ĐẠI
Ý KINH DƯỢC SƯ
Đức
Từ phụ Thích-ca Mâu-ni của chúng ta xuất hiện giữa thế
giới Ta bà ác trược này, hóa thân tu hành chánh đạo chứng
quả Bồ-đề, kiến lập đạo tràng thanh tịnh, nói vô lượng
pháp môn chánh đáng, bản hoài của Ngài là để cứu độ
chúng sinh thoát vòng sanh, lão, bệnh, tử. Chẳng những Thích-ca
như vậy, mà đức Phật A-di-đà hiện thân vào thế giới
Tây gây dựng pháp tràng, nói pháp độ chúng sinh và đức
Phật Dược Sư cũng hiện thân ở thế giới Tịnh lưu ly phương
Đông nói pháp độ chúng sinh, thoát vòng khổ não, an hưởng
cảnh tịnh độ trong đời sau.
Nhưng
xét đến chúng ta và các chúng sinh nhiều kiếp nhẫn lại
đây chịu khổ luân hồi chỉ vì sanh tử: vì sanh tử mà làm
chúng sinh, vì sanh tử mà đời trước làm trời nay trở lại
làm người, nay hiện làm người mà sau lại làm trời, cho
đến làm chúng sinh, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cho nên
chúng sinh ba cõi rất lo sợ về sanh tử và cho sanh tử là
một sự việc lớn lao khó giải quyết nhất. Chỉ có đức
Phật thoát khỏi ngoài vòng sanh tử mới biết cách giải quyết
được mà thôi.
Vì
mục đích giúp cho chúng sinh giải quyết sanh tử, nên trong
thời giáo của đức Thích-ca, Ngài đều tùy căn cơ của chúng
sinh nói nhiều pháp khác nhau và pháp ấy được chia làm nhiều
hạng loại. Ngài vì hàng Nhân thừa mà nói ngũ giới, thập
thiện để đối trị tội ngũ nghịch, thập ác. Vì chư Thiên
mà nói bốn Thiền, tám định, đối trị bệnh tán loạn.
Vì hàng Thanh văn, Duyên giác mà nói Tứ đế, Thập nhị nhân
duyên để dứt trừ tham, sân, si, giải thoát sanh tử. Vì các
hàng Bồ-tát dạy tu lục độ, vạn hạnh để dứt trừ vô
minh hoặc và cứu độ chúng sinh... Đó là giáo pháp Phật
dạy nhưng phải tự tu, tự chứng, bởi vì chúng sinh khởi
niệm điên đảo gây ra nhiều đều tội lỗi, bề trong đầy
nghiệp chướng tham sân, kiêu mạn, bề ngoài bị nhiều tai
nạn: đau ốm, đói rách, hình phạt điên cuồng. Khi sống
mà tội lỗi tai ương như vậy, đến khi gần chết bao nhiêu
tư tưởng xấu đều phát khởi, cảnh giới khổ đau hiện
bà, khó ăn năn kịp. Cho nên, những người muốn luôn được
hưởng cảnh an lành thì một là phải tự lực tạo nhơn lành,
hai là nhờ lực hộ trì mới đặng.
Mà
tha lực ấy là thật.
Lâu
nay phần nhiều chuyên lo về việc tiếp dẫn vãng sanh trong
lúc lâm chung, nên thường tụng kinh Di-đà, niệm hiệu A-di-đà
và công việc gì làm xong cũng cầu nguyện khi lâm chung nhờ
Phật tiếp dẫn về cõi Cực lạc phương Tây.
Còn
trong lúc sống thì chúng ta thường bị ngoại duyên làm não
hại, không thể không nhờ Phật hộ niệm mà đặng an lành,
nên xin nhắc lại đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
là một đức Phật phát nguyện cứu độ chúng sanh trong khi
các chúng sinh ấy còn sống mà gặp các tai nạn. Nói đến
đức Dược Sư tức là lược nói kinh Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai bổn nguyện công đức vậy.
