VÀI
NHẬN XÉT VỀ NGHI LỄ TRONG PHẬT GIÁO
Nghi
lễ là một bộ phận sinh hoạt không thể thiếu được trong
Phật giáo. Tuy nhiên, sinh hoạt đó gần như chiếm hết thì
giờ trong đời sống người xuất gia hiện nay! Nếu nghi lễ
không được đặt để trong khuôn khổ chính đáng của Phật
pháp, không được dùng với mục đích mượn hình thức để
tuyên dương Phật pháp, dẫn kẻ sơ cơ vào đạo, dùng nghi
lễ để điều hòa tình cảm và lý trí, làm sao cho con người
được nhịp nhàng tiến bộ như người xưa chế ra nó, thì
nghi lễ sẽ thiếu năng lực đưa người vào chánh đạo, và
có tác động xấu đến tâm lý, sẽ gây ngộ nhận đối với
quần chúng. Nghi lễ khi đã không đi đúng quỹ đạo làm phương
tiện phụng sự đạo pháp, chắc rằng người đời sẽ mãi
cho đạo Phật là mê tín, dị đoan, thoái hóa, ru ngủ quần
chúng.
Nói
như thế, nhưng Phật giáo có nên bỏ hẳn nghi lễ được
không? Theo tôi, không thể được. Vì tất cả các tôn giáo,
đoàn thể giữa thế gian này không ai là không dùng nghi lễ
để phục vụ cho tín ngưỡng của mình. Nếu Phật giáo bỏ
phần đó tức là đã bỏ rơi một số người muốn quay về
với Chánh pháp. Hơn nữa, đạo Phật là đạo của từ bi
và trí tuệ, dùng bốn vạn tám ngàn pháp môn phương tiện
để đưa người đến bờ giải thoát. Đức Phật, ngoài giảng
dạy trực tiếp cho các Tỷ-kheo, Tỷ kheo-ni, các nam nữ cư
sĩ, Ngài còn lấy tâm truyền tâm cho Tôn giả Ca-diếp gọi
là "Niêm hoa vi tiếu". Kinh luận Phật giáo Đại thừa thường
hay nhắc câu chuyện: Một hôm, trong hội chúng đông đảo,
đức Thế Tôn không nói gì khi Ngài ngồi trên Pháp toà, im
lặng như Chánh Pháp. Thính chúng ai nấy cũng im lặng. Lúc
ấy Thế Tôn nhẹ nhàng đưa một cành hoa lên trước đám
đông, hội chúng không ai hiểu gì trước cử chỉ có ý nghĩa
của đức Thế Tôn. Chỉ có Tôn giả Ca-diếp im lặng mỉm
cười và Thế Tôn mỉm cười hoan hỷ. Câu chuyện lấy tâm
truyền tâm chỉ có một nụ cười trực ngộ giải thoát là
như vậy, cho nên trong Phật giáo, ngoài phần tâm truyền phải
có phần công truyền thì mới tùy cơ giáo hóa chúng sinh được.
Trong phần công truyền, hình thức nghi lễ là một, và thực
tế nó đã có một nhiệm vụ lớn lao, cảnh tỉnh đa số
quần chúng mà căn cơ chỉ duyên cảm để tin Phật trước
khi cần hiểu để theo.
Nghi
lễ Phật giáo có công năng tốt đẹp như thế, vậy thì tư
cách của người thi hành nó phải như thế nào để quần
chúng Phật tử và người đời khỏi hiểu lầm là Phật giáo
lợi dụng hình thức nghi lễ để buôn bán thánh thần? Theo
tôi, nghi lễ ngày nay cần chú ý các mặt sau đây:
- Tư
cách người thi hành lễ phải xứng đáng, để gây sự tôn
kính và tin tưởng Tam Bảo trong lòng mọi người.
- Tránh
mọi hình thức rườm rà, thiếu trang nghiêm trong khi hành lễ.
Phải giữ điều cần yếu khi hành lễ là Thành tâm và Kính
Phật.
