TƯỞNG
NIỆM
(tiếp
theo)
11.
Tưởng nhớ bào đệ Thích Thiện Lộc
(Giám
tự kiêm Tri sự chùa Từ Đàm, Huế)
Sau
ba ngày đến nay, cố Thượng toạ Thích Thiện Lộc đã mặc
nhiên trước cảnh tức sắc tức không, sinh thành hoại diệt,
trước niềm thương tiếc vô vàn của Tăng Ni, Phật tử. Trong
chốc lát nữa đây, kim quan của cố Thuợng toạ sẽ được
cung nghinh nhập tháp tại khuôn viên Tổ đình Thuyền Tôn.
Vì lộ trình xa xôi cách trở, sợ một số trong quí vị không
có điều kiện để tiễn đưa kim quan cố Thượng toạ đến
nơi an nghỉ cuối cùng, để cho hiếu đồ và tang quyến chúng
tôi được tỏ bày niềm tin ân đến khắp quí vị, nên giờ
đây, thay mặc cho Tăng chúng Tổ đình Từ Đàm, hiều đồ
và tang quyến chúng tôi xin bày tỏ lòng chân thành biết ân
đến với chư vị.
Trước
hết, chúng tôi xin thành kính tri ân Ban Trị Sự Giáo hội,
Hòa thượng Chứng minh, Hòa thượng Chấp lệnh, Thượng toạ
Chủ sám cùng chư vị Hòa thượng, Thượng toạ, Đại đức,
Tăng Ni và quí đạo hữu Phật tử, đã tận tâm thăm viếng
giúp đỡ, chứng minh hộ niệm cho cố Thượng toạ, từ khi
đau cho đến lúc an táng với nghĩa tình thắm thiết "một
con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ".
Chúng
tôi xin bày tỏ lòng tri ân đến chính quyền địa phương,
đã cử đại diện đến phúng điếu, chia buồn. Chúng tôi
xin cảm ơn các đạo hữu khuôn hội Kim Sơn, thôn Lựu Bảo,
đã không quản đường xa (cách 7, 8 cây số), đến kề vai
gánh đưa kim quan đến nơi an táng, chúng tôi xin cảm ơn các
đạo hữu đã tận tâm giúp đỡ trong giờ phút tẩm liệm
cũng như các công việc khác, chúng tôi xin cảm ơn bà con thân
thuộc nội ngoại xa gần tại quê nhà đã không quản ngại
xa xôi, đến tiễn đưa hôm nay.
Nhân
giờ phút đông đảo và trang nghiêm này chúng tôi xin có mấy
dòng cảm nghĩ đơn bạc, ghi lại vài nét công hạnh tu hành,
được đúc kết từ sự nhận biết của chúng tôi và của
quý Tăng Ni, Phật tử về cố Thượng toạ.
Cố
thượng toạ tục danh là Võ Trọng Thoan, pháp danh Tâm Phổ
tự Thiện Lộc, sinh năm 1930 tại làng Thần Phù, xã Thủy
Châu, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh cố Thượng
toạ là cụ Võ Trọng Đạt, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị
Hương. Cố Thượng toạ có sáu anh em mà cố Thượng toạ
là người anh đầu.
Vốn
sinh trưởng trong một gia đình thuần hậu, cố Thượng toạ
đã sốm được huân nhiễm lẽ đạo. Từ thuở ấu thơ, cố
Thượng toạ theo thân phụ đến hương khói tại một ngôi
chùa tịch mịch trong làng. Tại đây, cố Thượng toạ đã
thấm nhuần kinh kệ. Năm lên mười bảy, cố Thượng toạ
chính thức xin song thân xuất gia hành đạo tại Tổ đình
Từ Đàm và làm đệ tử của cố Hòa thượng Giác Nguyên,
Tổ đình Tây Thiên (tức Đại lão Hòa thượng Tây Thiên).
Trong
thời gian ở Tổ Đình Từ Đàm, cố Thượng toạ đã theo
học các lớp học nội điển tại Phật học viện Báo Quốc
và đã tốt nghiệp bậc Trung học Phật giáo tại trường
này vào năm 1955.
Năm
1956, cố Thượng toạ được Bổn sư cho phép thọ Cụ Túc
giới tại giới đàn Báo Quốc. Hai năm sau cố Thượng toạ
đuợc cử làm Tri sự rồi Giám tự Tổ đình Từ Đàm, chính
thức trực tiếp điều hành mọi sinh hoạt tại đây, thay
mặt Hòa thượng Trụ trì Thích Thiện Siêu, bận gánh vác
các Phật sự khác.
Với
bản tính hiền hoà, bao dung, khiêm cung nhỏ nhẹ, và luôn luôn
hỷ xả, cố Thượng toạ không hề làm mất lòng một ai,
dù với một em bé. Một hôm, có mấy cháu nhỏ leo cây hái
trái, sợ chúng té, cố Thượng toạ từ trong nhà Thiền nói
vọng ra "đừng leo mà té con, về nhà lấy cây đến chọc".
Thế là các cháu nhỏ nghe tiếng, sợ chạy mà vui trước lối
nói chậm rãi, khôi hài nhẹ nhàng ngộ nghĩnh của cố Thượng
toạ.
Rồi
lần khác, có kẻ đến nhổ hoa lan trộm, bị bắt quả tang,
ai nấy tưởng rằng chúng sẽ bị trận đòn đích đáng. Nào
ngờ, cố Thượng toạ cầm tay chúng vuốt ve bảo: "Bàn tay
đẹp ri mà đi nhổ hoa của Thầy há con. Thôi, cho đem về,
sau đừng đến nhổ của Thầy nữa nghe con". Thế thôi, không
hề nóng giận, rầy la, không bao giờ đánh đập, ấy thế
mà các cháu e ngại không phá phách. Nhiều đạo hữu phàn
nàn về đức tính khoan dung của cố Thượng toạ, để kẻ
xấu phá phách. Cố Thượng toạ cười bảo: "Chúng là trẻ
con, mình phải lấy tình thương mà dạy bảo, lấy đức độ
mà giáo hóa, còn la rầy, đánh đập đâu có ích bằng. Tánh
của chúng đã không đổi, cha mẹ chúng không biết, trở lại
oán trách mình, hoặc xấu hổ với Thầy mà bỏ chùa không
đến".
Cố
Thượng toạ, suốt ngày nọ qua ngày kia, ngoài việc kinh kệ,
lại loay hoay với bông hoa cây cảnh, tăng gia sản xuất hoa
màu, làm kinh tế phụ như gia công đèn cầy, nhang trầm, ruộng
rẫy. Cố Thượng toạ cũng ít đi đâu xa, không ưa ứng phú.
Nhờ vậy mà trên điện Phật, ngoài sân vườn, luôn luôn
tươm tất sạch sẽ. Cố Thượng toạ cũng thích trồng cây
bóng mát. Sân chùa Từ Đàm hồi rày, Phật tử đến hành
lễ, thôi không còn chịu nắng, chính là nhờ công lao của
cố Thượng toạ.
Ai
cũng biết Tổ đình Từ Đàm, không một tất đất ruộng,
lại là trụ sở của Giáo hội, hằng tháng hằng ngày có
nhiều sinh hoạt đạo giáo, có đủ tầng lớp người, mọi
cá tánh tham dự. Sau mỗi cuộc hội họp hay sau buổi hành
lễ, ly tách bàn ghế ngổn ngang, sân chùa giấy rác bừa bãi;
nếu ai không đủ kiên nhẫn, không có đức chịu đựng, tưởng
chừng không ở đây lâu được. Ấy thế mà suốt cả một
đời người, từ khi xuất gia đến ngày viên tịch, cố Thượng
toạ âm thầm, lặng lẽ, lủi thủi săn sóc quét dọn, không
một lời than thở phiền trách ai. Khi mọi người đến Từ
Đàm đông đúc thì không ai thấy cố Thượng toạ, nhưng khi
mọi người ra về cả thì cố Thượng toạ lại hiện ra như
một tảng đá giữa ngọn thủy triều, nước dâng đầy thì
không thấy đá, khi nước xuống thấp thì đá vẫn trơ trơ.
Có thể nói đây là hình ảnh của cố Thượng toạ. Suốt
đời sống cuộc sống bình dị, thanh đạm, không ồn ào sắc
tướng, cũng không trầm trệ, ủ dột hay buông lung phóng túng,
nhưng lại luôn luôn thầm lặng tấn tu, trước sau, đạo tâm
và đạo hành vẫn không hề bị ngoại duyên làm lay chuyển.
Chính
nhờ những đức tánh này mà gần 40 năm cuộc sống gắn liền
với Tổ đình Từ Đàm, với bao thăng trầm vinh nhục của
Giáo hội, cố Thượng toạ đã để lại một hình ảnh đẹp,
một bài thuyết pháp không lời về cốt cách hành đạo, đủ
để khắc cốt ghi tâm những gì đã thành và đã mất nhưng
mãi mãi còn đồng vọng trong tâm tư tình cảm của những
Phật tử đã từng đến với Từ Đàm, với cố Thượng toạ.
