THƯ VIỆN HOA SEN
Search English   Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
.
THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI 
Chân Hiền Tâm 
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2006
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Đó là những từ đầu tiên giúp tôi biết Phật là gì. Khi nào có chuyện chi, con hãy niệm Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát nhớ chưa. Mẹ chỉ dặn như thế. Chỉ vọn vẹn như thế mà thôi. Có lẽ bà biết vòng tay của mình không bao nổi cuộc đời con gái nên đã dạy nó một câu mà theo bà, đủ để nó làm hành trang cho cả cuộc đời.

Tôi đã tin lời mẹ rất mực. Sợ trả bài cũng Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Bệnh cũng Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Thất tình cũng Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát. Một dòng đơn giản đó là chiếc thuyền đưa tôi qua nạn trả bài, quên nỗi đau của bệnh hoạn và ngủ yên trong những dòng nước mắt.

Những ngày lênh đênh trên sóng nước, tiếng niệm Phật càng đều đặn. Tàu nổ bình nhớt lui về Rạch Sỏi. Từ mũi tàu nhảy xuống, cái thai óc ách. Anh lội ngược dòng ba ngày về tới Sài Gòn. Tôi một mình vào trại giam, huyết bắt đầu nhễ nhãi. Các chú chở vào trạm xá Rạch Sỏi giao đó.

Bà trưởng trạm là người hiền lành, không hề nhìn tôi với ánh mắt tội nhân, chỉ thương tâm sao đi thì có đôi có đũa mà về chỉ có một mình. Tôi ừ è không giải thích. Không nói rằng anh phải về cho kịp để khỏi mất số tiền cuối cùng cho tên chủ tàu. Cái vốn lúc ấy quí hơn mạng tôi rất nhiều. Có đôi có đũa thì làm gì được cho tôi lúc này? Cũng chỉ một mình mà tiền bạc thì mất sạch.

Những người đàn bà thật lớn tuổi. Vậy mà họ vẫn sinh con. Sinh rất nhiều, kham khổ càng nhiều, nhưng tấm lòng thật cao cả. Họ hỏi tôi về chuyến vượt biên, về cái thai bị ra huyết và cho tôi ăn cùng. Thay phiên nhau cho hao phí được giảm nhẹ. Cơm trắng thịt kho nuốt vô ngọt lịm. Ngọt thịt mà ngọt cả tình người. Tôi bán sợi giây chuyền cho người khá nhất, phân lại một ít cho người khổ nhất, còn lại chuẩn bị cho một cuộc hành trình. 

Tôi trốn viện trong thân thể tiều tụy, áo quần rách bươi với một câu Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát. Cứ vậy mà đi, lững thững không sợ hãi. Vượt mức độ nào đó, con người không còn thấy sợ hãi nữa. Một trạng thái bão hòa. Cũng không thể bước nhanh hơn với cái thai đang óc ách không biết sổ lúc nào.

Đến bến xe Rạch Giá 10 giờ. Mọi tuyến xe đều hết. Chỉ còn một chuyến về Cần Thơ mà vé cũng không còn. Đu xe chui tôi không làm nổi. Đường Rạch Giá bấy giờ rất xấu. Có lên được chắc cũng chết dọc đường. Tôi chỉ biết niệm Phật với tâm trạng dửng dưng. Chết hay sống bây giờ không tồn tại. Có thể người ta sẽ đến đây mang tôi trở lại trạm xá. Có thể tôi sẽ chết ở đây, ngay tại chỗ này. Mọi thứ mơ hồ, dửng dưng và trống hoát. 

Rồi cũng về được Cần Thơ với tấm vé mua lại của một người đàn bà. Một người đàn bà nghèo khổ với hai đứa trẻ dơ dáy. Tôi thiếp đi trong nỗi mệt mỏi rã rời, không kịp suy nghĩ vì sao lại có người đàn bà đứng đó mua vé chờ mình, về đúng tuyến Cần Thơ, mà chỉ bán cho mình với giá chính thức trong thời buổi đắt đỏ cheo leo. Không kịp nghĩ cũng không kịp thấy. Tỉnh lại, bà đã xuống xe tự bao giờ. Cũng không một lời từ biệt cám ơn như với bà trưởng trạm.

Dì đón tôi với những dòng nước mắt và một cái ôm choàng. Huyết đã hết ra. Cái thai còn đó nhưng tím ngắt. Cô y tá năn nỉ tôi bỏ. Sốc thuốc, tôi ói liên tục, ói ra mật xanh mật vàng, ói đến mờ con mắt. Ói luôn tiếng niệm Phật không thể nào hốt lại được. Nhưng cái thai thì không bỏ. Dì khóc. Tôi thều thào “Đây có chùa nào không hả dì?”. Như chợt nhận ra, dì nói “Có, có. Dì đem con xuống thầy ni uống thuốc”. Thầy thanh khiết nhỏ nhẹ như con gái. Uống thang đầu, tôi hết ói. Uống mười thang tôi nuôi con gái đến bây giờ.

Tôi đã niệm Phật mười mấy năm, vượt qua bao khổ ách, nhưng lại không thể niệm Phật khi bán hàng. Không thể nào niệm được. Giây thần kinh mắc cỡ vẫn còn loanh quanh đâu đó. Niệm Phật vào quên lãng, dành thời gian cho gấu ó, tranh dành, bực bội với lo âu.
Mẹ bệnh nặng. Tiếng niệm Phật không còn hiệu quả. Tôi đã quên ngài và ngài đã bỏ tôi? Hay đằng sau những tiếng niệm Phật, vẫn còn một thứ gì khác? 

Mẹ mất ...
 

Nghề là nghiệp 

Không ai còn thấy gì khi đang cắm đầu trong guồng máy danh lợi. Nghiệp là nghề. Sư Hưng đã nói như thế với tôi. NGHỀ thì tôi hiểu nhưng NGHIỆP thì không. Không hiểu nghiệp là gì nên tôi nhớ rất rõ 3 từ đó mà không thấy được hết những gì Sư muốn nói.

Không ai hiểu hết những gì mình đang làm. Cái đáng tội nhất của con người là ở đó.

Nghề là thứ mang lại miếng cơm manh áo cho mình. Ngày này sang ngày khác mình cứ thế mà cắm đầu cắm cổ chạy vạy miếng ăn cho bản thân và gia đình. Tiền bạc là thứ quí giá, bởi nó giải quyết được mọi thứ ở cuộc đời. Có tiền sẽ có tất cả. Người ta nghĩ như thế. Chỉ khi cái chết xuất hiện nó mới hết giá trị. Vì thế ai cũng muốn có một nghề, một nghề hái ra tiền thật nhiều, bất kể những gì phát sinh từ nó.

Không ai thấy được rằng cái nghề ấy đang được in hình rất sâu trong tâm thức của mỗi người. Nó đang giúp mình hình thành một thói quen. Người ta chỉ thực sự bỏ nghề khi tuổi đã xế chiều hoặc không còn cử động chân tay được nữa. Bỏ trong điều kiện bắt buộc (không phải tự ý thức) nên tuy không còn hiện diện, nó vẫn âm ỉ đâu đó trong tiềm thức, rồi vận hành tiếp tục vào những kiếp sau. 

Nghề chính là nghiệp. Nghiệp chính là thói quen. Nghề tạo cho ta những thói quen. Một nghề lương thiện tạo cho ta những thói quen lương thiện. Một nghề bất thiện tạo cho ta những thói quen bất thiện. Song cũng có những nghề lương thiện mà lại nẩy sinh những thói quen bất thiện. Cái râu ria ấy phát sinh là do tham dục của con người. Cho nên, một việc làm để nuôi thân không có gì đáng sợ. Cái đáng sợ chính là những thứ râu ria quanh nó. 

Cái râu ria ấy một khi đã thành thói quen thì nó có lực dẫn mình theo nó một cách mù quáng không thể nào cưỡng được. Mỗi thói quen đều có lực của riêng nó. Mình chỉ nhận ra được cái lực ấy khi mình muốn dứt bỏ hoặc ngăn chặn nghiệp lại. Sau mấy chục năm lăn lộn khổ não ở đời, tôi mới hiểu hết những gìø Sư Hưng đã nói ...