- Không
xen lẫn những hình thức nghi lễ của ngoại đạo vào Phật
giáo, hoặc đem nghi lễ Phật giáo thi thố ở những nơi tà
đạo. Nghĩa là phải nhận thức đại cương về các nghi lễ,
trong đó thứ nào nên tránh và thứ nào nên theo. Thiết nghĩ,
chúng ta nên chia ra các mục sau đây trong nghi lễ Phật giáo.
1.
Thờ tự
Thờ
tự có nhiều ý nghĩa. Thờ với tính cách tri ân như thờ
cha mẹ, sư trưởng. Thờ với tính cách tôn kính như thờ
các vị anh hùng hiền triết trong lịch sử. Đối với người
xuất gia, khi làm lễ thọ giới pháp của Phật chế, trước
hết, họ phải làm lễ lạy tạ cha mẹ, từ đó về sau trên
danh nghĩa là một người "nhân thiên nhãn mục", không còn
trở lại bái phục quân vương, phụ mẫu nữa. Tuy nhiên, người
xuất gia cũng luôn luôn tưởng niệm các vị ân nhân, nhất
là ân cha mẹ và cầu nguyện hết thảy đều được siêu
sanh Lạc độ. Duy nhất, với tính cách vừa tri ân vừa tôn
kính đối với bậc Đạo sư chỉ đường thoát khổ, người
xuất gia nên thờ Tam Bảo mà thôi. Nhưng Tam Bảo theo quan niệm
Bắc tông và Nam tông khác nhau. Theo quan niệm Nam tông thì chỉ
thấy Phật trong một đời. Khi ngài nhập diệt rồi thì Phật
thân đã an trú trong cảnh Niết-bàn, nhưng họ tin vào Phật,
họ tín ngưỡng, tôn thờ như Phật còn tại thế. Vậy nên,
các nước theo Nam tông như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến điện,
Tích Lan... họ thờ Phật là cốt để tri ân Đấng giáo chủ
ban bố Chánh Pháp cho chúng sinh đã qua đời, hơn là để mong
cầu cảm ứng. Trái lại, theo quan niệm Bắc tông, với pháp
nhãn đạt quang, thấy Phật khắp cả mười phương, thông
suốt tương tục vô thỉ vô chung, ba đời: quá khứ, hiện
tại, vị lai không gián đoạn tâm Phật trong mỗi người thờ
Phật như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật bản, Đại Hàn, Mông Cổ...
Vì vậy, họ thờ Phật vừa để kỷ niệm, mà cũng vừa cầu
sự cảm ứng gia hộ cho đệ tử trên bước đường tu tập.
Họ quan niệm: Phật thường trú thế gian, nên một khi tượng
Phật đã tôn thờ trên toà sen tức xem như Phật còn tại
thế, Ngài luôn luôn nhìn thấy hành động của đệ tử mà
cảm ứng đạo tâm, hiển hiện Phật lực để an ủi, khuyên
răn và gia trì hộ niệm.
Thế
nhưng, ở Việt nam chúng ta ngày nay vấn đề thờ tự đã
trở nên phức tạp nhiều. Một ngôi chùa đúng lý để thờ
Tam Bảo hoặc thờ Tam Thế Phật nhưng nơi lại thờ luôn Quan
Thánh, Ngọc hoàng, Thánh mẫu, Thập điện như nhiều chùa
thuộc khu vực miền Nam và miền Trung. Thờ luôn cả thánh
mẫu thì nhiều nhất là các chùa miền Bắc. Đó là chưa nói
thờ nhiều hình tượng khác không dính dáng gì đến đạo
Phật. Thế gian, một số người cho rằng, bất cứ tượng
nào, hễ lọt vào mắt nhà chùa cũng trở nên linh thiêng, đưa
vào chùa thờ được cả, thậm chí còn có cả ông địa nữa.
Tệ hại hơn có người không thờ tại chùa, lại bày vẽ
a tòng những nơi thờ thiếu trang nghiêm, có vẻ tà mị yêu
quái, mê tín dị đoan...
