ĐẠI
Ý KINH VU LAN
CÁCH
BÁO HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT
Công
ơn nuôi dưỡng cha mẹ thật như trời cao biển rộng khó nghĩ
tận cùng. Đạo Nho đã nói: "Công ơn cha mẹ trời cao khó
kịp". Kẻ làm con dĩ nhiên phải nghĩ đến cách báo đáp công
ơn sanh thành của cha mẹ, vì đây là một bổn phận cao quý
trong đạo làm người; bất luận thời nào hoặc phương sở
nào cũng không thể xao lãng đi được.
Nếu
có người nương nhờ ơn cha mẹ mà đến ngày công thành danh
toại, lại chỉ biết có một mình mình chứ không đoái hoài
gì đến cha mẹ, xem cha mẹ như người khách lạ qua đường...
Nếu có người con như thế dĩ nhiên gọi là người con bất
hiếu, đã trốn tránh bổn phận thiêng liêng vậy.
Song
sự báo ơn cha mẹ có rất nhiều cách, nó không thể giống
nhau theo một quy tắc, thể thức nhất định làm cho cha mẹ
nhẹ bớt thống khổ, tăng thêm vui lành... Có người báo ơn
cha mẹ bằng cách làm cho cha mẹ an hưởng thứ vui tinh thần
khoan khóai hoặc hưởng cái vui ngắn ngủi, vui lâu dài, vui
nặng nề hay vui siêu thoát. Tóm lại, đàng nào cũng gọi là
hiếu, đàng nào cũng tìm cách đem lại sự an vui cho cha mẹ,
nhưng xét kỹ thì chỉ có cách đem lại cho cha mẹ sự an vui
siêu thoát đời đời mới thật hoàn toàn đạt thấu mục
đích báo hiếu mà thôi.
Kinh
Vu Lan Bồn chính là một kinh Phật dạy chúng ta cách báo hiếu
ấy, báo hiếu chính đáng, cứu độ viên mãn để các tiền
nhân nhẹ gánh oan khiên, lần thoát vòng luân hồi đau khổ.
Chúng ta không thể không hiểu qua đại ý của kinh trong khi
chúng ta muốn tìm một phương pháp chơn chán để báo bổ
thâm ân.
Trong
kinh Vu Lan, Phật dạy cho chúng ta rõ:
1.
Có nhân thì có quả
Nhân
quả là một định luật hiển nhiên không thể nào sai chạy
được. Ở nơi hoàn cảnh cũng như ở nơi thân tâm, hễ đã
gây nhân gì thì tất nhiên có quả báo nấy để thù đáp
lại, tuy vô hình nhưng rất bình đẳng, không bao giờ gây
nhân lành mà phải chịu quả báo khổ, cũng không bao giờ
gây nhân dữ mà được hưởng quả báo vui. Bởi vậy, bà
mẹ Tôn giả Mục-kiên-liên sau khi đã sanh tâm tham lam bỏn
xẻn mà gây nghiệp nhân không tốt đến lâm chung phải chịu
quả báo đoạ đày trong đường ngạ quỷ, đói khát ốm gầy,
đến nỗi gặp đặng bát cơm của Tôn giả Mục-kiền-liên
dâng cúng, nhưng vì nghiệp tham của bà quá nặng mà cơm kia
bỗng biến thành lửa đỏ cháy hừng không thể nào ăn được.
2.
Nhân quả đều do tâm
Tuy
vậy nhưng không phải: "một kiếp lỗi lầm là muôn đời
đau khổ". Trong kinh có dạy: "Tâm năng sanh nhứt thiết pháp",
vậy biết rằng tất cả pháp đều do tâm. Tâm tạo nên nghiệp
lành, hiện thành cảnh giới chư Thiên tốt đẹp, tâm tạo
nên nghiệp dữ hiện thành cảnh giới địa ngục xấu xa,
tâm tu theo đạo Bồ-đề, gây nhân giải thoát thì được
tự tại yên vui ngoài vòng luân hồi sanh tử, vậy nên mặc
dù chúng sinh ở trong hoàn cảnh tuy khổ cực cũng có thể
hoán cải tâm niệm mình theo con đường chánh đáng tốt lành.