Những ngày chồng ở tù, tôi tập quen với quầy thuốc lá và chiếc xe bánh trước nhà. Người phụ nữ làm nghề mưa mốc qua đường. Chị mộc mạc dễ thương nhưng cuộc đời thật tội nghiệp. Như trả ơn cho cái mộc mạc dễ thương đó, một người đàn ông đã đến, bỏ qua những chuyện mưa mốc, giúp chị có mái nhà ấm êm vui vẻ. Bẵng đi một thời gian, tôi lại thấy chị xuất hiện với cái nghề mưa mốc ngày nào. Chị nói chị buồn, không quen nhà êm cửa ấm. Cuộc đời lang bạt quen rồi. Chị bỏ chồng trở lại đường xưa. Chị muốn được tự do. Tôi ngao ngán cho cái muốn tự do của chị. Mưa mốc đã trở thành nghiệp dĩ và người ta bị cuốn lăn trong cái nghiệp dĩ ấy của mình. Không cần biết hậu quả thế nào và ngày mai sẽ ra sao. 

Buôn bán không phải là nghề của tôi. Bởi tôi không thích nó chút nào. Tôi gánh nó chỉ vì chồng ở tù và chỉ có chị mới giúp tôi có đồng ra đồng vào trong hoàn cảnh khó khăn. Tôi theo chị bắt đầu nghiệp buôn bán. Tôi buôn bán nhưng hồn để tận đâu đâu. Bà chủ sạp đuổi mấy lần, bởi “khuôn mặt hãm tài không thể nào chịu nổi”. Buôn bán không xấu nhưng những cái râu ria như thế mà nó thành xấu. Tôi càng ghét cái nghề mua bán kinh khủng. Ghét những con người đầu môi chót lưỡi tráo trở điêu ngoa. Nhưng có đồng ra đồng vào tôi cũng thấy vui vui, rồi quen dần trong vòng xoáy đó. Cũng phải tập quen như dùng cơm bữa hằng ngày. Thiếu nó, bụng mình sẽ trống rỗng. 

Những ngày chồng về là những ngày tôi thoát khỏi kiếp lang thang và trở thành bà chủ hẳn hoài. Bà chủ thì không phải là kẻ lang thang. Vì bà chủ có quyền lực và tiền bạc. Trong dòng xoáy mua bán, không có nhân quả và thất bại mình không có thời giờ nhìn lại con người mình. Không biết khi nào mình mới tỉnh để nhảy khỏi cái vòng xoáy kinh hoàng đó. Mở mắt ra là đếm tiền. Không có thì giờ để hưởng thụ. Ăn không được, ngủ không yên, luôn sống trong sợ hãi nhọc nhằn, nhưng cả chồng và tôi, không ai có ý buông bỏ dù chỉ một phút. Cứ cắm đầu cắm cổ như con thiêu thân a vào bóng đèn dù tiền bạc không biết để làm gì. Không phải vì thiếu ăn mà vì không thể dừng được. Thứ lực ấy cứ dí mình vào với tiền bạc và danh vọng. Chèn ép. Tàn nhẫn. Quên mất nụ cười thỏa mãn của mình là nước mắt đau khổ của người khác. Quên mất sự chèn ép của mình là nỗi uất ức của bao người. Không ai cho mình có thời gian để suy nghĩ mình cần nhiều tiền như thế để làm gì, mình còn đủ thời gian để tranh giành không, hay nửa đường lại chết thảm như bố? Mình không có thời gian để suy nghĩ, cứ cắm đầu cắm cổ làm theo một thói quen. Một lực nào đó đang cuốn chặt lấy mình và đẩy mình bương tới trước, bất kể tất cả, chỉ có tiền ... 

Chỉ khi sự trả vay của nhân quả đủ duyên, cá lớn nuốt mình như mình từng nuốt cá bé, mình mới kịp nhận ra nỗi uất ức mà người ta phải chịu dưới tay mình. Chỉ đến khi tiền mình không cánh mà bay, mình mới thấy mọi thứ ở thế gian là vô thường. Mình mới biết nghĩ đến cái chết của bố và soi rọi những hiện tượng đang diễn ra chung quanh. Không ai thoát được nhân quả. Nhân quả trả vay không hề sai lọt. Thật rùng mình! Tiền không phải là thứ mà mình có thể ôm giữ suốt đời. Nó đến mau thì có thể ra đi cũng rất mau. Nhưng những gì mình đã tạo thì vẫn còn đó. Không đè lên đầu mình thì sẽ là con mình, người thân của mình, làm sao đó để mình trả thông cái quả đau đớn kia. Một cái nhân đã gieo, đủ duyên cái quả sẽ tròn đầy, không chóng thì chầy. Nỗi vui thì qua mau nhưng nỗi buồn thì nặng trĩu. Mình cảm được nỗi vui nhưng quên mất nỗi buồn. 

Mua bán thương trường không phải là nghề tôi thích, nó không phải là loại nghiệp tôi phải nối tiếp từ kiếp trước. Nhưng giẫm chân vào đó rồi, mình cũng bị nó dẫn chạy như một con thiêu thân. Nghiệp lực thật kinh hoàng. Thất bại và đau khổ là động lực đưa mình đến vinh quang và thành công, cũng là thứ giúp mình thành cương quyết và tàn nhẫn. Chính nó, cũng là thứ giúp mình dừng đi những ác nghiệp trong thương trường. Phải biết cảm ơn thất bại và đau khổ. Không có nó, không ai có thời gian để suy nghĩ về những gì mình đã làm, không làm sao dừng được phần lực nghiệp mình đã tạo. 

Thương trường không xấu nhưng kết hợp với lòng tham của con người mà mọi thứ thành xấu. Một cái nhân bất thiện đủ duyên sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Cái quả bất hạnh đó chính là cái nhân trói mình vào những nỗi bất hạnh kế sau. Những người đánh cá sẽ làm gì khi sinh ra trên bãi biển mênh mông nghèo khó mà chung quanh chỉ toàn là người đánh cá? Sẽ lớn lên với một nghề đánh cá. Để rồi quay cuồng trong sóng dữ và những cơn thịnh nộ của đất trời. Cứ vậy mà in hằng vào những kiếp sau.

Không thử một lần ngẩng đầu nhìn lại. Sẽ theo dòng, mãi miết tận đâu đâu. 
 

Tỉnh ...

Không biết ai đã nói với tôi về việc bố thí cúng dường. Hình như dì Hoa, cũng có thể là chị Tý. Không nhớ được. Chỉ biết những ngày hàng ế tôi mới có thì giờ nói chuyện với người này người kia và làm quen với việc bố thí cúng dường, hy vọng thay đổi được chút gì đó trong giai đoạn ế ẩm. 

Tôi không có thì giờ để đi, nhưng tôi có niềm tin và những người đáng tin để gởi tiền đưa cúng. Ngày ấy, dì hay đi cúng dường cho miệt Long Thành Bà Rịa. Dì vào các chiếu của Hòa thượng, dì đội gạo lên tận núi Thị Vải, dì đến bệnh viện ung bướu. Mọi ngóc ngách đều có mặt dì. Có niềm tin nên dì nói gì tôi làm nấy. Song niềm tin ấy không nằm ở con người dì, chỉ một phần, mà cái chính là việc đưa ra của tôi luôn có cái quả để tôi gặt lại. Gặt hơn số mình đưa rất nhiều.

Tôi hoàn toàn yên tâm. Niệm Phật từng giúp tôi thoát khổ nhưng tôi không thể niệm Phật khi làm ăn. Giây thần kinh mắc cỡ vẫn còn. Song bây giờ tôi đã có chỗ tựa. Ngày nào tôi còn bố thí cúng dường, ngày đó tôi còn sang, không đói. Niềm tin càng được củng cố sau bao thăng trầm của cuộc đời. Cho đến lúc tôi đọc được cuốn kinh Thập Thiện giảng giải của Hòa thượng Trúc Lâm thì niềm tin ở cực điểm và về đúng vị trí của nó. Không còn là những gì ngoài da mà là máu huyết và hơi thở của chính mình. Khi đang sung túc người ta thường bố thí rộng rãi, nhưng khi khó khăn người ta thường rụt tay. Càng khó khăn tôi càng gắng bố thí. Đương nhiên việc bố thí ấy không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt gia đình. Tôi đã giải quyết nghiệp lực của mình theo kiểu như thế. 

Mẹ mất, mọi thứ thay đổi ít nhiều. Chị bị bắt. Công việc của tôi đình trệ. Những ngày rảnh rỗi, tôi mới có dịp lang thang đây đó để nghiệm ra lý thật của cuộc đời. Một lần lên tận núi Châu Đốc cúng bà. Về, vốn chưa lấy lại đồng nào, mất trắng hết một mớ. Tôi từ luôn bà Chúa Xứ. Song cũng nhờ chuyến đi ấy mà tôi rút ra được một điều rất lý thú về những gì Phật Tổ đã nói.