Cuộc
sống hành trì tu niệm của cố Thượng toạ lặng lẽ trôi
qua, những tưởng còn lâu dài để cùng chung niềm vui nỗi
buồn với Giáo hội, với Tăng Ni, Phật tử. Nào ngờ đâu,
sau một cơn bạo bệnh ngắn ngủi, cố Thượng toạ đã xả
báo thân vào lúc 22 giờ ngà 16 tháng 12 năm Giáp Tý, tức ngày
06-01-1985 tại Tổ đình Từ Đàm, với 29 tuổi hạ, 55 tuổi
đời, làm cho nhiều người vô cùng bàng hoàng xúc động,
chưa nghe đau mà đã nghe mất, để lại một niềm thương
tiếc đang thấm lạnh trong lòng chúng tôi và các Phật tử.
Chúng tôi đã mất đi một pháp hữu, một vị thầy, một
người con, người anh, người em đáng yêu đáng kính. Đạo
pháp, và Giáo hội mất đi một bậc chân tu đạo hạnh, một
người con trung hậu, chân thành.
Bậy
giờ thì cố Thượng toạ như một cánh nhạn giữa bầu trời,
đến và đi không vết tích. Trước giờ phút mà khoảnh khắc
cũng là thiên thu, tìm đâu một người có đủ đức tánh
như cố Thượng toạ để vào chỗ trống cho chốn Từ Đàm,
chúng tôi cảm thấy có muôn vàn khó khăn, lo lắng.
Thưa
toàn thể Phật tử và bà con thân quyến.
Chúng
ta đang vô cùng thương tiếc trước sự ra đi của cố Thượng
toạ. Nhưng âm hưởng xa xưa, chư Phật chư Tổ đã ân cần
dạy bảo trước giờ vĩnh biệt rằng, đừng khóc than, u buồn,
vì thế gian vô thường, đã có sanh thì có diệt. Giờ phút
thiêng liêng này, trước giác linh cố Thượng toạ, chúng ta
nên thương thay vì khóc, hãy cầu nguyện thay vì hốt hoảng,
buồn chán, hãy cố gắng noi theo những gì là hay, là đẹp
của cố Thượng toạ để bổ túc vào chỗ thiếu sót của
mình. Đó là mối chân tình của chúng ta tiễn đưa cố Thượng
toạ.
Thưa
Giác linh cố Thượng toạ,
Vẫn
biết đường chim bay không vết tích, mất và còn như hạt
sương mai trên đầu ngọn cỏ, nhưng khổ lụy hữu tình làm
sao nguôi quên được trong lòng Phật tử chúng tôi. Kính xin
Giác linh cố Thượng toạ chứng tri cho những cảm nghĩ chân
thành không thể nói hết bằng lời của chúng tôi.
Kính
bạch Chư tôn Hòa thượng, Thượng toạ, Đại đức, Tăng
Ni và toàn thể quí vị.
Một
lần nữa, xin thay mặt hiếu đồ và tang quyến, chúng tôi
xin chân thành cảm ơn quí vị. Trong việc tổ chức tang lễ,
không sao tránh khỏi các điều thiếu sót. Ngưỡng mong chư
tôn Hòa thượng, Thượng toạ, Đại đức, Tăng Ni và toàn
thể quí vị niệm tình hỷ xả.
12.
Tưởng nhớ bào đệ Thích Thiện Giải
Trong
chốc lát nữa đây, kim quan cố Thượng toạ sẽ nhập vào
cõi địa lạc, trước sự thượng kính vô vàn của hàng Tăng
Ni và Phật tử Bảo Lộc, ngay trong khuôn viên chùa Phước
Huệ này.
Cố
Thượng toạ Thích Thiện Giải thế danh Võ Trọng Song, con
cụ Võ Trọng Giáng và cụ bà Dương Thị Viết. Sinh năm 1930
tại làng Thần Phù, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên. Cố
Thượng toạ là con thứ ba trong gia đình. Được sinh trưởng
trong một gia đình thuần hậu tin Phật, cố Thượng toạ có
sẵn túc duyên với Phật pháp nên lúc thiếu thời cố Thượng
toạ đã theo gót anh trưởng xin với song thân và được xuất
gia tu học tại chùa Từ Đàm, đầu sư với Hòa thượng Giác
Nhiên (Đệ nhị Tăng Thống) chùa Thuyền Tôn - Huế, Pháp danh
Tâm Tuệ, Pháp tự Thiện Giải. Đời thứ 43 dòng Thiền Lâm
Tế.
Sau
khi xuất gia, cố Thượng toạ đã được theo học tại các
Phật học viện Báo Quốc - Huế, và Phật học viện Hải
Đức - Nha Trang, từ cấp sơ học đến Cao đẳng Phật giáo.
Với tinh thần hồn nhiên tự tại và trí tuệ mẫn tiệp,
cố Thượng toạ đã tiếp thu giáo lý một cách dễ dàng,
và được các bật Sư trưởng cũng như bạn hữu rất quý
mến.
Khi
đã đầy đủ cơ duyên, cố Thượng toạ đã liên tục theo
như cầu của Giáo hội cùng các bạn đồng học nhận lãnh
trách nhiệm hoằng dương Phật pháp, lợi lạc chúng sanh với
danh nghĩa là Giảng sư hoặc Trú trì hay Chánh đại diện tại
các Tỉnh hội Thừa Thiên, Phan Rang, Kontum, Quảng Ngãi, và
đặc biệt tại Bảo Lộc này. Tại đây kể từ khi cố Thượng
toạ được bổ nhiệm đến nay đã được 19 năm tròn. Cố
Thượng toạ luôn luôn để tâm lo lắng xây dựng cho cảnh
chùa ngày thêm tươi đẹp, tín đồ ngày càng đông đúc, xứng
đáng là một đơn vị của Giáo hội Phật giáo Việc Nam.
Cố
Thượng toạ với tính tình hoan hỷ, siêng năng, chân thành,
trung hậu và nhất là tự tại không chấp trước, nên bất
cứ ở đâu cố Thượng toạ cũng tạo được niềm tin Tam
Bảo, sốt sắng tu trì, lo lắng cho hàng Phật tử. Đối với
bất cứ ai cố Thượng toạ cũng đem tâm tính cởi mở, thái
độ ân cần tiếp đãi, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn,
người lớn kẻ nhỏ. Dù với một cụ già hay một em bé,
khi gần cố Thượng toạ cũng đều nhận được những điều
khuyên bảo nhẹ nhàng, thân mật, nên ai chưa thân thì muốn
thân, và ai đã thân với cố Thượng toạ thì cũng đều cảm
thấy là bạn tri kỷ. Không những đối với người đồng
đạo như vậy, mà đối với chính quyền, với các tôn giáo
bạn cũng gây được mối cảm tình chân thành, đoàn kết.
Sau ngày đất nước thống nhất, cố Thượng toạ đã sốt
sắng hòa mình vào mọi sinh hoạt với giáo hội với địa
phương trong việc xây dựng Tổ quốc an vui, giàu mạnh.
Một
điều đáng ghi nhận nữa, cố Thượng toạ là một người
cần cù tu niệm, giảng kinh, thuyết pháp, dìu dắt tín đồ
gắn bó với đạo. Là mẫu người sống một đời sống rất
đạm bạc mà cũng rất thanh cao, đầy tinh thần giải thoát
không chấp ngã nhân, không câu nệ hình thức ăn mặc ngủ
nghĩ, và luôn luôn giữ gìn sức khoẻ bằng định tâm, bằng
lao động hằng ngày như sửa soạn chùa chiền, sửa san cây
kiểng và thực hiện nếp sống bình dị với các thiếu nhi
Phật tử để hứơng dẫn các em biết làm các công đức
hướng thiện.
Cố
thượng toạ thật là một bậc chân tu, đạo tâm và đạo
hạnh sáng ngời trước sau vẫn không hề bị ngoại duyên
làm lay chuyển. Dù ở cương vị nào cố Thượng toạ cũng
làm tròn bổn phận một cách tốt đẹp, đáng là tấm gương
sáng cho Tăng Ni, Phật tử noi theo.
Những
tưởng cuộc đời của cố Thượng toạ còn dài để cùng
chung đóng góp ích lợi cho đạo, cho đời, nhưng nào ngờ
cố Thượng toạ đã nhẹ bước ra đi quá sớm, để lại
một niềm thương tiếc vô vàn, một sự trống trải đang
thấm lạnh trong hàng Tăng Ni, Phật tử. Giờ đây trong khoảng
khắc trở thành thiên thu này, tăng tín đồ rất kính tiếc
đau buồn vì đã mất đi một bậc Thầy khả kính, thân bằng
quyến thuộc mất đi một người con hiếu đạo, một người
anh, một người em đáng yêu, đáng kính, và Đạo pháp, Giáo
hội mất đi một bậc chân tu đạo hạnh.
