TƯỞNG
NIỆM
1.
Hòa thượng Thích Giác Tiên
Đại
sư, Hòa thượng Giác Tiên họ Nguyễn, nguyên quán xã Dạ Lê
Thượng, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên. Hạ sanh năm
Tự Đức 33, Canh Thìn (1880). Năm mười một tuổi buồn táng
song thân, cảm đời mộng ảo, lập chí xuất trần, đến
lễ Hòa thượng Tâm Tịnh chùa Từ Hiếu xin làm đệ tử xuất
gia. Sư vốn căn tánh thông lợi, Kinh Luật am tường, thường
muốn kết am chuyên tu trên núi Duyên Xuân. Tỳ-kheo-ni Hồ Thị
Phát, pháp danh Thanh Liêm hiệu Diên Trường cảm mộ chí Sư,
lập chùa Trúc Lâm mời Sư làm toạ chủ khai sơn. Từ đây
thiền tâm viên đốn, mưa pháp lan truyền. Năm 28 tuổi (1908)
thọ giới Cụ túc với Hòa thượng Vĩnh Gia tại Giới đàn
chùa Phước Lâm, tỉnh Quảng Nam, kết tập chúng giảng học
tại chùa Thiên Hưng, đại chúng Tăng Ni quân triêm lợi ích.
Được Bổn sư Tâm Tịnh phú pháp kệ:
"Giác
đạo kiếp không tiên,
Không
không Bát Nhã thuyền.
Qủa
nhân phù hạnh giải,
Xứ
xứ tức an nhiên".
Đối
với việc y bát tương truyền, thiệu long giống Phật, sư
không thể từ thác. Năm Khải Định Mậu Ngọ (1918) họp thiền
môn pháp lữ, mở Giới đàn tại chùa Từ Hiếu, thỉnh Hòa
thượng Tâm Tịnh làm Đàn đầu truyền giới. Năm Khải Định
Giáp Tý (1924) họp đông đảo thiền hòa kết giới tu 9 tuần
tạ chùa Tường Vân. Hạnh giải công viên, phước tuệ song
tiến, tự tha đều lợi. Sư là anh tài của Phật Tổ, là
rường cột của thiền môn.Hằng ngày thường tham câu kệ:
"Các
pháp vốn xưa nay
Tướng
thường tự vắng lặng"
Năm
Bảo Đại nguyên niên (!926) là Trú trì chùa Diệu Đế, năm
Bảo Đại thứ sáu (1931) sùng tu chùa Trúc Lâm, Phật điện
Tăng đường một phen đổi mới.
Sư
vốn có tâm hạnh phổ hiền, chí nguyện độ sanh, nên đã
thỉnh Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp ở Bình Định
khai đàn giảng học tại chùa Trúc Lâm. Không bao lâu thiện
nam tín nữ thấm nhuần mưa pháp, phát chí Bồ đề, nguyện
cùng nhau hoằng thâm chánh giáo, cho nên Hội An Nam Phật Học,
sớm xướng chiều thành, đại tiểu Phật học đường kế
tục khai sáng. Hội An Nam Phật Học được phát triển lâu
bền chính là nhờ nguyện lực của Sư.
Năm
Bảo Đại thứ 11 (1936) tháng mười ngày mồng hai, Sư tập
hợp đệ tử tụng knh Pháp Bảo Tàng, đến phẩm Bát Nhã,
Sư phó chúc gia nghiệp Phật Pháp cho các đệ tử Mật Tín,
Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Tâm Minh... Qua ngày mồng
bốn buông bỏ thế duyên, an nhiên viên tịch, thọ 57 tuổi
đời 29 tuổi lạp. Tháp dựng ở bên tả của chùa. Tâm kinh
nói: "Xa lìa mộng tưởng điên đảo, cứu cánh Niết Bàn"
thật đáng tin vậy thay!
"Pháp
giới không sinh tử,
Đâu
còn có giác duyên
Nay
Diêm phù viên mãn,
Kể
gì đến tháp bia"
Nhưng
đạo phong cao diệu, pháp độ hoằng viên như thầy chúng tôi,
chúng tôi người sau cần nên ngẫm nghĩ. Do vậy ghi lại dấu
nơi đây, để làm nhân duyên cho đời cho đạo, ngyuyện pháp
nhãn chiếu soi càng thêm sáng mãi.
Bài
minh rằng:
Linh
khí Hương Bình,
Cửa
Phật sinh Tăng,
Đồng
niên diệu ngộ,
Lòng
trần đứng trong,
Xả
thân hoằng pháp,
Thiền
nghiệp trùng hưng
Sấm
vang chuông lớn,
Giác
tỉnh quần mông,
Tăng
đồ đông đảo,
Duy
Sư cậy trong,
Hoa
Đàm một đóa,
Bí
điển ngàn trùng,
Đất
trời xoay chuyển,
Núi
đạo chẳng rung,
Bia
đá sáng trưng,
Đời
đời xưng tụ.
Bảo
Đại năm 12 Đinh Sửu (1937) tháng chạp ngày Phật thành đạo.
(Phó
Hội trưởng Thượng thơ sung Quốc sử quán Tổng Tài Lê Nhữ
Lâm phụng soạn. An Nam Phật học hội Hội trưởng Hiệp tá
Đại học Sĩ Nguyễn Đình Hòe đồng Bổn hội phụng lập).
Cố
Hòa thượng, khai sơn Chùa Trúc Lâm Đại Thánh, sáng lập,
Chứng minh Đại đạo sư Hội An nam Phật học, đời thứ
42 dòng Thiền lâm tế Chánh tông, Húy thượng Trừng hạ Thành,
tự ChíTthông, hiệu Giác Tiên.
(Bài
dịch bia ký tại tháp của Hòa thượng Thích Giác Tiên chùa
Trúc Lâm - Huế)
2.
Hòa thượng Thích Mật Hiển
Kính
bạch Giác linh Đại lão hòa thượng
Đại
lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch cách đây không
mấy tuần lễ, lòng dạ bùi ngùi của Tăng Ni Phật tử chưa
nguôi. Nay Ngài lại tiếp tục đăng trình để lại cho chúng
tôi, môn đồ, hiếu quyến và hàng Tăng Ni Phật tử biết
bao ngậm ngùi thương tiếc.
Vẫn
biết đến và đi, ẩn và hiện cùa bậc xuất trần thượng
sĩ như cánh nhạn lướt giữa trời không chẳng hề lưu ảnh.
Tuy nhiên, ẩn hiện tùy cơ, đến đi tùy cảm, gần tám mươi
năm tu tập và hoằng truyền chánh pháp, khi thì hiện tướng
Thanh văn, an trú tịch tịnh, lúc thì hành Bồ-tát đạo, nhiếp
phục ma quân, khi thì yên lặng tư duy bất động, lúc thì
rung trượng giác trưởng nhân quần, trấn thiên kinh địa.
Ngài
nay đã rũ áo lâm hành, Giáo hôi, môn đồ, hiếu quyến, Tăng
Ni Phật tử không sao tránh khỏi sự bùi ngùi xúc động trước
sự mất mát lớn lao này.
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng.
Nay,
Ngài đã đi xa và xa lắm, nhưng hình ảnh, đạo phong, cốt
cách của ngài vẫn còn đó, hạnh nguyện độ sanh của ngài
vẫn còn đây. Chùa Trúc Lâm Đại Thánh tháng ngày chuyên tâm
luyện đạo, cõi Tây thiên lãnh hội lý mầu.
