TÁM
TRAI GIỚI
(Bát
quan trai giới)
1.
Chủ
ý Phật chế "Tám Trai Giới"
Lòng
từ bi của Phật dạy khắp Phật tử cả không gian vô biên,
thời gian vô tận. Ngài muốn hết thảy chúng sinh đều được
như Ngài, không còn vô minh mà giác ngộ, giải thoát hỏi nhà
lửa Tam giới, để bước sang giới thanh tịnh an vui. Chỉ
vì căn cơ trí thức tánh dụng của chúng sinh không đồng
mà Phật phải tùy cơ để giáo hóa. Lòng từ bi của Phật
tuy khắp tuy đồng, như ánh trăng chiếu diệu cả muôn phương,
nhưng pháp môn dẫn đạo lại chia ra muôn ngàn sai khác. Biết
rằng khác mà cố gắng thực hành thì cũng đi đến chỗ đồng
là đồng được giải thoát.
Phật
tử chúng ta khi đối trước Tam Bảo phát nguyện quy y, là
trong tâm chí mình đã nảy ra một niệm hương thượng, vươn
mình
ra ngoài bể khổ, phát tâm hướng đến con đường giải thoát,
rời bỏ trần lao, đến cảnh thanh tịnh, lìa địa vị phàm
phu bước đến địa vị Chánh giác, xa đời sống ích kỹ
hẹp hòi tà vạy, tập một đời sống vị tha rộng rãi chánh
đáng. Do vạy, trong đời sống mới, theo con đường chư Phật
chỉ dạy, phải tuân hành theo những quy luật của Phật thiết
chế. Những quy luật ấy tức gọi là Giới mà hàng tại gia
cũng như hàng xuất gia, ai nấy đều phải thọ trì, không
để trái phạm.
Sau
thời kỳ Chánh pháp và tượng pháp, đến thời kỳ mạt pháp
cách đạo càng xa, lòng người nguời thấp kém, một phần
là vì giới luật của hàng Phật tử không được truyền
thọ phân minh, một phần nữa vì đại đa số nghe nói giới
luật Phật chế thì sợ hãi, xem đó như một cái gì khắc
khổ đối với người ta, là cho người ta mất hết cả tự
do, đi đến chỗ hèn yếu. Biết đâu rằng lời thẳng thường
khó nghe, thuốc hay thường khó uống, nên ta không thể vì
lẽ trái với thị dục phiền não mà không giữ, hoặc sợ
hãi, khinh lờn. Huống chi Phật là vị như pháp ngữ, soi thấy
căn bịnh chúng sinh mà phân chia giới thành nhiều tạng, nào
là Ưu-bà-tắc giới,Ưu-bà-di giới, Sa-di giới, Sa-di-ni giới,
Tỷ-kheo giới, Tỷ-kheo-ni giới, Bồ-tát giới, mỗi người
đều tùy trường hợp của mình mà lãnh thọ. Tựu trung, Phật
còn muốn hàng tại gia có thể xuất gia trong từng thời gian
ngắn để gieo nhân xuất thế về sau, nên chế định cho kẻ
tại gia phép "Bát quan trai giới". Tuy thọ trong từng thời
gian ngắn mà công đức vô lượng vô biên.
2.
Bát
quan trai giới
Bát
quan nghĩa là tám cửa. Ý nói rằng tạo tác tám điều: sát,
đạo, dâm, vọng... là mở cửa rộng lớn, chúng sinh từ đó
mà đi vào đường tội lỗi, bị sống chết trong nẻo luân
hồi ác đạo; nếu muốn giải thoát thì phải đóng tám cửa
ấy lại, nghĩa là phải diệt trừ tám điều: sát, đạo,
dâm, vọng v.v. ấy đi. Diệt được tám ác pháp này là đóng
kín tám cửa, không để đi đến cảnh giới địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, đồng thời cũng tức là mở tám nẻo đường
đi lên địa vị Thánh giả.
Trai
nghĩa là đúng thời. Trong ba thứ ăn, mặc, ở, người thế
gian thường chú trọng bao nhiêu thì trái lại kẻ tu hành càng
biết kiềm chế bấy nhiêu, miễn sao vừa đủ để giúp đỡ
đường tu, phải lành xa sự đắm say luyến tiếc, nhất là
sự ăn. Trong luật thường chia hai lối: ăn phải thời và
ăn trái thời. Từ sớm đến trưa mà ăn là phải thời, từ
trưa về tối mà ăn là trái thời. Kẻ tu hành cần y lời
Phật chế, không ăn trái thời nên gọi là trai.
