DUY
THỨC
A.
Nghĩa chữ Duy Thức
Duy
thức là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ
y thức sở biến).
Muôn
sự muôn vật không thể hiện hữu ngoài định lý duyên sanh,
nghĩa là chúng chỉ hiện hữu giữa các mối quan hệ, lớp
này lớp khác trùng trùng vô tận, một làm duyên cho tất cả,
tất cả duy một, tất cả làm duyên cho một, một duy tất
cả.
"Do
cái này có nên cái kia có,
Do
cái này sinh nên cái kia sinh,
Do
cái này không nên cái kia không,
Do
cái này diệt nên cái kia diệt."
Như
thế là duyên khởi, y tha khởi. Trong đó, nếu nói "duy" thì
cái nào cũng duy được hết, duy sắc, duy hương, duy vô minh,
duy căn, duy trần v.v. Như cổ nhân có câu: "Nhất sắc nhất
hương, vô phi trung đạo". Ngài Thiên Thai Trí Giả nói: "Tùy
niệm nhất pháp, giai thị pháp giới" (Bất cứ đưa ra một
pháp nào, pháp đó đều là pháp giới muôn pháp).
Thức
là một trong hết thảy pháp, nhưng thức có năng lực đặc
biệt là phân biệt biết được cái khác và tự biết được
mình, nó là chủ lực ở ngay trong mỗi chúng sanh. Chính cái
biết này làm cho các pháp trong đồng nhất tính duyên khởi,
vô danh vô tướng, vô thỉ vô chung, vô trung vô biên (không
trong không ngoài), nổi lên thiên hình vạn trạng, rồi mê
muội chạy theo giả tướng thiên hình vạn trạng đó mà đắm
trước, tạo nghiệp, buộc ràng theo nó, gây nên khổ đau.
Các
pháp khác không có năng lực này, chỉ có thức mới có năng
lực này, cho nên chỉ nói duy thức mà không nói duy cái khác.
Lại
"Duy có nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; Thức
có nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm".
Nói
Duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người
ta hãy tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại cái năng lực
thiên biến vạn hóa ở trong mình để gạn lọc nó, trau dồi
nó, sửa chữa nó phải biến hóa như thế nào để chỉ đem
lại lợi lạc, chứ đừng gây đau khổ.
Ðến
khi đã chuyển được tâm thức thành bốn trí (bốn trí: 1.
Thành sở tác trí; 2. Diệu quan sát trí; 3. Bình đẳng tánh
trí; 4. Ðại viên cảnh trí), sáng suốt hoàn toàn, lý trí
nhất như, sắc tâm bất nhị, không còn lấy sắc làm sắc,
lấy tâm làm tâm, được tự tại không còn vướng mắc, cũng
không có gì làm cho giao động, sợ hãi thì bấy giờ không
cần duy, không cần thức, hay cần duy gì cũng được vô ngại.
Lý
Duy thức tiềm ẩn trong lời Phật rải rác ở các Kinh, Bồ-tát
Thế Thân dùng lý đó vết thành luận, gọi là Luận Duy thức.
Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang sau khi du học Ấn Ðộ, mang về
Trung Hoa (602-644), rút ra từ những ý chính của mười vị
đại Luận sư như Hộ Pháp, Ðức Huệ, An Huệ v.v., giải
về luận 30 bài tụng của ngài và dịch ra bộ luận Thế
Thân, rồi tóm lược lại gọi là "Luận Thành Duy Thức".
B.
Duy thức theo lời giải của Ðại sư Thái Hư
Chữ
Duy thức nguyên chữ Phạn là Vijnàpti-màtratà. Vijnàpti, Trung
Hoa dịch âm là Tỳ-nhã-để, dịch nghĩa là Thức. Chữ Màtrata,
Trung Hoa dịch âm là Ma-đát-lạt-đa, dịch nghĩa là Duy.
Thức
là liễu biệt, nhận biết. Liễu là liễu tri, Biệt là biệt
chỉnh cảnh. Tức liễu tri mỗi mỗi cảnh riêng biệt, như
nhãn thức liễu tri sắc, nhĩ thức liễu tri thanh v.v.
