PHÁT
TÂM BỒ ĐỀ
Lời
nói đầu
Đạo
Phật là đạo của tâm cao rộng. Mỗi một câu một lời của
Phật pháp toàn dạy chúng ta mở rộng tấm lòng bao dung trùm
khắp hết thảy muôn loài. Bởi vậy, những Phật tử tín
hiểu Phật pháp đúng đắn, bao giờ cũng phải mở rộng phần
nhãn quan, nhìn khắp muôn loài chúng sinh với mình đều cùng
chung một bản thể, cùng chung một sự sống, không những
tương quan với nhau về mặt đau khổ mà còn tương quan với
nhau về mặt an lạc. Không những kiếp này, mà bao nhiêu kiếp
từ trước tới nay, ta với chúng sinh lắm khi là ác nghịch,
nhưng cũng lắm khi là thân thích, ân nhân lẫn nhau, cho nên
thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, cứu độ nhau là một việc
dĩ nhiên không phải ngoài phận sự.
Nhưng
giúp nhau để đưa nhau đi đến mục đích nào? Nếu giúp nhau
mà không phải cốt để đưa nhau đến mục đích cao rộng
và chân thật thì việc giúp nhau ấy, chỉ rập khuôn theo theo
một quan niệm hẹp hòi, giả dối, tuy nói là giúp nhau mà
kỳ thực lại làm trở ngại, bó buộc nhau trong vòng tội
lỗi thống khổ. Phật dạy chúng ta nên cố gắng giúp nhau,
và phải biết giúp nhau bằng cách đưa nhau đến mục đích
giải thoát khổ đau, là mục đích cao rộng và chơn thật
hơn cả. Đạt được sự an lạc, giải thoát tối thượng
thì tất cả nguyện vọng về hạnh phúc của ta đều gồm
đủ trong đó.
Phật
pháp đã nêu lên mục đích cao rộng như thế. Muốn thực
hiện mục đích ấy phải có chí nguyện cao rộng tức là
chí nguyện Bồ-đề hay là tâm Bồ-đề.
Tầm
Bồ-đề gọi tắt là tâm giác ngộ, nói rộng là tâm sáng
suốt biết xả bỏ cái ngã và ngã sở của mình để trên
thì mong cầu Phật đạo, dưới thì cứu giúp mọi loài. Nếu
chỉ vì Phật đạo mà không vì chúng sinh thì trở thành ích
kỷ, không thể nào giải thoát hoàn toàn; trái lại chỉ vì
chúng sinh mà bỏ quên Phật đạo thì lại dắt nhau quanh quẩn
trong vòng sống chết của vô minh. Cho nên tâm Bồ-đề này
là một thứ tâm gồm đủ cả hai nghĩa: vì Phật đạo và
vì chúng sinh.
Xem
thế, phát tâm Bồ-đề là một việc rất quan hệ đối với
hàng Phật tử. Đành rằng Phật pháp rất thích hợp với
trình độ chúng sinh. Phật đã khai năm thừa để giáo hóa.
Các thừa đầu tuy chỉ dạy những pháp phổ thông theo căn
cơ chúng sinh ưa muốn, song rốt cuộc Phật vẫn đưa chúng
sinh đến kết quả giải thoát hoàn toàn, khuyên chúng sinh
phải cố gắng phát tâm Bồ-đề. Chính chúng ta ở vào thời
này, một thời kỳ mà tỉ số đau khổ ngày càng cao, thế
lực Phật pháp bị suy giảm dần, thì sự phát tâm này lại
càng cần thiết hơn nữa.
Tuy
cần thiết nhưng không phải tuyệt đối khó khăn, vì tâm
này ai ai cũng có sẵn. Nếu người nào biết tự giác và suy
nghĩ rằng: Ta hãy làm thế nào cho Chánh pháp được truyền
bá lâu dài khắp thế gian, làm thế nào cho mình được hoàn
toàn giác ngộ, và làm sao cho mọi người cùng giác ngộ như
mình. Như thế là đã phát tâm Bồ-đề rồi vậy.
Nhân
sinh trần thế này, ai ai cũng suy nghĩ phát tâm như thế, thì
bao nhiêu cảnh tượng thống khổ, mê lầm trong kiếp sống
chúng sinh, cũng được tiêu tan theo những ý lành hạnh tốt
của sự phát khởi tâm Bồ-đề này.