Rồi
Bình Định, Sa Đéc, những chặng đường tham vấn vân du,
Nha Trang, Sài Gòn, Hà Nội... đã rảo bước theo từng thời
gian gõ nhịp và những dấu chân còn in rõ từ Lào đến Thái
Lan, từ Miến Điện đến Đông Hồi, Nhật Bản... bao tháng
ngày vân du, chiêm bái, hoằng hóa của bậc Cao Tăng suốt đời
hiến mình cho Đạo pháp và Dân tộc.
Công
đức đóng góp, xây dựng Giáo hội, lãnh đạo Tăng già, trấn
giữ Thiền môn, vạch hướng tâm linh cho hàng Phật tử, thể
hiện tình hàng xóm, nghĩa quê hương dân tộc quả thực không
thể nghĩ bàn.
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng,
Làm
sao chúng tôi quên được trong tháng ngày cùng lao động khổ,
chung lo Phật sự, đạo phong của Hòa thượng thì trác việt,
nếp sống bình dị, nói năng thì khẳng quyết hùng hồn trước
bạo quyền: "Đã làm thầy tu thì đừng sợ chết, nếu sợ
chết thì đừng làm thầy tu".
Chính
lời nói ấy của Hòa thượng cũng đã làm cho Tăng Ni và Phật
tử chúng tôi kiên trì trong lý tưởng, vững chắc trong hành
động, phục vụ Đạo pháp và Dân tộc, đem lại lợi ích
cho loài người và tất cả chúng sinh.
Nay
Hòa thượng xả bỏ báo thân là một sự mất mát lớn lao
cho Giáo hội, môn đồ và toàn thể Tăng tín đồ trên mọi
miền đất nước. Dân tộc mất đi một người con đạo hạnh,
luôn luôn đem giáo từ bi bình đẳng xây dựng tình đoàn kết
và an lạc toàn dân. Thay mặt Giáo hội và Ban Lễ tang, trước
Giác linh Đại lão Hòa thượng Phó Pháp chủ, chúng tôi nguyện
làm bất cứ điều gì mà chúng tôi có thể làm được để
phụng sự Đạo pháp và Dân tộc đúng như hạnh nguyện của
Ngài.
Giờ
đây, tiếng kêu Sư tử lối rừng thường vắng vẻ bên tai,
bước Tượng vương nơi cửa pháp mơ màng trước mắt, trong
khoảnh khắc trở thành thiên thu này, chúng tôi thành kính
bái biệt Đại lão Hòa thượng nhẹ gót liên đài và chân
thành cảm ơn toàn thể quí vị.
Nam
mô Công lâm Bồ-tát Ma-ha-tát.
3.
Hòa thượng Thích Quảng Huệ
Thiên
Minh là một ngôi chùa nhỏ nằm sau lưng chùa Từ Đàm. Nhỏ
xác mà lòng không nhỏ nên từ những năm cuối 30, Thiên Minh
đã là nơi cho "tha hồ muôn khách đến". Khách đây chẳng
phải là quan lại chốn triều đình, là vương tôn công tử
nào; cũng chẳng phải là tín đồ ra vào lễ bái. Khách đây
là khách Tăng, là các Thầy của các lớp Đại học Phật
giáo đầu tiên được mở ra ở Tây Thiên dưới sự giảng
dạy của Hòa thượng Thập Tháp Thích Phước Huệ. Bấy giờ,
Phật giáo đang cố vương mình trổi dậy với phong trào Chấn
hưng ở ba miền sau nhiều năm ẩn mình hoặc hóa thân vào
các phong trào yêu nước chống Pháp. Lớp Phật học cao cấp
này, trong hoàn cảnh đó, là một thành tựu bước đầu đáng
kể của nỗ lực chấn hưng Phật giáo; và là niềm tin, niềm
tự hào của Phật tử miền Trung. Quý thầy Chánh Thống, Quảng
Huệ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Trí Thủ, Mật Thể... của lớp
này đương thời vừa học vừa gánh vác công việc của Sơn
môn Tăng già để rồi, từ đó về sau, hầu hết đã trở
thành những cột trụ của ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.
Thời
đó, Thiên Minh trở thành nơi cho khách đến là vì có thầy
Quảng Huệ ở đó. Có Thầy, không phải là ở những chức
vụ Phó Trị sự Sơn môn Thừa Thiên hay quản lý Phật học
đường Tây Thiên hay quản lý Phật học đường Tây Thên
do Thầy đảm nhiệm. Mà có Thầy là ở cái tấm lòng bao dung
cái cốt cách uy nghi, cái hạnh đức từ hòa và xử lý mọi
Phật sự rất nghiêm minh của Thầy dễ khiến cho bạn lữ
kính mến, gần gủi. Thầy không là nhà lãnh đạo nổi bật
theo cái nghĩa thời thượng ngày nay nhưng tấm lòng, cốt cách,
hạnh đức đó biểu lộ trong cách cư xử của thầy với
kẻ trên người dưới và nhuần thấm vào các công việc Thầy
làm cho Sơn môn, cho Phật học đường đã khiến Thầy trở
thành một chiếc bóng lớn; và khiến Thiên Minh trở thành
mãnh đất lành cho những tâm hồn nặng lòng với tiền đồ
Phật giáo.
Với
Thầy, chúng tôi thuộc lớp sau nên không có được cái gần
gủi như quý Thầy trên đây. Nhưng hình ảnh của Thầy cũng
đã nhiều lần thoáng qua trước mắt và để lại trong lòng
chúng tôi. Nhất là hình ảnh một Thầy Chánh Thống, sau ngày
Thầy viên tịch năm 1950, mỗi lần ghé lại Thiên Minh, ngồi
nhìn hình ảnh Thầy trên vách, thốt nên lời đau đớn "Đi
đâu mà gấp vậy..." rồi khóc, lại càng làm cho tôi xúc động
mà hình dung ra tấm lòng, cốt cách, hạnh đức của Thầy
như thế nào. Càng xúc động mà rõ hơn là Thầy, trong những
ngày tháng mùa đông năm 1945, khi nạn đói hoành hành khắp
nơi để cho xứ Huế cũng không tránh khỏi với bao người
phải chết trong cảnh cơ hàn. Những ngày tháng đó, xót nổi
đau của người dân cơ khổ, Thầy đã âm thầm tổ chức
nấu bánh tày, bỏ đầy trong các túi áo trong, áo ngoài, đem
đi cấp cứu cho đồng bào trong cơn đói lạnh. Rồi với những
người bất hạnh, chết không có tiền chôn, Thầy đến với
họ, an ủi thân nhân và lo an táng cho họ chẳng kể thân quen.
Không
được là người gần gủi với Thầy khi Thầy còn sống;
nhưng tấm lòng, công hạnh của Thầy đều gần gủi với
chúng tôi và Tăng Ni ngày nay biết bao. Khi trận lũ lụt tháng
11-1999 vừa qua đã mang đến bao nhiêu là đói khổ, chết chóc
tang thương trên mảnh đất Huế này, chúng tôi và đàn hậu
học ngày nay nối tiếp Thầy đem từng vắt cơm đến cho người
dân lâm nạn, lo liệu chôn cất cho những người bất hạnh.
Năm
mươi lăm năm với người trước kẻ sau! Thì ra, tấm lòng
và công hạnh của người con Phật bao giờ cũng thế
4.
Hòa thượng Thích Tâm Thông
Có
đó không đó, sống đó chết đó, hợp đó ly đó... vô thường
là cái chi chi mà lan tràn khắp sự vật. Vô hình vô dạng,
nhìn không thấy, lắng không nghe, rờ không đến, thế mà
đổ núi, cạn sông, trời nghiêng đất ngửa. Mê nó thì ưu
sầu thống khổ, lụy kiếp trầm luân, ngộ được nó thì
"nhậm tha pháp tánh châu lưu, mạc đoạn mạc tục" đến đi
vô ngại.
