là tột
đỉnh trong tất cả trí, nó cũng đồng loại với tất cả
Thánh đạo, gồm kiến đạo, tu đạo, vô học đạo, tận
trí mà được phát sinh. Tận trí phát sinh, tuy lấy Thánh đạo
gồm kiến đạo, tu đạo làm nhân, nhưng chưa lấy vô học
làm nhân, nên với tận trí không gọi là do nhân viên mãn.
Vô sanh trí lấy cả vô học Thánh đạo làm nhân nên gọi
là do nhân viên mãn, tức do vô học Thánh đạo là cái nhân
viên mãn cho vô sanh trí được phát sinh.
*
TIẾT III: HÀNH TƯỚNG CỦA MƯỜI TRÍ
Trong
mười trí, pháp trí duyên Tứ đế của cõi Dục hiện ra 16
hành tướng, loại trí duyên Tứ đế của hai cõi trên cũng
hiện ra 16 hành tướng. 16 hành tướng như đã nói ở trong
phẩm Hiền Thánh. Trí thế tục duyên khắp tất cả pháp môn
nó vừa hiện ra 16 hành tướng lại vừa có cả hành tướng,
tự tướng, cộng tướng. Chẳng hạn như ở noãn, đỉnh,
nhẫn vị, đối với Tứ đế tu 16 hành tướng, lên đến
thượng phẩm nhẫn và thế đệ nhất vị thì chỉ tu quán
một hành tướng khổ của Khổ đế. Ở vị ngũ đình tâm,
biệt tướng niệm trú, tổng tướng niệm trú thì quán cả
tự tướng và cộng tướng các pháp. Khổ trí, tập trí, diệt
trí, đạo trí, thì chỉ quán bốn hành tướng theo mỗi đế
riêng của mình. Tha tâm trí, nếu thuộc vô lậu thì nhiếp
vào đạo đế duyên quán bốn hành tướng của Ðạo đế;
nếu thuộc tính hữu lậu thì chỉ duyên đến tự tướng
riêng của tâm hoặc tâm sở mà thôi. Còn tận trí và vô sinh
trí thì trong 16 hành tướng, trừ hai hành tướng không và
vô ngã, còn lại 14 hành tướng (ảnh tượng năng duyên). Vì
sao? Vì sau khi khởi lên tận trí vô sanh trí quán lý Tứ đế,
tức đã bước vào hậu đắc trí với sự chứng ngộ theo
hai hành tướng, vô thường, khổ của Khổ đế mà nói như
vậy: sự sinh tử của ta đã chấm dứt (ngã sinh dĩ tận);
duyên theo bốn hành tướng của Ðạo đế mà nói như vậy:
phạm hạnh đã thành lập vững chắc trọn vẹn (phạm hạnh
dĩ lập); duyên theo bốn hành tướng của Diệt đế mà nói
như vầy: việc cần làm đã làm xong (sở tác dĩ biện); duyên
theo bốn hành tướng của Tập đế mà nói như vầy: không
còn chịu thân sau (bất thọ hậu hữu). Chữ Ta trong câu "sự
sinh tử của ta đã chấm dứt", nó thuộc về thế tục, trái
hẳn với hành tướng không và vô ngã, nên ở trong quán trí
lúc bấy giờ không có hai hành tướng không và vô ngã, chỉ
khởi lên hai hành tướng vô thường và khổ.
Hỏi:
Hành tướng vô ngã trái hẳn với ngã, nên không khởi lúc
đó, còn hành tướng "không" đâu có trái hẳn với ngã mà
lúc đó cũng không khởi lên?
Ðáp:Hành
tướng" không" vốn để đối trị kiến chấp ngã sở, hành
tướng vô ngã vốn để đối trị kiến chấp ngã. Kiến chấp
ngã và kiến chấp ngã sở tuy khác nhau, nhưng đồng lấy ngã
làm tự thể. Vì vậy trong quán trí lậu tận trí vô sinh trí
phát khởi, không có hai hành tướng không và vô ngã.