Ngài
Tỉnh Am Tổ sư vì thiết tha với mục đích đó, nên tự mình
đã phát tâm Bồ-đề, và làm ra bài văn này (bằng chữ Hán)
khuyên mọi người đồng phát tâm ấy. Bài văn này cách đây
9, 10 năm đã có vài người dịch Quốc văn, nhưng nay không
còn nữa, mà nhận thấy nó rất cần thiết, cho nên chúng
tôi dịch lại và ấn hành ra đây để khiến quí pháp hữu
đồng đọc đồng nghĩ và phát tâm Bồ-đề
PL.
2515-1952
Thích
Thiện Siêu
BÀI
VĂN "KHUYẾN PHÁT TÂM BỒ ĐỀ" CỦA TỔ SƯ TỈNH AM
Lối
cốt yếu để vào đạo, trước hết phải phát tâm; việc
cần kíp trong sự tu hành, trước hết phải lập nguyện. Có
phát tâm mới mong độ chúng sinh, có lập nguyện mới kham
thành Phật đạo; nếu không phát tâm rộng lớn, không lập
nguyện bền chắc, dầu có trải qua số kiếp nhiều như vi
trần, vẫn xoay vần trong luân hồi, tuy co tu hành nhưng rốt
cuộc vẫn bị nhọc nhằn vô ích. Vậy nên kinh Hoa Nghiêm nói:
"Bỏ mất Bồ-đề tâm mà tu các thiện pháp, đều thành ma
nghiệp." Bỏ mất Bồ-đề tâm còn hại như thế, huống là
chưa phát?
Thế
thì biết rằng học đạo Như lai, trước phải phát nguyện
Bồ-tát sai biệt rất nhiều, nếu không chỉ vẽ rõ ràng,
tưởng khó bề cho người ta biết đường xu hướng. Bởi
vậy nên nay lược chỉ tám tướng của tâm nguyện là: Tà,
chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên.
Sao
gọi là tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên?
1.
Có người tu hành, một mặt nói là tu hành không chịu cứu
xét tự tâm, chỉ lo trau luyện bên ngoài, tham cầu lợi dưỡng,
ưa luyến sắc đẹp danh thơm, đắm say dục lạc trong đời
hiện tại, trông mong quả báo hữu lậu về đời vị lại.
Phát tâm như vậy gọi là Tà.
2.
Đã không cầu lợi dưỡng danh vọng cũng chẳng tham đắm
dục lạc, quả báo hiện tại và tương lai. Nhứt tâm vì muốn
thoát sanh tử, vì cầu chứng Bồ-đề. Phát tâm như vậy gọi
là Chánh.
3.
Tâm tâm niệm niệm, trên thì cầu Phật đạo, dưới thì hóa
độ chúng sinh. Dù nghe Phật đạo cao xa, khó, không sanh lòng
khiếp sợ thồi lui. Dù thấy chúng sinh khó độ, không sanh
lòng chàn nản nhọc nhằn. Một lòng tinh tiến như đi trên
núi cao muôn trượng, quyết đến tận chóp, như đi lên tháp
cao chín tầng, quyết đến cùng đỉnh tháp. Phát tâm như vậy
gọi là Chơn.
4.
Có tội lỗi không chịu sám hối trừ diệt trong tâm trược
uế, ngoài dạng trong thanh, đầu siêng sau nhác. Giả sử có
hảo tâm, thường bị mồi lợi danh làm chương ngại ô tạp,
có thiện pháp nhưng không tránh khỏi tội nghiệp nhiễm ô.
Phát tâm như vậy gọi là Ngụy.
5.
Độ tận thế giới chúng sinh, nguyện ta mới tận. Thành được
đạo quả Bồ-đề, nguyện ta mới thành. Phát tâm như vậy
gọi là Đại.
6.
Xem ba cõi như ngục tù, thấy sanh tử như oan gia, sanh lòng
sợ hãi, chỉ cầu độ thoát phần mình, không phát tâm độ
người. Phát tâm như vậy gọi là Tiểu.
7.
Nếu thấy thiệt có chúng sinh ngoài tâm mà phát tâm nguyện
độ, thấy thiệt có Phật đạo ngoài tâm nên phát tâm nguyện
thành, không xả vọng công huân, cố chấp tướng tri kiến.
Phát tâm như thế gọi là Thiên.
8.
Nếu biết tự tánh là chúng sinh, phát nguyện độ thoát chúng
sinh tự tánh, biết tự tánh là Phật đạo, phát nguyện thành
tựu Phật đạo tự tánh. Ngoài tự tâm tự tánh không thấy
một pháp nào khác nữa, nên lấy tâm như hư không, phát nguyện
như hư không, tu hành như hư không và chứng quả như hư không,
lại cũng không thấy có tướng hư không là thế nào nữa.