Thức,
nói một cách tổng quát là gồm đủ năm vị tức năm mặt:
1.
Thức tự tướng, tức tám thức Tâm vương
2.
Thức tương ưng, tức sáu vị Tâm sở.
3.
Thức sở biến, tức hai phần Kiến và Tướng.
4.
Thức phận vị, tức hai mươi bốn giả pháp Bất tương ưng
hành, chúng chỉ là giả tướng sai biệt giữa Sắc và Tâm.
5.
Thức thực tánh, tức chơn lý, chơn như thật tánh của bốn
thứ trên. Như vậy Thức thật tánh là lý, còn bốn thứ trên.
Như vậy Thức thật tánh là lý, còn bốn thứ trên là sự.
Năm vị pháp này là bao quát hết thảy pháp thế gian, xuất
thế gian, hữu vi vô vi, hữu lậu vô lậu. Chúng đều không
lìa thức, đều là biểu hiện của thức, nên gọi là Duy
thức.
Mỗi
mỗi hữu tình từ vô thỉ vốn có tám thức, sáu vị Tâm
sở, các pháp sự lý như vậy. Chúng chỉ hiện hữu được
trên thức, ngoài thức ra thì không có hiện hữu nào hết,
vì ngoài thức ra thì ta không thể biết có gì cả, nếu ta
tưởng tượng có một hiện tượng gì ở ngoài thức, thì
nó cũng là thức biến, vì nó là tướng của thức tưởng
tượng ra.
Duy
có ba nghĩa:
1.
Nghĩa giản trì: Giản là giản biệt, kén chọn bỏ đi có
tánh phủ định, giá thuyên. Bỏ đi cái gì? Bỏ đi hai chấp
ngã và pháp thật có. Trí là giữ lấy, có tính khẳng định,
biểu thuyên. Giữ lấy cái gì? Giữ lấy thức tướng Y tha
khởi và thức tánh Viên thành thật. Các pháp y tha duyên khởi
là tướng của thức. Hai không (ngã không, pháp không) hiển
lộ Viên thành thật tánh là tánh của Thức.
2.
Nghĩa quyết định: Luận Biện Trung Biên nói: "Thử trung định
hữu không, ý bỉ diệt hữu thử', nghĩa là trong thức tướng
y tha duyên khởi thuộc tục sự này quyết định có thức
tánh. Do hai không hiển lộ thuộc chơn lý kia, vì chơn không
lìa tục mà có, ngược lại, trong chân lý hai không kia quyết
định có tục sự y tha duyên khởi này, vì tục không thể
lìa chơn mà có.
Như
vậy "Thức" vừa có nghĩa giá và biểu. "Giá" thì ngăn chặn
loại trừ ngã và pháp thật có ở ngoài thức."Biểu" thì
biểu thị thức tướng y tha khởi và thức tánh Viên thành
thật. Sự và lý, tục và chơn, hai mặt quyết định gắn
liền với nhau của thức.
3.
Nghĩa hiển thắng: Thắng là hơn, là thù thắng, nhằm chỉ
cho thức Tâm vương hơn là cho thức Tâm sở mỗi khi nói Duy
thức. Khi nói Duy thức là chú ý nói Duy thức Tâm vương.
Trong
ba nghĩa trên, trong Duy thức thường dùng nghĩa thứ nhất.
C.
Duy thức tam thập tụng bản chữ Hán (Ðại tạng; Chánh 31:1586)
[xin
xem theo sách, không đăng trong ấn bản Internet này]
D.
Dịch nghĩa (theo thể kệ 5 chữ)
1.
Do giả nói ngã pháp,
Có
tướng ngã pháp chuyển,
Chúng
nương thức biến hiện,
Thức
biến hiện có ba.
2.
Là Dị thục, Tư lương,
Và
thức Liễu biệt cảnh,
Ðầu,
thức A-lai-da,
Dị
thục, Nhất thiết chủng.
3.
Không thể biết chấp thọ,
Xứ,
liễu, tương ưng xúc,
Tác
ý, thọ, tưởng, tư,
Và
chỉ có xả thọ.
