KHUYẾN
TU
(Bài
nói chuyện với Tăng Ni, nhân mùa khai giảng Học viện Phật
giáo Việt Nam
tại
Huế, khóa I, niên học 1997-2001)
Trong
đời này, đã là người đi học thì ai cũng muốn học giỏi.
Vậy muốn học giỏi phải làm thế nào? Theo tôi nghĩ:
1.
Phải có tâm cầu học
Chúng
ta phải thật sự có tâm cầu học, phải thành thật có tâm
cầu học. Vì thường chúng ta hay nghĩ: Học để khỏi thua
người khác. Đó chỉ là cái ý so sánh để khích lệ chúng
ta học tập mà thôi. Cái chính là chúng ta phải ý thức chúng
ta là một người xuất gia học Phật, theo một đấng Giáo
chủ với một đạo lý thâm huyền, chúng ta phải có bổn
phận tu đạo, hành đạo và hóa đạo. Nếu chúng ta không
biết gì về giáo lý của Phật cả thì tự chúng ta tu cũng
không thành và chắc chắn không ai hóa độ ai được cả.
Khi
chúng ta nói học để khỏi thua người khác thì giả sử khi
không sợ thua người khác thì chúng ta không học hay sao? Cho
nên, học để khỏi thua người khác chỉ là một lý do chúng
ta tự đặt ra để khuyến khích chúng ta thôi, không phải
là lý do chính. Lý do chính là tâm thành thật cầu học đạo.
Bởi vì như chúng ta biết, đạo lý của Phật phải có duyên
lành mới gặp được. Đạo Phật là đạo giải thoát, đức
Phật là đấng Giác ngộ thì giáo lý của Phật là kho tàng
đạo lý giác ngộ. Nếu chúng ta không học thì làm sao chúng
ta biết được đạo lý ấy? Nhiều khi vô tình chúng ta nói:
Đạo Phật cao siêu lắm. Nhưng nếu có người hỏi Đạo Phật
cao siêu ở chỗ nào, thì chúng ta không làm sao đáp được.
Đó là một khuyết điểm lớn đáng buồn.
Các
anh em cũng thấy rõ trong hàng Tăng ni chúng ta bây giờ có một
số thường mắc phải cái bệnh lý luận: Bàn những việc
khác của thế gian thì lý luận rất rạch ròi, nhưng khi đi
vào giáo lý, giáo pháp của Phật thì lúng túng, lập luận
không vững vàng, cụ thể.
Bây
giờ muốn tránh cái bệnh ấy, chúng ta phải cố tâm cầu
học thật sự. Cầu học thật sự để hiểu rõ giáo ý của
Phật, hiểu rõ con đường tu hành để có khả năng giáo hóa
người khác một cách đúng đắn, chứ không phải chắp vá,
lấy nơi này một câu, lấy nơi khác một câu làm kiến thức
của mình. Nhiều khi chúng ta đem một câu của ngoại đạo
mà cho là của đạo mình. Hiện tại có nhiều sách của ngoại
đạo viết, họ dùng giáo lý của đạo chúng ta để tô bồi,
ca ngợi chủ trương giáo lý của họ, hoặc là để chê bai,
chỉ trích chúng ta. Nếu chúng ta không học thì khi đọc những
sách ấy, chúng ta vội cho đấy là lời Phật nói. Tất cả
những lời họ nói, chúng ta đều cho là lời Phật nói, cho
là đúng rồi tin theo. Trước đây có nhiều người cũng dịch
kinh Kim-cang, viết về Bồ-tát hạnh mà kỳ thật là người
đâu đâu viết, người ngoại đạo viết chứ không phải
người của Phật giáo. Họ viết như vậy để làm gì? Họ
nêu những danh từ Phật giáo để hấp dẫn, lôi cuốn người
đọc, để làm cho người ta tưởng lầm là sách đạo Phật
nên đua nhau đọc, nhưng thật chất không có gì là đạo Phật
cả. Nếu chúng ta không học, chúng ta cũng tưởng là sách
Phật, rồi chúng ta truyền bá cho tín đồ, khuyên họ nên
mua cuốn sách ấy mà đọc. Như vậy, vô tình chúng ta truyền
bá cái tà đạo, trưyền bá cái tà kiến mà chúng ta không
biết, đó mới thật đúng là "ăn cơm Phật, đốt râu thầy
chùa". Thành thử chúng ta thấy tâm cầu học là một điều
hết sức cần thiết: cần thiết cho mình, cần thiết cho đạo,
cần thiết cho sự nghiệp hành đạo và hóa đạo.