Giới
là đều răn, điều cấm để hướng thân tâm theo con đường
chánh, con đường giải thoát mà lánh xa tội ác.
Tám
trai giới là:
1.
Xa lìa sự sát sinh
2.
Xa lìa sự trộm cắp
3.
Xa lìa sự dâm dục
4.
Xa lìa sự nói dối
5.
Xa lìa sự uống rượu.
6.
Xa lìa sự trang sức, hát múa và xem nghe hát múa
7.
Xa lìa sự nằm ngồi những chỗ cao tốt.
8.
Xa lìa sự ăn trái thời.
Tám
điều này là cả trai và giới gồm lại. Bảy điều trước
là giới, điều thức tám là trai. Ấy là "Tám trai giới" Phật
chế cho kẻ tại gia được tập xuất gia trong những thời
gian ngắn vậy.
3.
Phép
thọ "Bát quan trai giới"
Trong
kinh Thiện Sinh, kinh Tăng Nhất A-hàm, đức Phật dạy: "Các
vị Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di trong những ngày mồng 8, ngày 14,
ngày 15 nên đến trước các vị xuất gia Đại đức cầu
thọ tám trai giới, chớ để thất thời". Lại có chỗ đức
Phật thêm rằng "truyền thọ phép Bát quan trai sáu ngày trong
mỗi tháng là mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30" (tức là lục trai mỗi
tháng). Xuống đến ngày nay, luật pháp không minh, hành trì
kém sút, nên đã từ chỗ tu trì nhất định đi đến chỗ
phát nguyện tùy tâm. Dù sao, có còn hơn không. Bởi còn có
phát nguyện, còn có tu trì, thì thế nào cũng đến đạo quả
giải thoát.
Nếu
luận về ngày thì có hai cách:
a)
Phép Bát quan trai thọ trì chánh trong một ngày đêm (vào những
ngày mồng 8, 14, 23 và 5, 18)
b)
Phép Bát quan trai thọ trì phụ thêm ngày rước đưa (vào những
ngày mồng 1, 4, 5, 6, 7, 9, 13, 16, 17, 19, 22, 24, 28).
Ngày
rước ngày đưa nghĩa là hai ngày đêm trước và sau một ngày
đêm chánh thọ. Bởi người tại gia thường bị bao vây trong
thế duyên ràng buộc, không thể một phút một giờ có thể
bỏ hẳn được, nếu không sắp đặt dứt bỏ trước để
dự bị thanh tịnh trong một ngày đêm chánh thọ thì không
có lợi ích lớn. Vậy nên muốn cầu thọ "Bát quan trai giới"
thì trước một ngày đêm của ngày đêm chánh thọ, phải
một ngày đêm thọ trì dự bị chánh giới ấy và sau một
ngày đêm chánh thọ, phải một ngày đêm nữa để hoàn thành
giới ấy.
Trong
hai cách thọ giới "Bát quan trai" trên, cách thọ trì chánh
phải tìm đến thọ nơi các vị xuất gia, còn cách thọ trì
phụ thì không, chỉ tự phát nguyện cũng đủ. Trong cách thọ
trì chánh, có thể ở nhà mà vẫn hành trì được, nhưng phải
đến thọ với người xuất gia trước đã. Nếu gặp hoàn
cảnh minh tướng (bình minh vừa tỏ) xuất hiện mà liệu chưa
đi đến người xuất gia được thì phải đối trước tượng
Phật phát nguyện thọ giới, rồi vẫn phải tìm đến người
xuất gia mà thọ mới đắc giới. Khi đến thọ với người
xuất gia dù muộn cũng cần bằng thọ khi minh tướng xuất
hiện vì mình đã phát nguyện.