Người ta tin bà Chúa Xứ rất mực. Những người dáng dấp trông rất thời đại cũng tin bà Chúa Xứ. Họ lên xin lộc làm ăn hoặc lên vay tiền trả chậm. Trong đền có cả bảng vàng đền ơn của những người giàu có và nổi danh thời bấy giờ. Nổi danh vì vướng vào tội lường gạt và đang ở tù. Không người buôn bán nào mà không tin bà Chúa Xứ. Có thể chỉ mình tôi là không tin. Người ta nói tại tôi không tin thành bà phạt. Ngày tôi đội quả lên đó cúng, tôi đến với cả lòng thành. Không tin, ai bỏ mấy ngày đường nhọc nhằn đi cho cực. Chỉ vì cúng xong, mất toi quá nhiều thành mới không tin. Đâu có chuyện lý luận ngược như thế để giữ uy tín cho bà. Nói chính xác là giữ uy cho chàng vọng tưởng nhà mình. 

Nhưng vì sao người ta tin? Phải có nguyên do. Coi vậy chứ thiên hạ lầm thì có lầm nhưng ngu thì không ai ngu. 

Lầm nói đây là lầm nhân này với quả kia. Như gà mẹ ấp một rổ trứng, trong đó cho vào một hột vịt. Ấp ra, một chú vịt con đi lững thững trong đàn gà. Người có trí, biết gà mẹ chỉ có công ấp chứ không có khả năng đẻ ra vịt. Người không biết thì cho gà mẹ có tài sinh ra vịt. Lầm là lầm như thế. Không phải không có mà mình vẫn tin. Không có mà mình vẫn tin mới nói mình ngu. Đằng này thấy có kết quả nên mình mới tin. Có điều mình không thấy được xuất xứ của cái hột vịt đó là từ ngoài bỏ vào. Lầm là lầm chỗ đó. Nên nói lầm thì có lầm, mà ngu thì không ngu.

Vì có hiện tượng gà mái ấp ra vịt, nên mình mới tin gà có khả năng đẻ ra vịt. Mình tin vì mình đi cúng đi vay về mình làm ăn được, tiền vô thoải mái. Chỉ có điều mình không hiểu việc tiền vô thoải mái đó không phải do bà Chúa Xứ ban cho, mà chính là từ sự bố thí cúng dường của mình. Mình không hiểu được như thế, cứ tưởng bà Chúa Xứ cũng như đức Phật có khả năng ban phát tiền bạc hạnh phúc cho mình. Không phải. Phú quí đều từ cái nhân bố thí mà ra. Cúng cho bà một mâm trái cây cũng là một hình thức bố thí. Cho ông địa một điều thuốc lá cũng là bố thí. Đó là bố thí cho những kẻ khuất mặt. Nhưng không phải chỉ có bố thí cho bà hay cho ông địa mà mình được nhiều lộc như thế. Còn rất nhiều duyên bố thí khác trong đời, giờ đủ duyên thì sinh quả. Đó có thể là cái quả từ một sự hiếu thuận với cha mẹ, một nắm cơm cho người nghèo khổ, một chiếc áo cũ cho người qua đường, một nắm xôi cho tăng khất thực. 
Chỉ là một hành động nhất thời nhỏ nhoi nhưng cái quả có khi ăn một đời không hết. Vì sao? Vì mình làm trong sự thương cảm thật lòng, không hề nghĩ đến quả báo hay cầu mong. Nó lớn vì không có sự ngả giá hơn thua trong đó. Bà Chúa Xứ hay đức Phật cô đơn chẳng qua cũng như nàng gà mái ấp trứng kia. Thấy thì như có khả năng đẻ ra vịt nhưng thực là không phải. Hiện tượng thấy như thế nhưng không phải là như thế. 

Chính vì thế, những tay tỷ phú của Châu âu, không tay nào biết đến bà Chúa Xứ, chỉ biết tập trung bố thí thật nhiều. Nhờ vậy chúng giàu bạc tỷ. Mình thì lạy bà sói đầu nhưng nợ thì không bao giờ trả hết. Vì lạy thì nhiều nhưng cho thì chẳng cho ai. Nợ không trả mà chỉ tính chuyện mượn cho được, còn trả hay không để đó tính sau. Cái thói ấy, không thể khá được. Vì thế khó khăn này nối tiếp khó khăn kia. 9 cái nắp mà tới 10 cái lu, xoay tới xoay lui, tiền chợ tiền cơm, 10 cái lu còn 8 cái nắp. Cứ vậy mà cạn lần. Ngồi chơ vơ với 10 cái lu không cái nào có nắp. Chẳng qua vì không biết gì về nhân quả. Không biết bố thí là nhân, giàu sang là quả. Lấy của người là nhân, nghèo khó là quả. Không biết, nên gieo cái nhân không đúng chỗ, lộn nhân lộn duyên mà thành khổ nạn với lo âu.

Cái quả phú quí đã tới thì mình làm gì cũng trúng thời, trúng vụ. Thứ mà thiên hạ sập tiệm chính là thứ khiến mình phát tài phát lộc. Mình nói xuôi nói ngược gì thiên hạ cũng ừ. Mình chèn ép bao nhiêu, thiên hạ cũng chịu. Mình có làm hàng giả hàng xấu, thiên hạ cũng bu vào mua. Bởi bán cho mình đem tiền về hắn mua được hàng. Mua hàng mình đem về, hắn bán được nhanh cho thiên hạ. Bởi cớ sự đó mà nhiều khi thiên hạ làm hàng tốt bán không được, hắn chui đầu chờ mua của mình. Thiên hạ mua cao một chút hắn cũng chê, chờ bán hàng cho mình. Cái thời tranh sáng tranh tối lúc ấy là như thế. 

Cái quả phú quí tới, nên lương lẹo bao nhiêu mình cũng cứ thành công. Chính nhờ cái PHƯỚC phú quí đó, lương lẹo mới thành công. Không có cái phước ấy, lương lẹo sẽ lòi mặt địa, sẽ khiến mình ở tù. Song cái NHÂN của sự phú quí là từ việc bố thí hay cúng dường, không phải do sự lương lẹo mà có. Lương lẹo sẽ có cái quả của lương lẹo. Không chóng thì chầy, đủ duyên cái quả ấy sẽ hiện. Nhân quả chi li rất rõ ràng. Nhân bố thí hay cúng dường cho ra cái quả giàu sang. Nhân lương lẹo sẽ cho ra cái quả bất hạnh. Thành đừng thắc mắc vì sao chúng lương lẹo như thế mà phú quí quanh năm. Phú quí có cái nhân của phú quí. Lương lẹo có cái quả của lương lẹo. Chẳng chạy đâu cho thoát. Thành phước tới mà không khéo, dễ gây tội lỗi vô vàn. Họa tới mà khéo một chút có khi lại thành phước. 

Cái phước dễ sinh cái mầm họa hoạn như thế, lại cảm nhận sự trả vay nhân quả từ những người chung quanh và ngay chính bản thân mình, tôi cụt hứng với việc làm giàu, mất luôn phương hướng cho cuộc đời mình. Được cái này không chừng lại giẫm vào cái kia. Trả cái kia có khi còn đau khổ hơn được cái này. Trời trong xanh, mây nhè nhẹ mà không tránh được một tiếng thở dài rứt ruột. Đúng là “Khi ta thấy rõ vạn pháp trong thế giới này đều hạn cuộc và tương đối thì ta sẽ hài lòng trong mái nhà tranh đơn sơ nhất”. 

Phật tánh 

Hình như từ trước đến giờ, những gì tôi đã muốn thì trước sau gì tôi cũng làm được. Có điều, đa phần thứ gì cũng không, nên chuyện gì cũng thành dở dở ương ương. Học đàn cũng lỡ, học chữ cũng không đâu, giờ đến mua bán kiếm tiền cũng bắt đầu cụt hứng. Đã cụt hứng thì thời cơ cũng xoay chiều cho theo cái dạ của mình. 