4.
Tánh vô phú vô ký,
Xúc,
thảy cũng như thế,
Hằng
chuyển như dòng nước.
A-la-hán,
bỏ hết.
5.
Thức biến hiện thứ hai,
Gọi
là thức Mạt-na.
Nương
kia chuyển, duyên kia,
Tư
lương làm tánh tướng.
6.
Tương ưng bốn phiền não,
Là
ngã si, ngã kiến,
Và
ngã mạn, ngã ái,
Cùng
tâm sở Biến hành.
7.
Tánh hữu phú vô ký,
Sanh
theo A-lại-da.
Chứng
La-hán, Diệt định,
Xuất
thế đạo, không còn.
8.
Thức biến hiện thứ ba,
Sai
biệt có sáu thứ,
Tánh
tướng là biệt cảnh,
Thiện,
bất thiện, vô ký.
9.
Cùng tâm sở Biến hành,
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, Bất định.
Ðều
tương ưng ba Thọ
10.
Trước là Biến hành: Xúc
Tiếp
là Biệt cảnh: Dục,
Thắng
giải, niệm, định, tụê.
Cảnh
sở duyên không đồng.
11.
Thiện là tín, tàm, quý,
Không
tham, không sân, si,
Siêng,
an, không phóng dật,
Hành
xả và không hại.
12.
Phiền não là tham, sân,
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Tùy
phiền não là phẫn,
Hận,
phú, não, tật, xan,
13.
Dối, nịnh và hại, kiêu,
Không
hổ và không thẹn
Trạo
cử với hôn trầm,
Không
tin cùng giải đãi,
14.
Phóng dật và thất niệm,
Tán
loạn, không chánh tri,
Bất
định là hối miên.
Tầm,
tứ hai đều hai.
15.
Nương dựa căn bản thức,
Năm
thức theo duyên hiện
Ðồng
thời khởi, hoặc không,
Như
sóng mòi nương nước.
16.
Ý thức thưởng hiện khởi
Trừ
sanh trời Vô tướng
Và
hai định vô tâm
Khi
ngủ say, chết ngất.
17.
Các thức ấy chuyển biến,
Phân
biệt, bị phân biệt,
Do
kia, đây đều không,
Nên
hết thảy Duy thức.
18.
Do thức Nhất thiết chủng,
Biến
như vậy như vậy,
Vì
năng lực triển chuyển,
Kia
kia, phân biệt sanh.
19.
Do tập khí các nghiệp,
Cùng
tập khí hai thủ,
Thân
Dị thục trước hết
Lại
sanh Dị thục khác.
20.
Do biến kể nọ kia,
Biến
kế chủng chủng vật,
Biến
kế sở chấp này,
Tự
tánh toàn không có.
21.
Tự tánh Y tha khởi.
Do
duyên phân biệt sanh.
Viên
thành thật nơi đó,
Thường
xa lìa biến kế.
22.
Nên nó cùng Y tha,
Chẳng
khác chẳng không khác.
Như
tánh vô thường thảy,
Thấy
đây, mới thấy kia.
23.
Chính nương ba tánh này,
Lập
ba vô tánh kia.
Nên
Phật "mật ý" nói:
"Hết
thảy pháp không tánh".
24.
Trước là "Tướng không tánh",
Kế,
"Không tự nhiên tánh".
Sau,
do lìa tánh trước,
Là
tánh chấp ngã pháp.
25.
Ðây, thắng nghĩa các pháp,
Cũng
tức là chơn như,
Vì
thường như tánh nó,
Tức
thực tánh Duy thức.
26.
Cho đến chưa khởi thức.
Cầu
trụ tánh Duy thức.
Ðối
hai thủ tùy miên,
Còn
chưa thể phục diệt.
27.
Hiện tiền lập chút vật,
Cho
là tánh Duy thức.
Vì
còn có sở đắc,
Chưa
thực trụ Duy thức.
28.
Khi đối cảnh sở duyên,
Trí
không sở đắc gì,
Bấy
giờ trụ Duy thức,
Do
lìa tướng hai thủ.
