Rất
cần thiết phải thiền định về đời người quý báu của
ta. Cuộc đời thật quý báu và thời gian cũng thật quý giá.
Vì thế bất kỳ những gì chúng ta có đều quý báu. Mục
đích của cuộc đời là đạt được hạnh phúc, trước hết
là hạnh phúc nhất thời và sau đó là hạnh phúc viên mãn.
Trong thời gian thiền định chúng ta phải bỏ lại đằng sau
rất nhiều thứ. Ta có rất nhiều điều phải làm trong cuộc
sống. Nếu ta theo đuổi những niệm tưởng của ta thì ta
sẽ chẳng bao giờ chấm dứt được. Ta phải chọn ra điều
gì là quan trọng trong cuộc đời đối với ta, đối với
gia đình và cộng đồng của ta. Khi nhìn thấy một vật gì
tốt đẹp ta mong muốn được sở hữu nó. Ta phải tự kiềm
chế để chỉ nhận những gì cần thiết cho cuộc đời ta.
Pháp giảng dạy ta cách sống một cuộc đời đơn giản. Điều
này không có nghĩa là ta không nên có bất kỳ điều gì, nhưng
nếu ta đuổi theo mọi sự thì ta sẽ lãng phí rất nhiều
thời gian. Vì thế điều này rất quan trọng. Nếu bạn có
ít phút vào buổi sáng, bạn hãy quán chiếu về cuộc đời
quý báu, thời gian quý giá của bạn. Cuộc đời có lúc thăng,
có lúc trầm nhưng mọi người đều có một cơ hội để
tự giải thoát mình trong cuộc đời này. Nếu xảy ra một
thời kỳ khó khăn, chúng ta nên quán chiếu rằng ta luôn luôn
có thể thoát khỏi đau khổ.
Mục
đích của việc nghiên cứu và thực hành thiền định là
để tu hành tâm thức. Thiền định là tu hành tâm thức, trì
tụng thần chú cũng là tu hành tâm thức. Bất kỳ điều gì
chúng ta làm đều có thể là việc tu hành tâm thức. Có nhiều
phương pháp thiền định. Tất cả những phương pháp ấy
vẫn còn được lưu truyền vì thế ta có thể nhận ra bản
tánh nền tảng của con người. Mọi sự cầu nguyện, thiền
định, và nghiên cứu là căn bản của việc nghiên cứu trí
tuệ. Sau khi nghiên cứu, ta suy niệm và thực hành thiền định.
Tất cả ba thực hành này đều quan trọng như nhau. Bạn không
thể thực hành một môn mà không có những môn kia. Trí tuệ
này có thể nhận ra bản tánh của những cảm xúc tích cực
và tiêu cực, và bản tánh của những hiện tượng bên ngoài
ta. Việc nghiên cứu cho ta thấy bản tánh của tâm thì trong
sáng và thuần tịnh, không bị ô nhiễm, giống như một miếng
pha lê hoàn toàn trong suốt. Nhưng bản tánh của tâm bị bụi
bặm bao phủ, vì thế chúng ta không thể nhìn thấy ánh sáng
của miếng pha lê. Sự bao phủ chỉ là nhất thời và ta cần
lau chùi nó. Thực hành thiền định chính là phương pháp để
lau chùi nó. Bụi bặm thì nhất thời vì thế nó có thể được
lau chùi. Vào lúc bắt đầu chúng ta có thể không thể nhận
ra tất cả những gì đang xuất hiện nhưng việc thực hành
đòi hỏi thời gian. Ngay cả một hành giả kém cỏi như tôi
cũng thấy được kết quả nhờ sự thực hành. Trước khi
ta thực hành, ta không nhìn thấy bụi bặm, nhưng việc thực
hành cho phép ta nhìn thấy nó. Việc thực hành lau chùi bụi
bặm và làm cho miếng pha lê trở nên sáng ngời. Mục đích
của việc thực hành là để nhận ra bản tánh của tâm. Nhờ
thấu hiểu bản tánh này, bạn sẽ hiểu được rất nhiều
điều. Mục đích của tôi trong việc thực hành là tu hành
tâm thức.
Vì
thế cuộc đời quý báu rất quan trọng. Chúng ta nên luôn
luôn nghĩ tưởng về nó. Việc đặt sai chỗ năng lực của
ta thật không khôn ngoan chút nào. Milarepa đã gặp đệ tử
của ngài khi đang ngồi bên ngoài hang động. Ngài nói với
người thợ săn, giảng nghĩa cho anh ta nghe về sự sinh ra làm
người quý báu. Ngài giảng cho người thợ săn rằng một
cuộc đời trải qua trong việc giết hại không phải là cuộc
đời quý báu. Người thợ săn đã trở thành một yogi và
cuối cùng là một Đạo sư vĩ đại. Đời sau của ta sẽ
hoàn toàn khác biệt cuộc đời này. Cuộc đời hiện tại
là một trạng thái trung gian. Nếu ta nhận ra điều này thì
đời sau của ta sẽ thuận lợi, dễ dàng. Giáo lý quan trọng
nhất là đời người quý báu. Nghi lễ thì cần thiết, nhưng
thực hành thiền định thì quan trọng hơn. Việc nghiên cứu
thì giống y như thế. Nếu bạn chỉ mải mê nghiên cứu thì
khó có thể nói rằng bạn sẽ có kết quả tốt đẹp. Nhưng
nếu việc nghiên cứu được nối kết với sự thiền định
thì kết quả sẽ thật khả quan.
Điều
quan trọng là phải có thông tin đúng đắn. Tôi đã phải
mất một thời gian dài mới tìm được một Đạo sư nhập
thất xứng đáng. Tôi sẵn sàng cho việc nhập thất vào năm
1990, nhưng tôi không thoải mái với quyết định đó. Sự
thành công của việc thực hành tuỳ thuộc vào cả đệ tử
lẫn vị Thầy. Điều quan trọng là phải có nhiều sự hiểu
biết về việc thực hành. Lúc bắt đầu một thời khoá thực
hành, ta cần phải phát triển động lực đúng đắn, lòng
từ ái và bi mẫn. Nếu bạn thực hành trong một tháng hay
một năm bạn sẽ thấy một vài kết quả.
Một
số cảm xúc rất mạnh mẽ và khó đối phó. Những tư tưởng
tích cực có thể được chuyển hóa thành tư tưởng tiêu
cực. Khi điều đó xảy ra, bạn nên tỉnh giác để có thể
đối phó với chúng. Bạn nên thiền định rằng Đạo sư
của bạn ở trước mặt bạn. Nếu bạn có thể thiền định
Đạo sư của bạn bất khả phân với Đức Phật, thì tâm
bạn sẽ an định tức thì. Nếu bạn không có một Đạo sư,
bạn hãy thiền định rằng bạn bất khả phân với Bổn tôn
(1) của bạn. Hãy hòa tan Đạo sư hay Bổn tôn thành ánh sáng
bên trong bạn. Tâm rất thường thay đổi và có thể chuyển
hóa nhanh chóng, vì thế bạn có thể đánh mất sự nhiệt
tâm trong việc thiền định. Tư tưởng luôn luôn phát khởi,
nhưng bạn có thể đối phó với chúng.
Các
bạn có gì để hỏi không? Điều tối quan trọng trong khi
thực hành là giữ gìn sự tỉnh giác chánh niệm của bạn.
Tâm phải luôn luôn thanh tịnh, không bị ô nhiễm. Nên tập
trung tâm vào đối tượng thiền định. Sự thực hành thiền
định đòi hỏi một môi trường yên tĩnh, vì thế bạn có
thể kinh nghiệm sự an định.
Hỏi:
Ngài có thể giảng cách sử dụng chuông và chày (2)?
Đáp:
Hãy cầm chày ở giữa ngực ở khoảng trái tim. Chày tượng
trưng cho nguyên lý nam và chuông tượng trưng cho nguyên lý
nữ. Cầm chuông trong bàn tay trái, hơi thấp hơn chày trong
bàn tay phải. Trong những truyền thống mới bạn chỉ rung
con lắc (bên trong chuông) ở một bên chuông thay vì cả hai
bên.
Hỏi:
Còn trống damaru (3) thì sao?
Đáp:
Hãy cầm nó giữa ngón cái và ngón trỏ và lắc trống chầm
chậm. Chỉ giữ nó bằng hai ngón tay, vì thế âm thanh không
bị nhỏ bớt đi.
Hỏi:
Trì tụng thần chú Vajrasattva trong khi rung chuông thì tốt hơn?
Đáp:
Bạn chỉ rung chuông khi thực hành tịnh hóa vào lúc kết thúc
một sadhana (4) khác, không phải trong khi tích tập 100.000 lần
trì tụng.
Hỏi:
Ngài có thể giảng nghĩa cách tịnh hóa nghiệp tiêu cực và
những che chướng?
Đáp:
Nói chung, có nhiều cách để tịnh hóa nghiệp. Trong việc
phát triển lòng từ ái và bi mẫn, nếu bạn nhìn vào trong
bạn sẽ nhận ra bản tánh của tâm. Khi những tư tưởng tiêu
cực xuất hiện, hãy nhìn xem bạn cảm nhận ra sao. Thỉnh
thoảng khi những cảm xúc xuất hiện, phải mất một thời
gian dài mới có thể chữa lành chúng. Chừng nào mà bạn vẫn
có lòng từ ái và bi mẫn thì bạn sẽ dễ dàng đối phó
với các sự việc. Sự thiền định Vajrasattva, trì tụng thần
chú một trăm âm để trục xuất những điều tiêu cực là
một thực hành rất hữu hiệu. Tâm ta như một đại dương
bao la, một cơn gió mạnh phát sinh và khuấy động đại dương,
vì thế những con sóng xuất hiện. Đây là những niệm tưởng.
Thực ra sóng và nước không tách lìa nhau. Ở bình diện tối
hậu thì không có nghiệp tiêu cực và tích cực, không có
Phật và luân hồi sinh tử. Hầu hết nghiệp ở trong tâm thức,
vì thế sự tỉnh giác chánh niệm thì rất quan trọng. Khó
có thể hiểu rõ được nghiệp, nhưng đôi khi nó rất hiển
nhiên.
Hỏi:
Làm thế nào để quán tưởng mình là Bổn Tôn, thưa ngài?
Đáp:
Sự tự hào kim cương là tự thấy chính mình bất khả phân
với Bổn Tôn. Hai vấn đề quan trọng nhất trong thực hành
Kim Cương thừa là sự tự hào kim cương và thị kiến thanh
tịnh, coi bản thân bạn và những người khác như những Bổn
Tôn. Và vấn đề quan trọng khác là không phê bình chỉ trích
các phụ nữ, mà nhìn tất cả họ như những dakini (5). Không
nên có những tư tưởng tiêu cực hay những chỉ trích chê
bai đối với họ. Khi ấy tâm bạn trở nên tĩnh lặng và
bình an. Mọi người đều bình đẳng và không ai cao cả hơn
người khác.
Hỏi:
Ta có nên suy niệm bốn tư tưởng chuyển hóa tâm (6) trước
bất kỳ sadhana nào?
Đáp:
Phải, bạn nên làm điều đó. Tôi nghĩ rằng việc thiền
định về suy niệm đầu tiên - sự sinh ra làm người quý
báu - thì quan trọng nhất đối với những người mới tu
tập. Khi thực hành và hiểu biết nhiều hơn thì bạn có thể
thiền định về những nghiệp quả và sự vô thường. Khi
thực hành, tâm bạn cần tập trung, nhưng buông lỏng.
Hỏi:
Đâu là ý nghĩa của thần chú “dza hum bam ho?”
Đáp:
Thần chú “dza hum bam ho” tượng trưng cho bốn sự vô lượng
(tứ vô lượng tâm). Dza là cái móc, hum là sợi giây thòng
lọng, bam là những cái cùm, ho là cái chuông./.
Nguyên
tác: “Meditation Practice”
by
Lama Gyursam
Trung
tâm Vajra Konchog Ling
http://buddhism.inbaltimore.org/gyursam2.html
Bản
dịch Việt ngữ: Thanh Liên
Chú
thích:
1.
Bổn tôn (Yidam): Một trong Ba Gốc (Lạt ma, Bổn tôn, Dakini).
Bổn tôn tượng trưng cho sự giác ngộ trong hình tướng nam
hay nữ, hòa bình hay phẫn nộ, tương ứng với bản tánh của
ta. Bổn Tôn là cội gốc của những thành tựu.
2.
Chuông và chày: Những pháp khí được sử dụng trong Kim Cương
thừa. Chuông là biểu tượng của trí tuệ và tánh Không,
chày tượng trưng cho lòng bi mẫn, phương tiện thiện xảo,
giác tánh.
3.
Damaru: Trống nhỏ có hai mặt làm bằng hai đỉnh sọ người.
4.
Sadhana: “Các phương tiện để thành tựu,” nghi thức và
thủ tục Kim Cương thừa để thực hành.
5.
Dakini: Nghĩa đen là người du hành trong Pháp giới. Nguyên lý
nữ được kết hợp với trí tuệ. Có những dakini thông thường
với một mức độ năng lực tâm linh nào đó và cũng có những
dakini hoàn toàn chứng ngộ.
6.
Bốn tư tưởng chuyển hóa tâm: a/ đời người quý báu và
khó tìm gặp lại, b/ sự vô thường và cái chết là điều
tất định, c/ nhân quả của thiện nghiệp và ác nghiệp là
điều chính xác, c/ thực chất của ba cõi luân hồi là biển
khổ đau.