Vẫn
biết thế gian vô thường, hễ có sinh là có diệt, nhưng bị
lụy hữu tình làm sao vơi được nỗi niềm xót xa, chỉ duy
chúng ta nên cố gắng nén nỗi ưu buồn, nhất tâm niệm Phật,
cốt gắng noi theo hạnh tăng tiến trên đường tu học, đễ
hộ đạo giúp đời. Chính đó là tâm niệm, là cử chỉ chân
thành đầy ý nghĩa mà chúng ta dâng lên cố Thượng toạ trong
giờ phút trang nghiêm tiễn đưa cố Thượng toạ đến nơi
an nghỉ cuối cùng.
13.
Hòa thượng Thích Thiện Châu.
Thầy
Thiện Châu lúc đầu xuất gia tại Đà Lạt, sau về học ở
Từ Đàm mấy năm. Trong thời gian đó, Thầy đã học nội
điển với tôi và Hòa thượng Trí Quang. Còn ngoại điển
thầy tự học là chính, chứ không học một trường lớp
nhất định nào cả. Với một ý chí bền chắc, cần cù đạm
bạc, không ồn ào, Thầy chỉ cốt làm thế nào học cho được
mà thôi. Vì thế, một hôm cùng đi phố với tôi, giữa đường
Thầy gặp một người Pháp, Thầy nói với tôi: "Thầy cho
con đến nói chuyện với ông này một chút". Thầy đến nói
chuyện với ông ta một lát rồi trở lại. Sau tôi mới biết
là Thầy học hỏi ông ta. Cho đến khi vào học ở Phật Học
viện Hải Đức - Nha trang, Thầy Thiện Châu vẫn còn tiếp
tục cách học như vậy. Ở đó, ngoài việc học nội điển,
học tiếng Pháp, hằng ngày Thầy còn xuống phố, đến nhà
một người Ấn để học tiếng Ấn Độ nữa. Tôi thấy Thầy
học như vậy thì cũng khích lệ để Thầy học chứ không
biết Thầy học tiếng Ấn để làm gì. Sau này tôi mới biết
là Thầy học tiếng Pháp, tiếng Ấn là để đi du học.
Từ
Nha Trang, Thầy vào Nam, thời gian đó, tôi với Thầy cách biệt
nhưng tôi cũng biết rằng, nhờ sự khéo léo, cần mẫn, có
chí tu học nên được rất nhiều người thương mến, nhất
là cụ Mai Thọ Truyền - Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt.
Cụ nhờ Hòa thượng Minh Châu, hồi đó đã học xong Tiến
sĩ Phật học ở Nalanda, đã giới thiệu giúp đỡ Thầy vào
việc học trường Đại học Phật giáo Nalanda ở Ấn Độ.
Rồi sau đó Thầy qua Anh, qua Pháp để học. Hồi đó, một
nhà sư ra học nước ngoài không phải là một chuyện đơn
giản và dễ dàng, mà phải khéo léo làm quen người này, làm
thân với người nọ mới có thể vào học được các trường
Đại học Nalanda, ở Anh, Pháp. Thêm vào đó là sự thiếu
thốn về vật chất: mỗi ngày chỉ một ổ bánh mì Thầy
mang vào thư viện, ngày nọ sang ngày kia, để nghiền ngẫm
nghiên cứu kinh điển. Tự mình tìm lấy con đường đi của
mình; tự mình đào tạo lấy mình, nếu không có một ý chí
mãnh liệt, không có sự cần mẫn tinh tấn, Thầy khó có thể
theo học để thành đạt.
Sau
giải phóng, Thầy về Việt Nam, tôi rất mừng. Tôi mừng vì
thấy Thầy ở Châu Âu rất lâu, Thầy vào học các trường
đời cũng rất lâu như Nalanda ở Ấn Độ, Sorbonne ở Pari
- Pháp, nhưng cái tư cách phong độ của một ông thầy tu Việt
nam ở nơi Thầy không bị lai Tây, mà vẫn giữ được cái
đạo thầy trò như bao giờ. Cho nên, trong khi Thầy bị bệnh,
bị đau chân, đi lại khó khăn như vậy, mà mỗi lần gặp
tôi hay Hòa thượng Trí Quang, Thầy vẫn nhất định đảnh
lễ cho được. Chúng tôi ngăn cản thế nào cũng không chịu.
Đó
cũng là một sức chịu đựng và một sự lễ độ rất quý
hóa, mà cũng chính nhờ những đức tính ấy mà Thầy được
nên thân. Do đó, dù Thầy có bằng nầy nọ, bằng cấp kia
cũng như Cao học, Tiến sĩ, thì sự tu hành và chí hướng
hành đạo của Thầy vẫn không hề thay đổi.
Bởi
thế, khi thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế,
tôi để tên Thầy làm Phó Viện trưởng mà tôi không hề
báo trước với Thầy, sau đó tôi mới cho Thầy biết. Thầy
chỉ nói: "Thầy sai con làm chi, con làm nấy". Tôi cũng nghĩ
rằng, có Thầy vào đỡ một vai, Học viện Phật giáo Việt
nam sẽ có nhiều thuận duyên phát triển tốt. Thì chính buổi
đầu với cái tâm nguyện của Thầy cùng với một số anh
em đã xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế có
những bước khởi đầu tốt đẹp.
Tôi
cũng tin tưởng rằng, sự đóng góp của Thầy còn lâu dài,
và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế sẽ còn được
nhiều sự giúp đỡ của Thầy từ trong nước cũng như ngoài
nước. Nhưng không ngờ Thầy đã ra đi!
Sự
ra đi của Thầy chẳng những là một sự mất mát lớn cho
Phật giáo Việt Nam mà còn là một sự mất mát rất nhiều
cho Phật giáo hải ngoại, vì chùa Trứúc Lâm của Thầy ở
Paris hiện giờ quy tụ một số lớn Phật tử trí thức danh
tiếng, tu học dưới sự hướng dẫn của Thầy. Ngay như Giáo
sư Hoàng Xuân Hãn, một danh nhân Việt Nam mà lúc sống thường
hay lui tới chùa Trúc Lâm, lúc chết cũng di chúc được thiêu
thân và đem hài cốt lên thờ tại chùa Trúc Lâm.
Mấy
năm sau này, chùa Trúc Lâm thỉnh thoảng lại mở những cuộc
hội thảo Phật giáo để quy tục các Phật tử hải ngoại.
Vừa rồi có một cuộc hội thảo, với đề tài là "Phật
giáo hướng về tương lai", mà ở Việt Nam, Thượng toạ Chơn
Thiện, Đạo hữu Võ Đình Cường ... có sang dự cuộc hội
thảo đó. Hội thảo đang gây nhiều tiếng vang tốt và Thầy
Chơn Thiện cùng phái đoàn mới về Việt Nam được hai tuần
thì nghe tin Thầy Thiện Châu đã đột ngột ra đi. Chúng tôi
vô cùng bỡ ngỡ và thương tiếc.
Như
vậy, sự ra đi của Thầy Thiện Châu là một sự hụt hẫng
lớn lao cho Phật tử Việt Nam cũng như Phật tử hải ngoại.
Vì
nhiệt tình, vì ý chí tu hành, vì phong độ ôn hòa, vì đạo
hạnh của Thầy, cho nên sự viên tịch của Thầy đã biết
lại biết bao nhiêu tấm lòng thương tiếc.
Ngày
hôm nay, trong giờ phút này, với niềm thương tiếc ấy, chúng
ta hãy cầu nguyện cho Giác linh Thầy cao đăng Phật quốc.
Nam-mô
Bổn sư Thích Ca Mâu-ni Phật.
(Phát
biểu tại chùa Từ Đàm, sáng 28/8 năm Mậu Dần -11.10.1998)
14.
Sư bà Thích Nữ Diệu Không
I
Trong
những ngày đầu của sự chấn hưng Phật giáoViêt Nam, năm
1932, Sư bà còn là một cư sĩ tại gia đã cùng với các bậc
tôn túc, với các hàng cư sĩ trí thức như Bác sĩ Tâm Minh
Lê Đình Thám, v.v... cùng nhau xây dựng phát triển làm cho
Phật giáo Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung mỗi ngày
một phát triển.
Là
một người con trong dòng quý tộc, Sư bà đã ngộ lẽ vô
thường, thế gian như huyễn, nên đã phát nguyện xuất gia
để thực hiện: Tu hạnh giải thoát, hoằng pháp lợi sinh.