Hỏi:
Trí tuệ quán lý Tứ đế với 16 hành tướng, sao gọi là
hành tướng?
Tụng
đáp:"Hành tướng hữu thập lục, thử thể duy thị huệ’’.
Nghĩa là hành tướng thật sự có mười sáu tự thể của
nó chỉ là huệ. Theo đây, huệ là tự thể của mười sáu
hành tướng, nhân vì huệ trong khi quán cảnh lý Tứ đế phát
hiện ra các hành tướng đó. Và chỉ huệ có khả năng giản
trạch nên những ảnh tượng do khả năng giản trạch của
huệ mà có đó, được gọi là hành tướng. Còn sự hiểu
biết của tâm tâm sở khác không có khả năng giản trạch,
không được gọi là hành tướng. Thành Duy Thức Lược Sớ
nói: "Hữu thật ngoại cảnh vi sở duyên cảnh, dĩ ảnh tượng
vi hành tướng, năng duyên tâm vi sự, tuy lập ảnh tượng
thuộc chi năng duyên". Nghĩa là thật có ngoại cảnh làm cảnh
sở duyên, lấy ảnh tượng làm hành tướng, tâm năng duyên
làm sự thể (tự thể), tuy lập ra ảnh tượng nhưng nó thuộc
về năng duyên (chứ không thuộc cảnh sở duyên). Như vậy
mười sáu hành tướng của Tứ đế là 16 ảnh tượng do huệ
quán sát, giản trạch mà phát hiện, nên gọi là hành tướng
năng duyên. Lại Câu-xá Tụng Ký nói:" Ngôn sở hành cảnh
tướng hữu biệt giả: Khổ Thánh đế hữu tứ hành tướng
v.v..." Vậy thì cảnh tướng sở hành tức là sở duyên cũng
gọi là hành tướng. Tu mười sáu hành tướng để đối trị
mười sáu bịnh vọng chấp. Quán bốn hành tướng vô thường,
khổ, vô ngã của Khổ đế đối trị bốn vọng chấp là
chấp thường, chấp lạc, chấp ngã sở (các sở hữu của
ta), chấp ngã. Quán bốn hành tướng nhơn, tập, sinh, duyên
của Tập đế để đối trị bốn vọng chấp của ngoại
đạo là vô nhân luận, nhất nhân luận, thường nhân luận,
năng sinh luận. Quán bốn hành tướng diệt, tịnh, diệu, ly
của Diệt đế để đối trị bốn vọng chấp sinh cõi trời
Tự tại là Niết-bàn, tự thể sẳn giải thoát, Niết-bàn
là hoại diệt như bị bùa chú, giải thoát rồi vẫn sanh tử.
Quán bốn hành tướng đạo, như, hành, xuất của Ðạo đế
để đối trị bốn vọng chấp là không có đạo giải thoát,
khổ hạnh là chánh đạo giải thoát, không tu đạo mà vẫn
thanh tịnh và chấp Thánh đạo không có khả năng giải thoát.
*
TIẾT IV: CÁC ÐỊA VỊ THÀNH TỰU TRÍ TUỆ NHIỀU ÍT KHÁC NHAU
1)
Từ phàm phu đến các hành giả Tam hiền (ngũ đình tâm, biệt
tướng niệm, tổng tướng niệm), Tứ thiện căn (nõan, đỉnh,
nhẫn, thế đệ nhất), và vị Thánh giả mới bắt đấu sinh
khởi tâm khổ pháp trí nhẫn trong 15 tâm thuộc Kiến đạo
vị, tất cả chỉ thành tưụ một trí là trí thế tục. Vị
Thánh ở Kiến đạo vị mới khởi sinh đầu tiên tâm khổ
pháp trí nhẫn, tâm này tuy là vô lậu song chỉ mới là nhẫn
mà không phải trí. Nên trong mười trí, vị Thánh này cũng
chỉ mới thành tựu được trí thế tục.