29.
Không đắc, chẳng nghĩ nghì
Là
trí xuất thế gian.
Vì
bỏ hai thô trọng,
Chứng
đắc hai chuyển y.
30.
Ðây, tức giới vô lậu,
Chẳng
nghĩ nghì, thiện, thưởng.
An
lạc, thân giải thoát,
Ðại
Mâu-ni pháp thân.
Dịch
theo văn xuôi
1.
Do giả nói ngã nói pháp
Nên
có các tướng ngã pháp chuyển biến hiện ra.
Ngã
pháp ấy đều nương thức biến hiện;
Thức
biến hiện ấy có ba loại.
2.
Là thức Dị thục, Tư lương và Liễu biệt cảnh
Thức
biến hiện đầu có ba tên là A-lại-da, Dị thục, và Nhất
thiết chủng.
Không
thể biết đối tượng của nó, là căn thân và chủng tử
mà nó chấp thủ làm tự thể, sanh ra cảm thụ (vì quá vi
tế).
3.
Không thể biết nơi chốn (xứ, khí thế giới - vì quá rộng
lớn) và năng lực nhận biết (liễu) của nó.
Nó
cùng đi với Tâm sở xúc,
Tác
ý, thọ, tưởng, tư.
Riêng
thọ thì chỉ là Xả thọ.
4.
Tánh nó là vô phú, vô ký,
Tâm
sở xúc v.v.tánh cũng như vậy
Nó
hằng thường và chuyển biến như dòng nước.
Chứng
quả vị A-la-hán thì thức A-lại-da không còn
5.
Thức biến hiện thứ hai, gọi là Mạt-na.
Nó
hiện khởi dựa vào A-lại-da và nhận lấy A-lại-da làm đối
tượng chấp ngã.
Thế
tánh và hành tướng của nó là tư duy, lượng định.
6.
Thường khởi cùng với nó có bốn phiền não:
Là
ngã si, ngã kiến,
Ngã
mạn và ngã ái.
Cùng
các Tâm sở xúc, v.v.
7.
Tánh nó là hữu phú, vô ký,
Nó
bị ràng buộc sanh vào các cõi theo A-lại-da
Khi
chứng A-la-hán, vào định diệt tận,
Khi
trí xuất thế, đạo phát khởi
Thức
Mạt-na không còn.
8.
Thức biến hiện thứ ba
Sai
biệt có sáu thứ.
Thể
tánh và hành tướng của nó là nhận biết đối tượng.
Nó
có đủ ba tánh thiện, bất thiện, vô ký.
9.
Cùng đi với nnó có các Tâm sở biến hành
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, bất định
Và
ba thọ: khổ, lạc, xả.
10.
Trước hết, tâm sở biến hành là xúc,
Rồi
đến tâm sở biệt cảnh là dục,
Thắng
giải, niệm, định, và tuệ
Và
Cảnh sở duyên với chúng (tâm sở biệt) không đồng nhau.
11.
Tâm sở thiện là tàm, quý
Không
tham, không sân, không si.
Siêng
năng, khinh an, không phóng dật
Hành
xả và bất hại.
12.
Tâm sở phiền não là tham,
sân,
si, mạn, nghi, ác kiến
Tùy
phiền não là phẫn
Hận,
phú, não, tật, xan.
13.
Cuống, siểm, hại, kiêu,
Không
hổ và không thẹn,
Trạo
cử với hôn trầm,
Không
tính và giải đãi.
14.
Phóng dật và thất niệm,
Tán
loạn, không chánh tri.
Tâm
sở bất định là hối, miên, tầm, tứ.
Cả
hai loại hối miên và tầm tứ đều có hai tánh tịnh và nhiễm.
15.
Nương tựa thức căn bản thứ tám,
Năm
thức hiện khởi khi có đủ duyên.
Hoặc
khởi đồng thời, hoặc không đồng thời,
Như
sóng nương nước.
16.
Ý thức thì thường hiện khởi,
Trừ
khi sanh vào cõi trời Vô tưởng,
và
hai định vô tâm (vô tưởng định và diệt tận định)
Cũng
như khi ngủ say và khi chết ngất.