Đặc biệt, Sư bà đã hết sức chú trọng đến việc đào
tạo Tăng tài, cho nên Sư bà đã đem hết cái vốn hiểu biết
hiện có của mình để hướng dẫn, giáo dục Ni chúng vững
tiến trên con đường giải thoát. Sư bà đã cùng với Ni bộ
Bắc tông mở nhiều lớp học, Ni viện Phật học để đào
tạo Ni tài cho Ni bộ. Lúc còn sinh tiền, Sư bà luôn luôn ước
nguyện rằng Tại tỉnh Thừa Thiên - Thành phố Huế nên có
nhiều cơ sở Phật giáo hơn nữa để giáo dục Tăng Ni. Ước
nguyện đó hôm nay đã thành hiện thực. Riêng tại Thừa Thiên
- Huế đã mở được trường Cơ bản Phật học (Trung học
Phật giáo), và nay lại thêm Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế. Trong đó, ngay từ những ngày đầu thành lập, Sư
bà đã đóng góp một cách tích cực từ tinh thần cho đến
vật chất, trước sau một lòng vì sự tu học của Tăng Ni,
hầu có nhiều Tăng Ni đủ tài đủ đức để gánh vác việc
hoằng dương Chánh pháp, kế tục sự nghiệp của các vị
tiền nhân. Lúc còn sinh tiền, khi chúng tôi vào thăm, Sư bà
không giây phút nào là không nhắc nhở, không mong mỏi làm
sao mở được trường này, mở được trường khác để Tăng
Ni có nơi tu học
Thưa
Giác linh Sư bà,
Sự
mong mỏi đó hôm nay đã có, nhưng trong những ngày dài của
năm tháng sau nay vẫn còn tiếp tục nhờ sự hỗ trợ, sự
khuyến khích, khích lệ của bao nhiêu vị thiện tâm đại
trí mới có thể viên mãn mà Sư bà là một vị trong các vị
năng nỗ hộ đạo, giúp đỡ cho Học viện, cho trường Trung
học Phật giáo. Thế mà nay Sư bà đã ra đi, làm cho Học viện
và Trường Trung hoc Phật giáo chúng tôi mất đi một vị Hộ
pháp, một vị hỗ trợ tích cực.
Mặc
dầu Sư bà đã ra đi, nhưng cái chí nguyện cao cả của Sư
bà, chúng tôi đã tin chắc vẫn còn mãi và trong môn đồ pháp
quyến, Phật tử của Sư bà, chắc cũng có nhiều vị noi theo,
nhiềuvị tiếp tục chí nguyện của Sư bà là ủng hộ để
làm cho Học viện Phật giáo Viêt Nam tại Huế và trường
Trung học Phật giáo tại tỉnh nhà mỗi ngày một phát triển
và thành tựu viên mãn, hầu để có những vị Tăng Ni có
đủ đức đủ tài, kế tục sự nghiệp của các bậc tiền
nhân, trong đó có chí nguyện của Sư bà.
Sự
ra đi của Sư bà trong những ngày này, đólà một sự mất
mát lớn lao cho Giáo hội, cho Ni bộ và Ni chúng Thừa Thiên
cũng như môn đồ pháp quyến và Phật tử khắp nơi. Chúng
tôi hết sức xúc động, không biết làm sao hơn vì luật vô
thường hể có sanh là có tử, nhưng sanh tử trong Chánh pháp,
đến đi trong Chánh pháp mà Sư bà đã làm chủ, đólà một
điều hết sức cao cả.
Vì
vậy hôm nay, đối trước ngôi Tam Bảo, chúng tôi đại diện
cho Học viện Phật giáo Viêt Nam tại Huế, trường Trung học
Phật giáo tỉnh Thừa thiên - Huế cùng toàn thể Tăng Ni sinh
đối trước Tam Bảo chí thành đại vị Sư bà đảnh lễ,
cầu mong Giác linh Sư bà cao đăng Phật quốc.
Nam-
mô tiếp dẫn đạo sư A-di-đà-Phật
(phát
biểu tại chùa Hồng Ân ngày 29-09-1997)
II
Sư
bà Diệu Không, một Ni giới đầy cả ý chí trượng phu và
hạnh nguyện cao khiết. Suốt cả cuộc đời từ khi biết
đạo cho đến ngày viên tịch luôn luôn gắn bó với đạo,
đóng góp công lao rất lớn để xây dựng Giáo hội. Đạo
pháp ở miền Trung hôm nay có được như thế này, trong đó
một phần lớn cũng nhờ công lao đóng góp của Sư bà Diệu
Không. Ni giới có được tổ chức qui cũ và có được sự
học hành như hôm nay, trong đó cũng do công lao đóng góp không
nhỏ góp vô tướng, với tâm nguyện luôn luôn cầu được
giải thoát như Sư bà thường nói.
"Cái
tâm vô trú rộng thênh thang,
Dẫu
cảnh hơn thua cũng chẳng màng,
Qua
lại mười phương không quái ngại,
Ra
vào ba cõi vẫn hiên ngang".
Khi
sống Sư bà đã như vậy, chắc chắn khi tịch cũng như vậy.
Đó là những tâm nguyện, tâm cảnh của Sư bà mà cũng là
tâm nguyện, tâm cảnh của chúng ta lúc này. Hôm nay tổ chức
lễ kỷ niệm Chung thất cho Sư bà, một người có một tâm
nguyện lớn lao, một ý chí mãnh liệt đạt đến tâm vô trú
vô trước, hiên ngang vào ra ba cõi thì thật là hiếm có lắm
thay. Mong rằng tâm nguyện của Sư bà cũng là tâm nguyện của
tất cả đệ tử và của các vị Ni giới noi theo. Nếu tất
cả các vị hôm nay đều noi theo gương của Sư bà để có
một tâm nguyện, một tâm cảnh vô trú, để ra vào ba cõi
hiên ngang như thế, chắc chắn Sư bà cũng mãn nguyện như
Sư bà cũng sẽ được tự tại an vui như vậy.
Hôm
nay cùng với tâm nguyện, tâm cảnh đó, chư Tăng nhất tâm
cầu Phật gia hộ cho Sư bà và mong hàng đệ tử của Sư bà
xuất gia cũng như tại gia đạt được hạnh nguyện viên thành
và giống như Sư bà lúc còn sống cũng như khi viên tịch.
Nam-mô
tiếp dẫn đạo sư A-di-đà Phật.
III
Bài
châm tặng Sư bà Diệu Không
Tân
mùi quí Hạ
Nhất
chơn vô thị vô phi thị
Ngộ
triệt tâm nguyên giác thỉnh đồng.
Thật
tướng tinh minh hoa ốc hiện,
Viên
văn tịnh chiếu diệu môn khai.
Tinh
tu trực nhập Tam-ma-địa,
Tăng
tấn tiêu trừ hý luận hôi.
Quyền
thật song dung lưu bất trú,
Giả
điều phi lộ tuyệt phi tình.
(Hữu
tập cổ).
Tạm
dịch:
Chơn
tâm chẳng thị cũng chẳng phi,
Thấu
rõ nguồn tâm mê ngộ đồng.
Thật
tướng sáng soi, tòa sen hiện,
Tánh
nghe rỗng suốt, cửa tâm khai.
Tinh
chuyên thẳng tiến Tam-ma-địa,
Mau
chóng tiêu trừ phiền não ma.
Quyền
thật song tu không chấp trước,
Giả
thì tiêu diệt chẳng nương tình
15.
Bài châm tặng Sư bà Thanh Quang
(Thánh
tử đạo 1966 ở Huế)
Phật
lịch nghị ngũ tam ngũ niên
Tự
tín liên hoa chính phát thì,
Bổn
lai thanh tịnh bất tư nghì
Thiện
cư hành xử thanh tâm mục,
Lạc
nhập thiền môn viễn đái nghi.
Tùy
thuận vị tha nhi chuyển hóa,
Chuyên
tâm niệm Phật nhất tâm trì.
Hoàng
mai thuý trúc hồn như tại,
Thân
cận Di-đà chính biến tri.
Tam
dịch:
Tự
tín phát xuất đoá sen vàng,
Xưa
nay thanh tịnh chẳng luận bàn,
Khéo
tu đi ở, tâm trong sáng,
Vui
cảnh thiền môn, xa thế gian.
Tùy
thuận vị tha mau chuyển hóa,
Chuyên
tâm niệm Phật một lòng ta.
Mai
vàng trúc biếc tâm tự tại,
Gần
gũi Di-đà chánh biến tri.
16.
Bi ký tặng Ni sư Thể Thanh
Thể
Thanh Ni sư tháp ký:
Ni
sư bẩm tánh đôn thuần, tuệ căn thông mẫn, đồng chân xuất
gia, nhị bát thọ cụ, giới đức nghiêm thân, giáo Ni vi vụ,
quyền quyền thiện hối, trị đắc kham xưng, vãn niên cấu
bệnh, trị bất khả y, tâm vô ưu lụy, bất khẳng phục dược
nhi vân: Ngô chi tử, như hoán tệ y dĩ trước trân phục,
Bất
giác Mậu Thìn tứ nguyệt bát nhật ngọ bài an nhiên quy tịch.
Xuân thu lục lục, hạ lạp tam bát.
Khả
vị, Ni sư tảo ngộ sắc thân thị huyễn, giác tánh thường
minh, thị tử như quy, khứ lưu vô ngại. Hãn hữu tai!
Phật
lịch nhị ngũ tam nhị, Mậu thìn mạnh hạ.
Thiện
Siêu Hòa thượng thức.
Tạm
dịch:
Ni
sư bẩm tánh đôn thuần, tuệ căn thông mẫn, đồng chơn xuất
gia, thọ Cụ túc giới năm 28 tuổi, giới đức nghiêm túc,
lấy việc giáo hóa chu Ni làm sự nghiệp, dạy dỗ bằng phương
tiện thiện xảo, kết quả khả quan. Lúc lớn tuổi, Ni sư
bị bệnh, biết rằng không chữa được nhưng tâm không buồn
phiền. Không chịu uống thuốc, Ni sư bảo: "Tôi chết đi,
như thay áo rách, mặc áo quí".
Năm
Mậu Thìn tháng tư ngày tám, giờ Ngọ, Ni sư an nhiên quy tịch,
thọ 66 tuổi, hạ lạp 38 năm.
Có
thể nói: Ni sư đã sớm ngộ sắc thân là huyễn, giác tánh
thường sáng, xem chết như trở về, đi ở vô ngại. Thật
hiếm thay.
Phật
lịch 2532. Đầu hạ năm Mậu Thìn
17.
Nhớ Phật tử Chơn An - Lê Văn Định
Sách
có dạy: "Nhơn năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhơn" (con
người mới có thể hoằng đạo, chớ đạo không thể hoằng
người). Đó là lời nhắn nhủ của chư Tổ đối với hàng
Tăng Ni Phật tử chúng ta, những người có tâm niệm cầu
giải thoát, thao thức với việc lợi tha tự giác. Muốn lợi
tha tự giác. Muốn lợi tha tự giácthì chính vản thân mình
làm thế nào xứng đáng là một người xuất gia cũng như
một người Phật tử tại gia biết tôn trọng Pháp và biết
hoằng dương chính pháp lên trên tất cả mọi việc, khi ấy
cái chí nguyện tu hành độ sanh mới có ý nghĩa viên mãn.
Cụ
Chơn An - Lê Văn Định là bậc cư sĩ lớn đã có công lao
nhiều đối với Phật pháp. Cụ vốn là một ông Tuần Vũ
quan lớn của triều đình, thế nhưng vẫn giữ phong cách một
nhà Nho chân chính, quân tử, thanh liêm, không bị danh lợi
làm ô uế. Cụ sớm hiểu đạo và biết đạo mà phát tâm
theo đạo một cách vững vàng. Cùng chung với chư Tăng lãnh
đạo Phật giáo phát huy Hội Phật học miền Trung trong giai
đoạn cuối năm 1940-1952. Đó là thời gian chiến tranh chống
Pháp rất gian nan khắc nghiệt, khó khăn và rất cực khổ.
Cụ đảm đương chức vụ Hội trưởng Hội Phật học Trung
phần, trong lúc đó tôi là Hội trưởng Tỉnh hội Thừa Thiên,
cùng với Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Thiện Minh với
Cụ coi như là anh em, huynh đệ sát cánh bên nhau cùng chung
lo Phật sự, nên bấy giờ có người nói tới hoặc nhắc
tới cụ Chơn An Lê Văn Định thì ai ai cũng biết cả.
Người
ta quan niệm Cụ cũng gần gần như cụ Tâm Minh Lê Đình Thám.
Trong giới đàn tổ chức tại Nha Trang năm 1985, Cụ đã thọ
Bồ-tát tại gia, ở tại đó với một lời phát nguyện như
thế này:
Sự
trục nhãn tiền quá,
Lão
tùng đầu thượng lai,
Trót
mê lầm đắm đuối hình hài,
Bấm
đốt đã sáu tuần thêm sáu tuổi.
Triều
nội trong ngoài giong ruổi,
Nợ
áo cơm luồn cúi lấy làm vinh,
Bởi
căn trần lấp bít tâm linh,
Không
thấy đạo Bồ-đề cao cả,
Vạn
pháp nhơn sanh đô thị giả,
Hoán
lai danh lợi hữu hoàn vô,
Biển
trần ai sóng dậy lô nhô,
Cảnh
phù thế cái vui lầm cái khổ.
Tâm
tạp nhiễm không sớm lo tự độ,
Biết
kiếp nào tỏ lộ pháp thân,
Trước
đào sen vô thượng năng nhân,
Sửa
mình lại nguyện làm đệ tử,
Đời
đời noi đại sự độ sanh,
Mong
cho thế giới an lành.
Qua
lời phát nguyện của Cụ, ta biết tâm nguyện của Cụ như
thế nào. Cụ đã phát tâm theo tinh thần Đại thừa, tự lợi
lợi tha, coi thân mạng, coi danh lợi như rơm như rác, chỉ
biết phụng sự đạo pháp để lợi lạc quần sanh. Do đó
đã ảnh hưởng đến trong gia đình và bao nhiêu người khác,
mà ngày hôm nay, như lời tác bạch của con gái Cụ là Phật
tử Tâm Quảng, chính cũng nhờ cái đức, cái tâm, cái sự
hiểu biết chính đáng của Cụ đã gieo rắc và đã thành
tựu viên mãn.
Giờ
phút này, trước một tâm chí thành của các Phật tử, chư
Tăng xin nhớ lại công ơn của Cụ Chơn An - Lê Văn Định,
chư Tăng cũng xin hết lòng cầu nguyện cho song thân, tiền
nhân của Phật tử được siêu thân Lạc quốc, cũng y như
là tiền nhân của các Phật tử, của các vị hảo tâm giúp
đỡ cho việc hoằng dương Phật phát được mọi điều lợi
lạc, được siêu thăng Lạc quốc.
Nam-mô
Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật.
(Mồng
07 tháng 07 năm Giáp Tuất)
(*)
Cụ Chơn An - Lê Văn Định nguyên là Hội trưởng Tổng hội
Phật giáo Trung phần từ năm 1945 - 1950.
18.
Hộ niệm Hương linh Chị Hoàng Thị Kim Cúc
(Huynh
trưởng cấp Dũng)
Hương
linh Phật tử Hoàng Thị Kim Cúc hãy lắng nghe!
Đức
Phật dạy đời sống thật bấp bênh, nhưng cái chết luôn
chắc chắn. Không ai biết rằng mình sẽ sống mấy tháng,
mấy ngày, nhưng ai cũng biết chắc chắn rằng mình sẽ chết.
Như những trái cây ở trên cành, trái rụng sớm, trái rụng
muộn, trái cây đều phải rụng xuống, rụng xuống để hóa
thành cây cỏ dại, hoặc hóa thành cành hoa thơm.
Chúng
ta từ đâu đến, không ai biết được, sẽ đi về đâu, không
ai hay. Nhưng chúng ta đã có thân ở giữa cõi này, thân chúng
ta cũng phải chết, chết lúc thơ ấu, chết lúc thanh niên,
chết lúc lão thành để tái sinh theo nghiệp lực của mình.
Một mình một thân, chúng ta đến một mình một thân, chúng
ta đi cũng một mình một thân, điều đó ai cũng như ai. Nhưng
chỉ khác nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi của kiếp
nhân sinh ta đã sống như thế nào. Ta đã sống, gieo rắc an
lạc hay là gieo rắc đau khổ, đã sống gieo rắc tình thương
hay là gieo rắc điều bất hạnh, đã sống gieo rắc hân hoan
hay là gieo rắc sợ hãi, đã sống vì ích kỷ, ngã nhân, hẹp
hòi hay là đã sống tâm hỷ xả theo hạnh lợi tha.
Chị
đã được sinh ra trong gia đình lễ giáo, có duyên lành sớm
gặp Phật, có lòng tin Phật vững chắc, có sự hiểu biết
thật thâm sâu, có sự hành trì theo giáo pháp của đức Phật,
sống một cuộc đời thanh đạm, khiêm tốn, một cuộc đời
chan hòa tình thương cho tất cả mọi người. Chị làm trợ
duyên rất tốt cho lớp thanh niên đến với đạo Phật. Đến
với đạo Phật để cùng nhau học cách sống của đức Phật,
gieo rắc an lạc, gieo rắc hạnh phúc. Đó là niềm vui của
chị, đó là thiện căn phước đức của chị, đó là điều
để cho các Phật tử hôm nay thương tiếc chị, hộ niệm
đưa tiễn chị đến nơi an nghỉ cuối cùng. Trong giờ phút
mà khoảng khắc trở thành thiên thu này, tôi nguyện cầu đức
Phật phóng hào quang tiếp độ chị, nhứt niệm siêu sanh,
an lành về cõi Phật.
Nam-mô
Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật
19.
Nhớ Phật tử Tâm Thành - Phạm Đăng Siêu
Anh
và tôi có nhơn duyên gặp nhau rất sớm. Lúc tôi 18, 19 tuổi,
còn là học tăng trường An Nam Phật học ở Huế, thì đã
gặp Anh. Từ đó Anh qui y Tam Bảo, luôn luôn tiến lên làm
một vị cư sĩ trung kiên, đúng đắn, có lòng chánh tín Tam
Bảo, hiểu biết Tam Bảo một cách sâu sắc. Và tôi luôn luôn
tiến bước trên đường làm ông Thầy.
Từ
đó đến nay chắc anh còn nhớ: Bao nhiêu lần Anh gặp tôi,
tôi gặp Anh. Qua những câu chuyện đạo, tôi biết Anh là một
Phật tử trung kiên, tin Tam Bảo một cách sâu sắc, đúng đắn,
không hời hợt, không dễ duôi, không lập lờ, luôn luôn tôn
thờ Tam Bảo là đấng Đạo sư của mình, dắt đường chỉ
lối cho mình thoát khỏi cảnh khổ đau của trần thế để
bước lên cảnh an lạc, giải thoát của chư Phật. Anh tin
tưởng đức Phật là đấng Giác ngộ cứu độ chúng sanh
vô lượng, vô biên, chỉ có Ngài mới đem lại sự giải thoát
vô minh, đau khổ của toàn thể chúng sanh. Vì chúng sanh không
dứt trừ được vô minh nên đau khổ vẫn còn, không một
thế lực nào làm cho hết đau khổ được, mà chính đức
Phật mới đem lại sự giác ngộ để dứt trừ vô minh đó.
Cho nên, Anh đã tin Phật với một lòng tin sáng suốt như vậy.
Không lung lay, không thối chuyển. Hơn nữa, Anh hiểu đức
Phật là đấng đại từ bi với một tình thương bao la, bao
trùm cả vũ trụ, tất cả vạn loài chúng sanh, không phân
biệt sang hèn, giàu nghèo, dại khôn, loài người hay loài vật:
"Một lòng từ bi mà xưa đến nay chưa ai có được". Anh đã
thấm nhuần được đức từ bi ấy của đức Phật, cho nên
Anh đã phát tâm thực hành hạnh từ bi đó qua công hạnh bố
thí của mình.
Tôi
biết lòng tin Phật của Anh không phải đơn độc, vì hầu
hết trong gia đình Anh là những đệ tử của đức Phật.
Chẳng hạn như bào đệ của Anh là anh Phạm Đăng Minh, giáo
sư. Tôi gặp Minh cũng là lúc tôi 18, 19 tuổi, anh Minh 25 tuổi.
Có một lần anh đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Hướng Phật"
tám câu mà tôi còn nhớ được bốn câu như thế này:
"Từ
khi bắt gặp áo Cà-sa,
Tuổi
mới hăm lăm đã thấy già,
Xưa
không thành bướm theo Trang Tử
Nay
nguyện làm sen đợi Thích Ca..."
Tôi
hỏi anh: "Anh chưa có râu mà sao đã gọi là già?" Anh nói:
"Già này không phải là già tuổi mà già này là già dặn.
Gặp được Phật rồi, biết giáo lý Phật rồi thì chắc
chắn vững vàng không còn u ơ, không còn nông nỗi, không còn
cạn cợt, không còn buông lung như trẻ thơ trước cuộc đời
nữa, cho nên gọi là già. Già dặn chức không phải già tuổi".
Và anh đã nguyện làm sen đợi Thích Ca tức là một lòng tin
Phật, không tin ai hết. Tin Phật mới là đấng cứu độ cho
mình thoát khỏi vô minh đau khổ, dứt trừ tham ái, nghiệp
chướng u mê. Như vậy, sự tin Phật của Anh chính là một
sự tin Phật chung của gia đình và một sự tin Phật của
người bào đệ của Anh mà tôi được gặp qua bài thơ đó.
Nhưng tiếc rằng anh Minh sớm qua đời. Trước khi lâm chung,
anh có mời Hòa thượng Đôn Hậu về để nói kinh Pháp Hoa
cho anh nghe.
Như
thế, thấy rõ ràng: Cuộc đời anh Minh cũng là cuộc đời
của Anh hôm nay, trước sau đều một lòng tin Phật và trước
sau đều gặp Phật trên con đường giải thoát giác ngộ của
Ngài. Sau khi thấm nhuần được lòng từ bi của Phật, Anh
đã dành ra trên nửa cuộc đời để thực hành hạnh Từ
bi bố thí. Mặc dù thân Anh mỏng manh, nhưng chí Anh rất cao
cường, gió không ngã, mưa không chán, nắng không khô héo
dù trải bao nhiêu sự thăng trầm của thế cuộc. Trong thời
giam Anh, nhưng rồi trước sau, tấm lòng thành thực, trung kiên
của Anh cũng được hiểu rõ và Anh cũng được tiếp tục
làm hạnh bố thí lợi tha của đức Phật hẳn Anh đã hiểu
được rằng:
"Trăm
năm trước thì ta không có
Trăm
năm sau có lại hoàn không.
Cuộc
đời sắc sắc không không.
Trăm
năm còn lại tấm lòng Từ bi"
Anh
đã hiểu rõ lý "Sắc-không" của đạo Phật. Tất cả thế
gian, tất cả mọi sự đều là vô thường, trống rỗng, có
đó không đó. Nếu vì vô minh, mù quáng chấp chặt lên sự
sống thế gian, tất nhiên sẽ bị thế gian vô thường vùi
dập vào trong con đường đau khổ, tham ái mà không thể nào
thoát ra khỏi được. Nếu vì vô minh mà tham đắm sắc dục
trong thế gian vô thường, không hiểu là "sắc sắc không không"
thì nó sẽ đưa con người vào chỗ tội lỗi, tối tăm, hẹp
hòi không thể vươn lên được. Nhưng Anh đã hiểu cuộc đời
theo tinh thần "sắc sắc không không" của đạo Phật, cho nên
Anh đã thoát được tất cả.
Danh
không buộc Anh được, lợi không dính vào Anh được, giàu
sang phú quý không ngăn bước chân của Anh được, và Anh đã
bước đi trên con đường hạnh phúc thênh thang, giải thoát
theo đức Phật. Anh trở nên một người sống đạm bạc.
Sống cần mẫn siêng năng, không kể ăn, không kể mặc mà
chỉ chăm chăm vào sự bố thí để giúp người khó, thương
người đau vào sự bố thí để giúp người khó, thương người
đau, người yếu mà thôi. Có những lúc chúng tôi gặp Anh
đi giữa đường với bị gạo trên vai, hai tay bụm lại, mắt
lim dim coi như một người đang Thiền định giữa đường;
chân có khi đi guốc chiếc mới chiếc cũ, Anh cũng chẳng cần
để ý tới. Quần ống cao ống thấp, Anh cũng chẵng màng
nghĩ tới, hầu như trong lòng Anh bao giờ cũng nghĩ tới sự
nghèo khổ của những người đang thiếu thốn, những người
đang tật nguyền, những người đang đói khát.
Cho
nên, chúng tôi đã nói đùa với nhau rằng: "Đó là hiền triết
Diogène đó!" Vị hiền triết Diogène là một hiền triết cổ
đại Hy Lạp. Ông ta thường sống trong một chiếc thùng tô-nô.
Một hôm, vị vua đi cho đến hỏi vị hiền triết đó rằng:
"Khanh muốn gì, Bệ hạ sẽ cho". Vị hiền triết đó thưa
rằng: "Tôi không muốn gì cả. Tôi chỉ muốn Bệ hạ đứng
xích ra một bên để cho ánh sáng mặt trời chiếu vào mà
thôi". Là ý của nhà hiền triết muốn nói rằng: "Xin bệ
hạ đừng có che ánh sáng mặt trời chiếu đến tôi, tôi
chỉ ưa từng ấy thôi". Thì cuộc đời của Anh cũng tương
tợ như thế. Anh chỉ bước đi trong ánh sáng từ bi của đức
Phật mà Anh không thể bị những cái chung quanh, những cái
danh lợi, những cái sắc hương phù phiếm của thế gian ràng
buộc, Anh đã trở nên một người thân thương của tất cả
mọi người, trở nên một người bạn hiền lành của tất
cả mọi người. Có những lúc Anh đang đau mà Anh quên đau,
với niềm vui bố thí của mình. Có những lúc trời mưa lụt
đến mà Anh không kể mưa cũng không kể lụt, cứ vẫn tiếp
tục làm theo hạnh nguyện của mình, không có cái gì cản
trở được Anh.
Chí
nguyện đó, phải chăng Anh đã thấm được cái hạnh Bồ-tát
ở trong đạo Phật, Anh đã học được chí nguyện cao siêu
ở trong đạo Phật chỉ vì sự tế độ chúng sinh, giác ngộ
chúng sanh, giúp ích chúng sanh mà quên đi cái bản ngã nhỏ
mọn hẹp hòi của mình. Và chính vì Anh quên được cái bản
ngã của mình, cho nên Anh mới có được một tấm lòng rất
lớn. Đó là tấm lòng bao dung, độ lượng, cái mà Anh không
cần nghĩ tới, nhưng bao nhiêu người đã nghĩ tới Anh và
thương mến Anh, quý trọng Anh. Vì vậy mà trong việc hành
thiện của Anh, ai nấy đều đặt tin tưởng vào nơi Anh mà
không có một điều gì thắc mắc nghi ngại. Chính điều đó
là một điều tốt nhất nhưng không phải ai làm cũng được.
Có
những người làm từ thiện lúc đầu thì hay nhưng lúc sau
thì dở vì lẽ nọ hoặc lẽ kia, có thể vì cái tính tình
không nghiêm, vì hành sự không hợp, vì sự nói năng không
chỉnh chạc, cho nên có những người cũng phát tâm làm từ
thiện nhưng chỉ làm được lúc đầu, không thể tiếp tục
về sau. Ngược lại, năm mươi năm trường với một công
việc hành thiện, Anh không bao giờ ngơi nghỉ chỉ vì trong
lòng Anh có chí nguyện lớn, Anh có sự hiểu biết lớn và
Anh có một sự khiêm tốn lớn, Anh có sự xứng đáng lớn
như vậy, cho nên bao nhiêu người tin tưởng nơi Anh, để cùng
chung với Anh làm việc từ thiện. Trong các việc từ thiện
của Anh để lại đã nêu ra rất nhiều ý nghĩa:
Ý
nghĩa thứ nhất
Anh
giúp cho những người có của có tiền, muốn làm từ thiện
mà chưa gặp duyên hoặc chưa gặp người tín nhiệm tiếp
tay, giúp đỡ để đưa tiền gạo đến tay những người thương
kẻ khó, và Anh đã giúp họ điều đó, tiếp nhận của cải
của người đó để đem ban phát cho những người nghèo đói.
Anh đã thay mặt họ làm được những công việc từ thiện
giúp họ tín tâm Tam Bảo ngày càng tăng trưởng.
Ý
nghĩa thứ hai
Đối
với những người cùng bần, thiếu thốn, đau khổ, cô độc,
đó là những người dễ bị đời bỏ quên. Cuộc đời của
họ làm người nhưng không hưởng gì được cái tính cách
của người. Họ sống trong cảnh ảm đạm, trong hiu hắt,
trong cô độc, ít ai nghĩ tới. Cuộc đời của họ sống trong
bóng tối, không thấy ánh sáng mặt trời, chẳng ai đoái hoài
đến họ. Với tấm lòng từ bi, với ánh sáng trí tuệ của
đức Phật, Anh đã tiếp tay với Phật, đã tiếp tay với
các vị Bồ-tát để thực hành lợi tha mà đức Phật đã
canh cánh răn dạy hàng đệ tử xưa nay.
Ý
nghĩa thứ ba
Anh
nêu lên tấm lòng từ thiện để nhắc nhở mọi người: Chính
lòng từ thiện mới đem lại an lạc cho xã hội. Nếu đời
thiếu lòng từ thiện thì đời sẽ sụp đổ, nếu thành phần
xã hội hoặc bất kỳ con người nào mà thiếu tấm lòng từ
thiện ấy, chắc không sớm thì muộn thành phần ấy hoặc
con người ấy sẽ hư đốn, khốn cùng. Do đó, chính việc
làm của Anh nhắc nhở cho họ nhớ lại, là phát khởi lòng
từ thiện, cùng tiếp tay với Anh làm việc thiện để cuộc
đời bớt khổ
Ý
nghĩa thứ tư
Mặc
dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Anh vẫn tiếp tục làm từ
thiện không bỏ. Lúc mưa, lúc nắng, lúc lạnh, lúc ráo, lúc
thuận, lúc nghịch, Anh không bận lòng để ý tới. Anh chỉ
biết để tâm tới việc làm từ thiện, giúp ích cho những
người cô độc, đau khổ, Anh chỉ biết tới một chuyện
đó thôi. Vì lẽ đó nên những việc từ thiện của Anh có
nhiều kết quả. Chứ nếu làm từ thiện mà vì cái danh, vì
cái lợi, lung lạc, sai khiến, quyến rũ, dối gạt người
khác, hoặc chỉ vì một chút gì trong đó không đúng đắn,
không rõ ràng và không lớn lao, chắc chắn Anh đã không tiếp
tục được công việc từ thiện bền vững cho tới ngày Anh
nhắm mắt.
Ý
nghĩa thứ năm
Làm
việc từ thiện của Anh tức là làm cho người có của hay
không có của, người sống có gia đình với người sống
cô độc xích gần lại với nhau. Cuộc đời sở dĩ đau khổ
vì miếng cơm manh áo, vì nghèo khó, vì kiếp người phải
sanh, lão, bệnh, tử của chúng sinh không thoát ly ra được
đã đành, nhưng cũng còn nhiều nỗi đau khổ vì sự bất
đồng, người có học khinh khi người ngu dốt, người giàu
thì quá giàu, nghèo thì quá nghèo. Sự bất công đó cũng là
một nạn của chúng sanh gây đau khổ cho nhau thì việc thiện
của Anh chính là một gạch nối để làm cho người giàu,
nghèo xích lại gần với nhau, biết tới nhau, giảm bớt sự
bất công.
Ý
nghĩa thứ sáu
Anh
đi làm từ thiện, nhưng không phải chỉ đem tiền, gạo đến
phát không cho kẻ khác, mà Anh còn đem những lời lẽ êm ái,
dịu dàng, giáo lý của đạo Phật để khuyên răn dạy bảo,
để cởi mở nỗi lòng đau khổ, để khuyên nhủ họ bỏ
bớt vô minh và tham ái của họ nữa.
Có
những lần thỉnh thoảng Anh đến tặng quà cho chúng tôi,
chúng tôi nói rằng: "Thôi! Anh nên để lễ vật này giúp cho
những người nghèo khó", thì Anh nói rằng: "Chính con có làm
được việc từ thiện này cũng là nhờ biết được Tam Bảo,
noi gương Tam Bảo con mới làm được. Cho nên, con không thể
không cúng dường Tam Bảo mà phụng sự chúng sanh được.
Thứ nữa, chúng sanh đau khổ vì còn tâm tham ái vô minh, vì
ngã mạn, vì chấp tướng cho nên mới đau khổ, mong rằng
chư Tăng chú nguyện cho chúng sanh vơi bớt sự đau khổ, vơi
bớt sự chấp tướng, vơi bớt ngã mạn vô minh để cho họ
được thoát khổ. Cho nên con phải làm cả hai".
Có
những lần Anh lên cúng dường chúng tôi, với một sự thành
kính, Anh tác bạch như thế này: "Chúng con xin đem cái tâm
vô ngã cúng dường lên chư Tăng, mong chư Tăng chú nguyện
cho chúng sanh được vơi niềm đau khổ".
Anh
cúng dường với tâm vô ngã, đủ biết rằng việc làm từ
thiện của Anh không phải làm từ thiện với sự trước tướng,
dính vào tâm hữu lậu, chấp tướng là mình, là ta: Ta là
người cho, còn kia là người nhận, nhưng chính Anh làm từ
thiện như một pháp tu theo tinh thần vô lậu, vô ngã, thực
hành, sống với tinh thần vô ngã, tức là tu tập đúng theo
chánh pháp, như kinh Kim Cang phật dạy:
"Dĩ
vô ngã, vô nhơn, cô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhứt thiết
thiện pháp tức đắc A-nâu-đa-la-tam-miêu-tam-bồ-đề". Đem
cái tâm vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả mà tu
các thiện pháp thì sẽ thành quả giải thoát lớn lao. Do đó,
việc hành thiện của Anh không phải chỉ là một việc hành
thiện bề ngoài, hành thiện hình thức mà Anh đã hành thiện
chính từ trong thân tâm, hành thiện như vậy đã đi vào lòng
sự sống của mọi người từng được Anh giúp đỡ.
Cho
nên, có những người khi thiếu thốn, Anh tới giúp đỡ, họ
nhận; nhưng khi họ làm ăn đủ rồi, Anh tới giúp đỡ họ
từ chối và nói lời cảm ơn rằng: "Thôi! Tôi nhờ Bác giúp
nay tạm có đủ ăn, được rồi! Xin Bác đem của nầy giúp
cho những người khác còn đang thiếu thốn". Đó chính là
cái việc hành thiện của Anh, không phải đem của đi cho không.
Bởi vì nếu đem của đi cho không mà thiếu pháp thí, thì
cũng có thể làm tăng thêm lòng tham cho con người nhận thí.
