TỔ
CÁY
Trong
thời đại này có một việc làm như vậy cũng xứng đáng
làm Tổ rồi, chứ nói đến học cả trăm kinh vạn quyển.
Đó là chuyện xảy ra từ đời Hậu Lê thường kể về Tổ
Cáy.
Tổ
là vị chủ Chùa, là người Trú trì, người niên cao lạp
trưởng trong chốn Tòng lâm.
Nguyên
trước ngày chưa xuất gia, Tổ đã có lòng thương vật khác
thường. Một hôm bà mẹ đi chợ mua về một rổ "cáy" để
làm thức ăn cho đình dùng cơm trong ngày ("Cáy" là loại rạm,
cua đồng nhỏ. Khi rổ cáy được đặt gần chỗ Ngài nghỉ,
tiếng cáy kêu phát ra một âm thanh rù rì rủ rỉ y như tiếng
nỉ non của người bị nạn. Động lòngtrắc ẩn trước tiếng
kêu ấy, Tổ mang cả rổ cáy ra đổ xuống đồng ruộng
Đến
giờ làm thức ăn, thấy không có rổ cáy, bà hỏi con, Tổ
tình thật thức mẹ: "Con chịu không nổi tiếng kêu đau thương
của "cáy" nên đã mang đi đổ xuống đồng hết rồi".
Một
thời gian sau, Tổ xin mẹ đi xuất gia. Bỏ những người thương,
xa mọi người thân quyến (cát ái từ thân), Tổ cất bước
vân du học đạo, trải qua mấy chục năm không về thăm quê
được. Quê hương sinh ra Tổ nay đã đổi đời, tang thưong
dâu bể, vật đổi sao dời không còn dấu tích ngày xưa. Tổ
cũng lớn lên theo năm tháng và được bổ làm Trú trì chùa
Hoè Nhai (Hà Nội).
Một
hôm, Tổ có dịp đi qua thôn cũ, thấy một cái chòi rách nát,
trong có một bà cụ già bán nước và cau trầu để độ sống
qua ngày tháng. Khi vào trong quán, Tổ nhận ra ngay bà bán quán
ấy là mẹ mình. Tuy nhiên, Tổ vẫn làm như người không quen
biết. Tổ hỏi thăm bà cụ về quê hương, nhưng bà cụ này
không hay biết người đối diện với bà chính là con đẻ
của mình. Một thoáng suy nghĩ Tổ mới nói với bà cụ: "Thưa
cụ, một mình cụ ở đây đêm hôm đơn chiếc lấy ai giúp
đỡ, nếu bà cụ về chùa tôi làm công quả thì hay biết
mấy". Bà cụ rất mừng và nói rằng: "Nếu sư cụ cho phép
thì con sẽ về và xin được ăn mày công đức Sư cụ". Thế
là bà cụ được đưa về chùa để làm công quả.
Khi
đến chùa, Tăng chúng và bổn đạo đông đúc nên Tổ không
nói cho ai biết. Tổ im lặng bố trí chỗ ở cho bà cụ và
phân bố công việc hằng ngày cho bà cụ làm, đặc biệt Tổ
khuyên bà cụ vừa làm vừa niệm Phật thường xuyên. Mỗi
ngày Tổ ra sân lấy gậy khoanh một đám cỏ cho bà cụ nhổ,
tùy theo sức khoẻ của bà cụ mỗi ngày đám cỏ được khoanh
nhỏ lại. Ngày ngày làm công quả như thế, sức khoẻ của
bà cụ cũng theo năm tháng suy yếu dần. Cho đến một ngày
kia, thân không còn vật lộn được với thời gian, bà cụ
đã từ giã cõi đời và ra đi vào buổi hoàng hôn bên cạnh
tình thương và sự hộ niệm của chúng Tăng. Cái gì có hình
thì có hoại. bà cụ đã kết thúc thân mạng tại khuôn viên
của một ngôi chùa cổ kính. Tổ vẫn điềm nhiên lo liệu
khâm liệm cho xác mẹ. Cho đến khi nắp quan tài từ từ khép
lại, đứng trước quan tài mẹ, Tổ mới nói cho Tăng chúng
và bổn đạo biết, người trong quan tài này chính là mẹ
đẻ của mình. Khi nghe Tổ nói, ai ai cũng rơi lệ. Có người
nghĩ Tổ là vị chân tu, nên không cho ai biết. Có người nghĩ
Tổ đề phòng rằng, nếu Tổ nhận mẹ ngay thì tâm lý ỷ
thị của bà cụ làm Tăng chúng Phật lòng chăng! Riêng Tổ
thì vẫn im lặng cầu kinh
Tuy
là việc hiếu đạo bình thường trong chốn Thiên môn, nhưng
người đời sau thường hay nhắc nhở và kể cho con cháu mình
biết về vị Tổ này. Người ta thường kết hợp tên đạo
(Tổ) và sự việc khi còn ở đời (Cáy) để chỉ cho một
vị chân tu. Đạo đời hợp nhất. Không phô trương nhưng
vẫn có ý nghĩa. Đạo và đời tuy hai mà một và được gọi
là: Tổ Cáy.