2)
Vị Thánh ở Kiến đạo vị, khi khởi sinh tâm thứ hai tức
là khổ pháp trí, thì thành tựu được ba trí, đó là thế
tục trí, pháp trí, khổ trí. Ở đây pháp trí, khổ trí cùng
một thể, nhưng đối tượng khác nhau nên chia làm hai.
3)
Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi sinh tâm thứ tư là khổ loại
trí, thời thành tựu được bốn trí, đó là tha tâm trí,
pháp trí, khổ trí, loại trí.
4)
Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ sáu là
tập pháp trí thời thành tựu được năm trí đó là thế
tục trí, khổ trí, tập trí, loại trí.
5)
Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ mười là
diệt pháp trí, thời thành tựu được sáu trí, đó là cộng
thêm diệt trí vào năm trí vừa nêu trên.
6)
Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ mười bốn
là đạo pháp trí, thời thành tựu được bảy trí, đó là
cộng thêm đạo trí vào sáu trí vừa nêu. Những địa vị
Thánh nêu trên đều ở Kiến đạo.
7)
Vị Thánh ở Tu đạo vị khi chưa hoàn thành dứt hết tu hoặc
cõi Dục cũng thành tựu được bảy trí, đó là thế tục
trí, pháp trí, khổ trí, loại trí, tập trí, diệt trí, đạo
trí. Nếu ở địa vị phàm phu đoạn trừ tu hoặc cõi Dục
mà được vào Kiến đạo thì được thành tựu tha tâm trí.
8)
Vị Thánh hoàn toàn dứt hết tư hoặc cõi Dục thời thành
tựu được tám trí, đó cọng thêm tha tâm trí vào bảy trí
vừa nêu. Hai bậc Thánh ở số 7, 8 thuộc tu đạo.
9)
Vị Thánh độn căn thời giải thoát vô học đạo, thành tựu
được chín trí, đó là trong mười trí trừ vô sinh trí.
10)
Vị Thánh lợi căn bất thời giải thoát ở vô học vị thành
tựu đủ cả mười trí. VÌ vô sinh trí là tột đỉnh trong
mười trí. Bắt đầu từ thế tục trí theo thiện pháp hữu
lậu thế gian, lần lần tu tập phát sinh vô lậu khổ pháp
trí nhẫn cuối cùng mới phát sinh vô sinh trí. Cho nên vô sinh
trí ở học vị chỉ có bậc A-la-hán lợi căn bất thời giải
thoát mới thành đạt được.
Ðoạn
II. CÔNG ÐỨC DO TRÍ THÀNH ÐẠT
Gồm
hai tiết:
*
TIẾT I: CÔNG ÐỨC ÐẶC BIỆT (bất cọng)
Tiết
này nói đến công đức do trí thành được gồm có hai loại.
Công
đức đặc biệt không chung cùng.
Công
đức phổ thông chung cùng.
Công
đức của Phật là đặc biệt, các vị thánh khác và phàm
phu không chung cùng có được, nên gọi là bất cọng. Công
đức bất cọng có 18 thứ: 10 lực, 4 vô úy, 3 niệm trụ và
Ðại bi tâm.
Mười
lực: Lực nghĩa là trí thể chứng vững chắc không còn
bị lay chuyển.
1)
Xứ phi xứ trí lực: Xứ có nghĩa là hợp đạo lý, phi xứ
có nghĩa là phi hợp đạo lý Trí tuệ Phật mà thật thể
là mười trí vừa nói trên biết rõ việc gì hợp lý, không
hợp lý.
2)
Nghiệp báo trí lực:Trí biết rõ nghiệp nhơn như vậỵ sẽ
cảm quả báo như vậy. Trí này lấy tám trí trong mười trí
trên làm thể (10 trí trừ diệt trí, đạo trí còn 8).
3)
Tịnh lự giải thoát đẳng trí lực: Trí biết đúng thật
về các thiền định giải thoát, nó lấy chín trí trong mười
trí làm thể (10 trí trừ diệt trí còn 9).
4)
Căn thượng hạ trí lực: Trí biết rõ căn tánh cao thấp chúng
sanh như ngũ căn, ngũ lực v.v... Trí này lấy chín trí làm
thể (10 trí trừ diệt trí còn 9).