Lại
nữa, chúng ta học vì sợ thua người khác thì khi không sợ
thua người khác chúng ta không học hay sao? Thí dụ trong lớp
có một người học rất giỏi, mình luôn cố gắng học để
khỏi thua người ấy. Bỗng nhiên người ấy bỏ học. Bây
giờ đến lớp, mình không sợ thua ai nữa, nên không cần
học nữa. Cho nên, cái tâm niệm học để khỏi thua người
khác có cái tai hại như thế. Thành thử muốn học giởi thì
phải có tâm cầu học. Chính cái tâm ấy là tâm thiết tha
mong cầu đạo giải thoát của người xuất gia. Chính cái
chánh nhân ấy thúc đẩy, khích lệ chúng ta học giỏi để
phục vụ đạo pháp.
2.
Phải chăm chỉ chuyên cần
Có
tâm cầu học rồi nhưng nếu không chăm chỉ, chuyên cần thì
chúng ta cũng không giỏi được. Đi học không chuyên cần,
đến lớp không chăm chú nghe giảng bài, không ghi chép, về
nhà không xem kỹ lại bài học, không làm bài tập thì không
sao giỏi được. Chăm chỉ, chuyên cần thật sự rất cần
thiết đối với chúng ta.
3.
Phải có tâm tu, phải có đức tu
Nghĩa
là phải biết chịu thương chịu khó, chịu khổ chịu cực,
mới học được. Chúng ta nói "Tu Học" chứ không nói "Học
Tu", nên Tu là chính, Học là để biết đường Tu. Chúng ta
nói Tu Học cũng như đạo Nho nói "tiên học lễ, hậu học
văn". Lễ là quan trọng, Văn là thứ yếu. Cũng vậy, các anh
em bây giờ cần Tu mới tới đây Học, không Tu anh em tới
đây để làm gì? Tu và Học gắn liền với nhau. Như vậy,
nên trong thời gian học ở đây, anh em phải tu mới học được;
nghĩa là phải chịu thương chịu khó, chịu khổ chịu cực
để mà học.
Hoàn
cảnh ăn, ở, học của anh em bây giờ đầy đủ tiện nghi
hơn chúng tôi ngày trước kia rất nhiều lắm. Bây giờ tôi
kể ra đây anh em nghe những chuyện tưởng như huyền thoại.
Nhưng đó là sự thật, nó chỉ mới xảy ra cách đây mấy
chục năm thôi.
Trước
kia chúng tôi đã học trong một ngôi trường, nhỏ hơn ngôi
trường này và cũng được xây dựng trên mảnh đất này.
Trường có ba căn, mỗi căn bằng nửa phòng này. Hai căn dùng
làm phòng ngủ, một căn dùng làm phòng học. Phòng hẹp, giường
nằm kê sít nhau không có chỗ chen chân vào nên mỗi lần lên
giường ngủ cũng rất vất vả. Có khi thiếu giường, chúng
tôi phải ghép hai ba cái bàn học lại để ngủ. Chỗ ngủ
đã vậy, đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm chúng tôi cũng rất
thiếu thốn. Mùa nắng cũng như mùa mưa, mỗi người một
chiếc chiếu trắng không có hoa. Đồ đắp thì dùng bao đựng
gạo thay mền, đồ mặc thì mỗi người chỉ có một vài
bộ quần áo thô nhuộm nâu, mùa lạnh không bao giờ có áo
ấm. "Tiền tam tam, hậu cũng tam tam" mà thôi.