Nói
tóm, thọ trì giới "Bát quan trai" phải 20 ngày mỗi tháng kể
cả chánh thọ và phụ thọ. Nhưng ngày nay hoàn cảnh người
tại gia khó bề thực hành được như thế. Vậy nên phương
tiện có thể hành pháp như thế này:
a)
Phải thọ mỗi tháng 3 ngày chánh như Phật chế là mồng 8,
14 và 15. Hoặc một trong những ngày ấy.
b)
Phải tìm đến các vị xuất gia (Sa-di, Tỷ kheo) truyền cầu
thọ giới cho. Ngoại trừ trường hợp không có các vị xuất
gia hoặc có mà không cách gì tìm đến được, thì tự phát
nguyện trước tượng Phật mà thọ lãnh giới, nghĩa là như
cách "thọ trì phụ" mà thôi.
c)
Trước khi thọ, phải một ngày đêm dự bị sắp đặt tất
cả chướng duyên để đến một ngày đêm "thọ trì chánh"
được thanh tịnh.
4.
Nghi
thức thọ "Bát quan trai giới"
Người
thọ giới "Bát quan trai" y phục phải chỉnh tề, nghe gọi
là đứng vào giữa bàn thờ Phật, theo tiếng chuông đảnh
lễ ba lạy. Xong quỳ xuống, chấp tay nghe Thầy truyền giới
dạy:
- Bể
khổ vô biên, nếu không nương thuyền Bát nhã không thể lên
bờ Giác, luân hồi nhiều nẻo, chẳng thọ trì tịnh giới
thì không thể được giải thoát. Chư Phật do tịnh gới mà
thành Chánh giác. Đại thừa, Tiểu thừa, đồng thọ tịnh
giới, thế gian hay xuất thế đều giữ tịnh giới. Nhưng
tại gia Phật tử vì trần lụy bao vây, không thể quyết chí
chung thân thọ trì. Bởi thế, Như lai từ bi, phương tiện
dạy mỗi một ngày đêm, thọ trì tám thứ trai giới này.
Tám trai giới này công đức siếu phàm nhập thánh vượt qua
ba cõi, thẳng đến Giác ngộ.
Phật
tử! (Người thọ giới nói: Mô Phật)
Các
người, từ vô thỉ đến nay, tạo các ác nghiệp vô lượng
vô biên, nay phải chí thành, tha thiết sám hối, để cho thân
tâm thanh tịnh tinh khiết, rồi mới thọ trì tám thứ trai
giới. Vậy các người hãy đọc theo lời tôi: (Người thọ
giới đứng dậy, chấp tay đọc theo).
- Đệ
tử... (nói tên họ, hoặc pháp danh) từ vô thỉ đến ngày
nay, gây ra tội ác, như ba nghiệp, mười ác, tà kiến v.v.
nay hướng lên Tam Bảo trong khắp mười phương, cần cầu
sám hối, nguyện đều trừ diệt.
(Đọc
ba phen như thế. Xong, Thầy truyền giới xướng:)
Nhất
tâm đảnh lễ Thập Phương Thường Trứ Tam Bảo (xướng ba
lần, mỗi lần người thọ giới lạy một lạy. Xong, quỳ
xuống, chấp tay đọc ba phen theo Thầy:)
Đệ
tử vốn tạo các vọng nghiệp,
Đều
do vô thỉ tham sân si,
Tử
thân miệng ý phát sinh ra,
Đệ
tử thảy đều xin sám hối.
(Ngưòi
thọ giới đứng dậy, đảnh lễ ba lạy, rồi quỳ xuống,
chấp tay, nghe Thầy dạy).
- Phật
tử! (Người thọ giới nói: Mô Phật). Đã chí thành sám hối
ba nghiệp thanh tịnh rồi, vậy từ giờ này cho đến sáng
mai hãy chí tâm tu tập tám thứ trai giới của Phật chế.
Tám thứ trai giới là những gì?
Một
là không được sát sinh
Hai
là không được trộm cướp
Ba
là không được dâm dục
Bốn
là không được vọng ngữ
Năm
là không uống rượu
Sáu
là không trang sức hương hoa cùng phục sức đẹp, không được
múa hát hay cố ý xem nghe múa hát.
Bảy
là không được nằm ngồi giườong ghế cao rộng
Tám
là không được ăn trái thời.
Tám
thứ này, bảy giới trước gọi là giới, nghĩa là đóng bít
cửa ngõ ác đạo; giới thứ tám gọi là trai, nghĩa là giống
như Như lai, bứoc theo đường lối trung đạo, ăn đúng vào
lúc mặt trời vừa đứng bóng. Gồm cả tám thứ giới trai,
gọi là tám quan trai giới. Các người nên phát tâm vô thượng,
thọ giới vô thượng ấy. Vậy các người hãy nói theo lời
tôi chỉ dẫn.
(Người
thọ giới nói theo Thầy truyền giới)
- Đệ
tử (Người thọ giới xưng tên và pháp danh) qui y Phật, qui
y Pháp, qui y Tăng. Nguyện một ngày đêm sống theo tinh hạnh
Ưu-bà-tắc (hoặc Ưu-bà-di nếu là đàn bà). Đức Như lai
Chí Chân Chánh Biến Giác là Thế Tôn của con (Nói ba lần
như thế rồi nghe Thầy dạy).
- Phật
tử! (Người thọ giới: Mô Phật). Tôi đã thọ ba pháp qui
y, các người hãy nói theo lời tôi chỉ dẫn (Người thọ
giới nói theo Thầy truyền giới):
- Đệ
tử! (Người thọ giới xưng tên họ và pháp danh) qui y Phật
cảnh, qui y Pháp cảnh, qui y Tăng cảnh. Nguyện một ngày đêm
sống theo tinh hạnh Ưu-bà-tắc (hoặc Ưu-bà-di nếu là đàn
bà). Đức Như lai Chí Chân Chánh Biến Giác là Thế Tôn của
con.
(Nói
ba lần như thế, rồi đứng dậy đảnh lễ ba dạy, rồi quỳ
xuống, nghe Thầy dạy)
- Đệ
tử! (Người thọ giới: Mô Phật). Tôi đã thọ cho các người
ba pháp qui y, ba pháp cứu cánh, thế là giới thể đã viên
mãn rồi. Nay tôi lại nói rõ giới tướng để các người
lạnh thọ giữ gìn, không được hủy phạm. Vậy các người
hãy nói theo lời tôi (Người thọ giới nói theo lời thầy
truyền giới).
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không sát sinh, đệ tử... (Người
thọ giới tự xưng tên họ, hoặc pháp danh) thề một ngày
đêm xa lìa sự sát sinh
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không trộm cướp, đệ tử... thề
một ngày đêm xa lìa sự trộm cướp.
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không dâm dục, đệ tử.. thề một
ngày đêm xa lìa sự dâm dục.
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không vọng ngữ, đệ tử... thề
một ngày đêm xa lìa sự vọng ngữ.
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không uống rượu, đệ tử... thề
một ngày đêm xa lìa sự uống rượu.
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không trang sức, đệ tử... thề
một ngày đêm xa lìa sự trang sức
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không múa hát và xem nghe múa hát,
đệ tử... thề một ngày đêm xa lìa sự múa hát và xem nghe
múa hát.
Như
Phật Thế Tôn suốt đời không ăn trái thời, đệ tử...
thề một ngày đêm xa lìa sự ăn trái thời
(Người
thọ giới đứng dậy, đãnh lễ ba lạy, rồi quỳ xuống,
nghe Thầy dạy phát nguyện)
Phật
tử! (Người thọ giới: Mô Phật). Các người đã thọ tám
trai giới phải phát thệ nguyện. Hết thảy việc thế gian,
cho đến việc xuất thế, nếu không phát nguyện, không việc
gì thành tựu. Vậy các người hãy chí thành phát nguyện theo
lời tôi chỉ dẫn (Người thọ giới nói theo).
- Đệ
tử... (Người thọ giới xưng tên họ và pháp danh) chí tâm
phát nguyện, nguyện do công đức thọ giới "Bát quan trai",
giải thoát ba đường, xa lìa tám nạn, nguyện đem công đức
ấy, hồi hướng cho hết thảy hữu tình, hoặc thấy, hoặc
nghe đồng sinh Tịnh độ, đồng thấy Như lai, đồng chứng
pháp nhẫn đồng chuyển chúng sinh, đồng thành Phật đạo.
(Phát
nguyện xong, người thọ giới đứng dậy đảnh lễ ba lạy,
rồi quỳ xuống nghe Thầy dạy)
- Phật
tử! (Người thọ giới: Mô Phật). Các người, nếu đã thọ
tám trai giới rồi, phải giữ từng như giữ tròng mắt, trong
một ngày đêm đừng có hủy phạm. Trong tám trai giới ấy,
nếu phạm một giới thì thành người bất tịnh. Tám trai
giới nàylà giới rất vi diệu, làm cho nguời tại gia được
xuất gia, vậy các ngươi trong suốt một ngày đêm này, phải
nhiếp tâm lại, chánh tâm giữ gìn như giữ bờ đê, không
cho nước chảy, các người nhờ phước thiện đời trước,
ngày nay được sinh làm người, được gặp Phật pháp, đựoc
thọ tịnh giới, làm căn bản cho Giải thoát, vậy phải trân
trọng, đừng nên tự khinh (Người giới đáp lại: Con xin
y giáp thực hành). (Xong, đứng dậy đảnh lễ theo lời xướng
sau đây, mỗi hiệu một lạy).
Nhất
tâm đảnh lễ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo
Nhất
tâm đảnh lễ Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Thế tôn
Nhất
tâm đảnh lễ Truyền Giới Bổn Sư
Nghi
thức truyền "Bát quan trai giới" đến đây là xong. Nếu còn
thì giờ thì sau khi đảnh lễ, nên niệm Phật, còn không có
thì giờ thì thôi.
5.
Ích
lợi giới "Bát quan trai"
Điểm
này muốn rõ ràng mà vắn tắt, tôi trích dịch lời Phật
dạy về "Bát quan trai giới" trong kinh Ưu-bà-tắc Giới để
mọi người cùng rõ:
"Thiện
nam tử! Nếu ai tìm người xuất gia lãnh thọ ba qui y, tám
trai giới (bằng cách nói ba lần) trong một ngày đêm thì người
ấy được hoàn thành trai giới Ưu-bà-tắc trong một ngày
đêm".
Qua
hôm sau, khi minh tướng (mặt trời mọc vào lúc sáng sớm)
xuất hiện thì giới ấy hết. Giới ấy không được tự
thọ trước tượng Phật, cần phải thọ với người xuất
gia. Thọ rồi căn bản thanh tịnh, cứu cánh thanh tịnh, trang
nhiệm thanh tịnh, giác quán thanh tịnh, thế gọi là pháp "Ba
quy y, tám trai giới thanh tịnh". Thiện nam tử! Thanh tịnh thọ
trì Ba qui y, Tám trai giới như vậy thì trừ diệt đước năm
nghịch tội, tất cả tội lỗi khác cũng đểu tiêu diệt.
Tám trai giới không được hai người cùng nói thọ một lần...
Năng lực của tám trai giới này có thể làm cho các đời
sau sinh ra không bao giờ làm ác... Những ai có trách nhiệm...
muốn tổ chức thọ "Ba qui y và tám trai giới" này, trước
hết phải yêu cầu và khuyến thỉnh địa hạt thuộc phạm
vi của mình... trong ngày đêm sắp thọ giới "Bát quan trai"
nên đình chỉ tất cả các điều ác, các hình phạt. Nếu
thanh tịnh thọ trì tám trai giới như vậy, thì người ấy
sẽ được rất nhiều đều an lạc, cho đến được phước
lạc tối thượng".
"Đức
Di-lặc ra đời, người ta sẽ thọ trì tám trai giới mỗi
lần một trăm năm. Không như bây giờ một ngày đêm, vì chúng
sinh bây giờ đủ cả năm thức ô trọc. Thế nên đức Phật
nói với bà Lộc-mẫu rằng: "Thiện nữ! Cho đến loài vô
giác như cây sa-la mà nếu thọ trì tám trai giới, cũng sẽ
được vô lượng an lạc trong loài Người loài Trời, cho đến
sẽ được sự an lạc vô thượng. Thiện nam tử! Tám giới
này là chuỗi anh lạc trang sức trí-giác-vô-thượng vậy.
Giới như vậy dễ thực hành mà kết quả vô lượng. Nếu
dễ thực hành mà không thực hành thì ấy là kẻ phóng dật".
6.
Những
điều cần ghi nhớ
* Sự
sinh sống: Trong các nghề sinh sống đặc biệt là nghề buôn
bán, Phật tử tại gia muốn sự sinh sống chân chánh thì trong
nghề buôn bán không nên:
1.
Buôn bán khí giới.
2.
Buôn bán người.
3.
Buôn bán thú.
4.
Buôn bán rượu.
5.
Buôn ván thuốc độc.
Không
những tự mình không nên mà không được khuyên hay tán đồng
người buôn bán năm nghề ấy.
* Những
điều hại: Đây là năm điều phá hoại giới đức và sự
sống chân chánh của người tại gia, người tại gia tuyệt
đối phải tránh:
1.
Không tin tưởng công đức Tam Bảo.
2.
Phá giới đã thọ.
3.
Không quyết định.
4.
Chấp kẻ có tà thuật ban cho ta sự tội phước.
5.
Tìm phước nơi người ngoại đạo.
Ai
phạm một trong năm điều ấy thì không còn là người Phật
tử chân chánh nữa, gọi là người đáng cho các bậc thiện
trí thức bỏ rơi, xa lìa.
* Những
điều lợi: Trái lại, năm điều sau đây lợi ích cho giới
đức và sự sống chơn chánh của người tại gia, người
tại gia tuyệt đối phải giữ:
1.
Tin chắc nơi ân đức Tam Bảo.
2.
Giữ giới đã thọ.
3.
Tâm quyết định.
4.
Tin lý nhân quả, không tin tà thuật ngoại đạo.
5.
Không xu hướng theo ngoại đạo, chỉ tìm phước nơi người
tu theo Phật pháp.
Những
người Phật tử tại gia giữ đúng năm điều này, thì tức
là người Phật tử cao thượng, ví như hoa sen không vấy bùn
nhơ mà hương sắc kỳ diệu.
* Những
điều tiến bộ đạo đức: Đây là mười đều tăng thêm,
phát triển đức nghiệp cho người Phật tử tại gia. Người
tại gia phải chí tâm thọ trì:
1.
Qui y Tăng rồi thì, Tăng vui mình vui, Tăng khổ mình khổ.
2.
Thân và khẩu thanh tịnh.
3.
Lấy đạo làm gốc, nghĩa là mỗi khi làm một công việc gì
phải noi theo đạo lý làm điều tối trọng hơn hết, không
bao giờ quên.
4.
Ưa thích bố thí tùy sức mình, nghĩa là có ít cho ít, có
nhiều cho nhiều, không để lòng bỏn xẻn làm chủ.
5.
Siêng năng trong việc học hỏi cho thấu rõ lý đạo của Phật
đã truyền dạy.
6.
Có chánh kiến, nghĩa là có trí tuệ thấy biết điều phải
lẽ thật.
7.
Tránh xa những người không có ý quyết định. Không tin kẻ
tà thuật cho mình hoạ phúc. Chỉ tin lý nhân quả. Làm lành
được vui, làm ác phải khổ.
8.
Không quên Tam Bảo: Dù gặp hoạn nạn đến nỗi nguy hại
đến tánh mạng mình cũng không bỏ đạo, không bỏ lòng tin
Tam Bảo mà nghe theo kẻ khác, tôn kín họ làm thầy, hoặc
bảo họ là hơn Tam Bảo.
9.
Muôn sự đồng ý cùng nhau.
10.
Tu hành chín chắn theo Phật pháp.
Những
người tại gia Phật tử hết lòng sống theo mười đều ấy
thì làm cho sự tu hành của mình mau được kết quả, cũng
là hạt giống Niết-bàn được gieo trồng vậy. Tất cả những
điều cần thiết trên đây là trích ở trong Luật, nhất là
Luật Nam tông (Pali). Những đều này cốt dạy cho người thọ
trì Tam qui và Ngũ giới. Nói cách khác, người qui y rồi là
phải giữ đúng những điều cần ấy. Nay trích ra đây để
các vị thọ giới Bát quan trai biết mà giữ, bởi lẽ thọ
năm giới còn phải giữ huống chi thọ trì Tám giới dự tập
xuất gia trong thời gian ngắn!
Đạo
có khó mới gọi là đạo. Đạo có khó làm mới có hiệu
quả lớn. Dù ở từng bực nào trong đạo, Phật tử chúng
ta cũng phải cố gắng làm đúng theo đạo mới mong giải thoát,
như mục đích chúng ta đi đến với đạo.