5)
Chủng chủng thắng giải trí lực: Trí biết rõ tâm niệm
vui, quyết đoán của chúng sanh. Nó lấy chín trí làm thể
(10 trí trừ diệt trí còn 9).
6)
Chủng chủng giới trí lực: Trí biết mọi tính loại sai khác
của chúng sanh. Nó lấy chín trí làm thể (10 trí trừ diệt
trí còn 9).
7)
Biến thủ hành trí lực: Tất cả các pháp hành đều đưa
đến quả, chỉ Phật mới biết rõ. Trí này lấy chín trí
hoặc mười trí làm thể nếu là duyên theo cảnh đưa đến
hoặc bị đưa đến.
8)
Túc trú tùy niệm trí lực: Trí biết rõ những đời quá khứ
của mình.
9)
Túc trú sanh tử trí lực: Trí biết rõ chúng sanh chết chổ
này sanh chổ nọ, lấy túc trí làm thể.
10)
Lậu tận trí lực: Trí chứng nhập Niết-bàn trạch diệt.
Nó lấy sáu trí làm thể (10 trí trừ 4 trí khổ, tập, đạo,
tha tâm) hoặc mười trí làm thể, nếu duyên cảnh lậu tận
hoặc thành đạt ngay trong thân lậu tận. Mười trí trên đều
gọi là lực, vì đối tất cả mọi điều Phật đều biết
một cách rõ ràng, tự tại không bị ngăn ngại. Vì Phật
đã dứt sạch mọi tập khí phiền não nên đối với điều
gì Phật muốn biết là biết rõ. Do đó gọi là lực.
Bốn
vô úy: Chánh đẳng giác vô úy (như lực đầu trong mười
lực), lậu tận vô úy (như lực 10), nói pháp chướng đạo
vô úy (như lực 7), nói pháp diệt tận khổ vô úy (như lực
7).
Khi
Phật tuyên bố việc này, nếu ai vấn nạn, Phật dều giải
thích không chút sợ sệt, bởi Phật trọn đủ mười trí
mà được.
Ba
niệm trụ: Phật luôn an niệm chánh niệm chánh tri, khi
duyên cảnh thuận không sinh tâm hoan hỷ, khi duyên cảnh nghịch
không sinh tâm lo buồn, khi duyên cảnh không thuận không nghịch
không sanh tâm hoan hỷ và lo buồn. Ba niệm trụ này đều lấy
niệm và huệ làm thể. Nó thuộc xứ phi xứ trí lực.
Ðại
bi: Trong đây Ðại bi khác với bi. Ðại bi lấy trí thế
tục làm thể, vì nó duyên đến chúng sanh đau khổ trong ba
cõi khởi lên. Ðủ năm nghĩa sau đây nên gọi là đại:
1)
Tư lương đại: Nhờ đại phước đức, đại trí tuệ làm
tư lương mới thành được.
2)
Hành tướng đại: Vì có năng lực dứt ba khổ (khổ khổ,
hoại khổ, hành khổ) cho chúng sanh.
3)
Sở duyên đại: Duyên khắp tất cả chúng sanh trong ba cõi.
4)
Bình đẳng đại: Làm lợi ích tất cả chúng sanh không phân
biệt thân sơ.
5)
Thượng phẩm đại: Ở phẩm bậc cao nhất không còn tâm bi
sánh bằng. Nên đem đại bi tâm này so sánh với bi tâm khác
có 8 sự bất đồng:
-
Tự tánh bất đồng, đại bi lấy không si, tức trí tuệ làm
thể, còn bi lấy không sân làm thể.
-
Hành tướng bất đồng, đại bi dứt được ba khổ, còn bi
chỉ dứt được khổ khổ.
-
Sở duyên bất đồng, đại bi duyên khắp ba cõi, còn bi chỉ
riêng cõi Dục.
-
Y tha bất đồng, đại bi nương nơi đệ tứ thiền, còn bi
nương nơi cả bốn thiền.