Khi tâm đã tốt thì cảnh giới cũng tùy tâm mà trở nên vui
đẹp. Cứ xét ngay nơi tâm niệm hiện tại của chúng ta thấy
rõ. Khi tâm ta nghi ngờ độc ác thì cảnh vật nào cũng là
cảnh vật khả ố xấu xa. Khi tâm ta hiền rộng rãi thì cảnh
vật nào cũng đẹp đẽ vui tươi. Địa ngục thiên đàng nào
phải ở đâu xa lạ!
Do
lẽ đó mà bà mẹ Tôn giả Muc-kiền-liên tuy đã sanh vào ngạ
quỷ cũng có thể chuyển đổi tâm niệm nghiệp nhân, đặng
giải thoát khỏi chỗ tối tăm cực khổ.
3.
Hiệu lực của chú nguyện
Chúng
ta đã biết địa ngục, thiên đàng cũng chỉ tự mình tạo
ra và chịu lấy, kẻ làm con nếu muốn cho cha mẹ mình khỏi
lâm vào cảnh tương lai đau khổ, thì không chi bằng cố gắng
làm cho cha mẹ bỏ ác làm lành, cải tà quy chánh dù cho cha
mẹ đã qua đời cũng có cách báo đáp hoàn toàn được.
Phật
dạy tất cả sự vật trùng trùng duyên nhau mà phát hiệ,n
nên tâm niệm của chúng ta cũng trùng khắp và duyên cùng cả
vũ trụ không khác nào một làn sóng nhỏ cũng lan khắp cả
đại dương, như ánh sáng của vì sao cũng chiếu cùng quả
đất. Bởi vậy, tiền nhân xa cách đến đâu chúng ta cũng
có thể đem tâm niệm đại hiếu, tu hành mà cảm thông và
thay chuyển. Chỉ sợ rằng sức tu hành của chúng ta kém cỏi,
định lực không bao nhiêu, tợ hồ như ánh sáng của một
vì sao nhỏ, làm sao thay đổi cho một cảnh vật càng thêm
tươi sáng?! Chúng ta không thể không nhờ đến định lực
của nhiều vị tu hành tinh tấn, chú nguyện cho mới mong thay
đổi dễ dàng thân tâm cùng cảnh giới nơi mỗi người. Các
vị tu hành tinh tấn ấy phần nhiều là chúng Tăng chuyên tu
trong ba tháng hạ.
Xưa
kia Tôn giả Mục-kiền-liên tuy tu hành chứng đến lục thông,
nhưng với đạo lực một mình vẫn không sao cứu vớt từ
mẫu, đã phải nhờ đến sức chú nguyện của mười phương
Tăng trong ngày Tự tứ mà mẹ của Tôn giả liền thoát khỏi
vòng ngạ quỷ, hóa sanh cảnh giới chư Thiên an lạc.
*
Ngày
nay, chúng ta nếu muốn báo hiếu đối với tiền nhân một
cách viên mãn, trước hết chúng ta nên tin tưởng vào ba điều
đã lược nói ở trên. Chúng ta tin rằng cảnh khổ vui đều
do tâm niệm và tâm niệm có thể thay đổi, xấu trở nên
tốt một cách dễ dàng, khi nhờ có sức chú tâm của nhiều
vị tu hành có định lực. Chúng ta cũng thường thấy các
nhà thôi miên học chỉ gia công tập luyện và tập trung tư
tưởng đôi phần mà họ có thể sai sử kẻ đối phương
hành động theo ý chí của họ. Nếu với các bậc tu hành,
có một tâm hồn thanh tịnh, có định lực mạnh mẽ thì chắc
hiệu lực sẽ tăng lên bội phần, và với các đấng Giác
ngộ thì không thể nào tính lường được.
Chúng
ta tin tưởng như thế và chí tâm bố thí cúng dường Tam Bảo,
chúng Tăng, làm việc hiếu nghĩa trong ngày Tăng tự tứ (rằm
tháng bảy) để cầu mong được mục đích báo hiếu hoàn
toàn của kẻ biết làm con.