Phát tâm nhưvậy gọi là Viên.
Biết
được tám tâm tướng sai biệt như thế mới biết thẩm sát,
biết thẩm sát mới biết điều nên bỏ nên lấy, biết điều
nên bỏ nên lấy, mới có thể phát tâm.
Sao
gọi là thẩm sát? Là khi ta phát tâm, xét trong tám thứ ấy,
thứ nào là tà, thứ nào là chánh, là chơn, là ngụy, là đại,
là tiểu, là thiên, là viên? Sao gọi là bỏ, lấy? Là bỏ
tà, bỏ ngụy, bỏ tiểu, bỏ thiên mà lấy chánh, lấy chơn,
lấy đại, lấy viên. Phát tâm được như thế ấy mới gọi
là chơn chánh tâm Bồ-đề.
Tâm
Bồ-đề này là chủ tể các thiện pháp, nên phải có đủ
nhân duyên mới phát, nên phải có đủ nhân duyên mới phát
khởi.
Nhân
duyên ấy ước lượng có 10 thứ:
1.
Nghĩ nhớ ân nặng của chư Phật.
2.
Nghĩ nhớ ân cha mẹ.
3.
Nghĩ nhớ ân Sư trưởng.
4.
Nghĩ nhớ ân thí chủ.
5.
Nghĩ nhớ ân chúng sinh.
6.
Nghĩ nhớ sự khổ sanh tử.
7.
Tôn trọng tánh linh của mình.
8.
Sám hối nghiệp chướng.
9.
Cầu sanh Tịnh độ.
10.
Nghĩ sao Chánh pháp được lâu bền, truyền bá khắp thế gian.
1.
Vì sao phải nghĩ nhớ ân nặng cũa Phật? Đức Thích-ca Như
lai, từ lúc mới phát tâm, chỉ vì chúng ta mà tu hạnh Bồ-tát,
chịu đủ mọi đều khổ cực, trải qua không biết bao nhiêu
kiếp. Lúc ta tạo các nghiệp nhân, Phật rủ lòng thương xót,
tìm đủ mọi cách để giáo hóa, nhưng chúng ta ngu si không
biết đem lòng tín thọ, đến khi chúng ta thọ quả báo đoạ
vào địa ngục chịu khổ cho chúng ta, nhưng chúng ta nghiệp
chướng nặng nề, không thể cứu bạt. Khi sanh trong nhân đạo,
Phật lại dùng đủ phương tiện khiến ta gieo trồng căn lành,
đời đời kiếp kiếp. Phật thường theo dõi chúng ta, không
giờ phút nào xa bỏ. Khi Phật mới ra đời, thì ta còn ở
chốn trầm luân, nay được sanh làm thân người, Phật đã
diệt độ! Ta vì tội gì mà sanh nhằm đời mạt pháp? Nhờ
phước gì mà nay dự phần xuất gia? Vì chướng duyên gì mà
không thấy được kim thân, lại nhờ may mắn gì mà đích
thân được gặp Xá-lợi?
Suy
nghĩ như thế, tức tự biết rằng: giả sử trước kia không
có căn lành làm sao ngày nay được nghe Phật pháp, không nghe
Phật pháp đâu biết thường mang ân Phật. Cái ân đức quá
lớn, gò núi cũng khó ví bằng. Nếu tự mình không phát tâm
rộng lớn, tu đạo Bồ-tát, gây dựng Phật pháp, cứu độ
chúng sinh, thì dù nát thịt tan xương cũng không báo đáp được.
Ấy là nhân duyên thứ nhất phát tâm Bồ-đề vậy.
2.
Vì sao phải nghĩ nhớ ân cha mẹ? Thương cho cha mẹ chúng ta,
sanh ta khó nhọc, mười tháng mang thai, ba năm bú mớm, chịu
ướt nhường khô, nuốt đắng nhả ngọt nuôi ta, mới được
thành người, chỉ mong nối dõi nghiệp nhà, cúng thừa tế
tự. Ngay ta đã xuất gia, tạm xưng Thích tử, tạm gọi Sa
môn, không cúng dâng miếng ngon miếng ngọt, không chăm sóc
việc tế tự tảo mộ, khi sống đã không nuôi được thể
xác cha mẹ, chết lại không độ được tánh linh gia tiên;
với thế gian đã là người rất hại, với xuất thế gian
lại không ích gì; hai đàng đều lỡ, tội nặng biết trốn
vào đâu? Suy nghĩ như vậy mới biết phải thường tu Phật
đạo trải qua trăm kiếp nghìn đời, cứu độ chúng sinh khắp
trong mười phương ba cõi. Như thế không những cha mẹ trong
một đời, mà cha mẹ trong nhiều đời đều mong ơn tế bạt,
không những cha mẹ của một người, mà cha mẹ của tất
cả mọi người, đều được siêu thăng. Ấy là nhân duyên
thứ hai phát tâm Bồ-đề vậy.
3.
Vì sao phải nhớ đến ơn Thầy? Cha mẹ tuy sanh trưởng nuôi
nấng được thân ta, nếu không có vị Thầy ở thế gian dạy
bảo ta thì không biết điều lễ nghĩa, không có vị Thầy
xuất thế gian thì ta không biết đến Phật pháp. Không biết
đến lễ nghĩa thì cũng như loài vật, không hiểu Phật pháp
thì khác nào người tục. Nay chúng ta biết qua lễ nghĩa, hiểu
qua Phật pháp, mình mặc áo cà-sa, thân thấm nhuần giới phẩm,
công ơn sâu nặng ấy đều nhờ Thầy chỉ dạy. Nếu ta cầu
mong quả vị nhỏ thì chỉ lợi được một mình, nhưng nay
vì quả vị Đại thừa, phát nguyện làm lợi ích khắp mọi
người thời không những vị Thầy ở thế gian mà vị Thầy
xuất thế gian, cũng đâu mong nhờ lợi ích. Ấy là nhân duyên
thứ ba phát tâm Bồ-đề vậy.
4.
Vì sao phải nhớ ơn thí chủ? Chúng ta hiện nay có sự tư
dụng hàng ngày, đều không phải của mình sẵn có, mỗi ngày
cháo cơm ba bữa, mỗi năm chăn áo bốn mùa, khi cần dùng về
tật bệnh, lúc chi phí nơi thân miệng, thảy đều do sức
lực người khác mang lại cho ta dùng. Người kia thì đích
thân kiệt lực cày bừa, vẫn khó đủ lót miệng, ta thời
ngồi yên hưởng dùng còn không vừa ý. Người kia thì đánh
sợi dệt cửi không ngơi nghĩ vẫn còn khó khăn mới đủ
manh áo mặc, ta thời quần áo thừa thãi đâu biết tiếc thương.
Người kai thì cửa sập nhà liếp, bối rối suốt đời, mà
ta thời nhà cao sân rộng ung dung sáng ngày. Đem sự khó nhọc
của người kia mà cúng cho ta nhàn rỗi, ta có yên lòng chăng?
Lấy phần lợi của kẻ khác mà tư nhuận thân mình, lý ấy
nghĩ có thuận chăng? Thế thì trừ phi vận cả hai phần bi
trí nghiệm tu, phước tuệ đôi đường, khiến cho đàn tín
được thâm ân, chúng sinh được hưởng phúc mới xứng đáng
công người. Trái lại, hột gạo tấm tơ đền bù đều có
phận, ác báo khó tránh được. Ấy là nhân duyên thứ tư
phát tâm Bồ-đề vậy.
5.
Vì sao phải nghĩ ơn chúng sinh? Ta với chúng sinh từ kiếp
lâu xa đến giờ, nhiều lần đắp đổi làm cha mẹ lẫn nhau,
cùng có ân đức vời nhau, nay tuy cách đời hôn muội, hai
bên đều chẳng biết nhau, nhưng lấy lý mà suy, cố nhiên
có sự báo đáp, những loài mang lông độ sừng kia biết đâu
rằng không phải con ta ngày trước. Những loài sâu trùng hay
động vật kia biết đâu trước chẳng từng làm cha mẹ ta?
Thường thấy những người lúc nhỏ xa cha mẹ, đến khi khôn
lớn còn quên mặt mũi dung mạo, huống là những kẻ có nhân
duyên thân thích với ta đời trước, bây giờ mỗi người
mỗi họ đâu dễ gì hay. Kia thời kêu la ở chốn địa ngục,
hoặc quằn quại trong vòng ngạ quỷ, thống khổ đói khát
kêu ai, ai biết. Mặc dầu ta không thấy không nghe, nhưng tất
nhiên họ cần kêu cầu cứu giúp, sự lý ấy nếu ngoài kinh
luận của Phật giáo thì không ai biết được hay nói được
rõ ràng. Cho nên các vị Bồ-tát thường coi con sâu, con kiến
đều là ân nhân thân thuộc quá khứ, chánh giác vị lai do
làm những điều lợi ích để báo đáp ơn đó. Ấy là nhơn
duyên thứ năm phát tâm Bồ-đề vậy.
6.
Vì sao phải nghĩ đến sự khổ sanh tử? Ta với chúng sinh
từ nhiều kiếp đến giờ thường ở trong vòng sanh tử chưa
được giải thoát. Khi ở trong loài người, khi ở trong cõi
trời, khi ở cõi nay, khi ở phương khác, ra vào muôn mối,
chìm nổi không chừng. Thoạt được làm trời, thoạt sanh
làm người, thoạt đoạ vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Trong cửa ngục tối tăm, buổi mai ra, buổi chiều trở lại,
trong hang ngục Sắt, tạm ra khỏi liền lại bắt vào, phải
lên ngục Đao sơn thì thân không còn một mảnh da lành. Phải
leo ngục Kiếm thọ thì thương tật ruột gan rách nát. Viên
sắt nóng sao khỏi đói, nuốt vào thì can trường cháy tận,
nước đồng sôi không làm cho hết khát, uống vào thì xương
thịt chín nhừ, cưa bén xẻ thân, đứt rồi liền nối lại,
gió nghiệp thổi đến, chết rồi liền sống lại. Trong thành
lửa cháy, toàn là kêu thảm thiết. Trong chảo dầu ram toàn
tiếng rên khóc đau thương. Bị giá lạnh vừa đọng lại
thì thân hình như nhụy sen xanh mới kết, máu thịt đã tan
ra thì thể xác như hoa sen đỏ nở tung. Một đêm sanh tử
ở nhân gian bằng trải qua muôn lần ở dưới địa ngục.
Làm phiền kẻ ngục tốt phải nhọc nhằn, không tin lời Diêm
vương dạy bảo.
Lúc
chịu quả báo mới biết khổ. Khi ấy tuy có ăn năn sự đã
muộn rồi, khi thoát khỏi liền quên, cứ tạo nghiệp nhân
như trước. Đánh lừa chảy máu, ai hay là mẹ ta thương xót,
dắt lợn làm thịt, biết đâu chính là cha mình đau đớn.
Ông Văn Vương là Thánh, ăn thịt con còn không biết huống
ta là kẻ phàm ăn thịt cha mẹ làm sao hay? Ân ái năm xưa mà
nay là oan gia, giặc thì ngày trước mà giờ thành cốt nhục,
người có túc mạng thông biết được tiền kiếp, thật đáng
hổ thẹn, người có thiên nhãn thông thấy tỏ tường, thật
đáng cười thường trong chỗ phân nhơ mười tháng đùm bọc
khó thở, trong mủ máu một giờ đảo ngược sanh hạ đáng
thương. Khi bé nhỏ ngủ mê, Đông Tây mờ mịt, lớn lên có
trí khôn thì liền sanh tham dục. Nào bệnh, nào già, nào chết
phút chốc tìm đến. Thần thức bị tan vỡ bên trong bởi
gió lửa xen nhau thổi đốt, da thịt bị héo khô bên ngoài
bởi máu đã kiệt châm, không một chỗ da nào mà không như
dao cắt. Rùa khi đem mổ, còn dễ lộ mai, người khi hơi tàn,
thần thức rời bỏ xác thân rất khó.
Tâm
không chủ định, như khách buôn bán chạy dong mọi nơi, thân
không có một hình thù nhất định như phòng nhà thay đổi,
hết chốn này đến chốn khác không ngừng. Nghiền cõi Đại
thiên làm bụi nhỏ cũng không nhiều bằng số thân ta ra vào
sanh tử, dòng nước trong bốn bể lớn, cũng không nhiều bằng
nước mắt ta đã khóc khi ly biệt. Thịt xương chồng chất
hơn núi cao, xác chết ngổn ngang nhiều hơn quả đất. Giả
sử không nghe lời Phật, sự đó ai thấy ai nghe? Chưa xem đến
kinh Phật, lẽ ấy làm sao hay biết? Giá hoặc có người vẫn
giữ thói tham luyến ngày trước, tham ái say mê như xưa thì
chỉ e muôn kiếp nghìn đời, một lầm trăm lỡ, thân ngưòi
khó được, dễ mất, thời cơ tốt trôi qua khó tìm lại được.
Đường lối mù mịt, biệt ly dằng dặc, ác báo trong ba đường
lại phải tự mình chịu lấy, đau đớn không thể nào nói
được, ai là người sẽ chịu thế cho? Kể đến nỗi niềm
này làm sao khỏi ghê lòng rởn óc!
Thế
nên, phải ngăn dứt lòng sanh tử, ra khỏi biển ái dục, độ
mình độ người đồng lên bờ giác thì dầu bao kiếpp công
huân, cũng cốt tại một chuyện này. Ấy là nhân duyên thứ
sáu phát tâm Bồ-đề vậy.
7.
Sao gọi là tôn trọng tánh linh của mình? Nhất tâm hiện tiền
của ta đây, thật ra là cùng với tâm đức Thích-ca Như lai
không hai không khác. Vì sao đức Thích-ca Thế Tôn sớm thành
ngôi Chánh giác vô lượng kiếp đến nay, mà chúng ta vẫn
còn làm kẻ phàm phu, hôn mê điên đảo? Đức Thế Tôn thì
đầy đủ vô lượng thần thông trí tuệ, công đức trang
nghiêm, mà chúng ta thì chứa đầy vô lượng phiền não nghiệp
lụy, sanh tử buộc ràng? Rõ là tâm ta cũng như tâm Phật vốn
chỉ một thể, nhưng vì mê ngộ nên khác nhau. Lặng lẽ suy
nghĩ, há chẳng đáng hổ lắm sao? Ví như ngọc bảo châu vô
giá, vì chìm ở bùn nhơ, mà người ta xem thường như ngói
đá, không chút yêu trọng. Cho nên cần phải thực hành vô
lượng pháp lành để đối trị mọi đều phiền não, nhờ
có công tu đức thời tánh đức mới tỏ bày; cũng như viên
ngọc châu đã rửa sạch, treo ở chỗ cao thì chói sáng rực
rỡ, soi khắp tất cả mọi nơi. Được thế mới không có
phụ công ơn giáo hóa của Phật và không bẽ bàng tánh linh
của mình. Ấy là nhân duyên thứ bảy phát tâm Bồ-đề vậy.
8.
Sao gọi là sám hối nghiệp chướng? Trong kinh nói: "Phạm một
tội cát-la, phải đoạ vào địa ngục nô lệ một thời hạn
bằng 500 tuổi thọ của trời Tứ Thiên vương." Tội cát-la
là tội nhỏ còn mắc quả báo như thế, huống chi tội nặng
thời quả báo nói làm sao kể xiết! Hiện nay, trong sự tác
dụng hàng ngày của chúng ta, nhứt cử nhứt động thường
trái giới luật; một miếng ăn một ngụm nước, thường
phù hợp với Thi-la (Sila, Giới), những điều trái phạm chỉ
một ngày cũng đã vô lượng, huống những tội gây ra suốt
cả đời và nhiều kiếp, lại càng không thể nào nói cùng.
Vả lại, lấy năm giới mà nói, trong mười người thọ đã
hết chín người phạm và phạm rồi thì phần nhiều che giấu,
ít ai tỏ bày ăn năn. Như là gới Ưu-bà-tắc còn không toàn
vẹn, huống chi giới Sa-di, giới Tỷ-kheo, giới Bồ-tát, thôi
thì chẳng cần phải nói. Hỏi đến danh hiệu thì xưng ta
là Sa môn, mà hỏi đến sự thực hành thì chưa đủ làm Ưu-bà-tắc,
thế thì làm sao không thẹn được ư? Nên biết rằng, giới
luật của Phật, không thọ thì thôi mà thọ thì không thể
hủy hoại, không phạm thì thôi, mà phạm thì về sau tất
phải sa đoạ. Vậy nếu trừ phi tự thương xót mình và thương
xót người, thân miệng thiết tha, vừa nói vừa khóc, khắp
cùng hết thảy chúng sinh cầu ai sám hối, thì dù muôn kiếp
nghìn đời khó bề trốn khổi quả báo hung ác. Ấy là nhân
duyên thứ tám phát tâm Bồ-đề vây.
9.
Sao gọi là cầu sanh Tịnh độ? Ở cõi này tu hành được
tiến trên đường đạo rất khó, trái lại vãng sanh cõi Tịnh
độ, thành Phật rất dễ dàng, dễ cho nên chỉ một đời
đã thành được, khó khăn cho nên nhiều kiếp vẫn chưa thành.
Thế nên các bậc Thánh hiền thuở trước, vị nào cũng xu
hướng vãng sanh, ngàn muôn kinh luận, bộ nào cũng chỉ về
Tịnh độ. Đây là pháp môn tu hành cho chúng sinh đời mạt
pháp, không pháp môn nào thích hợp hơn. Nhưng trong kinh nói:
"Điều thiện nhỏ không làm sao sanh được, phải có nhiều
phước mới vãng sanh." Nhiều phước thì không chi bằng phát
tâm Bồ-đề rộng lớn. Bởi vậy mới hành trì danh hiệu
Phật đã hơn người bố thí trăm năm, vừa phát tâm Bồ-đề
đã hơn kẻ tu hành trải qua nhiều kiếp. Phật tử niệm Phật
cốt cầu mong làm Phật, mà tâm Bồ-đề không phát thì dù
niệm cũng chẳng thành gì được. Phát tâm là cốt để tu
hành mà không được sanh Tịnh độ, dẫu phát rồi dễ bị
thồi lui. Cho nên đã gieo giống Bồ-đề lại cày bằng cày
niệm Phật thì tự nhiên đạo quả thêm lớn; cưỡi thuyền
đại nguyện vào trong biển Tịnh độ thì quyết định sanh
cõi Tây phương. Ấy là nhân duyên thứ chín phát tâm Bồ-đề
vậy.
10.
Sao gọi là lo nghĩ Chánh pháp lâu bền? Đức Thế Tôn từ
vô lượng kiếp đến giờ vì chúng ta nên tu đạo Bồ-đề,
những việc khó làm Ngài làm được, những việc khó nhẫn
nại Ngài nhẫn nại được, nhân quả viên mãn mới được
thành Phật. Đã thành Phật rồi, giáo hóa chúng sinh, đến
khi nhân duyên chu đáo mới nhập Niết-bàn, thời kỳ Chánh
pháp, tượng pháp, giáo pháp tuy có nhưng không người truyền
dạy tu hành, tà chánh không phân minh, thị phi chẳng liễu
biệt, cạnh tranh nơn ngã, trục lợi đua danh, mở mặt nhìn
xem đầy dẫy cả thiên hạ đều như thế, suy tàn cho đến
nỗi không còn biết Phật là người thế nào, Pháp nghĩa là
gì, Tăng là tên gì, thật đau đớn không nỡ nói! Mỗi một
lần nghĩ đến, không cầm giọt nướcmắt rơi xuông lưng
chừng!
Ta
là Phật tử mà không báo ơn Phật. Trong không ích cho bản
thân, ngoài không ích cho nhân dân xã hội, sống không ích
cho hiện tại, chết không ích cho tương lai. Trời dù cao không
che được ta, đất dù dày không chở được ta, làm tội nặng
chẳng phải ta là ai? Do đó, đau đớn không thể nín thinh,
nghĩ mãi cũng chẳng có kế gì tài giỏi, nên vội quên mình
là người hèn dốt, liền phát tâm Bồ-đề, tuy không làm
sao vãn hồi vận mạt ngay bây giờ, nhưng quyết chắc mưu
toan giữ gìn Chánh pháp được lâu bền trong ngày sau. Vì vậy,
tôi cùng các bạn lành đồng đến chốn đạo tràng, trình
thưa tỏ bày sám hối, dựng nên pháp hội, phát bốn mươi
tám lời đại nguyện, nguyện trải trăm nghìn kiếp, tâm nào
cũng cốt cầu thành Phật. Từ ngày nay cho đến tận đời
vị lai, hết một đời này, thề quyết về nơi Cực lạc.
Sau khi đã về Cực lạc, lên chín phẩm hoa sen, trở lại cõi
Ta-bà, làm cho Phật đạo ngày cáng thêm rực rỡ, pháp môn
tu hành thêm được xiển dương, làm cho hải hội Tăng-già
ở cõi này đều thanh tịnh, toàn thể nhân dân đều nhờ
ơn giáo hóa, kiếp vận đáng diệt lại được dài thêm. Chánh
pháp chẳng bị mất lại được còn mãi, đó là điều thật
tình khổ tâm mòn mỏi. Ấy là nhân duyên thứ mười phát
tâm Bồ-đề vậy.
Đã
biết đủ mười nhân duyên phát tâm Bồ-đề, đã biết hết
tám pháp của tâm nguyện, thời nến biết chỗ để hướng
tới, có nơi để phát tâm. May mắn chúng ta cùng được làm
thân người, ở vào nơi văn vật, sáu căn không tỳ vết,
bốn đại được khinh an, lại có đủ tín tâm, không bị
ma chướng. Nay chúng ta lại tự do xuất gia, lại được thọ
giới Cụ túc, lại được gặp gỡ đạo tràng, lại được
nghe Phật pháp, lại được cung chiêm Xá-lợi, lại tu hành
pháp sám hối, lại đuợc gặp bạn lành, lại đầy đủ mọi
duyên tốt, thế mà từ nay không phát tâm Bồ-đề, còn đợi
ngày nào?
Trông
mong đại chúng thương xót lòng thành ngu muội, chí nguyện
khổ thiết của tôi mà cùng nhau lập đại nguyện này, cùng
nhau phát tâm Bồ-đề ấy. Ai chưa phát thì nay lo phát, ai đã
phát rồi thì phải làm cho phát liên tục, Chớ sợ khó mà
e ngại thối lui, chớ xem thường mà khinh suất nông nổi,
chớ muốn mau mà không lâu bền, chớ biếng nhác mà không
dũng mãnh, chớ ủy mị mà không phấn chấn nổi dậy, chớ
lần lữa hẹn chờ khi khác, chớ vì ngu độn mà cứ một
mặt vô tâm, chớ lo căn lành căn mỏng mà tự hèn nhục mình
vô phần, ví như trồng cây gốc rễ dẫu cạn, mà trồng lâu
ngày, càng ngày càng sâu, và cũng như mài dao, mài lâu thì
dao lụt cũng phải bén, lẽ nào vì gốc cạn mà không trồng,
để mặc cho cây khô chết, vì dao lụt không chịu mài, bỏ
không trở thành vô dụng.
Vả
nếu cho sự tu hành là khổ, thế là không biết biếng nhác
càng khổ hơn. Vì rằng tu hành chỉ khổ tạm thời mà an vui
thì được vĩnh kiếp, trái lại biếng nhác tuy nhàn rỗi một
đời, mà chịu khổ nhiều đời. Huống hồ nay lấy pháp môn
Tịnh độ làm thuyền bè, thì lo gì thối chuyển, ngại gì
gian nan. Phải nên biết rằng: tội nhân ở địa ngục còn
biết phát tâm Bồ-đề từ kiếp trước, có lẽ nào ta là
Phật tử ở trong nhân luân, lại không biết phát nguyện rộng
lớn ngay bây giờ? Sự hôn mê từ vô thỉ đã qua rồi không
cản ngăn lại được, nhưng ngày nay giác ngộ thì ngày sau
còn có thể đền bù. Tuy vậy, vì mê man không tỉnh ngộ,
cố nhiên đáng thương, tỉnh ngộ mà không tu hành lại càng
đau đớn. Nếu biết sợ khổ địa ngục thì tự nhiên gắng
gỏi siêng năng, nếu biết nghĩ đến vô thường mau chóng
thời không dám biếng lười, lại lấy Phật pháp làm phương
sách nhắc nhở, nhờ bạn hiền làm kẻ đề huề, suốt đời
nương tựa vào đó, vội vã chẳng dám lìa, thì không còn
sợ nạn thối thất.
Đừng
bảo rằng một niệm là mọn mà khinh thường, chớ có nguyện
suông vô ích. Nhưng hễ tâm chơn thì sự thật, nguyện rộng
thì hạnh sâu, hư không chưa phải lớn, chơn tâm ta mới lớn,
kim cang chưa phải bền, nguyện lực ta mới thật bền. Ví
bằng đại chúng các ngài, ai nấy chí thành không nỡ bỏ
lời tôi, thì quyến thuộc Bồ-đề từ nay xin kết duyên;
liên xã bạn hiền, từ nay giao hiểu. Nguyện cùng sanh cõi
Cực lạc, cùng thấy đức Phật Di-đà, cùng hóa độ chúng
sinh, cùng thành bậc Chánh giác. Biết đâu khi chứng thành
cái thân ba mươi hai tướng tốt, trăm phúc trang nghiêm sau
này, không phải từ sự phát tâm lập nguyện ở ngày hôm
nay. Xin các ngài cùng cố gắng, rất may mắn lắm thay!
Mơ
màng trong giác chiêm bao,
Đêm
dài mù mịt ai nào tỉnh ra?
Lại
say giấc mộng la đà,
Cho
là vui thích, tỉnh mà làm chi!
Sắp
tỉnh lại cố làm mê,
Một
lần trăm lỡ càng đi đường cùng,
Gây
bao nhiêu nghiệp hãi hùng,
Cứ
trong giấc mộng vun trồng khổ nhân,
Ai
ơi mau tỉnh tâm thân,
Tây
phương thẳng lối chính chân quê nhà.
Bao
nhiêu duyên nợ bỏ qua,
Chăm
tu cái nghiệp thực thà sạch trong
Đêm
ngày luống những cầu mong,
Nhất
tâm về đó mới hòng tĩnh ngay.
Tâm
không có bợn mảy may,
Ấy
là Tịnh độ phương Tây đó mà.
Mở
mắt thấy đức Di-đà
Nguyên
lai vẫn một cảnh nhà ta xưa.
(Bài
kệ này cũng của ngài Tổ sư Tỉnh Am làm để khuyên đại
chúng - Thiều Chửu dịch.)