Kinh
Dược Sư này là một phương pháp ứng dụng hiện thời cho
hết thảy chúng sinh ở cõi Ta-bà này, không luận hạng người
nào, ai cũng muốn sống lâu và muốn khỏi tai nạn để vui
vầy ăn ở, thì cần phải nhờ oai tạo tâm lành, vượt vòng
ác kiến ma đạo mà tránh khỏi các tai nạn.
Kinh
này là phương pháp tạo thành cảnh Tịnh độ. Các đức Phật
đều phát tâm rộng lớn tu hành cầu chứng Phật quả, phát
nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh, mà cảm thành thế giới
anlạc như đức Dược Sư nói trong kinh này. Nếu chúng ta tu
hành mà phát nguyện độ sanh như Ngài, một người tu như
vậy, cho đến nhiều người cũng tu hành phát nguyện như Ngài
thì chắc chắn hiện tiền trong thế giới của chúng ta đang
sống bớt tai nạn binh đao, thậm chí không còn móng khởi
tâm độc ác giết hại lẫn nhau, không những ít người chết
yểu mà còn sống lành mạnh, bớt bịnh tật, cho đến sống
lâu vô lượng, không còn nghe tiếng rên rỉ, than van của kẻ
nghèo khổ, tật nguyền v.v. tức là thiết lập thế giới
Cực lạc ở tại cõi đời này vậy.
Do
đó, đức Phật Thích-ca mới nói kinh Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai bổn nguyện công đức này. Thuộc đời Đường, Tam
Tạng Pháp sư Huyền Trang dịch từ Phạn ra Hoa văn, xin tóm
tắt như sau:
Kinh
Văn chia ra làm ba phần:
Phần
duyên khởi
Phần
chánh tông.
Phần
lưu thông.
A.
Phần duyên khởi
Một
khi Phật với các đồ chúng: Tám ngàn vị Tỷ-kheo, Ba mươi
sáu ngàn vị đại Bồ-tát cùng các vị quốc vương, cư sĩ,
trời, người, ở trong thành Quảng Nghiêm. Phật theo lời thưa
thỉnh của Mạn-thủ-thất-lợi (Văn-thù Bồ-tát) mà nói kinh
này.
B.
Phần chánh tông
Đoạn
thứ nhất Ngài Mạn-thù-thất-lợi dùng sức đại trí cầu
chứng Phật đạo mà thỉnh Phật nói kinh này. Như trong kinh
nói:
- Thưa
Thế Tôn! Xin nguyện vì chúng con mà diễn nói chủng loại
danh hiệu và bổn nguyện công đức thù thắng của đức Phật.
Đoạn
thứ hai Ngài Mạn-thù-thất-lợi phát tâm đại bi giúp ích
cho vô lượng chúng sinh mà thỉnh nói kinh này, vì thế nên
Phật khen: "Hay thay, hay thay! Mạn-thù-thất-lợi. Ông vì lòng
đại bi dứt trừ nghiệp chướng trói buộc cho chúng sinh và
làm lợi ích an vui cho các loài hữu tình trong các đời tượng
pháp sau này mà khuyến thỉnh Như lai diễn nói danh hiệu và
bổn nguyện công đức chư Phật".
Nhơn
bổn ý của Mạn-thù-thất-lợi thưa thỉnh lên, Phật mới
vì ngài Mạn- thù và vì ích lợi chúng sinh đời sau mà nói
rõ quốc độ, bổn nguyện công đức của đức Dược Sư
Lưu Ly Quang Như lai.
Phương
Đông cách đây mưòi hằng sa cõi Phật có thế giới gọi
là Tịnh lưu ly rất trang nghiêm tốt đẹp; cung điện báu,
bảy lớp hàng cây, ao sen báu, nước tám công đức v.v. đều
do bảy món báu tạo thành, thường thường tiếng nước chảy,
tiếng chim kêu, tiếng cây rung, gió thổi đều diễn bày các
phép tu hành và cõi ấy không có đàn bà con gái, không có
tên ác đạo hoặc người thọ khổ. Tóm lại cõi ấy đều
đủ các thứ công đức trang nghiêm, không khác cõi Cực lạc
A-di-đà, nên Phật nói: "Cũng như thế giới Cực lạc phương
Tây đủ công đức trang nghiêm không sai khác".