Tối
đến chúng tôi làm gì có đèn điện mà đọc, thậm chí không
có cả đèn dầu hỏa, chúng tôi chỉ thắp đèn dầu "chuông",
đèn dầu "cây", hoặc thắp nhựa thông để học bài, làm
bài. Cứ mỗi người một ngọn đèn, hoặc hai người chung
nhau một ngọn đèn. Dưới ánh sáng của ngọn đèn "tù mù"
chỉ soi sáng một khoảng không gian nhỏ hẹp bằng một trang
sách, chúng tôi chăm chú mà học. Ngoài phạm vi ấy, chúng
tôi không thể thấy gì được nữa.
Có
lẽ nhờ vậy nên chúng tôi định tâm mà học để có được
như ngày nay. Bởi vì, khi chúng ta đã chú ý vào cuốn sách
thì tâm ta không tán loạn, tư tưởng mới đọng lại và sáng
lên, chúng ta mới giỏi được. Bây giờ chúng ta sung túc quá:
trong phòng có đèn trần, đèn để bàn rồi đèn ngủ; ngoài
cửa còn để đèn "chong", sợ đi ra vấp ngã.
Ngày
xưa, không có những tiện nghi ấy nên người ta sống hòa
hợp; người ta sống với trời, đất, trăng, sao, gần gũi
với thiên nhiên hơn. Điều đó cũng hợp với tâm tu lắm
đó (Thước-ca-la tâm vô động chuyển). Nhờ có hòa hợp với
thiên nhiên mà lòng mình bớt được mọi sự phiền não triền
phược. Ngược lại, cuộc sống hôm nay tiện nghi đầy đủ
làm cho con người cách biệt với thiên nhiên. Đêm người
ta không thấy trăng, vì điện sáng quá người ta đâu thấy
trăng. Có lẽ vì vậy mà ngày nay trăng không còn là nguồn
cảm hứng của thi nhân. Lý Bạch ngày xưa mơ trăng, uống
rượu say, nhảy xuống sông ôm trăng mà chết. Người xưa
đã hòa nhập với thiên nhiên. Cũng vì cách biệt với thiên
nhiên, thành ra tâm người bị phân tán. Tâm đã bị phân tán
như vậy, chúng ta làm sao học giỏi được. Người có tâm
phân tán như vậy thì chỉ giỏi lý luận mà thôi, còn nói
về đạo lý thì không đúng.
Đó
là nói về chuyện học và ngủ, còn về vấn đề ăn uống
thì chúng tôi rất kham khổ. Tiêu chuẩn là bốn người một
bát "chân tượng" cơm, một tô canh "toàn quốc", một đĩa
rau luộc hoặc đĩa dưa môn hay là đĩa cải dầm. Ngoài ra,
không có món ăn phụ như bánh chuối gì nữa. Hoạ hoằn một
năm vài lần được người ta cúng vài "trái chuối". Vì lúc
ấy trình độ hiểu biết về Phật pháp của tín đồ còn
thấp kém, người phát tâm không nhiều. Hơn nữa, thời đại
lúc bấy giờ dân tình cũng còn nghèo đói lắm, muốn cúng
các thầy vài buồng chuối cũng phải góp nhau năm bảy người,
một người không đủ sức cúng. Tuy chúng tôi kham khổ như
thế, nhưng đó cũng là một sự đóng góp rất lớn của những
người có nhiệt tâm đối với tương lai của đạo pháp mới
được như thế.
Ấy
vậy mà lúc bấy giờ chúng tôi học nghiêm túc lắm, sợ thầy
lắm, sợ thầy chứ không oán thầy. Bây giờ nghĩ lại càng
thương thầy và biết ơn thầy. Đi học là phải có ý sợ
thầy, kính thầy mới học được. Chứ nếu không sợ thầy,
kính thầy, ngang bướng quá trớn thì không sao học được.