-
Y thân bất đồng, đại bi nương nơi Phật thân, còn bi nương
nơi thân nhị thừa.
-
Chứng đắc bất đồng, đại bi do lìa khỏi lậu hoặc cõi
Hữu đỉnh mà chứng đắc, còn bi do lìa khỏi lậu hoặc ở
cõi Dục mà chứng đắc.
-
Cứu tế bất đồng, đại bi thành tựu việc cứu tế thật
sự, còn bi chỉ hy vọng làm việc cứu tế.
-
Ai mẫn bất đồng, đại bi thương xót bình đẳng cùng khắp,
còn bi chỉ cưú giúp được nổi khổ ở cõi Dục.
Mười
tám pháp trên chỉ Phật có được sau khi Ngài đạt được
tận trí thành đạo, chứ không ai có được, cho nên nói là
bất cọng, không chung.
*
TIẾT II: CÔNG ÐỨC (Công đức chung)
Trong
công đức chung này có thứ chung với hàng Thánh, có thứ chung
với phàm phu. Nghĩa là Phật có công đức này thì hàng Thánh
và phàm phu cũng đều có được. Có ba thứ chung với hàng
Thánh Thanh văn:
Hạnh
vô tránh, lấy tục trí làm thể. Ðây là cái hạnh khiến
kẻ khác không vì duyên với thân mình mà sinh lòng tham giận
v.v...Hàng Thánh vô học quán thấy chúng sanh bị khổ là do
phiền não, rồi tự nhìn lại thân ta đã ở hàng phước điền
tối thắng, thế mà nếu có kẻ khác duyên vào thân ta sanh
phiền não tham, giận v.v... thì đó là điều thật đáng đau
xót. Nhờ suy nghĩ như vậy phát sinh trí tuệ duyên vô tránh.
Khi trí này phát sinh thì khiến cho kẻ khác không còn duyên
nơi thân mình sinh ra tham, giận nữa.
Nguyện
trí: Trước có nguyện sau mới dẫn sanh ra diệu trí. Khi vị
Bất động A-la-hán muốn phát khởi nguyện trí này, thì trước
phát lòng thành khẩn mong muốn biết đến cảnh giới cần
biết, rồi tiếp tục cố gắng thuận nghịch ra vào bốn thiền,
bốn Vô sắc định nhờ đó dẫn sanh thánh trí đúng như sở
nguyện, đối với cảnh giới cần biết, thì biết được
rõ ràng, đúng như thật.
Bốn
vô ngại giải: Pháp vô ngại giải, hiểu một cách quyết
đoán, về ngôn giáo năng thuyên; nghĩa vô ngại giải, hiểu
một cách quyết đoán về nghĩa lý sở thuyên. Từ vô ngại
giải, hiểu một cách quyết đoán về các loại ngôn từ cú
pháp; biện vô ngại giải, hiểu một cách quyết đoán những
ngôn thuyết phù hợp chánh lý định tuệ khởi lên ngôn thuyết
đó. Bốn vô ngại giải cũng lấy trí làm thể.
Ba
công đức trên trong hàng Thanh văn cung có, nhưng không rốt
ráo thanh tịnh bằng Phật.
Những
công đức mà hàng phàm phu cùng có được như Phật là sáu
thông, bốn tịnh lự, bốn vô sắc, tám đẳng chỉ, ba tam
ma địa, bốn vô lượng tâm, tám giải thoát, tám thắng xứ,
mười biến xứ v.v...
Tóm
lại, nguyên nhân của giác ngộ không ngoài những trí có khả
năng thành tựu và những công đức được thành tựu từ
trí. Như vậy trí tuệ đối với kết quả giác ngộ thật
là chính yếu. Trí tuệ do từ sức gia hạnh hữu lậu dần
dần phát đạt cho đến tận trí vô sinh trí, bèn chứng được
các Thánh vị trong bốn hướng, bốn quả, cho nên nói trí
tuệ là nguyên nhân gần của Thánh vị giác ngộ.