Anh đóng cửa bỏ buôn bỏ bán, bỏ luôn việc mà một người đàn ông phải làm cho xứng hạng mày râu. Bởi lượm được cuốn kinh Lăng Nghiêm. Bởi đọc phải 7 chỗ tìm tâm ngài Anan đã nói. Mọi thứ đều thay đổi. Sư tổ không chay nổi một ngày, bỗng dưng âm thầm chay tịnh một mình. Viện cớ thịt thà làm thân thể khó chịu. Viện cớ chay tịnh để giải bớt chất độc trong người. Lác đác đâu đó một vài cuốn kinh, dăm ba cuốn luận được tha về từ hàng sách cũ. Ngày ấy kinh luận rất hiếm, không được in thả dàn rộng rãi như bây giờ. Chỉ lang thang nơi hàng sách cũ mới có. Cứ vậy mà nghiền ngẫm từ ngày này qua ngày khác, từ giờ này qua giờ nọ ... 

Tôi một mình quan sát thế gian với những đổi thay lạ lùng, từ chuyện ngoài đường vô đến chuyện trong nhà. Có cái gì đó đang thay đổi. Thay đổi rất từ từ nhưng rõ ràng đang thay đổi. Mẹ mất, chị ở tù, anh ăn chay, tôi chán nghề. Rồi những đứa trẻ cũng thay đổi. Chúng lớn lên từng ngày như mình già đi từng giờ. Mọi thứ đang dần dần thay đổi. Cứ thong thả, từ từ mà thay đổi ...

Tôi chán nghề nhưng không chán chồng. Vẫn cần một cái gì đó để sống và ăn, để nương và dựa. Không mua bán, không có nghĩa là đóng luôn cửa phòng ăn ngủ với mớ sách kia. Tôi điên tiết xé luôn hai tập luận của Hòa thượng Thanh Từ. Nhưng mọi chuyện vẫn ì ra đó. Cuốn này bị xé, cuốn khác được mang về. Tôi mất chồng. Cái khổ vì thế sự chưa xong, giờ chồng thêm cái khổ vì chồng. Cứ ru rú như con gà mắc phong không ai chịu nổi.

Mọi chuyện đúng là đang thay đổi ...

Mớ sách đó nói về Phật tánh. Phật tánh là nói về cái tánh Phật sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Tất cả đều có cái tánh đó. Anh có tánh đó. Tôi có tánh đó. Đám trẻ nhà tôi cũng có tánh đó. Ngay cả con ki ki và lũ chuột dơ dáy kia cũng có tánh đó. Anh bạn công giáo của tôi cũng có tánh đó. Thế giới này đều có tánh đó. Tất cả đều có nhưng không ai biết, không ai thấy. Ai lo cho miếng cơm manh áo và những tính toán của mình mà thấy với biết? 

Những đứa trẻ của tôi, chúng đang lớn và đang thay đổi. Thân thể chúng bự ra, đứa đẹp lên, đứa xấu đi, mọi thứ không còn như cũ. Chúng sẽ vào đời, có thể là ông này, bà nọ, có thể là ngoan hiền, cũng có thể là hằn học. Mọi thứ đều thay đổi nhưng tánh Phật đó thì không. Nó không có hình tướng nên không chịu sự biến hoại của thế gian. Dù điều kiện chung quanh có thay đổi, nó vẫn cứ như thế. Không thay đổi nhưng âm thầm làm nền tảng cho mọi thứ thay đổi. Thật lạ lùng! 

Từ trước đến giờ chưa ai nói với tôi điều đó. Chưa ai nói với tôi về 2 chữ Phật tánh, cũng chưa ai nói với tôi về 2 từ đốn ngộ. Tôi chỉ biết niệm Phật để thoát khổ, bố thí để có tiền nhưng chưa bao giờ biết mình có khả năng làm Phật, lại có thể làm Phật ngay trong đời này. Nếu tôi sống được trở lại với tánh Phật đó thì dù trong hoàn cảnh nào tôi cũng không khổ nữa. Tôi không phải lao đao khi anh đóng cửa ngồi thiền. Tôi sẽ sống giữa thế gian mà không phải lo âu sợ hãi. Vấn đề bây giờ là làm sao sống lại được với tánh Phật đó của mình. 

Nếu muốn tu hành, tại gia cũng tu được, không cần ở chùa. Ta vì đại chúng làm một bài tụng Vô tướng, chỉ y đây mà tu thì thường cùng ta đồng ở không khác. 

Tâm bình không nhọc giữ giới
Hạnh thẳng không cần tu thiền
Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ
Nghĩa thì trên dưới thương nhau
Nhường thì trên dưới hòa mục
Nhẫn thì các ác không ồn
Nếu hay dùi cây ra lửa
Trong bùn quyết mọc sen hồng
Đắng miệng tức là thuốc hay
Nghịch tai là lời ngay thẳng
Sửa lỗi ắt sanh trí tuệ
Giữ quấy trong tâm không hiền
Mỗi ngày thường làm lợi ích
Thành đạo không do thí tiền
Bồ đề chỉ hướng tâm tìm
Đâu nhọc hướng ngoại cầu huyền
Nghe nói y đây tu hành 
Cực lạc hiện ngay trước mắt

Đó là những gì tôi có thể hiểu được trong mớ sách cũ anh mang về. Ngoài chữ vô tướng ra, mọi thứ còn lại của bài tụng không có gì khó hiểu, cũng không phải khó làm, nhưng quả tình rất mới mẻ với tôi. Tôi không ngờ những việc như phụng dưỡng cha mẹ, thương anh chị em, trên dưới hòa mục, nhường nhịn lẫn nhau chính là tu. Tôi cứ ngỡ những thứ đó là chuyện thường tình, người ta bày ra chỉ để giải hòa thiên hạ cho xã hội bớt phiền toái. Không ngờ đó chính là tu. Tu là những chuyện rất tầm thường trong cuộc sống, nhưng vì xem thường nên mình chẳng làm thứ gì ra thứ gì. Nghe việc gì trái ý, liền phùng mang trợn mắt. Thứ gì không ưa liền la hét om sòm. Hiếu hạnh mình nhường hết cho người. Thương yêu mình dành trọn cho mình. Đời vì vậy mà khổ. Không ngờ đạo chẳng lìa đời. Đạo có mặt cũng chỉ là để phục vụ cho sự ấm êm của đời. 

Cái khoái tỉ nhất là ở đâu mình cũng có thể tu được, ở đâu mình cũng có thể tìm lại tánh Phật của mình, không nhất thiết phải ở trong chùa hay cạo đầu lên tận núi cao. Bởi tánh Phật không nằm ở trong chùa cũng không nằm ở mái đầu mà chính ở nơi tâm. Bồ đề chỉ hướng tâm tìm. Tài chi ngày xưa mẹ nói Phật tại tâm. Té ra không có tham - sân - si thì tâm ấy chính là Phật. Mọi thứ là gần gũi và không khó làm. Đó là điều tôi có thể làm được mà không phải bỏ chồng bỏ con, cạo đầu vô chùa khi chúng còn quá nhỏû. Cũng không phải do dự vì phải thay đổi một lần tất cả mọi thói quen. Tôi không muốn mình ra đi rồi lại trở về như một kẻ bại trận.

Tâm bình hạnh thẳng thì không cần giữ giới cũng không cần tu thiền. Nhưng vì hạnh mình không thẳng, tâm mình chưa bình nên tôi phải ngồi thiền theo những gì Thiền Đốn Ngộ đã dạy. Không có gì cản trở được khi tôi đã muốn. Một tiếng trong tư thế kiết già không phải là điều khó làm. Dù lần đầu, người tê hết một nửa.

Điều mong ước nhất bấy giờ là làm sao gặp được Hòa thượng, chủ nhân của mớ sách kia, người đã gieo trong tôi một mầm sống, kết lại những ngày tháng ngất ngưởng buồn lo.

Mọi chuyện đúng là đang thay đổi, đang thay đổi trong một cái không thay đổi ...


 Đời và đạo phải cân bằng 

Ngày đầu tiên gặp Hòa thượng, không hiểu sao chỉ có anh vào được. Nói không hiểu vì thực tình quá khứ bây giờ trong tôi rất mờ nhạt. Nó hiện lên điều gì tôi nói với các bạn điều đó. Mọi thứ giờ chỉ còn là những điểm vọng tưởng không có thứ lớp trước sau. Ngày hôm qua, ngày hôm kia hay những ngày trước nữa ... không tồn tại. Không có một mốc thời gian cho những việc đã xảy ra. Chỉ là những điểm vọng tưởng hiện hình bình đẳng trong tâm. Đủ để yên lòng mình không phải vì mất trí nhớ mà quên. Đủ để hiểu những gì Tổ Thầy đã nói.