Thời
ấy chúng tôi học với một vị giáo sư, trước là một nhà
giáo, sau đi tu, tức Hòa thượng Trí Độ. Hễ có ai làm thầy
tức giận là thầy phạt luôn cả lớp chứ không phải chỉ
đánh một người. Gọi tên người có lỗi chưa kịp lên là
thầy đánh luôn tại chỗ. Nhiều khi cả lớp sợ chạy luôn.
Tôi kể lại như vậy là để các vị thấy tinh thần học
tập của chúng tôi lúc bấy giờ là chỉ sợ thầy chứ không
oán thầy. Chúng tôi sống rất vô tư. Học vất vả như thế
mà chúng tôi không thấy khổ. Cho đến bây giờ chúng tôi
cũng không hề tiếc rằng: Tại sao chúng ta sinh ra thời ấy
làm gì cho khổ? Chúng tôi chỉ nghĩ rằng, trên đường đạo,
bước sớm được bước nào hay bước đó. Giờ đây tôi
nhắc lại như vậy để anh em biết mà chuẩn bị tinh thần,
tư cách để mà học.
Đó
là tinh thần học, còn giải trí thì không biết chơi gì, chỉ
có đánh nhảy, đá kiện, đá bóng. Đá bóng thì không có
sân cỏ, chỉ có một cái sân, toàn là sạn. Quả bóng thì
nhỏ xíu, vô ý bị tước chân. Chỉ bấy nhiêu trò chơi và
chúng tôi chỉ chơi trong sân ấy, không được đi đâu xa.
Không chơi những trò chơi nguy hiểm. Tuy thế, cũng có một
số anh em vì thiếu tinh thần chịu khó, thiếu kiên nhẫn,
nên đã bỏ cuộc. Ví dụ như ông Đỗ Xuân Tiến, ông học
rất giỏi và rất thông minh. Có những bài thầy ra, chúng
tôi căm cụi làm hai ba ngày chưa xong, khi làm bài xong, đọc
nghe trúc trắc thế nào ấy. Trái lại, ông ta cứ chơi cho
đã rồi vào viết một lúc là xong. Bài của ông lại rất
hay rất lưu loát. Học giỏi như thế, cuối năm ông thi không
đậu, vì sao? Vì ông ham chơi quá. Ai rủ đi chơi đâu ông
cũng đi, bỏ bê việc học. Nhiều khi ỷ thị tài học và
sự thông minh của mình nên không chăm chỉ chuyên cần, bỏ
qua nề nếp nhà trường nên mất căn bản về học tập, về
đạo đức.
4.
Muốn học giỏi là phải tu
Muốn
học giỏi phải lo tu. Không tu không học được. Cũng có một
số rất ít người đã bỏ học vì những lý do rất nhỏ
nhặt, chỉ vì thiếu kiên trì, không kiềm chế được bản
năng. Lúc bấy giờ không có những thức ăn phụ nên thích
ăn vặt, ấy gọi là ăn hàng. Nhưng thật ra chỉ có vài thứ
kẹo đặc sản như kẹo Cau, kẹo Gừng, kẹo Đậu phộng mà
thôi. Những anh em ấy không chịu khổ được, không kiềm
chế được cái thèm của mình nên phải ăn. Ăn mắc nợ người
ta lâu ngày không trả nên người ta đến lớp đòi, các anh
ấy xấu hổ bỏ học. Đã bỏ học rồi họ bỏ tu luôn. Chúng
tôi nhờ kiên trì chịu khổ, chịu cực mới có ngày hôm nay.
Sau
này vì thời cuộc, trường bị phân tán: Chiến tranh bùng
nổ, xứ Huế quá nghèo, Hội không đủ sức đài thọ mới
đưa một số học Tăng vào Nam, chỉ để lại trường một
số ít thôi. Từ đó, chiến tranh liên miên, người thì chết,
người thì đi kháng chiến, kẻ thì hoàn tục. Lớp của chúng
tôi chỉ còn lại mấy vị như Hòa thượng Trí Tịnh, tôi,
Hòa thượng Thiện Minh, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng
Huyền Quang cũng có. Và cũng chính trong thời gian Phật giáo
cận đại cũng chỉ số anh em này ra gánh vác việc Đạo.