Đau
lòng thay! Một ngôi chùa đáng lý để làm nơi tập Chúng tu
hành, hoằng dương Chánh pháp, lại biến thành một ngôi chùa
riêng độc quyền chiêm ngưỡng, hoặc lấy đó làm nơi cúng
kiến để nuôi thân. Dầu có nơi khá hơn, trong chùa cũng thờ
Phật, nhưng lại thiếu tấm lòng thành kính, tôn trí những
hình tượng Phật và Bồ-tát không có tướng hảo trang nghiêm,
lại còn treo những ảnh tượng hình thù kỳ quái ở hai bên
bàn thờ, cắm những tờ bùa, câu chú trước điện Phật.
Thật là một điều tội lỗi lớn, như trong kinh Tạo Tượng
đã nói. Với những ngôi chùa như vậy, mục đích là chỉ
biết cúng kiến, nào đâu phải vì vấn đề giải thoát sanh
tử đại sự, tập Chúng tu học cầu mong giải thoát. Thảm
thương thay! Một lối thờ cúng như vậy lại làm cho Đạo
Phật suy yếu biết dường nào.
2.
Cúng kính
Đã
có thờ tất nhiên có cúng. Vì nhớ ân, trọng nghĩa mà cúng,
vì linh khí kẻ mất người còn giao cảm nhau mà cúng. Nhưng
với người xuất gia thì thường chỉ cúng Tam Bảo mà thôi.
Ngoài ra, vì sự lợi tha và báo hiếu, người xuất gia có
thể cúng vọng tiến linh, cúng thí thực, cô hồn, kỳ an,
kỳ siêu. Tuy nhiên, trong những cách cúng nói trên, một số
người đã quá lạm dụng nghi lễ, biến nó trở nên phức
tạp và cầu kỳ, khiến cho quần chúng cảm thấy nhà Sư là
ông thầy cúng nhiều hơn là một vị tu hành để truyền bá
Chánh pháp. Dưới mắt Phật tử và quần chúng đối với
các nhà Sư trên, hầu như mục đích của nhà Sư là cúng,
cho đến chí nguyện của nhà Sư cũng chỉ cúng mà thôi.
Trong
thời trước, tôi thấy thế gian biết cúng một chuyện thì
nhà Sư biết cúng trăm chuyện, thế gian biết một vị thần
thì nhà Sư biết đến trăm vị thần. Ngoài lối cúng kiến
nói trên, nhà Sư còn thạo cúng đất, cúng sao, cúng nam thương,
yểu tử, cúng giải đàn oan, sai phan, sai phướng, cúng ngũ
hành, thổ địa, hạ khoán, sai muội, cúng thánh, cúng thần,
cúng tiên nương, Tôn giả, bổn mạng, bà mẫu... Lại còn
cúng tốt vườn, tốt đất, tốt nhà, tốt bếp, cúng đưa
ông Táo về trời... Bởi vậy chốn Già-lam mất hẳn tính
cách trang nghiêm thanh tịnh, không thể tập Chúng tu hành, tuyên
dương chánh giáo. Ngược lại, chùa trở thành nơi tập trung
mọi sự cúng kính vì lẽ này hay kế nọ. Thậm chí có nơi
còn khuyên tín đồ thờ cúng, lạy lục quỷ thần hơn lạy
Phật, mà quên đi rằng: Người Phật tử đã quy y Tam Bảo
là phát nguyện: Quy y Phật, thề không quy y thiên thần quỷ
vật. Nếu không tỉnh ngộ, chánh pháp vì vậy càng xa, tà
pháp càng gây hoạ cho người. Thật xót thương thay!
3.
Lễ phục
Theo
Phật chế, ba pháp y là áo mặc duy nhất của Tăng đồ, và
khi thọ giới, Tăng-già đã nguyện mặc y phấn ảo, một y
trong ba y để làm trang phục hoạt dung hàng ngày như thuyết
pháp, hành lễ, thọ trai... Vì đó là y phước điền, y giải
thoát, không gì hơn nữa, miễn là giới đức tinh nghiêm thì
đó là sự trang sức, là lễ phục đẹp nhất để cúng dường
Tam Bảo vậy.