Hòa thượng cho anh cuốn Kim Cang và một lời dạy “Đạo và đời phải cân bằng”. Đạo và đời. Kinh sách và tôi. Tọa thiền và kiếm cơm. Đạo và đời, hai bờ mé ấy phải có sự cân bằng. Tôi đã lý luận như thế với anh. Ông không thể dành hết thời gian cho kinh sách còn tôi thì để mặc một mình với lũ trẻ nhóc nhoi. Ông không thể cứ ngồi thiền suốt ngày còn cơm gạo vợ con thì bỏ mặc. Nghe chưa, ông đã nghe Hòa thượng nói chưa, không thể. Tôi đã nhai nhẵn với anh suốt đoạn đường về, mà trong bụng khoái tỉ vô ngần. Hòa thượng muôn năm! Gieo cho tôi một mầm sống lại còn ban cho một lu nước để mầm sống được nuôi lớn. Không khoái tỉ sao được.

Khoái như thế nhưng chúc đầu vào đó rồi, tôi không có thì giờ để nghĩ đến sự cân bằng. Thật là vướng chân nếu được cân bằng như thế. Đại thừa đốn giáo hay hết chỗ nói. Đúng là bất khả tư nghì! Đụng đến nó cứ y như đụng đến ... thần chú. Tiếng Việt rõ ràng như thế, giảng giải rõ ràng như thế, nhưng chúng không khác gì câu “Úm lam xóa ha. Úm lam xóa ha”. Đọc rất dễ nhưng hiểu thì không hiểu. Thứ gì dính đến thiền, với tôi đều tối thui. Tối nhưng tôi vẫn cứ thích. Tôi không thể đọc được toàn bộ những gì Hòa thượng đã viết. Không đủ trí tuệ để đọc hết một tập luận hay một trang kinh. Không đủ kiên nhẫn để lần theo từng chữ từng chữ khó hiểu. Chỉ lác đác chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Tôi thích cái tâm ma-ha của Pháp Bảo Đàn. Thích bài kệ 4 câu của Lục Tổ. Thích câu “Hành phi đạo là thông đạt Phật đạo” của ngài Duy Ma. Thích Báo oán hạnh trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất. Thích phần Ngũ ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm. Thích tọa thiền trong Thiền Đốn Ngộ. Thích luôn những gì Hòa thượng đã phê phán. Thẳng thắn không nương tay, dù đó là trong chiếu hay ngoài chiếu. Những cái thích nho nhỏ đó là động lực đẩy tôi phải ngồi thiền. Mọi thứ sẽ được giải quyết nếu mình sáng tâm. Tôi tin như thế.

ĐẠO VÀ ĐỜI PHẢI CÂN BẰNG té ra không chỉ đơn giản như tôi nghĩ. Nó không chỉ mang ý nghĩa đạo đời như tôi đã từng biện luận để lôi phần thắng về mình. Đạo và đời phải cân bằng vì đạo không hề lìa đời. Đạo chỉ hiển khi có đời. Không có đời, đạo không thể hiển.

Không cần nói đến tu, mình cũng biết thương yêu cha mẹ, quí mến anh chị em. Cũng biết nhường nhịn xả thân cho những gì mình yêu thích. Cũng biết nhẫn nhịn để vượt mọi khó khăn. Tu, Tổ cũng dạy mình như thế. Nhưng tu rồi, mình mới hiểu hiếu, tình, ân, nghĩa của người đời tuy giống với người biết đạo nhưng thực là không giống. Người có đạo tuy đời không bỏ, nhưng cái đời ấy phải có đạo dẫn đường. Đạo và đời phải cân bằng là như thế. 

Tình có đạo không mang tính luyến ái vị kỷ. Không phải chỉ làm sao phụng dưỡng và làm thỏa mãn người thân của mình mà bất chấp thiên hạ chung quanh thế nào. Cổ thi Nhật Bản nói “Khi một tham vọng được thỏa mãn thì sinh cái thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm … Ồ! Rồi đến sáu cõi khổ nạn”. Những sung sướng thỏa mãn ở đời không mang tính lâu dài bền chắc, nhưng có khi nó chính là cái nhân đưa đến khổ đau. Những thứ không nên thỏa mãn mà thỏa mãn thì cái quả trả vay không sao kể xiết. Thiền sư Động Sơn Lương Giới trước khi xuất gia đã viết cho mẹ lá thư “Tuy ơn bú mớm nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng thật khó bù đắp, dùng máu thịt dâng hiến cũng không bền chắc. Hiếu Kinh nói, dù một ngày giết năm ba con vật để dâng hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu, vì sẽ đưa nhau vào cõi trầm luân, muôn kiếp luân hồi. Muốn đền ơn cha mẹ không đâu bằng công đức xuất gia”. Hiếu nghĩa của người biết đạo là như thế. Chưa đủ công đức xuất gia, thì cũng không vì thiếu trí tuệ mà đẩy người thân mình vào khổ cảnh ở tương lai. 

Mình tu Phật, việc cân bằng đạo và đời này càng quan trọng. Tu thiền mà xông pha hướng ngoại nhiều, tiếng thì nhiều chứ miếng thì không bao nhiêu. Vì thói quen đời của mình rất mạnh. Chưa đủ năng lực xông pha mà cứ xông pha thì không thể nào chế được cái động của tâm. Tôi trách anh bỏ mặc mọi thứ. Nhưng khi đút đầu vào đó rồi mới hiểu không bỏ mặc không tu được. Có những lúc phải bỏ mặc tất cả để ổn định công phu của mình. Thói quen sanh khởi của mình rất mạnh. Không có khoảng thời gian làm con chim ẩn mình chờ chết, không thể nào điều phục được dòng vọng tưởng. Một khi dòng suy nghĩ chưa thực là vọng với mình, khó mà làm chủ được nó. Phật tâm không thể hiển lộ. 

Phật tâm không hiển tức định tuệ không có. Không có tuệ thì mình dễ lầm nhân này với quả kia, hành tác của mình dễ nhầm lẫn. Định không đủ thì không đủ lực để làm chủ bản thân trước mọi cám dỗ xấu xa. Không dễ gì dừng được lực nghiệp.

Niềm đam mê đối với Đốn giáo chính là động lực ban đầu giúp mình dừng động tu tịnh. Song tịnh rồi mà trú luôn trong cái tịnh ấy thì ngang đó rồi thôi, chẳng thêm gì được nữa. Vì không có duyên, mình không thấy được thứ gì là chủng tử tập khí của mình để mà trừ khử. Loại chủng tử này có một đặc điểm, bình thường đây không hề thấy nó hiện diện. Hai mươi năm, ba mươi năm, thậm chí bốn mươi năm, mọi thứ vẫn yên lắng. Đùng một cái, trời trong trongï, gió êm êm, nó hiện ra. Tê tái sững sờ ... Đủ duyên nên mới như thế. 

Không giác được những chủng tử đó thì muôn đời lục quân mình chỉ làm anh Nhị thừa chứ không thể làm ông Phật. Nghĩa là, không có ngoại duyên thì mình thành thánh, mà có ngoại duyên thì mình như con đỉa. Ngoe ngoe nguậy nguậy không yên. Cũng hưởng được cái lạc của sự an nhàn không việc, nhưng không hưởng được cái định khi tiếp duyên. Loại an lạc theo duyên như thế không phải là sự an lạc của tự tánh. Không phải là cái lạc của tự tánh nên lạc thì có mà tuệ thì không. Tu mười năm hai mươi năm rồi cũng chừng đó, không có gì thay đổi. Tâm vẫn tối thui. Thành chạy theo động không được đã đành, mà trốn luôn trong tịnh cũng không xong. Khi cần thì phải tịnh mà khi cần cũng phải động. Động mà tịnh được mới là chân tịnh. Đạo và đời phải cân bằng là như thế.


 Công án 

Đến với thiền, không ai không biết đến công án. Công án của các thiền sư để lại là một trong các đặc điểm của thiền. Công án bao gồm những lời rất khó hiểu. Nói theo kiểu mình bây giờ là nói toàn chuyện trên trời dưới đất. Cũng có những mẫu đối thoại khó hiểu nhưng không phải là công án. Chỉ là những đối đáp qua lại của các thiền sư. Song vì tâm mình chưa tương thích với chư vị nên mình không hiểu được các vị nói gì, mà tưởng chúng là công án.