Đó chính là nhờ trong giai đoạn học tập đã có tâm thành
thật vô tư, chịu khó, chăm chỉ mà học nên sau này mới
có khả năng để ra gánh vác việc Đạo như vậy. Thêm vào
nữa là anh em chúng tôi hồi ấy đối với nhau rất chân tình,
không có phe đảng gì cả.
Mấy
hôm nay, tôi lên thăm Hồng Đức, thấy anh em nằm giường
chật chội, tôi rất xót xa! Vì trong số anh em đây chắc có
nhiều người ở nhà cũng thoải mái lắm, ở một mình một
phòng rộng, có quạt trần, quạt để bàn; có đền trên trần,
có đèn đọc sách, có đèn ngủ... Có người còn có radio,
tivi, cassette, nữa. Nghĩ như vậy nên mấy hôm nay tôi cứ thấy
ngậm ngùi... Bây giờ anh em ở một phòng sáu người thì tuy
có hơn chúng tôi thời bấy giờ đôi chút, nhưng so với tiện
nghi mà anh em có ở nhà thì ở đây còn chật chội quá! Không
biết anh em có suy nghĩ gì không. Nếu thật tình mà nói như
lời Phật dạy "Nhất thiết duy tâm tạo" thì chúng ta có thể
vì sự học mà quên đi những thiếu thốn vật chất. Vì khi
chúng ta để để hết tâm trí vào việc học rồi, thì đâu
còn nghĩ đến những tiện nghi vật chất nữa. Lúc ấy đáng
lẽ khổ mười phần, chúng ta chỉ thấy khổ một phần hoặc
không còn thấy khổ nữa.
Lại
như ngày xưa các cụ Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du...
các cụ đâu có những tiện nghi vật chất như chúng ta bây
giờ, mà sao các cụ cũng trở thành đại thi hào, nhà bác
học lỗi lạc và còn để lại cho chúng ta những kiệt tác
như thế? Xem đó, đủ biết những tiện nghi vật chất chỉ
là những trợ duyên bên ngoài, cái chính nhân của sự học
là tâm cầu học, là sự cố gắng nỗ lực, tích cực phát
huy khả năng, trí tuệ của mình. Có thể nói anh em bây giờ
học chỉ chú trọng bề rộng mà ít chú trọng bề sâu. Phật
pháp có nhiều môn, môn nào hợp với khả năng của mình thì
nên chú trọng môn ấy hơn, chuyên tâm sưu tầm một cách thấy
đáo mới được lợi ích. Cũng như ngoài đời người ta thường
nói: "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", nghĩa là có một nghề
cho thật tinh tường, rồi khéo tay tức là thân được vinh
hiển. Cũng vậy chúng ta chỉ cần một môn tinh, sâu, sau này
chúng ta mới có thể làm một vị giảng sư vững vàng được.
5.
Thái độ học tập
Người
xưa nói người có tinh thần học là người:
Bất
sỉ hạ vấn: Là không hổ thẹn khi cúi mình học hỏi người
kém nhỏ hơn mình. Vì sao? Vì có người kém hơn mình nhiều
điều nhưng có thể có một điều nào đó người ấy giỏi
hơn mình, mình nên cúi mình học hỏi họ.
Dũ
học dũ ngu: Nghĩa là càng học càng thấy ngu. Không bao giờ
chúng ta được phép tự phụ cho là mình biết đủ và có
ý khinh mạn sư trưởng, phải luôn luôn tự thấy mình thiếu
thốn về kiến thức, về tri thức.