Nay
vì quốc độ, và tùy theo phong tục khác nhau, Phật giáo Bắc
tông đã cải hóa theo thế nghi, tạo thành một lối lễ phục
rườm rà hơn trước. Khi đến Việt Nam, nó lại cải hóa
thêm một lần nữa.
Một
chuyện đau lòng mà vào thời tôi đã chứng kiến, đó là
sự phục sức lai hóa đến mức khó chịu. Thế nhưng nó vẫn
cứ là cái mẫu lai tạp của thời đại trong Phật giáo. Những
nhiễu y viền kim tuyến, nhưng đôi giày Tàu gắn bông đỏ,
được mang vào một cách trịnh trọng và tỏ vẻ sang trọng
hào nhoáng trong mỗi kỳ đại lễ. Trong những lễ này, dẫu
ai tu hành cho mấy mà thiếu cái y kim tuyến, đôi giày Tàu
thì cũng phải nhường chỗ cho người có nó đứng làm chủ
lễ. Lẽ tất nhiên, khi mang chiếc y đẹp thì nó bắt người
mang phải nhớ nó hơn nhớ Phật, chú trọng mình hơn trọng
người khác. Vì vậy, buổi lễ thiếu hẳn tinh thần cao quí
vốn có của nó. Nhớ lại lời di huấn của Phật: Pháp dục
diệt thời ca-sa biến vị ngũ sắc, thì hiện trạng y phục
này thật đáng buồn! Tôi nghĩ, những lễ phục, nhạc điệu
đơn thuần mà đứng đắn, điều hòa mà tôn nghiêm có lẽ
giữ cho buổi lễ tăng phần trang trọng lợi lạc hơn.
4.
Truyền giới
Lễ
truyền giới cũng là lễ thường xuyên và thiết yếu của
Tăng-già như lễ truyền giới Tam qui, Ngũ giới, Bát quan trai
giới, Cụ túc giới và Bồ-tát giới, nhưng cũng phải theo
quy tắc đã chỉ dạy trong các bộ Đại học Hoằng giới,
Yết-ma Chỉ nam, Thọ giới Nghi Quỷ hoặc trong Luật tạng;
và người truyền cũng như người thọ phải thành tâm thành
kính, biết tôn trọng giới thể mới được. Nếu không thì
lễ thọ giới chỉ là một kiểu mẫu thời trang, trong đó
người truyền không biết truyền gì, còn người thọ không
biết thọ gì, thế mà vẫn truyền, vẫn thọ.
Khi
sắp Niết-bàn, đức Phật đã ân cần dặn dò: "Giới Ta còn
thì như Ta còn, giới Ta còn thì đạo ta còn". Như thế, truyền
giới là lễ rất quan trọng định đoạt sự nghiệp còn mất
của Phật giáo.
Tóm
lại, theo tôi: Nghi lễ có công dụng gần quần chúng, làm
phương tiện tiên phong để truyền bá đạo Phật. Thế nhưng,
một khi vai trò tiên phong đã không đi đúng pháp, không hướng
người theo chánh pháp thì chỉ dẫn người vào ma đạo mà
thôi. Vậy để văn hồi địa vị cao cả của đạo Phật,
tất cả Tăng giới phải chỉnh đốn hết thảy mọi mặt
mà trong đó có cả nghi lễ. Về nghi lễ, phải chỉnh đốn
như thờ tự đơn giản, sự cúng kính phải trang nghiêm, gạt
bỏ những lối thờ cúng thần đạo ra ngoài, lễ phục cũng
như tư cách người thực hành nghi lễ, đều phải chỉnh đốn
đúng Luật và trang nghiêm mới mong gây được thiện cảm
và tín tâm trong lòng người muốn quay về với đạo.
Tôi
hy vọng những điều nhận xét trên đây được chư Tăng,
Ni đồng cảm và nếu thấy sai thì nên sửa chữa. Tôi cũng
mong Giáo hội sẽ sớm đưa ra các nghi thức hành lễ chung
cả Tăng tín đồ toàn quốc áp dụng, hầu đem lại lợi lạc
cho Phật giáo vậy.