Họ sẽ tham của bố thí đó, có một muốn hai, có hai muốn
ba, có ba muốn bốn, muốn mãi không vừa. Sỡ dĩ họ biết
được như thế là nhờ có pháp thí của Anh. Nhờ có được
pháp thí có thể giúp tỉnh ngộ và tự chính họ xả bớt
được lòng tham lam của họ. Cho nên, họ nhận nơi Anh không
những chỉ hận tiền, nhận của, nhận áo, nhận cơm, mà
còn nhận nơi Anh những lời Pháp hiền dịu, hòa nhã, làm
thay đổi được cuộc đời của họ về mặt vật chất cũng
như tinh thần, đó là một đặc điểm. Tôi mong rằng công
hạnh từ thiện đó của Anh sẽ còn mãi trong lòng mọi người
đã hoặc chưa có duyện gặp Anh, như câu:
"Cuộc
đời sắc sắc không không,
Trăm
năm còn lại tấm lòng Từ bi"
Cuộc
đời rốt cuộc rồi cũng chẳng còn gì hết, không bố thí
rồi cũng thế thôi. "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng".
Đã có tướng thì đều làm tạm bợ mong manh, dù có muốn
giữ nó lại, lấy dây mà ràng buộc lại, để cho nó đừng
tiêu tan cũng không thể làm được. Lấy chức quyền, chức
tước mà buộc nó lại cũng không thể giữ được. Hễ đã
có tướng thảy đều hư vọng, chỉ có tấm lòng từ bi là
khôg hư vọng mà thôi. Bởi vì tấm lòng từ bi là mẹ hiền
nuôi nấng tất cả chúng sanh, tấm lòng từ bi là nước cam
lồ rưới mát tất cả chúng sanh. Tấm lòng từ bi là ánh
sáng mặt trời, chiếu sáng cho tất cả chúng sanh. Cho nên,
tấm lòng từ bi còn thấm đượm mãi trong lòng mọi người
để cho pháp giới chúng sanh đều an bình. Nếu tấm lòng từ
bi không còn, chúng sanh sẽ chết hoặc sống mà đau khổ gần
như chết và thế giới sẽ sụp đổ. Do đó mà tất cả đều
sẽ chịu sự tan rã, biến hoại, vô thường, chỉ có tấm
lòng từ bi là còn mãi trong lòng con người không mất đi được.
Anh
đã học đuợc tấm lòng từ bi đó nơi đức Phật, đã thực
hành hạnh từ bi đó qua bao năm tháng, không kể khó khăn,
không tính toán hơn thua, không chấp ngã, không chấp nhơn.
Tấm lòng từ bi ấy của Anh bây giờ vẫn còn ghi lại trong
tâm tôi, trong tâm bao nhiêu người khác, trong tâm những người
thân thuộc, những ngưòi đồ đệ của Anh. Tôi mong rằng
sự ra đi của Anh chỉ là một sự đổi thay sắc thân giả
huyễn, còn tinh thần của Anh hãy là một tinh thần còn giúp
ích, còn làm gương mẫu cho những người khác thực hành công
hạnh từ thiện, đúng như Anh
Tôi
biết trong khi sanh tiền, có những người trong sự hành thiện
theo Anh, nhưng đã không hiểu đúng tinh thần của Anh. Không
thấy được tấm lòng cao cả của Anh, cho nên có một phần
nào lầm lạc, tưởng làm như Anh, nhưng kỳ thực ngược lại
tinh thần từ thiện nói chung và với Anh nói riêng. Tôi mong
rằng: Từ nay trở đi, sự lệch lạc ấy không còn nữa để
trở về với sự hành thiện trong sạch, đúng đắn, sáng
suốt đúng theo tinh thần Phật giáo như Anh. Có được như
vậy thì việc hành thiện này dầu anh qua đời nhưng vẫn
còn tiếp tục tốt đẹp. Được như thế. Tôi chắc chắn
trong giờ phút này, Anh sẽ mãn nguyện và thanh thản ra đi.
Giờ
đây trước ngôi Tam Bảo, xin Anh thành tâm hướng về Tam Bảo
một lần nữa để quy y Tam Bảo hầu luôn luôn giữ tâm niệm
của mình gắn chặt với Tam Bảo. Dầu ở đời này hay ở
đời khác, ở kiếp nọ hay kiếp kia, Anh vẫn đi trong ánh
sáng của Tam Bảo, tức là đi trong đường lối giải thoát
khỏi vô minh, đau khổ.
Tôi
thành tâm cầu nguyện Anh luôn luôn tự tại với chơn tâm
của mình
Nam
mô Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật.
20.
Hộ niệm Hương linh Như Phước Tôn Nữ Thị Nhơn
Năm
tháng phủ sinh dệt kiếp người,
Cuộc
đời như thể áng mây trôi,
Buông
tay nhẹ gót về theo Phật,
Chín
phẩm đài sen toả sáng ngời.
Hương
linh Phật tử Như Phước!
Trong
khoảng khắc biến thành thiên thu này, Hương linh đã xả bỏ
huyễn thân ở cõi Ta-bà để theo Phật. Cho biết, thế gian
vô thường, muôn vật đều hư huyễn, chỉ có chơn tâm thường
trụ bất biến. Sống thuận theo chơn tâm thì được giác
ngộ giải thoát, nghịch lại chơn tâm thì sinh diệt khổ đau.
Hương
linh nhờ có túc duyên thác sanh Nhơn đạo làm con thảo, làm
mẹ hiền; vừa làm mẹ, vừa làm bà nội, nuôi nấng dạy
bảo con cháu khôn lớn trưởng thành: Thành thân, thành tài
và thành đức..., sống trong một tình thương yêu đùm bọc,
thuận hòa trên dưới, luôn luôn gần gũi thân mật. Dầu sống
trên cõi đời vô thường, nhưng Hương linh được sống một
tâm thường tại. Dầu sống giữa phong ba bão táp, đủ mọi
thứ xảy ra trên đời, nhưng Hương linh vẫn một lòng tin
Tam Bảo, gìn giữ tâm và thân được yên lành, tránh mọi
sự rối rắm, là nhờ phúc đức, nhờ đạo tâm từ thiện
của Hương linh đã vun bồi, xây dựng bấy lâu nay.
Ở
đời không có gì quý bằng tâm từ thiện. Muôn việc đều
do tâm sinh ra. Nếu tâm ác thì tạo thành cảnh ác, chắc chắn
sẽ thọ quả báo đau khổ; tâm lành thì tạo cảnh lành, ắt
sẽ đuợc kết quả an vui. Nhân quả hiện tiền trước mắt.
Biết sống theo nhân quả, tránh dữ làm lành, luôn được
hưởng điều an lạc, chính Hương linh đã biết sống như
vậy. Lại nữa, nhờ duyên lành gặp ngôi Tam Bảo, làm đệ
tử Phật nên Hương linh đã gần gũi Tam Bảo, nghe theo lời
đức Phật dạy bảo, nhờ những lời giác ngộ giải thoát
như vậy mà tâm hồn Hương linh đã sống một cuộc đời
chan hòa với tất cả mọi người và con cháu. Do đó mà con
cháu được ân hưởng rất nhiều và lúc còn sống cũng như
khi qua đời, Hương linh luôn luôn được sự thương yêu, kính
mến. Đó là cái phúc quả hiện tiền mà cũng là tư lương
để cho Hương linh ở cõi này đi qua cõi khác.
Hôm
nay, trong giờ phút ngàn năm một thuở, giây phút sẽ biến
thành thiên thu, vì niệm tình thương cảm Hương linh đã có
tâm vì đạo, đã biết sống một cuộc đời an lành thánh
thiện, nên chư Tăng gia tâm hộ niệm cho Hương linh, bất cứ
ở cảnh giới nào cũng được gần ngôi Tam Bảo, bất cứ
ở cảnh giới nào cũng được tự tại an vui. Đó là điều
cầu mong của chư Tăng hôm nay. Mong rằng Hương linh luôn luôn
giữ niềm tin quy kính Tam Bảo, luôn làm đệ tử Phật, giữ
trọn Tam quy Ngũ giới, và cũng chính nhờ phước duyên này
mà Hương linh sẽ chuyển nghiệp vãng sanh, tu hành Thánh quả,
giải thoát giác ngộ, tự tại yên vui trong nhiều kiếp về
sau.
Giờ
phút ngàn năm vĩnh biệt này, mặc dầu thể xác Hương linh
tuy có xa, nhưng tâm nguyện luôn luôn giao cảm, bất cứ ở
phương trời nào, tâm tư đều có một niềm cảm ứng lẫn
nhau, Hương linh đã phát thiện tâm chánh niệm, luôn luôn giữ
chánh niệm với thiện tâm áy, nhờ vậy mà Hương linh chắc
chắn sẽ được siêu sanh Lạc quốc. Đối trước Hương linh
trong giây phút linh thiêng này, chư Tăng thành tâm hộ niệm
cho Hương linh đạt thành phúc quả.
Giờ
đây Hương linh hãy đối trước Tam Bảo phát nguyện quy y,
để giữ niệm chơn chánh mà phát khởi tín tâm của mình,
luôn luôn không bao giờ thay đổi. Cầu nguyện cho Hương linh
cao đăng Phật quốc.
Nam-mô
Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật
-HẾT-