Lại
nữa, trong cõi Tịnh lưu ly có hai vị Bồ-tát lớn: Nhật Quang
và Biến Chiếu thường giúp đức Dược Sư trong lúc Ngài
tu tập theo hạnh Bồ- tát đã phát 12 lời nguyện mà được
cảm thành:
1.
Nguyện khi Ta thành đạo Bồ-đề, thân đầy đủ ba mươi
hai tướng tốt, hào quang sáng khắp vô lượng thế giới,
khiến các chúng sinh cũng được như Ta.
2.
Nguyện khi Ta thành Phật, trong ngoài sáng chói hơn ánh sáng
mặt trời, tự tại làm Phật, khiến các chúng sinh ở chỗ
tối tăm đều nhờ ơn khai thị.
3.
Nguyện khi Ta thành Phật, đầy đủ vô lượng phương tiện
trí tuệ, làm cho chúng sinh đầy đủ các món thọ dụng nơi
thân tâm.
4.
Nguyện khi Ta thành Phật, nếu các chúng sinh tu theo tà đạo
đều xoay về chánh đạo, hàng Nhị thừa thì đều hướng
về Nhất thừa.
5.
Nguyện khi Ta thành Phật, nếu có chúng sinh theo giáp pháp của
Ta mà tu hành, thì đều được hoàn hảo, dù có phạm giới
mà nghe đến tên Ta thì cũng trở thành thanh tịnh giới khỏi
phải sa vào ác đạo.
6.
Nguyện khi Ta thành Phật, nếu chúng sinh nào có thân thể hèn
yếu hay xấu sa, đui điếc hay câm ngọng, một phen nghe tên
Ta, niệm tên Ta thì được khỏi bệnh, lại được tốt đẹp
khôn ngoan
7.
Nguyện khi Ta thành Phật, nếu có chúng sinh không bà con thân
thuộc, nghèo thiếu ốm đau, không ai giúp đỡ, mà nghe được
tên Ta thì thân tâm yên lành quyến thuộc giúp đỡ cho, đến
chứng đạo Bồ-đề.
8.
Nguyện khi Ta thành Phật, các nữ nhân thường bị khinh dể
thấp kém, nếu nghe được tên Ta thì bỏ thân nữ nhân, thành
tướng trượng phu cho đến chứng quả.
9.
Nguyện khi Ta thành Phật, thì các chúng sinh thoát vòng ma đạo
ác kiến, về nơi chánh đạo, tu Bồ-tát hạnh mau chứng đạo
Bồ-đề.
10.
Nguyện khi Ta thành Phật, nếu chúng sinh bị pháp vua trừng
trị, trói buộc đánh đập, giam vào ngục tối, cắt xẻ v.v.
mà nghe tên Ta thì đều thoát khỏi.
11.
Nguyện khi Ta thành Phật, những chúng sinh bị đói khát, cầu
ăn mà tạo nghiệp dữ, nếu nghe tên Ta, chuyên niệm thọ trì,
thì Ta trước hết cấp cho món ăn được no đủ, sau nói pháp
khiến họ tu hành được hoàn toàn an vui.
12.
Nguyện khi Ta thành Phật, những chúng sinh nghèo không có áo
mặc, muỗi mòng chích đốt, nóng lạnh, ngày đêm khổ sở,
nếu nghe tên Ta chuyên niệm thọ trì, thì Ta theo tâm mong cầu
ấy khiến được đầy đủ y phục hoa hương.
Đó
là lược kể 12 bổn nguyện của đức Dược Sư, nhưng còn
bao nhiêu công đức tu hành của Ngài thì không thể nói hết.
Nên Phật nói: "Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai trong
khi tu Bồ-tát hạnh phát đại nguyện và công đức trang nghiêm
của cõi Phật kia. Như lai dẫu hơn một kiếp cũng không thể
nói cùng được".