Tinh
tiến đạo hạnh: Không những về kiến thức, tri thức mà
về đạo hạnh cũng vậy. Đức Phật ngày xưa đã từng tắm
rửa cho một vị Tỷ-kheo đau ốm và xâu kim cho một bà già
loà mắt. Thấy vậy, có người đệ tử hỏi Ngài: "Đức
Thế Tôn đã đầy đủ, viên mãn phước đức rồi, sao Ngài
còn làm những việc phước nhỏ như thế nữa làm gì?" Ngài
bảo: "Phước đức đối với ta không bao giờ đủ cả". Đó
là một bài học cho chúng ta, Phật mà còn như vậy, huống
hồ chúng ta là kẻ thiếu học, thiếu đức, chưa có gì đáng
để tự phụ. Như vậy, chúng ta phải luôn luôn giữ tâm hồn
trong trắng, vô tư, khiêm tốn, không kiêu căng ngạo mạn.
Đó là những đức tính cần thiết để làm việc trong tương
lai. Có những người rất giỏi nhưng không ai dùng cả vì
quá tự phụ, vì họ thiếu đức, thiếu tu. Ở đời mà thiếu
đức, thiếu tu cũng không nên làm việc lớn, huống gì trong
Đạo. Vì thế, tôi mong rằng trong Viện chúng ta, anh em giữ
tư cách đàng hoàng về học cũng như về hành. Học viện
này tốt hay xấu, có tồn tại lâu dài hay không, còn tùy cả
ở tư cách đạo đức của anh em. Chúng ta không nên chạy
theo tiện nghi vật chất quá đáng, vì đã gọi là "bần Tăng
tam thường bất túc" mà chúng ta xa xỉ, thừa thãi quá thì
đó là điều đáng hổ thẹn.
Ý
thức trách nhiệm: Mở được Học viện này là điều rất
quý hóa, là niệm hoan hỷ chung cho hàng Phật tử xuất gia
cũng như tại gia. Cho nên, chúng ta phải cố gắng làm sao để
Học viện xứng đáng là một Học viện Phật giáo khiến
cho hàng Phật tử tại gia tin tưởng vào chúng ta, tin tưởng
vào tương lai đạo pháp. Đó cũng chính là một cách chúng
ta hoằng dương rồi, chứ không phải đợi sau này ra thuyết
giảng cho họ mới là hoằng đạo. Nếu Học viện không xứng
đáng là một Học viện Phật giáo, làm cho hàng Phật tử
tại gia mất tin tưởng ở chúng ta, ở tương lai đạo pháp,
thì vô hình chung chúng ta làm cho họ thoái thất tín tâm.
Học
viện đòi hỏi sự đóng góp tích cực của anh em để xây
dựng Học viện vững chắc, xứng đáng là một Học viện
Phật giáo bằng chính thái độ học tập nghiêm túc, ý thức
giữ gìn oai nghi tế hạnh của anh em. Tôi nói như thế là
để anh em thấy cái trách nhiệm chung đối với Học viện.
Ngay bản thân tôi bây giờ đã gần 80 tuổi rồi, tôi không
còn ham muốn gì nữa mà đành phải ra gánh vác việc chung,
vì tôi nghĩ rằng mình được ngày hôm nay là nhờ ai, nhờ
Tam Bảo, nên tôi phải làm việc hết mình. Trang Tử ngày xưa
có nói: "Người ta ở đời có tam bất hủ là lập ngôn, lập
công và lập đức". Chúng ta bây giờ cũng vậy, cái tâm cầu
học, cái chí nguyện hoằng pháp lợi sinh làm sự nghiệp của
chúng ta mà thời gian không gian không thể chi phối được.
Mong rằng chúng ta luôn luôn giữ vững lập trường trong giảng
dạy cũng như trong học tập tấn tu Đạo nghiệp.
Tôi
nói chuyện với anh em bấy nhiêu. Mong rằng anh em cố gắng,
chúng ta cùng nhau xây dựng Học viện một cách tốt đẹp,
làm cơ bản cho các lớp hậu học, hầu mong sau này có được
những bậc Tăng Ni có thực học, thực đức để ra phục
vụ Đạo pháp, báo Phật ân đức.