Ngày đó, tôi không hiểu những thứ ấy nói gì, cũng không biết ngày xưa các vị nói những chuyện bí hiểm như thế với người học để làm gì? Mọi thứ là đơn giản nhưng hình như con người cứ muốn làm cho nó rối lên, mà điển hình là các ông Tổ nhà mình. Tôi đã suy nghĩ như thế. Cho đến một lần ...

Đó là lúc thầy Thông Huệ đề cập đến công án “Tiếng vỗ một bàn tay”.[01]  Tôi đã thắc mắc và từng nghiền ngẫm nó nhiều lần. Rất muốn biết âm thanh ấy ra sao. Một thứ gì đó nóng bỏng và sôi sục. Nhưng một khi sự nghiền ngẫm chưa đủ thời gian, tâm chưa thể gom về một mối thì cũng như cậu sa di Nam Lợi, thứ gì cũng nghe đầy đủ mà tiếng vỗ một bàn tay thì không. Cái nóng bỏng ấy rồi cũng qua đi. Pháp biết vọng của Hòa thượng không cho phép mình chụm đầu vào đó. Tôi không đủ thì giờ để làm gì ngoài việc củng cố cái biết của mình. 

Thầy nói và đưa hai tay lên vỗ. Tiếng vỗ rất giòn. Mọi thứ đều chứng tỏ tai mình nghe rất tốt. Rồi chỉ còn hiện diện một bàn tay. Ngay lúc ấy, tôi nghe được tiếng vỗ của một bàn tay. Không biết là tôi đã nghe được tiếng vỗ hay thấy được tiếng vỗ đó. Chỉ biết trống hoát và toàn thân xuất mồ hôi.

Bạn sẽ nói tôi nhận ra được tánh nghe của mình, như ngài Anan nhận ra sự hằng hữu của tánh nghe khi tiếng chuông vừa dứt? Hay như sadi Nam Lợi nói “Âm thanh của thế gian đều là vô thường, chỉ có tiếng mà không tiếng mới là tiếng vỗ của một bàn tay”? Tất cả đều đúng, nhưng không có thứ nào là tiếng vỗ của một bàn tay mà bạn nghe được. Đó chỉ là lời tổng kết của chủ nhân khi đã tự mình chiêm nghiệm về tiếng vỗ của một bàn tay. Những câu nói ấy hoàn toàn không sai nhưng nó chẳng dính gì đến mình. Mình vẫn chưa phải là người nghe được tiếng vỗ của một bàn tay. Chỉ là kẻ hiểu được những gì người khác đã nghe. Cái hiểu đó, dù rạch ròi rành rẽ bao nhiêu, vẫn chỉ là sản phẩm của thức tâm. Trong khi chủ yếu của công án là dùng để phá bỏ thức tâm. Dù chỉ một thoáng mong manh, cũng đủ để bạn có được niềm tin với Thầy Tổ và thông được khá nhiều thứ chưa biết. 

Sau lần đó, tôi hiểu công án dùng để làm gì? Nó là con đường giúp mình nhận ra tâm không qua sự hiểu biết lý luận. Đó là khối chày gõ vào tâm thẳng tắt nhất. Song muốn dụng được khối chày đó tâm mình phải qui về một mối. Vì thế, CÔNG ÁN ngoài việc dùng làm khối chày để gõ tâm, người xưa còn dùng nó như một phương tiện để tóm tâm, gọi là THAM CÔNG ÁN. Còn một chút khởi nghĩ hay giải thích nào khi bạn đối diện với công án, bạn vẫn là người chưa biết gì về công án. Tài chi Hòa thượng và Thầy, khi đem công án ra giảng, chỉ là hình thức vay mượn để nói chuyện tu hành, còn trọng tâm vấn đề, không thấy ai nói đến. Đi quanh đi quất đến đó rồi ngưng. Không ai chịu nói một chút gì về những điều mình cần hiểu. Nếu nhờ thức tâm mà hiểu, nó chẳng còn là công án. 


 Con bé có duyên

Đến với Phật pháp bạn sẽ được nghe về từ DUYÊN này rất nhiều. Nó là toàn bộ giáo pháp mà đức Phật muốn nói với chúng ta, được sử dụng dưới nhiều tên khác nhau. Hoặc là TÁNH KHÔNG DUYÊN KHỞI, là muốn nói về thực tánh của Nhân Duyên, cũng chính là thực tánh của vạn pháp ở thế gian. Hoặc là NHÂN QUẢ, là mặt triển khai của Nhân Duyên, nhấn mạnh đến hai đầu mút nhân và quả. Hoặc chính NHÂN DUYÊN, là muốn nói quá trình đi từ nhân đến quả còn bị sự chi phối của duyên.

Toàn bộ giáo pháp của Phật đều nói về nó. Mọi pháp môn tu hành của chư Tổ cũng để giúp người đời nhận ra nó. Bởi nó chính là toàn bộ đời sống của con người, là qui luật chi phối mọi thứ ở thế gian, từ vật nhỏ nhất cho đến vật lớn nhất, dù là một sự kiện hay một vật thể, tất cả đều chịu ảnh hưởng của NHÂN DUYÊN. Không thứ nào không có nhân duyên hiện diện trong đó. Nhưng “Chúng sanh đi cùng với nhân duyên mà không biết gì về nhân duyên”. Phật đã nói như thế. Chính vì cái không biết đó mà cuộc sống của ta không mấy hạnh phúc. 

Ngày còn nhỏ, mỗi lần mẹ dẫn đến nhà ai, tôi đều được người ta ban tặng một câu “Con bé có duyên”. Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, người ta không nỡ chê mình xấu. Một que củi nhầy nhụa vì nắng, với chiếc mũi tẹt và hai cái răng cửa lệch, chỉ có thể là biểu tượng của sắc đẹp nếu chung quanh chỉ còn lũ heo rừng. Song lớn một chút, qua ánh mắt người khác phái, tôi bắt đầu hình dung ra cái duyên thiên hạ nói đó. Không hẳn như mình đã nghĩ. Ngoài cái đẹp vẫn còn có cái duyên. Cái duyên coi bộ lợi hại còn hơn cái đẹp.

Hơn nửa đời người, mới biết cái duyên ấy không phải là thứ chỉ thuộc về mình như người ta đã ca ngợi. Bởi nó không mang ý nghĩa hình thức bên ngoài như cái đẹp, cũng không mang ý nghĩa nội dung bên trong như đức hạnh. Nó không có hình tướng, chỉ là một mối liên hệ giữa mình và người như chút tằm xe của ông tơ bà nguyệt. Là một loại mối mang ràng buộc từ bao đời. Có duyên vì bạn từng có nhiều liên hệ thuận chiều với người khác phái. Đời nay gặp lại, bạn thành người có duyên. Đương nhiên, chỉ những người có duyên với bạn, họ mới thấy bạn có duyên. Cũng chính vì cái duyên đó mà bạn dễ “duyên” với họ hơn với người khác. Ngoài những người đó ra bạn không một chút duyên, thậm chí rất vô duyên. Ta thành kẻ vô duyên vì cái duyên ràng buộc giữa mình và người không có.

Vì thế, ta và người chỉ mới lần đầu gặp mặt, mọi thứ như đã thân quen từ thuở nào. Hiểu được chỗ này mình sẽ chẳng lấy làm lạ về cái gọi là tiếng sét ái tình. Chẳng qua chỉ vì nhân duyên từ nhiều đời trước, kiếp này gặp lại mọi chuyện mới nổ tung. Ma đăng già cũng vì nhân duyên vợ chồng nhiều đời với A Nan nên vừa thấy chàng, nàng đã điêu đứng. A Nan cũng mơ mơ màng như vướng phải bùa mê. Song nhờ thần lực của đức Phật, chính là phần giác tánh trong mỗi chúng sanh, A Nan vượt cạn, Ma đăng già cũng chứng quả. Người đời không được như vậy, là do không sử dụng được phần giác tánh của mình. Không tỉnh nên chạy theo duyên mà sanh tử khổ đau trói buộc. 
 
DUYÊN là thứ ràng buộc con người lại với nhau. Cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái đều ràng rịt trong những mối nhân duyên. Đời trước giúp đỡ thương yêu nhau, đời này mọi thứ đều thuận lợi. Ngày trước tàn sát ghét bỏ nhau, đời này con giết cha, vợ oán chồng, mọi thứ thành rắc rối. Chỉ là cái QUẢ của một cái NHÂN được gieo từ muôn kiếp trước. Hoặc thuận hoặc nghịch mà thành như vậy. 