Vì
nguyện lực như vậy, công đức tu hành như vậy, nên hễ
chúng sinh ngu si, không tin việc thiện ác nhân quả tầm thường
xen lẩn. Không bố thí cho ai, nếu có bố thí cho ai, nếu có
bố thí chút ít thì tâm thầm tiếc khổ sở như dao cắt xẻ
thân... nhưng đã từng nghe danh hiệu đức Dược Sư thì dầu
ở trong đuờng khổ cũng như ở sanh cõi người mà tu hành
bố thí, dầu bỏ thân mạng cũng không thương tiếc.
Hoặc
có người phá giới luật, oai nghi, tâm kiêu mạn, bài bác
Chánh pháp sẽ bị đoạ trong ba đường dữ, nếu nghe tên
đức Phật Dược Sư tức thì bỏ các hạnh xấu ác mà tu
theo chánh pháp, cho đến chúng sinh muốn sanh cõi trời, sanh
làm chuyển luân thánh vương để đem thập thiện dạy đời,
muốn tiêu trừ bệnh tật, thọ mạng lâu dài, nếu nghe danh
hiệu đức Duợc Sư, chuyên tâm trì niệm kinh chú hoặc tạo
tượng Dược Sư, dâng cúng hoa hương tươi tốt tịnh tâm
trì tụng kinh chú, đốt 49 ngọn đèn, hoặc để tâm chú nguyện
vào trong vật uống ăn của người bệnh, tụng chú Dược
Sư Quán đảnh chơn ngôn 108 lần để cho họ dùng, nhất là
49 ngày ấy phải nhất tâm thọ trì 8 điều giới trai, thân
thường sạch sẽ, tâm thường vui vẻ, đối với các loài
chúng sinh, khởi tâm từ giúp đỡ, khởi tâm bi cứu vớt,
khởi tâm bình đẳng bố thí cho các loài hữu tình, không
làm tổn hại bất cứ chúng sinh nào và không khi nào giận
hờn... được như vậy trong tâm tự mình đã xoay đổi được
tâm tàn ác độc hại, thì bao nhiêu tai chướng, những cảnh
khốn khổ đều theo tâm ấy mà chuyển thành cảnh giới toàn
thiện, toàn mỹ, hằng ngày lại được các vị thiên Thần
ủng hộ và nhờ oai thần nguyện lực của đức Dược Sư
mà cầu lành bệnh, cầu sống lâu đều được thoả nguyện.
Vì
rằng đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã trải qua
nhiều kiếp phát đại nguyện độ sanh, tu Bồ-tát hạnh, trong
thời gian lâu xa ấy, Ngài dứt sạch những nghiệp chướng,
báo chướng và phiền não chướng, là một vị Pháp vương,
không bị bất cứ một điều gì làm nao núng, những hạnh
nguyện độ sanh luôn luôn cảm ứng với chúng sinh, nên tùy
ý sanh vào những cảnh khổ, tối tăm làm một vị Luơng y
dùng các phương tiện cứu giúp chúng sinh thoát vòng thân bệnh,
nói pháp mẫu để cứu chúng sinh ra khỏi vòng tâm bệnh...
Do vậy, tùy theo hết thảy chúng sinh phát tâm nguyện cầsu
mà nguyện lực của Phật vẫn cảm ứng trùm khắp tất cả.
C.
Phần lưu thông
Khi
Phật nói kinh này rồi cả thính chúng, Bồ-tát, Tỷ-kheo đều
vui mừng và vâng giữ.
Chú
Dược Sư quán đảnh chơn ngôn:
Nam
mô, Bạt già phạt đế, bệ xát xã lũ rô-bệ lưu ly bát lạc
bà - hát ra xà dã, đát tha yết đa dã - a ra hất đết, tam
miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệt
sát thệ, bệ sát xã - tam một yết đế, ta ha.
Nam-mô
Dược Sư hội thượng Phật Bồ-tát.