Tôi
và Hòa thượng sẵn có túc duyên, nên được sớm xuất gia
học đạo, cũng vì lẽ vô thường mà muốn được tự tại
trước lẽ vô thường ấy.
Nhớ
trước đây những năm 1940 Hòa thượng vào Phật học viện
Báo Quốc - Huế, tham học cùng với tôi một trường, mặc
dầu khác lớp. Tôi lớp trước, Hòa thượng lớp sau, song
lại đồng tâm đồng tính, ôn hòa, khiêm tốn, đôn hậu,
thủy chung; thế nên sau 50 năm phải xa cách nhau vì thời cuộc,
đến năm 1981 gặp lại nhau thì tình thân thương vẫn như
cũ. Tôi vẫn là tôi, Hòa thượng vẫn là Hòa thượng như
thuở nào, cũng vẫn tiến lên trên đường đạo, để có
ngày hôm nay, góp lòng góp sức vào việc hoằng dương Phật
pháp, không cô phụ chí nguyện xuất gia của mình.
Song
le, luật vô thường không thiên vị ai cả. Hòa thượng đã
ra đi, để lại bao nỗi tiếc thương trong tôi và trong nhiều
người khác.
Nhớ
Hòa thượng, tôi tâm thành cầu nguyện Hòa thượng sớm ngộ
vô sanh, thân thừa thọ kí, mãn nguyện Bồ-đề.
Từ
Đàm, ngày 25 tháng 9 năm 1999
5.
Hòa thượng Bổn sư Thích Giác Nhiên
Nam-mô
Lâm tế chánh tôn Tứ thập nhị thế, Trùng kiến Thiên Thai
Thuyền Tôn Tự, sung Tăng Thống GHPGVNTN, húy thượng Trừng
hạ Thủy, tự Chí Thâm, hiệu Giác Nhiên đại lão Hòa thượng
giác linh.
Hôm
nay một mùa xuân nữa trở lại, vạn vật thay màu đổi sắc
tô điểm cho hoàn vũ xinh thêm. Lại cũng thêm một mùa xuân,
niềm tưởng nhớ đến ngày trở về tịnh lạc của đức
cố đệ nhị Tăng thống GHPGVVTN.
Vẫn
biết rằng ứng thân tùy cơ, hóa thân tùy cảm, nhưng trên
trăm năm hiện hữu giữa cõi trần, với tám mươi hạ lạp,
đức cố Tăng Thống đã để lại bao nhiêu di bảo tinh thần,
nên nỗi nhớ khó phôi pha trong thâm tâm người hiếu đạo.
Bởi thế, mỗi lần tiết xuân hiện về là mỗi lần hàng
Tăng Ni, Phật tử chịu ân pháp nhủ xa gần bừng lên niềm
kính tưởng sùng tôn. Giờ đây, núi Thiên Thai với rừng thông
xanh biết lộng gió ngàn phương, tịnh địa Thuyền tông với
mái chùa cổ kính in niềm xót xa Trước bảo tháp uy nghi với
lời vàng quyện khói trầm nhang thoảng nhẹ hương thiền,
tứ chúng quy tụ về đây để nghe lòng ấm lại sau một năm
dài chen bước đạo đời. Trong khí thiên thuyền vị này,
chúng tôi xin ôn lại đôi nét cuộc đời ngài, để cho dấu
Đạo phong qui cách trác luân tuyệt tú khỏi bị phai mờ mà
hơn một thế kỉ làm người, ngài đã ban phát cho đàn hậu
tấn noi theo.
Đảnh
lễ bảo tháp hóa thân là đảnh lễ công đức cao dày; thắp
nén hương trầm là thắp nén tâm hương giới, định, tuệ
để thù đáp thâm ân bất tư nghì thuyết.
Kính
ngưỡng Giác linh đức đại lão Hòa thượng bên dòng Thạch
Hãn xứ Quãng Trị nghèo nàn, gió non nam thổi bụi mù bay,
đất Ái Tử cát vàng ngập nắng dạt dào trong tình hiếu
tử thân yêu. Ngài đã thác sanh trong gia đình thượng tôn
đạo học. Ngài tên thật là Võ Chí Thâm, sinh ngày 07-01-1877.
Lúc lên 7 tuổi ngài đã theo Nho học, nhưng truyền thống Phật
đạo mới là năng lực chính yếu thúc đẩy bao nhiêu người
Việt và chính ngài sớm tìm về cõi Phật. Ngài đã xa quê
từ nhỏ để tìm đến chùa Tây Thiên Di-Đà ở thành cố
đô Huế, xin thọ giáo với Hòa thượng Tậm Tịnh. Trong tòng
lâm Tây Thiên tịnh mặc, đồng tử Võ Chí Thâm được minh
sư giáo dưỡng, đủ cơ duyên phát triển thiện căn, thẳng
đường giác ngộ. Đối với ngài, một ánh chớp đầu ngày,
một chiếc lá vàng bay, một cảnh ngộ thăng trầm lớn nhỏ...
là cả một tư duy dằng dặc, và câu trả lời phải đổi
bằng chí nguyện kiên trinh, mồ hôi nước mắt.
Suốt
23 năm tu học, thể nghiệm giáo lý Phật đà mỗi ngày mỗi
đưa ngài vào sâu lý đạo.
Năm
1895, ngài đến chùa Phước Nam ở tỉnh Quãng Nam, cầu thọ
Cụ túc giới với Hòa thượng Vĩnh Gia. Sau khi đắc giới,
đạo pháp ngài càng cũng cố sâu dày. Ý nguyện độ sanh bàng
bạc khắp mỗi lời kinh mà ngài đã thâu thập được, khiến
ngài không thể ngồi yên nhìn giáo pháp đấng Chí tôn mai
một với những tâm niệm hẹp hòi vị kỷ khi đã nhận rõ:
"Hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp" (Hoằng dương
chánh pháp là việc nhà, lợi lạc quần sanh là sự nghiệp).
Năm 1932 ngài đã cùng quí Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên,
Tịnh Hạnh và cư sĩ Lê Đình Thám, Trương Xướng đứng ra
thành lập hội An Nam Phật học, tạo điều hoằng pháp lợi
sanh. Với chí nguyện và uy đức sẵn có, ngài đã liên tục
giữ các chức vụ trọng yếu trong đạo: từ Chứng minh đạo
sư của hội An Nam Phật học đến Hội trưởng Hội Phật
giáo Trung phần; từ Trù trì chùa Quốc tự Túy Vân đến Trù
trì Tổ đình Thuyền Tôn; từ Giám đốc Phật học đường
Tây Thiên đến Viện trưởng Phật học viện Trung phần tại
Nha Trang; từ Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn Hộ Quốc
ở Nha Trang đến Đàn đầu Hòa thượng đại giới đàn Vạn
Hạnh tại Từ Hiếu, giới đàn Vĩnh Gia ở Đà Nẵng; từ
Tăng can Túy Ba đến Tăng Thống GHPGVNTN. Trong chức vụ nào
ngài cũng đều hành sử một cách nghiêm trang, đỉnh đạc,
góp phần tích cực xây dựng vào công cuộc chấn hưng Phật
giáo nước nhà qua nhiều giai đoạn khó khăn. Có thể nói
đời ngài là mẫu đời một hành giả đã thể hiện trong
cuộc sống với đạo lý "vô ngôn nhi ngôn, vô hành nhi hành".
Nên bất cứ trách nhiệm Đạo pháp nào đưa đến, ngài cũng
đều lãnh nhận một cách tự nhiên vô thủ vô xả, và cũng
đều hoàn thành một cách tự nhiên phi đắc phi thất. Một
hình ảnh cảm động của ngài là lúc ngài đã 86 tuổi, với
tấm thân ốm yếu già nua, với chiếc gậy mảnh khảnh cầm
tay, ngài đã cùng các vị Trưởng lão Hòa thượng dẫn đầu
cuộc biểu tình chiều ngày 14-04-1963 đòi chính quyền Ngô
Đình Diệm thực thi chính sách bình đẳng Tôn giáo. Giữa
năm 1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước
hòa bình thống nhất, ngài đã ra lời khuyên nhủ tứ chúng
luôn luôn tăng trưởng đạo tâm huân tu tam học, áp dụng
tinh thần Bách Trượng vào cuộc sống hằng ngày. Với hàng
xuất gia, ngài đã dạy: "Tôi nay đã già rồi. Hơn 100 năm
qua tôi đã sống và đã chứng kiến mỗi thay đổi của đất
nước thân yêu. Với hàng xuất gia tôi thấy không gì hơn
là sống Phạm hạnh, cho nên tôi chỉ mong hàng Phật tử xuất
gia hằng sống hoan hỉ, hòa hợp trong Phạm hạnh, giữ gìn
giới, định, tuệ để hành giúp đời". Đối với hàng cư
sĩ, ngài đã khuyến dụ: "Tôi mong hàng Phật tử tại gia tu
âm, dưỡng đức, biết thương yêu mọi người, làm tròn trách
nhiệm của mình đối với đạo, đối với đời để cùng
phát huy tinh thần từ bi trí tuệ của đạo phật và xây dựng
một nước Việt Nam vinh quang giàu mạnh". Trong sự nghiệp
tu hành, ngài luôn luôn kêu gọi tăng sĩ nên chú trọng cuộc
sống nội tâm hơn là nghiêng hẳn về hình thức. Đạo Phật
thực sự tồn tại không phải ở những hình thức chùa tháp,
lễ nghi, kinh điển, mặc dầu kinh điển là chỉ nam dẫn ta
đến đạo qủa Vô thượng Bồ-đề. Nhưng sự tồn tại đích
thực của đạo là sự thực hiện đạo pháp! Nhưng những
nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới
và tận lực phục vụ Chánh pháp mãi mãi tồn tại ở thế
gian và làm lợi ích cho chúng sanh.
Kính
bạch Giác Linh đức cố Tăng Thống. Làm sao chúng con quên
được đức độ cao thâm, đạo phong trác tuyệt, bình dị
trầm hùng, lời từ hòa ái vững chắc, ý chí sáng suốt,
kiên trì của ngài từng trải ra trước mắt và tâm cảnh
của mọi người. Tuy đã trên trăm tuổi, nhưng thân thể khinh
an, đi đứng đĩnh đạc, nói năng rõ ràng, không có những
triệu chứng thường tình của các vị luống tuổi. Trái lại,
ngài còn toạ thiền hằng giờ không biết mỏi mệt, sống
đơn giản đầy vẻ thiền gia này là cả bài pháp hùng hồn
cho chúng con noi dấu.
Đầu
xuân năm 1979, ngày 04 tháng giêng năm Kỷ Mùi, ngài tiếp Hòa
thượng Chánh thư ký Viện Tăng thống và Ban Đại diện Giáo
hội Phật giáo Thừa Thiên đến chúc thọ đầu năm. Sau lễ
chúc thọ, ngài đã ân cần đáp lễ với những lời đầu
năm vô cùng xúc động: "Tôi nay tuổi đã già rồi, tôi thấy
sức khỏe của tôi kém nhiều, chưa biết chừng sự chết
sẽ đến nay mai. Nhân dịp đầu năm, Hòa thượng cùng quí
thầy đến thăm tôi, tôi xin cảm ơn và cầu Phật gia hộ
Hòa thượng cùng quí Thầy nhiều sức khỏe, cố gắng kiên
nhẫn trước mọi hoàn cảnh để phục vụ Giáo hội, dìu
dắt Tăng Ni, tín đồ tu niệm. Tôi thật không có gì vui sướng
hơn". Nào ngờ mấy lời này trở thành lời chào vĩnh biệt!.
Giữa
ngày mồng 5 thân thể khiếm an, rồi ngày an nhiên xả báo
thân vào hồi 6 giờ 30 ngày 06 tháng giêng năm kỉ mùi (2-2-1979)
hưởng thọ 102 tuổi đời và 80 hạ lạp.
Ngưỡng
bạch Giác linh Đức đại lão Hòa thượng. Giờ đây, đã
3 mùa xuân trôi qua, hơn một ngàn ngày thoi đưa thấm thoát,
ngài đã đi ngoài vạn dặm, nét hồng danh còn thắm hương
thiền, đức cao dày ngừng trải Nhơn Thiên, đạo ngát tỏa
rừng thiên bể thẳm. Bây giờ tuy hoa xuân tròn nụ nhưng tâm
xuân đã trống vắng rất nhiều, đồi Thiên Thai thông buồn
theo gió, mái chùa thiên phủ lớp rêu mầm, nhưng bóng vàng
dằng dứt tơ, nỗi nhớ tưởng hình bóng Cao Tăng thoáng xa
mờ vạn dặm, quanh đây, âm tung thiền trượng vẫn còn nghe
rõ nhịp trầm hùng, cây cỏ Thuyền Tôn còn vọng dấu hài
lão chủ.
Xuân
đưa người vào định,
Đương
lai tác Phật thanh,
Khoác
Pháp y lễ kính,
Xiêm
phấn tỏa phai dần,
Y
Ta-bà hóa mãn,
Trở
bước cuộc vân du,
Về
nguồn chơn linh cảm,
Với
trăm lẽ xuân thu.
Cây
đại thụ rã cành,
Cỏ
buồn khô tất bóng,
Lá
sầu màu hết xanh,
Hoa
ngậm ngùi lệ nóng.
Kính
bạch Giác linh đức cố Hòa thượng. Giờ đây trước bảo
tháp uy nghiêm, hiện thân Thánh chúng với trầm quyện gió
đưa hương, hòa với lời kinh xuân cầu nguyện tha thiết.
Chúng con trở về nương tựa ân sủng từ bi tươi nhuần đạo
hạnh. Chúng con kính thành đảnh lễ tháp tín, chiêm ngưỡng
di ảnh đức ngài để góp lời cầu nguyện đầu xuân đến
muôn lòng an tịnh. Và ôn lại tiểu sử đời ngài là chuẩn
bồi tư lương đức hạnh mà ngài đã ban cho để làm hành
trang trên chặng đường huân tu đạo giáo.
Tong
giờ phúc trang nghiêm này, toàn thể Tăng, tín đồ Phật giáo
hiện tại kính thành đảnh lễ bảo tháp uy nghiêm, hóa thân
từ tịnh. Cúi xin Giác linh đại lão Hòa thượng gia bị cho
con trọn hướng đường tu, và nguyện cầu một năm an bình
đến khắp mọi bá tánh nhân dân.
Nam
mô chứng minh sư Bồ-tát ma-ha-tát.
6.
Hòa thượng Thích Trí Thủ
(1)
Thời
gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòa
thượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà
Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa Quán
Sứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
Những
ba năm, mỗi trang lịch sử dần dần đi vào dĩ vãng, nhưng
lại vướng đọng trong lòng tôi nỗi ngậm ngùi, tiếc thương;
tiếc thương về một bóng hình, một bóng hình in đậm vào
tâm hồn tôi và chắc chắn cũng khắc sâu vào tâm hồn của
Tăng Ni và Phật Tử; cho dù trước giờ phúc giã biệt thân
tứ đại trở về cõi an nhiên tự tại, Hòa thượng đã không
để lại một lời.
Tôi
nhớ rõ và thật sự súc động cái sáng sớm mồng 3 tháng
3 năm Giáp Tý ấy, lúc tôi đang ở tại chùa Quán Sứ, bỗng
nhận được tin Hòa thượng đã vĩnh viễn ra đi và xa tất
cả chúng ta.
Từ
đó đến giờ vẫn trong hình ảnh "Nhạn quá trường gian,
ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô lưu tích chí ý, thủy vô lưu
ảnh chi tâm". Nhưng thật ra, bóng nhạn vẫn chập chờn với
dòng sông và dòng sông đang gợn sóng theo bóng nhạn. Cảnh
sắc sắc không không hàng ngày vẫn vơi đầy nhớ kẻ trồng
cây.
Tuần
qua, tôi lại nhận được thư của anh em ở các Phật học
viện và Pháp tử của Hòa thượng ngỏ ý cùng nhau ghi lại
một số tâm tình về Hòa thượng và đề nghị tôi viết
cho lời Mở đầu để gọi là chút truy niệm ngày giỗ đầu
của người đã khuất.
Thấy
tinh thần của anh em, tôi hết sức mừng. Đây là điều đáng
duy trì và phát huy. Tục ngữ ta có câu "Ăn trái nhớ kẻ trồng
cây" hay "Uống nước nhớ nguồn". Nhớ ơn và đền đáp công
ơn đó cũng là quy luật đạo đức và đó cũng là hạnh nguyện
lớn của hành giả trên bước đường tu đạo.
Tuy
nhiên, đây vẫn chỉ là một trong muôn ngàn cách biểu lộ
lòng biết ơn đối với những vị dày công đóng góp cho Đạo
pháp, cho Dân tộc và ngay cả cho mỗi chúng ta. Ta thường nghe
"Ngôn ngữ đạo đoạn". Lời sẽ hạn chế đạo, hình thức
lắm khi cũng làm giảm thiểu ý nghĩa. Cảm quan ta, ngôn từ
ta, sẽ lúng túng, vụng về trước tác phẩm của vạn vật,
trước những công đức "hành vô hành hành". Nhưng có điều
tôi cũng đồng ý với anh em "bất ngôn, thùy tri kỳ chi". Vì
thế, càng viết càng thấm, càng thấm càng cảm, càng cảm
càng thương, mối giao cảm sẽ tỏa ngời ánh sáng, tương
quan liên hệ mật thiết như nước với nguồn, nguồn với
nước, kẻ ăn trái người trồng cây có thể tiếp cận nhau,
gặp gỡ nhau trông không gian đích thực của dòng sinh diệt,
diệt sinh vẫn chung về một nẻo.
Có
điều đáng làm tôi lo lắng, lễ giỗ đầu của Hòa thượng
cũng đã gần kề, liệu chúng ta có thực hiện được như
ý nguyện? Dù sao những cánh chim nơi mọi phương trời vẫn
nhớ về tổ ấm, ta đã, đang và sẽ mãi mãi không quên một
bóng hình đáng kính, đáng thương. Nhớ và tưởng niệm Hòa
thượng trong niềm chân thành, với nén hương, với bình hoa
đơn giản của nhà Thiền dâng cúng Hòa thượng. Ta mong ước
như Hòa thượng từng ước mong "Sinh sinh dự Phật vi quyến
thuộc, xứ xứ Bồ-đề kết thiện duyên".
Ngàn
xưa và ngàn sau trăng vẫn sáng, có đâu "Trăng lặng về non
không trở lại", đường về xứ Phật vẫn tỏa ngát mùi
sen. Xuất phát từ ý thức này nơi cõi Lạc Bang, Hòa thượng
cũng nở nụ cười hoan hỷ chúng minh lòng thành của tất
cả chúng ta.
Huế,
rằm tháng Giêng, Đinh Mão
Pháp
lữ: Hòa thượng Thích Thiện Siêu.
Cẩn
niệm
(II)
Giờ
đây, trước Giác Linh trang nghiêm của Cố Đại lão Hòa thượng,
tất cả Tăng Ni Phật tử chúng ta đang còn mang nặng trong
tâm tư nỗi niềm bùi ngùi xúc động, thương tiếc và tưởng
nhớ một vị Cao Tăng, một bậc Thầy đạo hạnh cao thâm,
chí nguyện kiên trì, trọn đời hiến mình cho Đạo pháp và
Dân tộc. Với cố Giác linh Hòa thượng, chúng ta tất cả
những người đã gần gũi, những người đã thọ ân Pháp
hóa, không ai không khắc cốt ghi tâm những nụ cười hoan
hỷ, những dáng điệu vui tươi, những cái nhìn từ mẫn,
những câu nói hiền hòa đậm đà đạo lý. Nên một khi nghe
Hòa thượng viên tịch, tất cả Tăng, Ni và Phật tử nơi
nơi không ai cầm được giọt lệ, như thấy mình đã mất
một bóng cây đại thọ che mát, như thấy mình thiếu khát
những giọt nước cam lồ, như thầy mình không còn nơi nương
tựa. Sự xúc động, sự nghẹn ngào đã dâng trào khắp tất
cả mọi hàng Tăng Ni, Phật tử.
Ở
trong chùa, ở giữa đường, ở ngoài chợ, sau khi Hòa thượng
viên tịch, tất cả đều nghĩ đến công hạnh lớn lao, chí
nguyện cao cả của Hòa thượng đã ban bố cho hàng Tăng Ni,
Phật tử. Nên đối trước công hạnh lớn lao đó, dầu có
nói mấy cũng không cùng, dầu có tả mấy cũng không hết,
nên chúng ta lắng lòng suy tư, lắng lòng nhớ tưởng, chúng
ta mới thấy rõ được những nét cao siêu, những nét thâm
huyền, những nét đạo hạnh nơi Hòa thượng. Hòa thượng
luôn luôn phát nguyện rằng:
"Một
lòng kính lạy Phật-đà
Đời
đời con nguyện ở nhà Như Lai,
Con
hằng mặc áo Như Lai,
Con
ngồi pháp toạ Như Lai muôn đời".
Đó
là một lời nguyện thâm sâu phát xuất từ kinh Pháp Hoa, với
ý nghĩa nhà Như Lai là tâm Đại từ bi. Áo Như Lai là Nhất
thiết pháp không. Đại từ bi là đại bi, nhu hòa nhẫn nhục
là đại hùng, nhất thiết pháp không là đại trí. Hòa thượng
đã lấy câu trong kinh Pháp Hoa làm chí nguyện cao cả của
mình, suốt đời tuân theo, suốt đời hành đạo. Nhờ đó
mà trải qua bao nhiêu việc làm của Hòa thượng đều mang
một sắc thái đậm đà đạo lý, mang một sắc thái tự lợi
lợi tha, ích đời lợi đạo.
Dù
tuổi đời đã bảy mươi sáu, nhưng Hòa thượng vẫn mỗi
buổi sáng dậy thật sớm: hai giờ rưỡi, uống nước, tắm
rửa rồi đi vào chùa lễ Phật 108 lạy trên một giờ đồng
hồ, rồi lại tiếp tục trì chú thêm một giờ đồng hồ
nữa. Sự tu niệm chuyên cần đó không phải chỉ một ngày,
hai ngày, mà luôn luôn hàng cả hai ba chục năm, không phải
ở chùa mình mà bất cứ ở chùa nào, sáng nào cũng làm y
như thế, không phải ở trong nước mà trong khi đi ra nước
ngoài dự Đại hội, làm những việc Phật sự, Hòa thượng
vẫn giữ công hạnh đó. Qua các công hạnh đó để thấy
rõ rằng chí nguyện Hòa thượng sâu xa biết chừng nào. Nếu
ngược lại, một chí nguyện mỏng manh hời hợt, thì làm
sao thực hiện được một đạo hạnh thâm sâu lâu dài như
thế. Một điều ấy cũng đủ cho tất cả hàng Tăng Ni, Phật
tử chúng ta đời đời ghi nhớ, tất cả hàng Tăng Ni, Phật
tử chúng ta đời đời noi gương Hòa thượng và kính lạy
bao nhiêu lạy cũng không vừa. Huống chi Hòa thượng không
phải chỉ nghĩ riêng việc lợi mình giải thoát, còn nghĩ
tới việc hoằng đạo lợi sinh, dìu dắt Tăng Ni trên đường
Chánh pháp. Hòa thượng từng tổ chức bao nhiêu Phật học
đường: Linh Quang, Báo Quốc (Huế), Phổ Đà (Đà Nẵng), Hải
Đức (Nha Trang), Già Lam (Sài Gòn), đào tạo những lớp Tăng
Ni nhỏ, đào tạo những lớp Tăng Ni lớn. Hòa thượng đã
đeo đuổi công hạnh đào tạo Tăng Ni của mình suốt bao chục
năm trường không biết mỏi mệt.
Nhờ
đức tính từ hòa, hoan hỷ, bao dung, ngồi với Hòa thượng
thì Hòa thượng trở thành Hòa thượng, đối với thanh niên
thì Hòa thượng trở thành thanh niên, đối với Tăng trẻ
Hòa thượng trở thành người trẻ, đối với em bé Hòa thượng
cũng nói chuyện vui vẻ như một em bé. Do vậy mà bao nhiêu
năm Hòa thượng sống với Chúng Tăng không phải toàn là những
người tu đạo lâu ngày, mà những người mới nhập đạo
có, những người đi sâu trên con đường tu niệm có, những
người mới phát tâm có, tính tình mỗi người mỗi nết,
đức hạnh mỗi người mỗi cách, thế mà Hòa thượng bao
dung được tất cả dưới sự nâng niu giáo dục của mình,
không từ bỏ một ai. Người có khả năng, Hòa thượng nâng
đỡ theo khả năng; người khả năng kém, Hòa thượng nâng
đỡ theo khả năng kém, không để cho ai trở thành người
vô dụng. Đó là một công đức lớn lao, một chí nguyện
cao cả, một tấm gương sáng để hàng Tăng Ni, Phật tử chúng
ta soi sáng noi theo muôn đời không hết.
Trong
khi tổ chức giáo dục Tăng Ni, Hòa thựong đã có những cái
nhìn xa thấy rộng, không phải chỉ gò bó trong một cách cổ
xưa, mà nâng đỡ Tăng Ni, giáo dục Tăng Ni có những kiến
thức, những đức hạnh thích hợp với hoàn cảnh, với thời
thế để phụng đạo lợi đời. Hòa thượng đã từng khai
mở đường lối đưa Tăng Ni đi thi để có những Văn bằng
Tiểu học, Trung học, rồi bằng Đại học, đủ phương tiện
để tuyên dương Chánh pháp. Không phải chỉ lo mặt tinh thần,
Hòa thượng còn lo mặt vật chất cho Tăng Ni, đi đâu cũng
mở những cơ sở kinh tế tự túc để cho Tăng Ni vừa làm
vừa học, vừa nuôi sống thể chất, vừa nuôi sống tinh thần,
để cho một người vừa có đủ cả hạnh, cả bi, cả thể,
không thiếu mặt nào.
Hòa
thượng cũng đã góp chung với tất cả đồng bào, thương
yêu Tổ quốc, làm những điều mình có thể làm được, trải
qua bao thời đại, cho nên khi nghe tin Hòa thượng viên tịch,
không những chỉ những hàng Tăng Ni, mà Phật tử trong đạo
cũng bùi ngùi xúc động. Cố lắng lòng ôn lại những ánh
mắt từ hòa, những cử chỉ êm đềm và những tâm tư rộng
rãi, quảng đại, chúng ta mới nhớ hết được những công
đức cao dày, những công hạnh sâu xa của Hòa thượng, và
cố noi theo công hạnh của Hòa thượng để thực hành bước
lên con đường sáng suốt lợi mình, lợi đạo, lợi đời,
chúng ta mới có thể báo đáp được công đức của Hòa thượng
một phần nào.
Hôm
nay trước linh đài trang nghiêm, hàng Tăng Ni, Phật tử chúng
ta vô cùng thành kính để tưởng niệm công đức Hòa thượng,
làm lễ ngày chung nhất, chúng ta cầu mong Hòa thượng Cao đăng
Phật quốc, hồi nhập Ta Bà, để dìu dắt chúng ta bước
thêm những bước dài trên con đường đạo.
Lời
cảm niệm của Hòa thượng Thích Thiện Siêu
trong
lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Thủ
20-4
năm Giáp Tý (25-5-1984).
(III)
Hôm
nay, vừa đúng hai năm sau ngày Hòa thượng an nhiên quy tịch.
Hai năm hàng Tăng Ni, Phật tử chúng tôi phải trải qua những
ngày tháng trống vắng một bậc Cao Tăng, một vị thầy đạo
hạnh tôn kính, có dáng mạo đoan nghiêm, đạo phong thanh thoát,
thái độ ân cần thân mật, hoan hỷ, bao dung, có nụ cười
ấm mát tươi vui, biết quý người có học, có đức nhưng
không khinh chê người kém cõi, sẵn lòng giúp đỡ mọi người,
không phân biệt việc lớn việc nhỏ, miễn thấy có lợi
cho đạo cho người, ứng hợp với lòng từ bi thì không hề
từ chối. Không ưa sống cuộc sống riêng lẻ cô tịch mà
ưa sống hòa mình vào đời sống của đại chúng để dìu
dắt họ, sống giữa Chúng Tăng đông đảo, cùng ăn với họ,
thậm chí có khi đi tắm biển, đánh ping-pong với họ, nhưng
không vì vậy mà làm mất vẻ uy nghi, phai mờ đạo hạnh,
bỏ lơi thời khóa biểu tu trì, vun bồi đạo nghiệp.
Đã
sẵn mang hoài bão thừa Như Lai sứ, nên hễ gặp Phật sự
gì đòi hỏi, Hòa thượng đều sẵn sàng vui vẻ gánh vác,
không luận chức vụ gì. Khi làm Trú trì, khi Giáo sư, Giảng
sư, Thư ký, Hội trưởng. Khi Viện trưởng [1], khi Chủ tịch
[2], nhưng không hề có sự mâu thuẫn giữa chức vụ này với
chức vụ kia, vì trước sau trong tâm tư Hòa thượng cũng chỉ
đeo đuổi một mục đích chí nguyện hoằng dương Chánh pháp,
lợi lạc quần sinh, thương yêu Tổ quốc đồng bào với tinh
thần vô ngã vị tha, với hạnh Phổ Hiền, thượng cầu hạ
hóa, với đức tính tịnh mà không trầm, động mà không loạn,
ở trên người mà không thấy nặng, ở dưới người mà không
thể khinh, Hòa thượng đã hiến trọn đời mình cho Đạo
pháp, cho Dân tộc, cho nhân loại, cả trong nước lẫn nước
ngoài theo lời thệ nguyện mà Hòa thượng đã nêu cao từ
trước:
"Đốt
nén tâm hương trước Phật đài,
Phổ
Hiền hạnh cả nguyện đừng sai.
Biến
thân cát bụi thần thông hiện,
Chữa
bệnh trầm kha khắp mọi loài."
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng,
Hôm
nay, trước Bảo tháp uy nghi, Giác linh tịch mặc, chúng tôi
đồng tâm kính thành tưởng niệm, ngưỡng mong Giác linh Hòa
thượng thùy từ chứng giám.
Lời
cảm niệm trong ngày Đại tường 1-3-1986.
Chú
thích:
[1]
Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN trước năm 1975.
[2]
Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN sau năm 1980.
(IV)
Hòa
thượng họ Nguyễn húy Văn Kính, Pháp danh Tâm Như, tự Đạo
Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 19 tháng 09 năm Kỷ Dậu
(1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. Mười bảy tuổi xuất gia,
hai mươi tuổi thọ Cụ túc giới, tự pháp đời thứ 43 phái
thiền Lâm Tế.
Với
chí nguyện thượng cầu hạ hóa, Hòa thượng là một trong
những vị đi đầu trong các cuộc chấn hưng Phật giáo nước
nhà. Mở nhiều Phật học viện, trùng tu nhiều Phạm vũ, khai
sơn Quảng Hương Già Lam. Mở nhiều Đại giới đàn và phiên
dịch giảng giải kinh, luật luận. Hòa thượng không ngừng
tiếp dẫn hậu lai cho Tăng tín đồ được nhờ ơn Pháp vũ,
xuất thế tinh chuyên đã vậy. Nào quên nhập thế độ sanh,
dẫu tuổi già chẳng ngại dấn thân, hạnh Phổ Hiền lợi
đời lợi đạo, biết sự thế lắm phen khe khắt. Tâm hồn
luôn hoan hỷ bao dung, mãn cơ duyên chuyển thân tứ đại trả
về đây. Song thọ Ta-la chúng sinh đồng truy niệm.
Như
thị chân như thị huyễn.
Như
thị công đức trang nghiêm.
(Hòa
thượng viên tịch ngày mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý (1984). Tháp
bia hoàn thành ngày 19- 9 năm Ất Sửu -1985).
Thất
chúng đệ tử phụng lập
Kính
ghi: Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU.
7.
Hòa thượng Thích Mật Nguyện
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng,
Biển
nghiệp thức bây giờ đã lặng sóng, trời trăng sao trên đỉnh
Lăng già đã đậm nét vô thường giữa lòng bất diệt. Bên
kia bờ tịch diệt, tâm nào đây mà tưởng tới cho cùng. Bên
này bờ nhân ngã, lời nào đây mà nói lên cho tận. Tâm đã
không cùng trong lẽ tức sắc tức không, lời đã không tận
giữa cõi sinh thành hoại diệt, nay một phút chí thành chiêm
ngưỡng di hình tỉnh mặc. Tỉnh Giáo hội Phật giáo Thừa
Thiên và toàn thể Phật tử miền Vạn Hạnh cung kỉnh đầu
thành đảnh lễ giác linh Hòa thượng và dâng lên ngài những
lời thống thiết, trước giờ phút bàng hoàng của ngọn gió
từ sẽ thổi đến, mang sắc thân tứ đại của Ngài vĩnh
viễn đi vào nơi thường tịch.
Trước
giờ phút mà khoảnh khắc sẽ là thiên thu này, Giáo hội xin
mượn những lời đơn bạc không cùng, trải hết tấm lòng
bi ai không tận để ghi lại công hạnh một đời tu trì và
hóa đạo, để khắc cốt ghi tâm những gì đã thành và đã
mất, mà mãi vẫn còn vang bóng như hư không trong ức triệu
tấm lòng của người Phật tử.
Ngài
nguyên họ Trần tên Lộc, huý thượng Tâm hạ Như, hiệu Mật
Nguyện, đời thứ 43 dòng Lâm Tế chánh tông.
Vốn
sinh trưởng trong một gia đình thuộc hàng trung kiên của Phật
giáo, Ngài đã sớm nhiễm mùi đạo, thấy rõ cuộc đời biến
thiên vô định mà bờ giác mong lên còn xa thẳm, nên đã dõng
mãnh phát tâm xuất gia để tiến xa trên đường đạo, cắt
đức thế học từ lúc Ngài vừa lên 16 tuổi.
Ngay
từ đầu, Ngài đã đến đầu sư với cố Hòa thượng Giác
Tiên chùa Trúc Lâm. Nhờ sẵn có tư chất mẫn tiệp, chí nguyện
kiên trinh, lại được dìu dắt dưới sự hướng dẫn sáng
suốt, khéo léo của cố Hòa Thượng bổn sư nên Ngài đã
sớm trở thành một vị Tăng già lỗi lạc trong những vị
Tăng già trẻ từng đóng góp công đầu vào cuộc phục hưng
Phật giáo miền Trung, ngay khi hội An Nam Phật học mới thành
lập năm 1931 tại Huế.
Là
một vị giảng sư kiêm biên tập viên nguyệt san Viên Âm,
cơ quan truyền bá giáo lý của Hội, suốt bao năm liền, lưu
động diễn giảng khắp các tỉnh hội khuôn hội và viết
bài đăng báo Viên Âm, Ngài đã dìu dắt cho bao nhiêu người
thấy rõ ánh quang minh, quay về với đạo để chung lo phục
hồi và bồi đắp cho nền đạo giáo cổ truyền chóng được
phát triển.
Nhằm
mục đích tùy duyên làm Phật sự giáo hóa chúng sinh, Ngài
đã liên tiếp đảm đương nhiều chức vụ, khi thì giảng
sư, khi thì giáo thọ đào tạo Tăng tài, khi thì làm thư ký,
khi Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Trung phần, bất luận
công việc tổ chức Phật sự quan trọng nào Ngài đều tham
dự, không nề hà từ chối.
Cho
đến suốt trong mấy năm nay, Ngài vừa là Trú trì sùng kiến
chùa Linh Quang, nguyên trụ sở của Giáo hội Tăng già, vừa
là Phó Đại diện, rồi Chánh Đại diện Tỉnh Giáo hội Phật
giáo Thừa Thiên kiêm miền Vạn Hạnh. Mặc dù lắm lúc bị
cơn bệnh dày vò, hoặc gặp khó khăn vất vả nhưng không
lúc nào tỏ ý thối chuyển.
Nhờ
ý chí hăng say, tâm hồn hoan hỷ bao dung, cho nên Ngài đã hòa
đồng với mọi từng lớp, trong Tăng già cũng như ngoài cư
sĩ, cùng chung đẩy mạnh đà tiến triển của Giáo hội với
sự cộng tác cảm mến của mọi người.
Nhưng
than ôi!
Bây
giờ thì Ngài đã như là bóng núi xa xăm, như một cánh nhạn
giữa bầu trời đến và đi không còn vết tích. Ngài đã
đi, giữa lúc đất nước còn ngửa nghiêng, đồng bào lắm
đau khổ, đạo pháp đang cần nhiều người tài đức, tuổi
tác và uy tín như Ngài để làm tấm gương sáng, nêu cao lý
tưởng giác ngộ giữa cơn mộng mị điên cuồng của thế
gian. Ngài đã vội vã ra đi mang theo đạo nghiệp của 40 hạ
lạp, 62 tuổi đời, để lại một nỗi niềm trống trải,
đang thấm lạnh giữa hàng Tăng giới và tín đồ, làm cho
chúng tôi vô cùng bùi ngùi lo lắng khi thiếu mất một người
lèo lái trong chiếc thuyền Đạo pháp đang gặp lúc sóng vỗ
gió gào.
Kính
bạch Giác linh Hòa thượng,
Vẫn
biết đường chim bay không vết tích, mất và còn như gợn
nắng trên cánh đồng hoang, nhưng khổ lụy hữu tình làm sao
nguôi được trong lòng Phật tử. Ngưỡng trông Giác linh Hòa
thượng hãy chứng giám nỗi niềm bi ai thống thiết không
nói hết bằng lời của tỉnh Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên
và toàn thể Phật tử miền Vạn Hạnh.
Nam-mô
Phóng quang tiếp dẫn A-di-đà Phật
(Pháp
lữ Hòa thượng Thích Thiện Siêu chấp bút).
8.
Hòa thượng Thích Phúc Hộ
Lớn
lao thay bậc Đại sư, tuổi nhỏ thông minh, tánh tình rộng
rãi hiền từ kết sâu gốc tuệ. Lúc trẻ tuổi xuất gia,
học khắp kinh luận, tai nghe miệng tụng, chẳng phí ngày giờ.
Dáng mạo đường đường, hài hòa trong sáng. Chí nghiệp thanh
bạch kiên trinh, đạo phong cao siêu ngưỡng vọng, giới đức
rỡ ràng, chuyên tinh luật tạng, chỉ trì tác trì đều đủ,
thọ thể tùy hành vẹn toàn. Phát khởi lòng từ, đạo trùm
Tăng tục, đèn sáng giữa biển pháp, cây lớn chốn Tòng lâm.
Khi mãn báo thân nơi đây, tháp dựng nơi đây, bốn chúng ân
cần, rủ lòng lân mẫn.
Đề
bia, Ất Sửu đông.
Hậu
học: Sa môn Thích Thiện Siêu, phụng soạn.
9.
Hòa thượng Thích Khế Hội (Thích Trí Thành)
(Trú
trì tứ Long Sơn Bát Nhã tự)
Hòa
thượng họ Nguyễn, huý Nguyên Chơn, tự Thiện Tịnh, hiệu
Khế Hội, Trí Thành. Sinh năm Nhâm tuất (1921) tại tỉnh Phú
Yên, là con thứ bảy của hai cụ Nguyễn Văn Chồn và Võ Thị
Chữ. Năm 13 tuổi xuất gia với Hòa thượng Từ Nhãn, Trú
trì chùa Sắc tứ Long Sơn Bát Nhã. Năm 14 tuổi theo học tại
Phật học đường Báo Quốc-Huế, trọn 10 năm, tốt nghiệp
Đại học Phật giáo. Năm 27 tuổi thọ Tam đàn Cụ túc giới,
tự pháp đời thứ 44 dòng thiền Tâm Tế.
Với
tính tình đôn hậu, chí nguyện sâu bền, giới hạnh nghiêm
trang, đạo phong thuần nhã, Hòa thượng đã từng chung vai
sát cánh cùng các bậc thiện tri thức, gánh vác Phật sự,
tùy thời tùy cảnh, tận tụy làm tròn nhiệm vụ phụng sự
đạo pháp.
Hẳn
hay thế giới vô thường, thân huyễn ở trong cảnh huyễn,
dầu gặp thế ngược xuôi, lòng vẫn nhẹ nhàng thanh thản,
chí đạo kiên trì.
Nguyện
Bồ-đề đã mãn, hạnh hóa đạo viên thành, Hòa thượng đã
viên tịch ngày mồng 1 tháng 5 năm Kỷ Mão (1999).
Tháp
tại Ta-bà
Thân
nương Tịnh độ
Niệm
đức niệm ân
Chúng
sanh tưởng mộ.
Phật
tịch 2543. Từ Đàm-Huế, tháng 10-1999
Hòa
thượng Thích Thiện Siêu đề bia
10.
Hòa thượng Thích Đức Nhuận
(Pháp
Chủ GHPGVN, Trú trì chùa Hoè Nhai - Hà Nội)
Khi
tôi đang là học Tăng trường An Nam Phật học Huế những
năm 1936-1945, tôi đã có nghe tin cụ Đồng Bắc mà các vị
tôn túc trong sơn môn Huế lúc bấy giờ thỉnh thoảng nhắc
đến trong những cuộc đàm đạo của các vị. Lúc ấy tôi
cũng chỉ nghe qua cụ Đồng Đắc là một bậc chân tu ở miền
Bắc vậy thôi, chứ bài vở học tập của trường đã choán
gần hết thì giờ và tuổi còn nhỏ, trí còn non, tôi chưa
có ý niệm gì bao nhiêu về sự truyền trì Phật pháp. Trải
qua bao nhiêu cảnh thăng trầm Đạo đời vẫn tịnh, khi thịnh
lúc suy, Hòa thượng đều gằn liền với sự nghiệp tu hành
của những người con Phật, là những người "tùng Phật khẩu
sinh, tùng Pháp hóa sinh", mang theo trong mình một chí nguyện
lớn lao, giác ngộ Phật pháp, làm sứ giả của Phật pháp,
phổ độ quần sinh, báo Phật ân đức.
Đến
khi tuổi lớn dần, sự hiểu biết lớn dần sau những kinh
nghiệm bản thân trên bước đường tu trì, hành đạo, và
đọc được qua sách sử, tôi càng biết một cách sâu sắc
"nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân". Nên từ đó
tôi luôn luôn quí trọng các bậc chân tu thật học trong hàng
Thánh đệ tử của Phật, mỗi khi nghe đến hoặc gặp được,
và cũng từ đó tên cụ Đồng Đắc lại thỉnh thoảng khơi
dậy trong tôi, cũng như những bậc cao Tăng khác.
Thế
rồi đất nước được hòa bình, Bắc Nam hai miền thống
nhất, hàng Tăng Ni, Phật tử Nam Bắc sau bao năm bị chia cắt,
lại được hội ngộ cùng nhau trong ngôi nhà Phật giáo Việt
Nam. Tuy mừng thì thật mừng, nhưng không sao tránh khỏi dè
dặt, bởi đã xa cách lâu ngày, thì dẫu đạo tuy đồng, mà
tâm chưa chắc đồng, hạnh chưa chắc đồng! Song nhờ ai cũng
có tâm muốn thống nhất xương minh Phật pháp, nên sự bất
đồng được giải hóa dần, để nhượng bộ cho hạnh nguyện
hoằng pháp lợi sinh mà không một Phật tử chí thành nào
dám quên đi được
Chính
trong dịp thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981
này, mà uy phong, đạo hạnh, ngôn từ, hoài vọng của cụ
Đồng Đắc mà tôi được nghe danh năm nào, bây giờ lại
hiện ra đích thực trước mắt tôi và đại chúng. Ở thời
điểm này, ba đề nghị của cụ nêu ra với Đại hội, như
là một tia sáng soi đường làm cho cả Đại hội xúc động,
kính trọng, phấn khởi, vui mừng, tin tưởng rằng trong lúc
Phật giáo chưa có đủ cơ duyên thuận lợi mà có được
một bậc Chúng Trung tôn như ngài để suy tôn ngôi Pháp chủ,
thì thật rất may mắn. Thật vậy, từ ngày được thành lập,
ngài là cột trụ chính chống đỡ ngôi nhà thành lập, ngài
là cột trụ chính chống đỡ ngôi nhà Giáo hội, nhờ đó,
Giáo hội ngày càng được vững mạnh, vượt qua được bao
nhiêu khó khăn rời rạc để có được ngày hôm nay. Thế
nên, dẫu nay ngài đã mãn hóa duyên, phi tích không trung, nhưng
tấm gương đạo hạnh, chí nguyệnlợi tha của ngài vẫn còn
in đậm nét trong tâm tư tôi và trong Giáo hội. Những người
có nhân duyên trực tiếp đều thụ ân pháp của ngài.