DUYÊN, bản thân nó không xấu. Phật muốn độ người cũng phải có duyên. Mình muốn nhận lãnh pháp của Hòa thượng, cũng phải có duyên. Cúng dường chính là gieo duyên với Phật pháp. Bố thí chính là gieo duyên với người đời. Duyên chỉ trở thành xấu khi mình vận dụng nó với tính cách qui ngã. QUI NGÃ là thứ gì cũng tập trung cho mình. Thứ gì cũng chỉ có mình, mình mới là trọng tâm thì phiền não không thể tránh khỏi. Tơ dù nhiều thì xe cũng chỉ một. Một mà vương hai, vướng ba thì trách gì chẳng phiền toái. Cho nên, muốn không khổ thì khi nhận không nên vướng, khi cho cố quên đi.

Tổ Đạt Ma nói : 

Ngoài dứt các duyên
Trong tâm không động
Tâm như tường vách
Khả dĩ nhập đạo

Duyên nói đây không phải chỉ ám chỉ cho loại duyên cột chéo tình đời giữa cha mẹ, anh em, nhân ngãi, vợ chồng, bà con quyến thuộc … mà nó còn chỉ cho tất cả những gì quanh mình như tiền bạc, công việc, danh vọng v.v... Thứ gì vừa đến tai, đến mắt, nói tổng quát là lọt vào 5 giác quan của mình, mà mình thấy có sự ưa thích hay ghét bỏ là biết mình đã duyên với  nó rồi đó. Ngoài mà duyên tức trong tâm đang động. Trong tâm phải động thì ngoài mới thành duyên. Thuận lòng mà duyên thì vui vẻ hạnh phúc. Nghịch lòng mà duyên thì bất hạnh khổ đau. Cứ vậy, duyên này nối tiếp duyên kia, liên tu bất tận mà thành số phận một con người. 

Đạo ngay trong mình, Phật chính tâm ta, nhưng mọi thứ trở thành ngăn cách, chỉ bởi một chữ ĐỘNG hay KHÔNG ĐỘNG, một chữ DUYÊN hay KHÔNG DUYÊN. Con bé có duyên! Duyên như thế mà đừng duyên. Lỡ một lần, ngàn kiếp khó không vương. 


 Xì hơi

Thứ gì đã đặt thành văn bản qui luật mà giờ thiên hạ làm trái đi, không những gia đình xào xáo, xã hội lộn xộn mà bản thân những người nề nếp cũng cảm thấy phiền lòng không ít. Tôi là một trong số những người đó.

Thằng em, một thằng nói chuyện không đầu, không đuôi, không thưa, không gởi. Muốn nói là nói, chẳng kể trước mặt nó là ai. Lớn hay nhỏ, có thể nói hay không, không cần biết. Nó không hề quan tâm đến điều đó bao giờ. Muốn nói là nói. Không thưa cũng không gởi. Mình không thể không thả lỏng một câu trong đầu, mất dạy!

Vì thế, không gặp thì thôi, gặp là sôi ruột. Phật dạy tu là phải nhẫn, nên mình cố dằn xuống. Nhưng dằn là một trạng thái đè nén. Đè thì cũng nén đó. Nhưng cứ như cái bong bóng, chỗ này lõm thì chỗ kia lồi, chỗ này phìng, chỗ kia mới xọp. Không làm sao tan lỗng. Lỗi là ở thằng đó. Nó nhỏ mà nó nói chuyện không đầu không đuôi. Thành không gặp thì thôi, gặp là sôi ruột, không biết làm sao giải tỏa ... 

Vậy mà mọi thứ cũng xì ra, như quả bóng đụng phải que kim cúc. Bùm! Tan biến ... 

Ngày mới đến thiền viện, tôi không dám vào thầy, chỉ quanh quẩn bên ngoài lượm lá điều rơi, hoặc la cà đâu đó nói chuyện với cô. Có thể tìm thấy ở cô những điều không có trong bài giảng của thầy. Không ngồi thiền khi hành kinh. Ngồi thiền xong cần tập thể dục ... Những chuyện nho nhỏ đó, không có cô tôi không biết đâu mà hỏi.

Nói chuyện tu hành rồi, lân la qua chuyện của thầy. Tôi muốn biết chút gì đó về vị thầy chưa thân cận của mình. Tò mò. Một chút gì đó cũng được. Cô lắc đầu. Cô ngao ngán. Cô vừa bị một vố xây xẩm không biết thổ lộ cùng ai.

Chân thật, kỹ càng, quá kỹ càng là đằng khác. Giao việc cho cô chắc chắn là phải an lòng. Vậy mà chuyện đã xảy ra ...

Bắt đầu từ buổi lễ xuất gia.

Thầy nói khuya 12 làm lễ. Thầy của cô được mời về. Thân nhân người xuất gia cũng được thông báo. Chiều 11, cô bưng mâm trái cây qua để đó. Thầy vui vẻ gật đầu.

Song gần 3 giờ sáng rồi mà mọi thứ vẫn im lìm. Không có dấu hiệu gì cho thấy thiền viện sửa soạn làm lễ. Các cô được phái đi quan sát tình hình. Thầy đã thức, nhưng đang sửa soạn ngồi thiền, không phải để làm lễ. Chỉ vì, ngày mai mới khuya 12, hôm nay mới khuya 11, làm gì!

Thầy cô phải qua tận nơi thưa chuỵện với thầy. Cô cũng chuẩn bị áo xống đầy đủ đứng ngoài, phòng khi ứng tiếp. Không biết thầy thầy nói gì với nhau, chỉ biết trò trò về theo không nói một lời. 

. Thầy nói sao mà không làm lễ hả cô? 
. Thầy nói tôi nghe lộn.
. Cho là lộn đi, nhưng sửa soạn lỡ rồi, làm sớm một bữa không được sao? 
. Thầy nói giờ đó mắc ngồi thiền.

Rồi cô phân bua “Nói khuya thì thiền viện đây ai cũng biết là 3 giờ sáng. Tôi mới tưởng ... Ai dè … ” Ừ! Mọi lý luận của cô đều đúng. Nhưng tôi không còn tâm đâu mà nghĩ đến chuyện đúng sai, bởi còn bận cười : Cái tính mực thước kỹ càng của cô chính là thứ gây ra phiền não cho cô chứ không ai khác. Có khi bề hề một chút mà yên. Ngay lúc đó, ngay cái lúc đang cười đó. Bùm! Mọi thứ đều vỡ tung. Một cái tập vừa bị tróc gốc. Tập mà tróc thì “Ngoài dứt các duyên, trong tâm không động”. Duyên nào đã dứt, duyên đó không còn làm tâm mình động. 

Tập nói đây là chỉ cho thói quen về suy nghĩ của mình. Nó không nằm trên hành động mà trên tư tưởng. Nó trở thành quan niệm và định kiến của mình : Quen có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có đúng có sai ... Nó dính liền với sự phân biệt. Vì thế, người lớn nói thì không sao nhưng vì nó nhỏ hơn mình mà nó nói, nên mình mới bực. Chỗ mình để bình nước, nó mang giày đặt lên. Chỗ mình nằm, nó ngồi chơi điện tử. Giờ đi ngủ, nó ngồi khua chén bát. Mọi nề nếp đều bị đảo lộn, không điên mới lạ. Song nó đảo lộn thì nó lỗi, nhưng mình điên thì mình khổ, không ai khổ thay cho mình. Cái khổ ấy là do mình đã để cho thói quen trong suy nghĩ trói buộc. Phật gọi là chấp. CHẤP là chỉ cho trạng thái nắm chặt. Đụng đâu cũng chấp là đụng đâu cũng nắm. Nắm chặt quá, nên ai làm trái đi, mình sinh phiền. TU chính là quá trình phá chấp. NGỘ chính là bứng được cái chấp đó. Nói cách khác là bứng được một thói quen. Tùy mức độ thanh lọc thân tâm mà cái ngộ này có cạn sâu.