17.
Các thức ấy chuyển biến.
Thành
năng phân biệt và cảnh của sự phân biệt ấy.
Do
vậy mà tất cả pháp đều không. (*)
Nên
nói hết thảy pháp Duy thức.
(*)
Không có tự tính - theo Madhyanta- vibhaga, Biện trung biện luận,
của Vô Trước.
18.
Vì chính "thức" vốn hàm chứa hết thảy chủng từ.
Biến
hiện ra như thế, như thế.
Vì
năng lực triển chuyển hỗ tương.
Nên
có các sự phân biệt của tám thức và Tâm sở hiện hành.
19.
Do tập khí các nghiệp.
Cùng
với tập khí của hai thủ (năng thủ, sở thủ, hay ngã chấp
thủ, danh ngôn thủ).
Thân
Dị thục trước chết rồi.
Lại
sanh thân Dị thục khác.
20.
Do tâm so đo vọng chấp cùng khắp nọ kia.
Nên
vọng chấp so đo cùng khắp các pháp (biến kế chấp)
Cái
so đo chấp thủ cùng khắp đó.
Không
có tự tánh của chính nó.
21.
Tự tánh là Y tha khởi.
Do
thức phân biệt và các duyên mà có.
Tánh
Viên thành (là thật tại tối hậu) là tánh Y tha.
Khi
Y tha rời khỏi hẳn tánh biến kế trước đó.
22.
Nên tánh Viên với tánh Y tha.
Chẳng
phải khác, chẳng phải không khác nhau.
Như
tánh vô thường, vô ngã đối với các pháp vô thường vô
ngã.
Nếu
không thấy tánh Viên thành thì cũng không thấy tánh Y tha.
23.
Chính nương ba tánh này.
Lập
ra ba vô tánh kia.
Nên
Phật mật ý nói.
Hết
thảy pháp không tự tánh.
24.
Tánh Biến kế là tướng không có tự tánh.
Tánh
Y tha là không phải tánh tự nhiên sanh.
Tánh
Viên thành là tánh y tha lìa xa tánh biến kế chấp ngã pháp
trước đó.
25.
Ðó là nghĩa tối thắng của các pháp.
Cũng
tức là Chơn như.
Vì
thường như tánh nó
Cũng
tức là thật tánh Duy thức.
26.
Thậm chí khi thức (an trú Duy thức), tánh chưa khởi lên.
Một
lòng chuyên cầu an trú Duy thức tánh.
Ðối
với hai tập khí chấp thủ ngã pháp.
Vẫn
chưa thể dẹp trừ.
27.
Nếu giờ cho Duy thức tánh là bất cứ gì.
Thì
đó không phải là Duy thức tánh.
Vì
còn có cái để thủ đắc.
Nên
chưa thật an trú tánh Duy thức.
28.
Khi đối cảnh sở duyên.
Trí
không sở đắc gì.
Bây
giờ thật an trú tánh Duy thức.
Vì
xa lìa tướng hai thủ.
29.
Trí tuệ vô đắc thì không thể nghĩ bàn.
Nó
là trí tuệ xuất thế gian (hay thánh trí).
Do
lìa bỏ hai chướng ngại thô trọng là phiền não và sở tri.
Liền
chứng đắc hai quả (nương nơi A-lại-đa thức) là Niết-bàn
và Bồ-đề
30.
Hai quả chuyển y này tức tâm giới vô lậu.
Không
thể nghĩ bàn, là thiện, là thường
Là
an lạc, là thân giải thoát.
Là
pháp thân đại tịch tịnh.
*
Trong
30 bài tụng này, 24 bài đầu là nói rõ Tướng Duy thức. Bài
thứ 25, nói rõ Tánh Duy thức. Năm bài sau chót nói năm hạnh
vị tu chứng.
Trong
24 bài đầu, một bài rưỡi đầu lược biện Tướng Duy thức;
hai mươi hai bài rưỡi tiếp theo rộng biện Tướng Duy thức.