TÁM
TRAI GIỚI
(Theo
kinh tạng Pali)
Chú
thích: Trích Tăng Chi Bộ kinh của HT. Thích Minh Châu dịch,
các tiểu mục do người sưu tập đặt.
* Nguyên
nhân đức Phật nói giới Bát quan trai
"Như
vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ, chỗ
Đông viên, lâu đài của mẹ nàng Migara. Rồi Visakha, mẹ của
Migara, trong ngày Uposatha (Bố-tát trai giới) đi đến Thế Tôn,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói
với bà Visakha: Này bà Visakha, từ đâu Bà đi đến đây sáng
sớm như thế này?
- Bạch
Thế Tôn, hôm nay con đi thọ trai giới.
* Phân
biệt các giới Bát quan trai
- Này
Visakha, có ba loại trai giới. Thế nào là ba? Trai giới người
chăn bò, trai giới Ni-kiền-tử và trai giới bậc Thánh.
1.
Định nghĩa Bát quan trai giới của người chăn bò.
- Như
thế nào là trai giới người chăn bò?
Ví
như, này Visakha, người chăn bò, vào buổi chiều lùa các con
bò về cho chủ. Nó suy nghĩ: Hôm nay, đàn bò đã ăn cỏ tại
chỗ này và chỗ kia, đã uống nước tại chỗ này và chỗ
kia. Ngày mai, đàn bò sẽ ăn cỏ tại chỗ này và chỗ kia,
sẽ uống nước tại chỗ này và chỗ kia.
Cũng
vậy, này Visakha, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ:
Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng
kia, ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm kia.
Như vậy, nó sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục.
Như vậy, này Visakha, là trai giới người chăn bò.
2.
Định nghĩa Bát quan trai giới của Ni-kiền-tử
Và
này Visakha, thế nàolà trai giới các Ni-kiền-tử (Nigantha)?
Ở
đây, này Visakha, có hạng Sa-môn tên là Nigantha (Ni-kiền-tử),
họ khích lệ đệ tử như sau: Ông hãy quăng bỏ trượng đối
với các sinh loại sống ở phương Đông, ngoài một trăm do
tuần. Hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống
ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần... sống ở phương
Bắc... sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần. Như vậy
họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với
một số sinh loại mà thôi; họ không khích lệ vì lòng thương,
vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong
ngày Bố-tát, họ khích lệ đệ tử như sau: Này các người,
hãy quăng bỏ tất cả các áo quần và nói như sau: Ta không
có bất cứ vật gì ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật
gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là
của ta. Nhưng cha và mẹ của nó biết nó là con của mình.
Và nó biết họ là cha mẹ của nó. Vợ và con biết nó là
chồng, là cha của mình, và nó biết họ là vợ, con của nó.
Các người nô tỳ làm công biết nó là chủ của họ. Và
nó biết họ là nô tỳ, là nhân viên của nó. Như vậy, trong
thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời
gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Đây Ta
tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, nó
thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Đây Ta tuyên bố
là lấy của không cho. Như vậy này Visakha, là lễ Uposatha
của các Ni-kiền-tử. Được sống thực hành như vậy, này
Visakha, Upasatha của các Nigatha không quả lớn, không lợi ích
lớn, không chói sáng lớn, không ánh sáng lớn.
3.
Định nghĩa Bát quan trai giới của bật Thánh
Và
này Visakha, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là
làm thanh tịnh các loại tâm uế nhiễm với phương pháp thích
nghi.
Và
này Visakha, thế nào là làm thanh tịnh tâm uế nhiễm với
phương pháp thích nghi? [*]
[*]
Upakkamena: Với phương pháp thích nghi theo cá nhân. Theo Tập
Sớ, đức Phật ví như cái đầu; Pháp là thân; Tăng là quần
áo; Giới là tấm gương, và chư Thiên là vàng ròng.
3a)
Thánh đệ tử niệm Phật
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Phật: đây là Thế Tôn,
bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trí đức, hạnh đức đầy
đủ, bậc Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc Vô thượng,
bậc Đánh xe Điều ngự những ai đáng được điều ngự,
bậc Thầy của chư Thiên và loài Người, Phật, Thế Tôn.
Do vị ấy niệm Như lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh
khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như,
này Visakha, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương
pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là đầu uế nhiễm được gột sạch
với phương pháp thích nghi?
Do
duyên bột nhồi, do duyên đất sét, do duyên nước và do duyên
nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visakha, là
đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Cũng vây, này Visakha, là tâm uế nhiễm được gột sạch với
phương pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với
phương pháp thích nghi?
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Như lai: Đây là Thế
Tôn... Phật, Thế Tôn. Do vị ấy niệm Như lại, tâm được
tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được
đoạn tận. Này Visakha, đây là Thánh đệ tử thực hành trai
điều tịnh giới (Brahma), vị ấy cũng sống với tịnh giới;
do duyên tịnh giới [*], tâm vị ấy được tịnh tín, hân
hoan sinh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tâm. Như
vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được gột sạch với
phương pháp thích nghi.
[*]
Ở đây, Brahma dịch là Tịnh giới, có nghĩa la xa rời các
nhơn ác thường tu tập thanh tịnh ba nghiệp về thân, khẩu,
ý.
Này
Visakha, tâm uế nghiễm được gột sạch với phương pháp
thích nghi. Và này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được
gột sạch với phương pháp thích nghi?
3b.
Thánh đệ tử niệm Pháp
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Pháp: Pháp được Thế
Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời
gian đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được
người trí tự mình giác hiểu. Do vị ấy niệm Pháp, tâm
được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm
được đoạn tận. Ví như này Visakha, thân uế nhiễm được
gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là thân uế nhiễm được gột sạch với
phương pháp thích nghi? Do duyên sottim (một thứ đá bọt dùng
để chà lưng) [*], do duyên bột tắm, do duyên nước và do
duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visakha,
là thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích
nghi. Cũng vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được gột sạch
với phương pháp thích nghi.
[*]
Xem M.ii, 46. Theo Tập Sớ, đá Kuruvindaka được nghiền ra thành
bột. Làm thành viên tròn với sáp, được đụt lỗ và so
vào dây. Hai tay cầm hai đầu dây rồi kéo qua kéo qua kéo lại
cọ sát trên lưng.
Và
như thế nào, này Visakha, là tâm uế nhiễm được gột sạch
với phương pháp thích nghi?
Ở
đây, này Visakha, thánh đệ tử niệm Pháp: Pháp được Thế
Tôn khéo thuyết giảng... được người trí tự mình giác
hiểu. Do người ấy niệm Phật tâm được tịnh tín, hân
hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.
Này Visakha, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành Pháp trai
giới, vị ấy sống với Pháp trai giới, vị ấy sống với
Pháp. Chính nhờ Pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi,
các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visakha,
là tâm uế nhiễm được gột sạch.
Này
Visakha, tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích
nghi, này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch
nhờ phương pháp thích nghi?
3c.
Thánh đệ tử niệm Tăng
Ở
đây này Visakha, Thánh đệ tử niệm Tăng; Diệu hạnh là chúng
đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn;
Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chân chánh là chúng
đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ
tử Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng
dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng
ở đời. Do vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân
hoan sanh khởi các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví
như, này Visakha, một tấm vải bị uế nhiễm được gột
sạch nhơ phương pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là một tấm vải bị uế nhiễm được
gột sạch nhờ thích nghi?
Do
duyên Usam (đất mặn) [*], do duyên Kharam (nước tro), do duyên
phân bò, do duyên nước, do duyên nỗ lực thích nghi của con
người. Như vậy, này Visakha, một tấm vải bị uế nhiễm
được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này
Visakha, tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích
nghi.
[*]
Usan Karan ca. Tập sớ Usumam (sức nóng). Xem S. iii 131.
Và
này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ
phương pháp thích nghi?
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Tăng: Diệu hạnh là
chúng đệ tử Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở
đời. Nhờ vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan
sanhkhởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visakha,
đây gọi là Thánh đệ tử thực hành chúng Tăng trai giới,
sống với chúng Tăng. Chính nhờ chúng Tăng, tâm vị ấy được
tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được
đoạn tận. Như vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được
gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
Và
này Visakha, tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp
thích nghi. Và này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được
gột sạhc nhờ phương pháp thích nghi?
3d.Thánh
đệ tử niệm giới
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm giới; không bị phá
hoại, không bị đâm cắt, không bị ô nhiễm, không bị uế
nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không
bị chấp thủ, đưa đến thiền định. Vị ấy nhờ niệm
giới, tâm được tịnh tín, hân hoan sanhkhởi, các phiền não
của tâm được đoạn tân. Ví như, này Visakha, một tấm gương
uế nhiễm được rửa sạch nhờ phuơng pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được
rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Do
duyên dầu, do duyên tro, do duyên bàn chải lông [*] và do duyên
nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visakha, là
tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích
nghi. Cũng vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được rửa sạch
nhờ phương pháp thích nghi.
[*]
Lông ngựa hay lông khỉ
Và
này Visakha, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được
rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm giới... đưa đến thiền
định. Vị ấy nhờ niệm Giới, tâm được tịnh tín, hân
hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận,
này Visakha, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành Giới Uposatha,
sống chung với Giới. Nhờ Giới, tâm được tịnh tín, hân
hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận,
như vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ
phương pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được
rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi. Và này Visakha, thế
nào là một tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương
pháp thích nghi?
3e.
Thánh đệ tử niệm Thiên
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Thiên [*]. Có bốn Thiên
vương thiên: có chư Thiên cõi trời Ba-mươi-ba; có chư Thiên
Yama (Da-mạ); có chư Thiên Tusita (Đâu-suất); có chư Thiên
Hóa-lạc; có chư Thiên Tha-hóa-tự-tại; có chư Thiên Phạm-chúng;
có chư Thiên cao hơn nữa.
Đầy
đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở
chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có
đầy đủ nơi ta.
Đầy
đủ với Giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ
này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy
đủ nơi ta.
Đầy
đủ với nghe Pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở
chỗ này được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy, cũng
có đầy đủ nơi ta.
Đầy
đủ với Thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ
này được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ
nơi ta.
Đầy
đủ với Tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ
này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng có đầy
đủ nơi ta.
Khi
vị ấy niệm Tín, Giới, nghe Pháp, Thí và Tuệ của tự mình
và chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi,
các phiền não của tâm được đoạn tận.Ví như này Visakha,
là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương
pháp thích nghi.
[*]
Ở đây Devata gồm cả hai deva và devata. Ở đây chỉ cho các
chư Thiên cao hơn, trừ Bhummadava (Địa thần) thấp nhất. Các
chư Thiên được đề cập đến. Xem S. v 420 và D. ii (Mahasamyattasutta).
Và
này Visakha, thế nào là vàng bị uế nhiễm được làm cho
thanh tịnh, nhờ phương pháp thích nghi?
Do
duyên lò, do duyên đất, muối, do duyên phấn đỏ, do duyên
ống bể, do duyên cái kìm và do duyên nỗ lực thích nghi của
con người. Như vậy, này Visakha, là vàng bị uế nhiễm được
làm thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visakha,
là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương
pháp thích nghi.
Và
này Visakha, thế nào là tâm uế nhiễm được làm cho thanh
tịnh nhờ phươngpháp thích nghi?
Ở
đây, này Visakha, Thánh đệ tử niệm Thiên, có chư Thiên,
bốn Thiên vương, có chư Thiên cõi trời Ba-muơi-ba... có chư
Thiên cao hơn nữa, đầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên
ấy mạng chung ở chỗ này được sanh ở chỗ ấy. Ta cũng
có lòng tin như vậy. đầy đủ với Giới... với nghe Pháp...
với Thí... với trí tuệ như vậy, chư Thiên ấy mạng chung
ở chỗ này, đuợc sanh tại chỗ ấy: Ta cũng có trí tuệ
như vậy. Khi vị ấy niệm Tín, Giới, nghe Pháp, Thí và Tuệ
của tự mình và của chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín,
hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.
Đây gọi là Thánh đệ tử thực hành Thiên trai giới, sống
chung với chư Thiên. Nhờ chư Thiên, tâm vị ấy được tịnh
tín, hân hoan sanh khởi các phiền não của tâm được đoạn
tận. Như vậy, này Visakha, là tâm uế nhiễm được làm cho
thanh tịnh, nhờ phương pháp thíchnghi.
* Sống
theo tám giới của bậc Thánh.
1.
Thánh đệ tử ấy, này Visakha, suy tư như sau: cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ
trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương
xót đến hạnh phúc tất cả chúng sinh và các loài hữu tình,
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay ta sống từ bỏ sát sinh, tránh
xa sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng
từ, sống thương xót đến hạnh phúc tát cả chúng sinh và
loài hữu tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán
và sẽ thực hành Trai giới.
2.
Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của không
cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã
cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Cũng vậy,
đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ
lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống
thanh tịnh, không có trộm cướp. Về chi phần này, ta theo
gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới.
3.
Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà hạnh, tịnh
tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy tà hạnh,
tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn
hạ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta
sẽ thực hành trai giới.
4.Cho
đến trọn đời, các vị A-la-hán từ nói láo, tránh xa nói
láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc
chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời
hứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống
từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật,
y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa
gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Về chi phần
này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai
giới.
5.
Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men, rượu
nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho
đắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay ta sống từ bỏ rượu
men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu
nấu làm cho đắm say. Về chi phần này, ta theo gương các vị
A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới.
6.
Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán ăn một ngày một bữa,
không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Cũng vậy, đêm nay và
ngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm,
không ăn phi thời, về chi phần này, ta theo gương các vị
A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới.
7.Cho
đến trọn đời, các vị A-la-hán tránh xa không xem múa hát,
nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu,
dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay
ta sống tránh xa không xem múa hát, nhạc, diễn kịch, không
trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời
trang ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai
giới.
8.
Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao,
giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy
nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ.Cũng
vậy, đêm nay và ngày nay ta từ bỏ giường cao và giường
lớn, tránh xa giường cao, giường lớn, nằm trên giường
thấp, giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Bề chi phần này, ta
theo gương các vị A-la-hán và sẽ thực hành trai giới
Như
vậy, này Visakha, là Thánh trai giới. Thực hành Thánh trai giới,
này Visakha, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn,
có ánh sáng lớn.
* Kết
quả lớn lao do tu tám trai giới đưa lại:
Quả
lớn như thế nào? Lợi ích lớn như thế nào? Chói sáng lớn
như thế nào? Ánh sáng lớn như thế nào?
Ví
như, này Visakha, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên
16 quốc độ, tràn đầy bảy báu như Anga, Kasi, Kosala, Vajji,
Malla, Geti, Vanga, Kuru, Pancala, Maccha, Surasena, Assaka, Avanti, Gandhara,
Kamboha [*], nhưng chủ quyền ấy khôngbằng 1/16 của một trai
giới (Uposatha) thực hành đầy đủ cả tám mặt.Vì cớ sao?
Nhỏ nhoi thay, này Visakha, là vương quyền của loài người,
so sánh với hạnh phúc của chư Thiên
[*]
Các quốc độ này diễn tả trong tập "Buddhist India" của Rhys
David, tr, 23.., trong tập "The Buddha" của E.J Thomas. Các dân tộc
Anga ở phía Đông Magadha, Magadha nay gọi là Bihar; các Kasi ở
xung quanh Benares; các Kosala ở Nepal, kinh đô là Savatthi; các
Vajji gồm có 8 dòng họ, như Licchavi là viidcha ở không xa vesali;
các mMallà ở Kusinàrà và Pàrà; các Ceti (Codi) có lẽ Nepal;
các Vansà (Hay Vaccha) có lẽ ỡ Bengal; các Kurù ở gần Dilhi:
các Pancàlà ỏ phía Đông Kurù; các Macchà (Matsỳa)ở phía
nam Kurù: các Surasenna ở Tây Nam Macchà; các Assaka ở trên sông
Godhàvari; Avanti với kinh đô là ujjenti các Asaka ở trên sông
Godhàvari; Avanti với kinh đô Ujjeni; Gandhàrà (nay là Kandahar
(và Kambojà, phía Tây Bắc.
Đời
sống của con người so với Tứ thiên vương:
Năm
mươi năm của một đời người, này Visakha, bằng một đêm
một ngày của chư Thiên, của Tứ thiên vương. Ba mươi đêm
như vậy làm thành một tháng: mười hai tháng như vậy làm
thành một tháng mười hai tháng như vậy làm thành một năm.
Năm mươi năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của
chư Thiên Tứ thiên vương. Chính dựa trên trường hợp này,
được nói lên rằng: Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài
người, so sánh với hạnh phúc của chư Thiên.
Đời
sống con người so với chư Thiên cõi Trời Ba-mưoi-ba:
Một
trăm năm của một đời người, này Visakha, bằng một đêm
một ngày của chư Thiên ở cõi trời Ba-mươi-ba. Ba mươi đêm
như vậy làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm
thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành
thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Ba-mươi-ba. Sự kiện
này có xảy ra, này Visakha, ở đây, có người đàn bà hay
người đàn ông, sau khi thực hành trai giới (uposatha) đầy
đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mang chung, được sanh cộng
trú với chư Thiên cõi trời Ba-mươi-ba. Chính dựa trên trường
hợp này, được nói lên rằng; Nhỏ nhoi thay là vương quyền
của loài Người, so sánh với hanh phúc của chư Thiên.
Đời
sống con người so sánh với cõi trời Dạ-ma:
Hai
trăm năm của một đời người, này Visakha, bằng một đêm
một ngày của chư Thiên ở cõi trời Dạ-ma. Ba mươi đêm
như vậy làm thành một tháng... làm thành một năm. Hai ngàn
năm chư Thiên như vậy làm thành một thọ mạng chư Thiên
ở cõi trời Dạ-ma. Sự kiện này có xảy ra, này Visakha, ở
đây... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Dạ-ma.
Chính dựa trên trường hợp này... với hạnh phúc chư Thiên.
Đời
sống con người so với chư Thiên Đâu-suất:
Bốn
trăm năm của một đời người, này Visakha, bằng một đêm
một ngày của chư Thiên ở cõi trời Tusita (Đâu-suất). Ba
mươi đêm như vậy làm thành một tháng... làm thành một năm.
Bốn
ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên
ở cõi trời Tusia. Sự kiện này có xảy ra... với hạnh phúc
chư Thiên.
Đời
sống con người so với chư Thiên Hóa lạc:
Tám
trăm năm của một đời người, ngày Visakha, bằng một đêm
một ngày của hư Thiên ở cõi trời Hóa Lạc... Tám ngàn năm
chư Thiên như vây làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi
trời Hóa Lạc. Sự kiện này có xảy ra... với hạnh phúc
chư Thiên.
Đời
sống con người so với chư Thiên Tha Hóa Tự Tại:
Mười
sáu trăm năm của một đời người, này Visakha, bằng một
đêm một ngày của chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại.
Ba mươi đêm như vậy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm
chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi
trời Tha Hóa Tự Tại. Sự kiện này có xảy ra, này Visakha,
ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực
hành Uposatha đầy đủ cả tám măt, sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Tha
Hóa Tự Tại. Chính dựa trên trường hợp này được nói
lên rằng: Nhỏ nhoi thaylà vương quyến của loài Người, so
sánh với hạnh phúc của chư Thiên.
* Kết
luận: Đức Phật khuyên chúng sinh;
Chớ
giết hại sinh loại,
Chớ
lấy của không cho,
Chớ
nói lời nói láo,
Chớ
uống thức rượu say.
Từ
bỏ phí phạm hạnh,
Từ
bỏ không dâm dục,
Không
ăn vào ban đêm,
Tránh
không ăn phí thời
Không
mang các vòng hoa,
Không
dùng các hương liệu,
Hãy
nằm trên tấm thảm,
Được
trải dài trên đất.
Chính
hạnh trai giới này
Được
gọilà tám phần,
Do
đức Phật nói lên,
Đưa
đến đoạn tận khổ.
Mặt
trăng và mặt trời,
Được
thấy là lành tốt,
Chỗ
nào chúng đi tới,
Chúng
chói sáng hào quang,
Chúng
làm mây sáng chói,
Giữa
hư không chúng đi,
Trên
trời chúng chói sáng,
Sáng
rực mọi phương hướng
Trong
khoảng không gian ấy,
Tài
sản được tìm thấy,
Trân
châu và ngọc báu,
Lưu
ly, đá cầu may,
Vàng
cục (1) trong lòng đất
Hay
loại Kancana (2)
Cùng
loại vàng sáng chói,
Được
gọi Hataka (3)
Tuy
vậy chúng trị giá
Chỉ
một phần mười sáu,
Với
hạnh giữ trai giới,
Đầy
đủ cả tám mặc,
Kể
cả ánh sáng trăng,
Với
cả vòm trời cao.
Vậy
người nữ, người nam
Hãy
giữ theo tịnh giới,
Hạnh
Bố-tát trai giới
Đầy
đủ cả tám mặt,
Làm
các thiện công đức,
Đem
lại nhiều an lạc.
Được
sanh lên cõi trời,
Không
bị ngưòi cười chê!
(1)
Singi: như sừng bò
(2)
Kancana: tìm được trong núi
(3)
Hataka: vàng do kiến tha