Thiền sư Huệ Nam Hoàng Long, khi còn dưới trướng của thiền sư Lặc Đàm Trừng, tiếng tăm đã vang dội khắp nơi, được thiền sư Vân Phong Duyệt khen là kẻ tài trí hơn người, nhưng vẫn cho Hoàng Long chưa gặp được minh sư. Ông nói “Thầy Trừng tuy nối pháp thiền sư Vân Môn, nhưng Vân Môn như người luyện châu sa, có thể điểm sắt thành vàng. Thầy Trừng như bình thủy ngân đựng thuốc, chỉ để người thưởng ngoạn, mài luyện sẽ chảy mất. Ông muốn chết nơi ngôn cú của thầy Trừng sao? Thầy ấy tuy có phép tắc dạy người, nhưng đó là phép tắc chết. Phép tắc chết mà cứu được người sao?”. Nói rồi, giục Hoàng Long tham vấn thiền sư Từ Minh. 

Hoàng Long cũng đến tham vấn thiền sư Từ Minh. Thiền sư Từ Minh ngồi ngay ngắn đợi Hoàng Long lễ bái xong mới hỏi “Nếu ông hiểu được ý chỉ của Vân Môn, vậy thì khi Triệu Châu nói ‘Bà già ở Đài Sơn, ta khám phá cho ông xong’, hãy nói xem, ông ấy khám phá cái gì ở bà già?”. Hoàng Long toàn thân toát mồ hôi, không trả lời được.

Hôm sau Hoàng Long lại đến tham vấn. Vừa gặp mặt, Từ Minh đã mắng như tát nước vào mặt. Hoàng Long hỏi “Chẳng lẽ chửi mắng là giáo pháp từ bi của thầy?”. Thiền sư Từ Minh hỏi ngược “Ông cho đó là chưởi mắng sao?”. Ngay đó Hoàng Long đại ngộ. Đại ngộ là chỉ cho cái ngộ rất sâu. 

Ông cho đó là chửi mắng sao? Nói như vậy là mất dạy sao? Làm như thế là cố chấp sao? Chửi mắng hay không chửi mắng, mất dạy hay không mất dạy, cố chấp hay không cố chấp là những thứ xuất phát từ trí phân biệt. Có phân biệt tâm mới chẻ đôi. Song trí phân biệt này do đâu mà có? Từ chân thể thanh tịnh, chỉ do một chút không tỉnh mà tâm thành chẻ đôi nên có phân biệt. Cái phân biệt đầu tiên là phân biệt giữa ta và người. Thứ phân biệt này hình thành từ vô thủy kiếp đến nay nên nó cực kỳ bền chắc. Thứ phân biệt cạn hơn là phân biệt trên, dưới, đúng, sai, xấu, đẹp v.v... Vì có sự phân biệt nên mới sinh chấp thủ hay đẩy đi. Thứ gì cũng muốn thủ về mình, thứ gì cũng mình là chân lý. Từ đó mà sinh tranh tàn, cướp bóc, khổ đau.

Do khuynh hướng qui ngã đưa đến phiền toái khổ đau như thế, các bậc thánh xưa mới đặt ra giới luật, nề nếp, gia giáo, trên dưới v.v... cốt là để người đời bớt tạo nghiệp, để tránh báo xấu cho bản thân và gìn giữ tình trạng an vui cân bằng giữa con người với con người. Cho nên, nếu chỉ vì những thứ lễ giáo đó mà sinh phiền não thì cái lễ giáo ấy không còn ý nghĩa gì nữa.

Đứng trên mặt chân thể mà nói, chân thể thanh tịnh vốn không có trên, dưới, gia giáo hay không gia giáo. Chẳng qua vì người đời qui ngã quá nhiều mà phải đặt ra những thứ đó. Tuy nó là thứ cần thiết cho đời sống nhân loại, nhưng xét cho cùng, nó không có gốc. Chỉ là những pháp đối trị được huân tập sâu vào tâm thức, không phải trong một đời mà rất nhiều đời. Nếu thói xấu không có thì không đặt ra nó làm gì. Nó chỉ là pháp theo duyên, không mang tính bất biến. Cái này có nên cái kia có, cái này không thì cái kia không.[02]  Bản chất của chúng là như thế. Nhưng vì mình tập quen với chúng quá lâu nên với mình chúng không chịu không. Trái một chút liền sinh phiền não. Giờ muốn trở lại chân thể thanh tịnh, mình phải phá đi những thói quen đó. Phải làm bật gốc những thói quen muôn đời của mình. Phân biệt hết thì mình mới sống lại được với chân thể thanh tịnh. Không phải chỉ nói hay, nói giỏi mà có thể sống lại được với nó. Đây là lý do vì sao thiền sư Vân Phong Duyệt nói pháp của thiền sư Trừng là phép tắc chết, không thể cứu người. Phải có pháp đánh bật được những tập tục cổ hủ của người đời, mới gọi là cứu được người. 

Cho nên, nhận được một câu văn hay khiến mình mát mẻ tâm hồn, có khi không bằng nhận được một chiêu làm mình nóng mặt hụt hẫng. Nói “có khi” vì pháp không mang tính hay dở. Hay hay dở còn tùy vào người sử dụng. Cái chiêu làm mình hụt hẫng nóng mặt ấy thường giúp mình nhận ra những thói xấu của mình nhiều hơn là sự mát mẻ mơn trớn của một lời nói ngọt hay một câu văn hay. Tu chính là quán sát và vượt qua những thứ như thế. Phải nhận ra được thực tánh của những thứ đó, không phải chỉ làm cho sướng con mắt hay thỏa lỗ tai bằng những lời văn hay. Mình chỉ thực bình yên khi bình thản được với những thứ không thuận chiều.

Một ai đó đã rất thắc mắc khi thấy những bài viết của tôi hay trích dẫn lời nói của một ai đó mà ít thấy trích dẫn lời dạy của bậc tôn sư. Điều đó không có gì lạ. Bởi thứ tôi nhận được, phần lớn là từ hành động của chư vị hơn ở những trang sách chư vị đã viết. Một pháp môn “Biết vọng không theo” cứ vậy mà làm. Làm hết đời này chưa chắc đã xong. Một mẫu chuyện thị phi. Nhưng đó là những bài học vô giá giải quyết những thắc mắc thầm kín của tôi. Một ánh mắt nghiêm khắc. Một thái độ khó chịu. Mà có khi chỉ vài ba chữ nhẹ nhàng “Sao vậy?”. Song tất cả đều là pháp mà tôi nhận được từ chư vị. 

Những ngày đầu học thiền, vì thiếu kinh nghiệm, lại chưa gặp được thầy, nên tôi đã kiêng kỵ quá đáng với vấn đề ăn uống. Thân là phàm, làm việc tất bật như trâu, nhưng ăn uống theo kiểu nhập thất nên sức khoẻ sút đi nghiêm trọng. Kéo dài một thời gian, cuối cùng là ... khóc. Bất cứ chuyện gì cũng khóc. Khóc như cha chết, mẹ chết, khóc như Thúy Kiều khóc mả Đạm Tiên. Chuyện thấy không có gì mà nước mắt cứ trào ra. Gặp thầy rồi, trình kiến giải thì dám, mà trình những khó khăn khốn khổ của mình thì không. Cái tôi có khuynh hướng lôi mình theo những việc như thế. Nên tu thì tu mà khóc thì cứ khóc.

Cái khóc đó là do mình để cho sức khỏe xuống dốc quá độ nên thần kinh cũng bị ăn theo. Cái giác của mình vẫn còn trong giai đoạn dụng công nên một thân thể mạnh khỏe là tối cần thiết. Thân yếu thì thần tổn. Mình không làm chủ được tâm mình là bởi cớ đó. Uống một mớ B, ăn uống đàng hoàng trở lại, mọi thứ bình yên. Đó là do nhận được những gì Hòa thượng đã nói trong buổi giảng pháp “Phải giữ sức khỏe cho tốt thì mới tu được”. Trong cả bài giảng, chỉ có câu nói đó là khuấy sâu vào tâm thức tôi một cách kỳ lạ, như thể câu nói đó chỉ dành riêng cho tôi. Nhờ đó tôi thoát khóc.

Đó là một dạng “cứu người” không làm mình khó chịu. Còn nghe pháp mà hai lỗ tai chạy rần rần, hai con mắt nổ đôm đốm là chuyện thường tình của người học đạo. Song dám căng lỗ tai, trân con mắt, thì theo năm tháng, tâm mình mới chai. Có chai thì mới dửng dưng được với mọi xấu tốt ở thế gian. Muốn cứng cáp thì phải đối diện với những thứ không như ý. Thứ đó không hình không tướng nhưng thiệt là trần ai. Nghe khen mà bùi lỗ tai thì nghe chê nhất định toát mồi hôi. Thành khen không nhận thì chê mới khỏi bận lòng. Khó lắm! 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx