Né ơi!
Mình
có tật, hễ thứ gì đụng đến chỗ yếu của mình là mình
né. Né rất vô tư, rất thuần thục. Con bé bự như cái thùng
tô nô, rất khoái ăn thịt gà. Tôi hăm “Dịch cúm gà tràn
lan, mày mà gặm nó có ngày nó truyền virut sang mày. Về nói
mẹ ngưng ngay nghe chưa”. Nó không bằng lòng, bởi gà là
món khoái khẩu của nó. Không có thịt gà đời nó hết ấm
no. Mà cúm gà cũng không thể lây sang nó khi đã bị chiên
chín. Nó thừa hiểu như thế. Con nít thời ni khôn dã man.
Thời
gian qua đi, ai mà nhớ những gì mình đã nói ...
Hôm
nay, nó chơi một chén thịt gà xé phay quá mạn, tôi nựng
“Con ăn gì mà ngon zậy?”. Không nói không rằng, nó cầm
chén thịt biến lẹ. Té ra, nó vẫn găm trong lòng sự “thù
nghịch” của tôi với món gà rán trước đây. 4 tuổi, còn
biết né thuần như thế, huống là mình.
Có
những lời vừa chạm vào tai, mình thấy khó chịu. Có những
thứ vừa mới chợt nhìn, mình đã thấy đau. Cái đau ấy
khiến mình hoảng hốt, chỉ biết rụt đầu né lẹ để tránh
cái đau. Không biết như thế chỉ khiến nỗi đau của mình
thêm kín. Kín không có nghĩa là hết. Nó lớn dần và dính
sâu. Lớn bề sâu nông ngang sang bề rộng. Mình như kẻ sợ
nước, sợ gió, đụng đâu cũng né. Yếu đuối trở thành
năng lực của mình và mình trở thành cô nàng với cái tên
rất mới, Né ơi!
Hãy
bình tĩnh nhìn lại cái đau của mình. Hãy thử một lần đối
diện với nó xem sao! Cố gắng nhìn thẳng vào đó. Bình tĩnh,
từ từ, không tránh né. Đừng mượn rượu tránh sầu. Đừng
mượn nhạc né đau. Cứ bình tĩnh thong thả trong công việc.
Cứ mở lòng quan sát mọi cái đau.
Nó
đau đó, nhưng nó không là gì. Phật nói tất cả là vọng.
Vọng vì nó không phải chân. Chẳng qua tập quen với thứ
gì đó quá lâu nên nó thành có gốc. Trồng cây mà để bám
rễ nên đụng phải nó quậy, mình đau. Hãy đối diện với
những thứ làm mình sợ và tập quen với nó, như mình tập
quen với cái né. Định tỉnh với cái đau, bình thản với
cái sợ, mọi thứ sẽ qua đi. Cũng dung dị bình thường như
bao chuyện khác. Giả từ Né hả!
Sở duyên duyên
Ở
đời, tôi không phải là đứa có phước. Từ nhỏ đến lớn,
chưa bao giờ tôi được như ý thứ gì. Tính cái gì cũng sai.
Mơ cái gì cũng trật. Thứ gì không nghĩ tới thì thôi, nghĩ
tới nó liền ra ngược. Cũng được vài lần như ý, nhưng
phiền não cũng liền sau. Như ý kiểu đó, nên không mấy buồn
về những thứ không như ý. Cũng không cầu được như ý
nữa. Không như ý có khi là cái may của mình cũng nên.
Đời
thì bạc nhưng đạo thì không. Thường Chiếu, thầy trồng
cây rất nhiều, hoa cũng không phải ít. Tôi xuống Thường
Chiếu không phải để ngoạn cảnh hay ngắm hoa, nhưng Thường
Chiếu đãi tôi rất mực. Tôi muốn thứ gì nó hiện ra thứ
đó. Thích giấy đỏ, ở Thường Chiếu hoa kết mảng thành
bồn. Thích hoa vàng, về Thường Chiếu hoa vàng giăng đầy
lối. Thầy nói kiểng Bằng lăng chắc không ra hoa, nhưng nó
tím một vùng trời. Đất Thường Chiếu, với tôi rất mặn
tình.
Ai
trong ta cũng có những cảnh ngộ như thế, người được cái
này, người được cái kia. Người hạnh phúc ngoài đời,
người may mắn trong đạo. Mỗi người ai cũng có cảnh giới
của riêng mình. Cảnh giới riêng đó Phật gọi là SỞ DUYÊN.
Gọi là SỞ DUYÊN vì nó là đối tượng của một cái NĂNG
DUYÊN, chính là phần tâm thức của mình. Do nhân duyên đời
trước mà đời này xuất hiện một tên NĂNG DUYÊN cùng với
thế giới SỞ DUYÊN của hắn. Anh có năng duyên và sở duyên
của anh. Tôi có năng duyên và sở duyên của tôi. SỞ DUYÊN
cùng NĂNG DUYÊN là kết quả của một chuỗi nhân duyên từ
đời trước. Nhân như thế, gặp duyên như thế thì hiện
ra con người và hoàn cảnh như thế. Nó bao gồm tất cả những
gì mà 5 giác quan của mình cảm nhận được.
Nhân
duyên của tôi với đời không mấy thuận chiều, nên tôi
chỉ có thể lượm lặt những thứ bất toàn. Cảnh bất toàn
ấy là quả sở duyên của một cái nhân từ bao kiếp trước.
Nhân như vậy thì quả như vậy. Nó như thế nào mình cứ
y nguyên thế ấy mà chiêm nghiệm thì cảnh giới ấy Phật
gọi là SỞ DUYÊN. Hoa rụng vì đến lúc nó rụng. Hoa nở
vì đến lúc nó nở. Cứ vậy mà chiêm nghiệm, đừng thấy
tốt, xấu, vui, buồn thì nó là cảnh sở duyên. Nhưng một
khi hoa nở làm mình vui, lá rụng khiến mình sầu thì nó không
còn là cảnh SỞ DUYÊN nữa, mà gọi là SỞ DUYÊN DUYÊN. Có
đến 2 chữ duyên. Vì trên cảnh SỞ DUYÊN mà duyên một nấc
nữa nên gọi là SỞ DUYÊN DUYÊN. Vì duyên với nó nên mình
mới thấy buồn hay vui, xấu hay tốt. Không duyên với cảnh
thì cảnh chỉ là cảnh, nào phải cảnh có vui hay buồn, tốt
hay xấu.
Tâm
ai cũng chất đầy tình cảm và quan niệm, nên đa phần đều
không sống được với cảnh SỞ DUYÊN của mình, chỉ sống
được với cảnh SỞ DUYÊN DUYÊN. Thi sĩ Nguyễn Du có một
câu thơ khá bất hủ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Nó nói lên hiện cảnh đã bị tâm thức của mình làm biến
thể. Buồn thấy cảnh buồn. Vui thấy cảnh vui. Bác sĩ nhìn
cô thiếu nữ theo gốc độ của chàng bác sĩ. Anh họa sĩ
nhìn cô thiếu nữ theo gốc độ của anh họa sĩ. Anh có cái
nhìn của anh. Tôi có cái nhìn của tôi. Ngoại cảnh tuy một
mà trở thành muôn vàn sai khác là do bị chi phối bởi quan
niệm và tình cảm của con người. Nếu quan niệm và tình
cảm của ta giống nhau, ta sẽ có cảnh DUYÊN DUYÊN như nhau.
Thiền
sư Hữu Tâm, trụ trì chùa Tịch Tướng, có người sư đệ
tên là Hữu Đắc. Hữu Đắc căn cơ chậm lụt lại chột
hết một mắt, bình thường chỉ giúp sư huynh làm việc ở
nhà sau, chưa bao giờ tiếp khách.
Một
lần, thiền sư Hữu Tâm đi vắng, vừa ra khỏi cửa thì một
thầy tăng đến tham vấn. Sư Hữu Đắc bất đắc dĩ phải
dùng tay tiếp khách, còn miệng thì câm như hến để khỏi
lộ cái sở đoản của mình.
Sư
Hữu Tâm trở về cũng vừa lúc gặp thầy tăng đến đầu
ngõ. Thầy vui vẻ khen ngợi “Sư đệ của Thầy đúng là
bậc pháp khí không ai sánh được. Trước tiên con đưa 1 ngón
tay muốn biểu thị Phật là đấng duy nhất trong cõi trời
người, thầy ấy liền đưa 2 ngón tay biểu thị Phật Pháp
tuy 2 mà không phải 2. Sau đó con đưa 3 ngón tay muốn hiển
thị Phật - Pháp - Tăng hòa hợp không thể thiếu. Sư thầy
liền cung tay vào mặt con biểu thị 3 cái đó đều do một
cú ngộ mà được”. Nói rồi tăng đắc chí lễ bái mà đi.
Sư
Hữu Tâm về đến cổng chùa, Hữu Đắc đã ấm ức chạy
ra “Vừa rồi có một thầy tăng chẳng ra làm sao. Vừa đến
cổng, đã chỉa ngay ngón tay vào con mắt chột của đệ mà
chế giễu. Đệ bỏ qua, đưa 2 ngón tay biểu thị đủ 2 con
là may mắn. Không ngờ hắn vẫn chưa hết cái tật đó, đưa
3 ngón tay ám chỉ hắn và đệ cộng lại cũng chỉ mới 3.
Đệ chẳng nể nang gì nữa, cung tay đánh vào mặt hắn một
cú. Không ngờ hắn cũng biết lỗi, quì xuống lạy, rồi chạy
mất”.
Cùng
một cảnh ngộ mà tăng thấy theo đường tăng, sư thấy theo
đường sư. Chỉ có sư Hữu Tâm ở giữa là cười đắc chí.
Chẳng qua vì tư tưởng của mỗi người mỗi khác. Cảnh SỞ
DUYÊN chỉ gồm 3 ngón tay và 1 cú đấm nhưng trở thành cảnh
DUYÊN DUYÊN để mình nghiền ngẫm, là nhờ dòng vọng tưởng
phong phú của mỗi người. Dòng vọng tưởng này có thứ cứu
người mà cũng có thứ giết người. CỨU NGƯỜI là khi sự
vật hay cảnh ngộ ấy qua tâm thức của mình, nó trở thành
thứ giúp mình học đạo sáng tâm, việc tu hành của mình
tăng trưởng. Cú đấm rốt sau ấy là cú đấm “tàn sát”
nhưng do cái duyên giáo hóa của sư Hữu Đắc và phước lành
của thầy tăng mà nó thành pháp cứu người. Trở thành GIẾT
NGƯỜI, là qua tâm thức của mình, cảnh vật hay sự việc
ấy khiến mình tăng thêm tham lam và sân hận. Người ta nói
chuyện thiên hạ đâu đâu, mình cũng tưởng người ta nói
mình, rồi tìm cách gây gổ trả thù, đó là pháp giết người.
SỞ
DUYÊN DUYÊN là một trong 4 loại duyên chi phối toàn bộ đời
sống con người đây. Vì SỞ DUYÊN đã biến thành SỞ DUYÊN
DUYÊN nên thế gian này mới lắm chuyện nực cười. Hạnh
phúc cũng nhiều mà đau thương không ít. THIỀN, chính là để
tâm thức của mình không còn bị sai sử bởi những quan niệm
định kiến hay tình cảm riêng tư khiến cái nhìn của mình
đối với muôn sự muôn vật ở thế gian trở thành méo mó.
Nó giúp mình nhìn đúng thực tướng của vạn pháp ở thế
gian.
Phật chỉ nói 5 bộ kinh
“Phật
chỉ nói 5 bộ kinh”, là câu nói của người bạn, cốt giúp
tôi tỉnh ngộ khi thấy tôi cứ đeo đẳng học pháp với Hòa
thượng, là loại pháp không phải chỉ có tên Đại thừa
mà còn được hàng ngoại đạo xưa ban tặng mấy chữ “Quái
thai của Phật giáo”.
“Phật
chỉ nói 5 bộ kinh” nghĩa là những thứ còn lại không phải
Phật nói. Không phải Phật nói thì có thể là Bồ tát nói,
cũng có thể là ma nói, mà cũng có thể do những tên quái
thai nói. Một câu không mang tính xác định, chỉ mang tính
phủ định, nhưng cái phủ định ấy cực kỳ nguy hiểm, đủ
làm chao đảo lòng người khi trí tuệ của người chưa phát
triển. Bởi Phật là đấng chí tôn chí thượng trong cõi trời
người, đương nhiên những gì Phật nói phải hơn Bồ tát.
Nếu ma quỉ và những thằng quái thai nói nữa thì thôi còn
gì để bàn.
“Phật
chỉ nói 5 bộ kinh” có thể chỉ là một lời nói vô tình
không mang tính phân biệt chia rẽ hay xúc xiểm Đại thừa.
Ừ có sao mình nói vậy. Cái trí mình chỉ thấy được Phật
giảng nói 5 bộ kinh nên mình nói như thế. Những bộ kinh
khác Phật cũng nói, nhưng vì con mắt mình chỉ thấy được
những thứ không bị ngăn cách bởi tường vách, không thấy
được những chỗ núi cao biển lặng thâm sâu, nên mình nói
“Phật chỉ nói 5 bộ kinh”. Nhưng qua cái tai của chúng hữu
tình, là bộ tai không phải chỉ có tai và nhĩ thức mà còn
bị sai sử bởi tên ý thức, một tên được gọi là “Công
vi thủ, tội vi khôi”, rồi được truyền đi từ miệng người
này qua miệng người kia, là thứ “Bệnh từ miệng vô, họa
từ miệng xuất”, nên nó trở thành câu nói cảnh báo xúc
xiểm làm hoảng loạn chúng hữu tình.
Thứ
cứng đầu như tôi mà còn chao đảo không ít. Chẳng qua lúc
đó mình chưa đủ công phu để hiểu hết những gì Phật
Tổ đã nói. Chữ “hết” nói đây không phải là thấu được
toàn bộ những gì kinh điển đã nói. Muốn thấu được như
thế thì sự CHỨNG NGHIỆM của mình phải tương đương với
những gì kinh luận đã diễn bày, không phải chỉ dùng cái
tai để nghe, cái đầu để hiểu. Nói “hết” là thấy được
- ít nhất là trên mặt ngôn từ, lý luận - sự liên hệ chặt
chẽ giữa 3 thừa và sự bao trùm vĩ đại của Đại thừa
đốn giáo. Không có phần giáo pháp thâm sâu này, Phật pháp
không thể nào là một tôn giáo như Einstein, ông Tổ của ngành
vật lý hiện đại đã nói “Tôn giáo tương lai sẽ là một
tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt khỏi một đấng
thiêng liêng, tránh hết mọi giáo điều và thần học. Vì
bao trùm cả thiên nhiên lẫn tâm linh, tôn giáo này phải được
đặt nền tảng trên một ý niệm đạo giáo phát sinh từ
những thực nghiệm của mọi sự vật thiên nhiên và tâm linh
như là một sự hợp nhất đầy ý nghĩa. Đạo Phật đáp
ứng được điều đó”. Không có phần giáo lý của Đại
thừa, là phần giáo pháp giúp người đời nhận ra được
thực tánh của vạn pháp, cũng là phần triển khai chi tiết
những gì Phật đã nói tóm quát trong giáo lý Tiểu thừa,
thì Phật pháp không thể nào ứng phó được với những nhu
cầu hiện nay của nền khoa học hiện đại đúng như Einstein
đã nói “Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với
các nhu cầu của nền khoa học hiện đại thì đó chính là
Phật giáo”.
Tôi
đến với Đại thừa đốn giáo chỉ vì nhân duyên đưa đẩy
mà đến, thực tình nào biết cái gì là Tiểu thừa, Đại
thừa hay Nguyên thủy mà lựa chọn. Cái gì cũng được, miễn
nó giúp tôi thoát được những bế tắc hiện tại. Cốt yếu
là tôi phải có hứng thú với nó. Có hứng thì mình mới
quyết tâm sống chết làm theo. Dở dở ương ương như con
gà mắc toi thì Phật có hiện ra trước mặt cũng chẳng làm
gì, nói gì là Tổ hay Thầy.
ĐẠI
THỪA ĐỐN GIÁO đã đáp ứng được những điều sơ khởi
đó của tôi. Vậy mà nghe cô bạn nói xong, tâm liền chao đảo,
trong đầu liền khởi niệm nghi. Nghi mà được như mấy vị
thiền sư thì có nghi là có ngộ, nhưng nghi mà nghi theo kiểu
chúng sanh thì cái nghi ấy sẽ tàn phá công phu của mình. Người
tu mà không quyết tâm với pháp tu là do không đủ niềm tin
với Thầy, Tổ, pháp môn và với chính bản thân. Không đủ
niềm tin nên gặp chút gì hơi khó là dội. Nhưng làm sao không
khó khi mình phải đối đầu với những tập tục đã được
huân tập từ bao ngàn kiếp? Sẽ đứt đoạn nửa chừng nếu
không quyết tâm. Cứ nghiệm rồi sẽ thấy, đi rồi sẽ biết.
Song
thứ gì cũng có duyên có nghiệp. Muốn nghi cũng không thể
nghi lâu. Bởi cứ đặt chân đến Thường Chiếu, chỉ cần
thấy mặt thầy hay nghe giọng nói của Hòa thượng, mối nghi
liền tan. Sư Hưng, một sư Tiểu thừa, đầu đội trời, chân
nện đất, cần mẫn với hạnh đầu đà rất mực, cũng từng
nói với tôi “Ngài Ca Diếp, ông Tổ của Tổ Sư Thiền, là
người được Phật truyền trao nửa tòa ngồi”. Nhờ vậy,
cái nghi không có chỗ miên mật. Cái nghi không được miên
mật mà duyên tu tập Đại thừa cứ thúc tới, nên chỉ còn
cách theo nó cho đến bây giờ.
Thôi
thì cái gì cũng vậy. Muốn biết sự thật thế nào, đều
phải đi sâu đi sát với nó mới biết, không thể chỉ nghe
loáng thoáng chút gì rồi bỏ ngang nửa chừng. Chủ yếu là
trong hiện tại, nếu nhờ cái quái thai ấy mà mình sáng ra
được nhiều thứ, cuộc đời cũng bớt khổ đau, thì cớ
sao buông gánh nửa chừng? Thứ gì cũng có duyên có nghiệp.
Nếu duyên nghiệp của bạn là tu Đại thừa đốn giáo, tức
bạn đã từng có nhân duyên với nó trong nhiều đời, thì
chỉ có nó mới làm bạn bình yên. Nó có lực xoa dịu và
lôi bạn theo nó. Đâu phải nói bỏ mà bỏ liền được.
Bạn
không thể tin đường ngọt, nếu bạn chưa từng nếm qua đường.
Bạn chao đảo vì bạn chỉ nghe chứ chưa từng nếm. Một
khi bạn đã nếm được cái ngọt của đường, người ta
nói đường chua hay đắng, bạn sẽ thấy bình yên, không có
gì dính dáng để bạn quan tâm. Tu hành cũng như thế. Cái
quan trọng là phải nếm cho được pháp vị mình đã nghe,
không thể chỉ nghe suông mà giải quyết được mọi chuyện.
Cớ sự là ở đó.
Huân tập
Từ
này cũng giống như từ SỞ DUYÊN DUYÊN nói trước. Chúng được
dùng rất nhiều trong Phật pháp, nhưng vì là từ chuyên môn
nên ngoài đời mình ít được nghe. Giờ nghe cho biết. Cứ
đọc mãi những thứ dễ hiểu, trí mình không phát được.
Thôi thì làm quen với nó từ từ. Tuy ngữ từ là riêng của
Phật học, nhưng ý nghĩa và tác dụng của nó thì không xa
lạ với cuộc sống thường nhật của mình. Phật pháp đâu
lìa dòng đời mà xa lạ.
Trà
vốn không có mùi thơm của hoa, nhưng đem ướp lài thì có
mùi lài, đem ướp sen thì có mùi sen. Lấy long não để trong
áo quần thì đi đâu người mình cũng đầy long não. Hình
thái ướp mùi đó gọi là huân tập. Thứ gì từ bên ngoài
mang vào, lâu dần trở thành như chính mình, đều là hình
thức của huân tập.
Mọi
thứ ở thế gian này vốn không, ngay cái thế gian này cũng
không. Chỉ do 2 chữ HUÂN TẬP mà thành có. Tư tưởng, tình
cảm cho đến hành động, tất cả đều từ sự huân tập
này mà ra. Có điều, mình chỉ chiêm nghiệm được những
gì trong hiện tại nên mình không thấy được quá trình huân
tập từ vô thủy kiếp đến nay. Nắm được hai từ huân
tập này, mình có thể biến cát thành vàng. Nói vậy sẽ có
nhiều người, rất nhiều người muốn biết huân tập là
gì.
Thiền
sư Kitano Gembo qua đời vào lúc 92 tuổi. Suốt đời, ông cố
gắng không để mình vướng mắc vào thứ gì. Một lần đang
lang thang thì gặp một du khách hút thuốc. Ông được mời
một điếu. Kitano nhận lời và nghĩ thầm “Hút thuốc thật
thích thú!” Nhưng ông không bao giờ lặp lại điều đó lần
hai, chỉ vì “Những vật thích thú có thể quấy phá thiền
định. Trước khi đi xa hơn, tốt nhất hãy dừng lại bây
giờ”.
Năm
23 tuổi, Kitano học Kinh Dịch. Ông đã áp dụng thuật bói
toán trong Kinh Dịch để xác minh những điều mình muốn biết.
Rồi ông chợt tỉnh “Nếu ta cứ làm cái việc xác quyết
với Kinh Dịch thế này, ta có thể chểnh mảng việc thiền
định”. Kitano từ bỏ Kinh Dịch và không bao giờ sử dụng
đến năng lực huyền bí đó.
Năm
28 tuổi, Kitano học viết chữ nho và làm thơ. Kitano trở nên
thiện nghệ với các môn nghệ thuật này. Ông nghĩ “Bây
giờ nếu không dừng lại, ta sẽ là một thi sĩ chứ không
phải thiền sư”. Vì thế ông không bao giờ làm thơ nữa.
Không
dừng lại, nghĩa là ta đang huân tập việc làm thơ vào trong
tâm thức của mình. Thứ gì được huân tập nhiều, thứ
đó sẽ thành thói quen. Đã thành thói quen thì nó có lực
dẫn mình theo nó. Huân càng sâu, thói quen càng bền bỉ. Thói
quen chính là nghiệp. Nghiệp chính là nghề. Vì thế “Không
dừng lại, ta sẽ thành một thi sĩ chứ không phải thiền
sư”. Thi sĩ một khi trở thành nghiệp dĩ đời mình thì “Trong
cơn trường mộng, lại sinh mộng. Giữa giấc mơ say, lại
thấy mơ”.[03] Thiền là để tỉnh mộng, để nhìn cho
được bản chất thực của những thứ ở thế gian đây,
trong đó có thân và tâm mình. Giờ mơ chồng mơ, mộng chồng
mộng thì thiền nớ không phải là Thiền Tông mà là thiền
ba rọi.
Trong
đời thường đây, thứ gì mình đã thích thì thứ đó đã
có một quá trình huân tập sâu xa trong tiềm thức của mình.
Thứ gì trở thành thiện nghệ với mình, thứ đó đã được
huân tập trong nhiều đời trước. Vì sẵn có cái chủng đó
trong tiềm thức, nên gặp lại cái duyên ấy mình mới thích.
Thích mà tiếp tục tiến nữa thì nó trở thành điêu luyện
và thiện nghệ. Vì thế thiền sư Takino nói “Những vật
thích thú có thể quấy phá thiền định”. Thiền là để
bỏ đi những tập tục tồn động trong mình mà giờ làm cho
nó thành thiện nghệ điêu luyện thì không phải phá đi sự
thiền định của mình là gì.
Cũng
vì cớ sự đó mà tổ sư nhà tôi trước giờ một chữ Phật
cũng không biết, một bữa chay kham không vô, đùng một cái
đóng cửa phòng chay tịnh. Bởi chủng duyên tu hành đã có
từ trước. Cái chủng duyên ấy không dính đến câu niệm
Phật, cũng không dính đến những hình thức trong đạo Phật,
mà dính đến 7 chỗ tìm tâm trong kinh Lăng Nghiêm. Vì thế
chạm đúng cái duyên ấy, chủng tử cũ phát ra, mọi thứ
liền hiện hình.
Việc
đời cũng không khác. Thứ gì được huân tập nhiều, thứ
đó sẽ hiện hình khi đủ duyên. Nhà bác học Eistein, ngày
còn bé thường lầm lì và ít nói. Đến 7 tuổi ông cũng chỉ
nói được những câu rất ngắn. Không có triệu chứng gì
của một người lỗi lạc. Một hôm, cha ông mang từ xưởng
về nhà một chiếc la bàn. Enstein chăm chú nhìn rồi quay đi
quay lại dụng cụ ấy. Quay gì thì quay, vẫn thấy kim la bàn
hướng về một phía nhất định. Enstein la lên “Chung quanh
kim la bàn phải có cái gì đó làm cho nó quay”. Chủng vật
lý được huân tập từ bao kiếp trước giờ đủ duyên nẩy
mầm. Mấy chục năm sau ta có nhà bác học vĩ đại Einstein.
Tác
dụng của việc huân tập
Việc
huân tập có tác dụng tạo ra thói quen và để lại dấu ấn
trong tâm thức như thế, nên chư Tổ mới lập ra tùng lâm,
người đời mới có trường học. Trường học là nơi giúp
người đời huân tập kiến thức và đạo đức cần có của
một con người. Tùng lâm giúp ta phá bỏ thói quen ăn, uống,
ngủ, nghỉ thường tình của người đời. Không ai ngoài đời
mà 10 giờ đêm đi ngủ, 3 giờ sáng dậy ngồi thiền. Những
gì mà một thiền sinh phải thực hành, chính là tạo ra một
thói quen mới cho mình. Thói quen mới này giúp mình phá bỏ
thói quen đời và tương ưng hơn với tự tánh thanh tịnh của
mình. Kỹ luật của tùng lâm chính là điều kiện rất tốt
để những thứ bá vơ bá vẩn không có điều kiện để lại
dấu ấn trong tâm thức của mình. Một hình ảnh xấu, một
thói quen đời, một lời không hay không có chỗ để xuất
hiện trước một tên tâm thức quá háo khách.
NHẬP
THẤT cũng là một hình thức huân tập. Chính là để mình
quen dần với cái tịnh, bỏ dần cái động. Tịnh không phải
là chỗ rốt ráo của người tu thiền, nhưng một khi nó trở
thành thói quen, thì cũng có nghĩa là thói quen động đã giảm
bớt. Thân tâm phải qui về một mối bình yên, mới thể nhập
được cái KHÔNG ĐỘNG CŨNG KHÔNG TỊNH. Sống được với
cái KHÔNG ĐỘNG KHÔNG TỊNH đó rồi, mình mới có khả năng
tùy duyên với vạn sự vạn vật đúng với nghĩa nó đã mang.
Huân
tập tạo ra nghiệp lực
Thói
quen đạo một khi đã mạnh thì nó có lực dẫn mình đi trong
đường đạo nhiều hơn đường đời. Đạo là thứ mang lại
hạnh phúc cho mình. Đó chính là động lực giúp mình không
rời khỏi đường đạo dù trồi lên trụt xuống bao nhiêu.
Đời có nghiệp lực của đời thì đạo cũng có nghiệp lực
của đạo.
Khổ
là động lực đẩy tôi đến với đạo. Đại thừa đốn
giáo là chủng nhân giúp tôi đến với Tổ Sư Thiền. Tu, phát
tâm với niềm đam mê rất mãnh liệt nên công phu của tôi
khá miên mật. Song trên lý, thấy gì cũng hay cũng dễ, nhưng
đụng thực tế, không có thứ gì dễ với mình. Cũng tại
mấy chục năm làm đàn bà. Chưa kể những tập tục còn ẩn
sâu trong tiềm thức của mình. Cái thói đàn bà thành công
chừng nào thì việc tu hành càng trở ngại thê thảm chừng
nấy. Thứ gì thuộc tình cảm, nó có chiều hướng đình trệ
không thanh thoát. Tình càng nhiều, khí càng dữ, ngồi thiền
càng nặng. Càng miên mật, khí dồn càng ghê. Cái chướng
nơi thân quá nặng nề. Không có phút giây phát tâm mãnh liệt
ấy, không dễ gì chịu đựng với những trạng thái ngạ
quỉ. Song nỗi đam mê có thể giúp mình chịu đựng tất cả.
Đam
mê chính là năng lực giúp mình chịu đựng khó khăn, nhưng
cái LỰC của nghiệp, đương nhiên là nghiệp đạo, mới là
thứ giúp mình vượt cạn. Không có phần nghiệp lực này,
mình sẽ đầu hàng vô điều kiện với việc tu hành. Vọng
một khi bị giác miên mật thì khí cũng theo đó mà mờ mịt.
Đầu óc luôn trong tình trạng căng thẳng. Đang từ 52 ký,
xuống chỉ còn 42 ký. Giấc ngủ luôn chập chờn. Bởi vọng
trồi đầu là cái biết liền có mặt. Đầu óc cứ sáng rực
như thế suốt mấy năm liền. Sức khỏe sút giảm. Tôi muốn
từ bỏ mọi thứ. Không còn sức để làm Phật.
Nhưng
mọi thứ không có gì theo mình. Mình giống như con khỉ ngồi
trên lưng cọp. Muốn buông cũng chỉ nhăn răng ngồi lì cho
qua cơn hoạn nạn. Không muốn tiếp tục nhưng không thể leo
xuống. Nghĩa là, không phải đời mới có nghiệp lực mà
tu cũng có nghiệp lực. Có huân tập là có nghiệp lực. Nhờ
cái nghiệp đạo ấy, mình mới phá được cái nghiệp đời.
Cái lực ấy cứ đẩy mình đi không cho mình dừng lại nửa
chừng. Thành việc quan trọng của người tu là cố gắng tạo
cho mình thói quen đạo càng nhiều càng tốt. Thói quen một
khi đã mạnh, nó sẽ là động cơ giúp mình không rời đường
đạo. Nói theo phu nhân Thắng Man là, CHÁNH PHÁP ĐANG NHIẾP
THỌ MÌNH. Chánh pháp mà nhiếp thọ rồi, mình làm bậy mình
sẽ bị quả báo liền tay. Nhờ vậy mình không còn làm bậy.
Ác đạo có hiện, chẳng qua là do hạnh nguyện của mình mà
thôi.
Ai
cũng thích thiền bởi thiền có phần tùy duyên rất phóng
khoáng. Nhưng chui đầu vào đó rồi, nắm được việc huân
tập cũng như thói quen nói đây, mới hiểu cái phóng khoáng
mà chư vị thiền sư có được, là cái quả của một quá
trình gian khổ. Nếu hiểu cái LỰC của thói quen và việc
HUÂN TẬP có tác dụng thế nào, không ai dám nói về việc
tu hành như những nhà thưởng ngoạn, cũng không dám mở miệng
nói 2 chữ tự tại tùy duyên khi cuộc sống của mình dính
liền với tham dục và những thông lệ đời thường. Tu mà
coi thường và sống vẩn vơ theo những “thông lệ” đó,
thì cái gọi là tùy duyên chỉ là cái quả của những thói
quen đời. Tùy duyên như thế, chỉ giúp mình huân tập nghiệp
đời càng chắc. Sai một ly liền đi trở ngược. Mình tưởng
mình tùy duyên như các vị thiền sư chính thống, nhưng thật
là đang nuôi dưỡng nghiệp đời càng mạnh. Xuôi tay thì mọi
thứ theo nghiệp mà đi. Mở mắt, đã thấy lênh đênh chốn
chợ đời. Càng tùy duyên càng đổ nợ ...
Sự
huân tập là bình đẳng ...
Một
suy nghĩ dù tốt hay xấu, một khi được huân vào tâm thức
đều đặn, sẽ để lại dấu ấn như nhau. Thứ nào được
huân tập nhiều thứ đó để lại dấu ấn nhiều. Thứ nào
được huân tập ít, thứ đó để lại dấu ấn ít. Việc
huân tập là bình đẳng. Không kể thứ đó là thiện hay bất
thiện, có huân tập là có để lại dấu ấn trong tiềm thức.
Thứ mà người đời gọi là tánh sân, tánh tham ... chẳng
qua là thứ được huân tập trong nhiều đời nhiều kiếp
của mình. Nói “Tập lâu thành tánh” là vậy. Một khi dừng
nghỉ không huân tập nữa thì cái gọi là tánh đó sẽ mất,
không có gì trường tồn bền vững như mình tưởng.
...
Nhưng cái quả thì khác nhau.
Huân
tập thì bình đẳng nhưng cái quả mà mình nhận được từ
việc huân tập thì không như nhau. Cái quả nói đây là chỉ
cho kết quả của một thói quen. Huân tập tạo ra thói quen.
Khi đã thành thói quen, thói quen lại có một lực đưa mình
tới cái quả của nó. Mình tập cho con trẻ tấm lòng vị
tha đối với muôn người. Một khi sự vị tha đã thành thói
quen, mình sẽ có một đứa con trưởng thành với tấm lòng
vị tha. Tấm lòng vị tha ấy sẽ đưa đến cái quả an vui
cho nó. Theo gốc độ nhân quả ba đời, lòng vị tha ấy sẽ
tạo cho nó một thân tướng với hoàn cảnh tốt đẹp trong
những kiếp sau. Ngược lại, bạn tập cho con trẻ sự vị
kỷ thì bạn sẽ có một đứa con trưởng thành với tính
vị kỷ. Tính vị kỷ ấy thường đưa đến kết quả khổ
đau trong hiện đời mà cũng là cái nhân cho những cái quả
bất hạnh về sau. Sự huân tập là bình đẳng nhưng tùy cái
duyên là thiện hay bất thiện mà ta có cái quả là lành hay
dữ trong tương lai.
Ngày
nay vấn đề nhân quả bị bỏ mặc. Rất ít người biết
về nhân quả. Cũng không ai có thì giờ quan tâm đến tác
dụng của việc HUÂN TẬP. Chính vì thế, từ gia đình cho
đến xã hội, ít ai quan tâm tạo cho trẻ những thói quen tốt
trong suy nghĩ và hành động. Chỉ biết huân tập cho trẻ tính
vị kỷ và để chúng thoải mái với những ưa thích của
mình. Tranh ảnh, sách báo, bạo lực cứ tới tấp huân tập
vào đầu trẻ. Không hiểu rằng, làm vậy là đang tập cho
trẻ những thói quen xấu. Thói quen xấu sẽ đưa đến một
cái quả không tốt. Đây là lý do vì sao ngày nay, sự bạo
tàn có thể xảy ra cả với trẻ chưa đến 10 tuổi, con giết
cha, em giết anh, chồng giết vợ, bạn bè thanh toán lẫn nhau.
Một phần là do cái nhân từ đời trước, một phần do cái
duyên ở hiện đời bị bỏ mặc, cái quả xảy ra mới như
vậy.
Cho
nên, không thể nào không cảnh giác với những thứ đang thu
vô của mình. Thứ gì lúc đầu chẳng như thoáng mây? Chỉ
vì xem thường mà thành khối nợ ở trần gian. Khổ đau theo
đó mà thành suối. Thử một lần nhìn lại, để vượt qua.
Giai thoại thiền
Hãy
như Ghiso
Gisho
xuất gia lúc 10 tuổi. Cô nhận được sự giáo hóa của thầy
như những chú tiểu khác. 16 tuổi, cô tham vấn hết thiền
sư này đến thiền sư nọ và cuối cùng ở lại với thiền
sư Inzan.
Inzan
chẳng phân biệt Gisho là người khác phái. Ông mắng nhiếc
và tát Gisho để đánh thức bổn tánh của cô. Cuối cùng
Gisho đã tìm được những gì mình muốn tìm. Để tôn vinh
Gisho, Inzan viết :
Cô
đã theo học với ta mười ba năm
Sáng,
là một công án sâu xa nhất
Chiều,
tập trung cho một công án mới
Trước
Gisho, Tetsuma đã vượt qua tất cả
Và
kể từ Majaka, không ai bằng Gisho
Song
vẫn còn nhiều cửa để Gisho vượt qua
Còn
phải nhận nhiều cú đấm sắt của ta
Đó
là một trong những giai thoại thiền mà tôi rất thích. Chúng
là một phần không thể thiếu trong quá trình học Phật của
tôi. Tôi rất thích những mẫu chuyện đó. Bởi ngoài ý nghĩa
dẫn đạo, giai thoại còn giúp mình thư giản thần kinh và
phấn khích tinh thần để vượt qua những ì trệ của bản
thân.
Gisho
không phải là người tầm thường. Cô ở lại với thiền
sư Inzan không phải vì nhận được sự che chở thương yêu
của bậc tôn sư, mà vì ông đã mắng cô như mưa bão, thậm
chí còn tát cả vào mặt cô. Chính nhờ đó, cô nhận ra được
bổn tánh của mình.
Muốn
học đạo thành công, mình phải chuẩn bị tinh thần như vị
ni đó. Đừng trố mắt nhìn thầy như một quái thai khi ông
trở thành bất thường và dị dạng so với những gì người
tu cần có : Hiền lành, tự tại và bất động với mọi
chuyện ở thế gian. Hình tướng ấy khiến bậc tôn sư trở
thành ông Phật ở trần gian, nhưng nó chẳng lợi ích gì cho
mình nếu THÓI ĐỜI và TRÍ PHÂN BIỆT của mình còn quá nặng.
Cái hiền lành ấy chỉ là thứ ru ngủ mình chứ không phải
là thứ giúp mình tiến thân. Muốn nhận được pháp thân,
phải để cho trí phân biệt lụi tàn. Cái gì có thể giúp
trí phân biệt lụi tàn? Chính là những chiêu thức dị dạng
bất thường của chư tôn giả. Đang êm ấm bỗng dưng “trở
chứng”. Đang hiền lành trở thành “quá quắc”. Bình thản
được với những chiêu thức đó, trí phân biệt của mình
mới lụi tàn. Nếu ngay đây nhận được thì mọi phiền toái
ở gia đình hay trong tùng lâm đều là cơ hội giúp mình phá
đi ngã tướng. Chỉ vì không vừa lòng một chút gì đó mà
mình nổi lồ cồ xông pha tìm chỗ khác thì muôn đời chỉ
làm kẻ lang thang, rày đây mai đó. Bởi chẳng bao giờ tìm
được chỗ bình yên nếu tâm mình không tự bình yên.
Mắng
như thế, tát như thế, được ca ngợi như thế mà “Song
vẫn còn nhiều cửa để Gisho vượt qua. Còn phải nhận nhiều
cú đấm sắt của ta”. Ngày nay căn cơ của mình không được
như người xưa, nên bậc tôn sư của mình không dám mắng
cũng không dám đánh. Chỉ vài chiêu nhè nhẹ là đã ngập
lụt hết Thường Chiếu, còn bậc tôn sư trở thành tác phẩm
nghệ thuật dưới gọng kềm giận trách gắt gao. Vì thế
mình không thể là một Gisho thứ hai, thứ ba hay thứ tư v.v...
Song
tu để khế ngộ Phật tâm, không phải là chuyện thường
tình, cũng không phải là chuyện một sớm một chiều. Tổ
Hoàng Bá nói “Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường.
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường. Chẳng phải một phen
xương lạnh buốt. Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương”. Vài
chục năm không nghĩa lý gì, dù có thể chỉ vài ba năm, cũng
có thể là vô số kiếp. Nó là quá trình bào mòn những thói
quen của bản thân, là thời gian tập dửng dưng với những
hình ảnh hoặc lời nói bên ngoài. Đó là việc mà không phải
nói là làm được liền. Từ chỗ hiểu đến chỗ hành là
một quá trình. Từ chỗ hành đến chỗ thuần thục lại là
một quá trình nữa. Tu Phật, mình phải chuẩn bị tinh thần
chịu khó chịu khổ trường kỳ. Khi bậc tôn sư đang tươi
như hoa, bỗng nhiên như thiên lôi quẹt ngang, dửng dưng, khó
hiểu thì phải biết mình đang được trân trọng như nàng
Gisho. Ngay lúc ấy, thay vì hướng ra ngoài chạy theo những
tướng đó, hãy quay lại coi tâm mình thế nào. Những cú đấm
như thế không thể làm bể đầu, sức tai nhưng nó là cú
đấm của bàn tay sắt. Bởi nó đấm trúng vào ngã tướng
của mình. Ngã tướng càng nhiều thì ê ẩm càng ghê. Song
tu thiền thì không thể sợ đau. Bình thản được với những
cú đấm như thế - không phải chỉ ở bậc tôn sư mà với
tất cả mọi sự mọi vật ở thế gian - mình mới có thể
ngộ nhập lại Phật tánh của mình.
Thầy
thị giả tuyệt vời
Thiền
sư Phật Quang trụ trì chùa Truyền Đăng, đồ chúng theo học
rất đông. Một hôm thiền sư giảng Thiền Môn Chân Thuyên
xong, tăng Giáp thưa “Sanh tử là việc lớn. Muốn liễu thoát
sanh tử chỉ có niệm Phật vãng sanh tịnh độ. Cho nên đệ
tử muốn đến đạo tràng niệm Phật Linh Nham để học pháp
niệm Phật”. Thiền sư nghe xong hoan hỉ đáp “Tốt! Ông
học pháp môn niệm Phật trở về, thì đất này tiếng niệm
Phật không dứt, đạo tràng cũng chân chính như thế giới
Liên Hoa”.
Thấy
vậy tăng Ất lại trình “Giới trụ thì pháp trụ, xem ra
không gì hơn giới luật. Bạch thầy, con muốn đến Học Giới
Đường để học luật”. Phật Quang gật đầu “Tốt lắm!
Ông học luật trở về, đạo tràng của ta mọi người đều
có đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, thành một tăng
đoàn lục hòa chân chánh”.
Thiền
sư Phật Quang vừa dứt lời thì tăng Bính cũng vừa xuất
hiện “Bạch Thầy, học đạo không gì bằng tức thân thành
tựu. Đệ tử muốn đến Tây Tạng học mật”. Phật Quang
mĩm cười “Mật tông giảng cứu tức thân thành Phật. Ông
học Phật trở về ắt nhiều người được thành tựu thân
kim cang bất hoại. Tốt thôi!”.
Thị
giả hầu bên cạnh nghe vậy không vừa lòng “Bạch thầy,
thiền là pháp môn do đức Phật ban đầu để lại, giúp người
thành Phật thành Tổ. Không việc nào trọng yếu hơn việc
học đạo tham thiền. Thầy lại là thiền sư một đời, vì
sao không giữ họ lại học thiền để minh tâm kiến tánh
mà khuyến khích họ đi?”. Thiền sư Phật Quang nghe xong, cười
ha hả “Ta còn có ông mà!”.
Ta
còn có ông mà! Mình phải tu học làm sao để bậc tôn sư
của mình có thể cười ha hả như thiền sư Phật Quang “Ta
còn có ông mà!”. Ừ! Dù mọi người có đi hết, vẫn còn
ông ở lại với ta, vẫn còn ông hiểu được những gì ta
nói, vẫn còn ông thấy được chỗ trọng yếu mà thiền đã
nêu.
Tất
cả mọi pháp môn đều tựu trung giúp người tu được chỗ
rốt ráo, chính là rõ được tâm, thấy được tánh. Pháp
môn nào cũng mang tính hàng phục vọng tâm, giúp tâm qui về
một mối. Vì căn cơ của người đời có cạn sâu mà pháp
thấy có khác nhau. Song chỗ đến thì không khác. THẾ GIỚI
LIÊN HOA không ngoài tự tâm thanh tịnh của chính mình. GIẢI
THOÁT SANH TỬ chính là nhận ra được bản chất của sanh
tử. GIỚI LUẬT là để giúp người tu trừ bỏ tham dục và
an định tự tâm. Tâm an định, trí tuệ mới phát triển,
mới nhận ra được những gì cần nhận. Không niệm Phật,
không giới luật mà ngay đó có thể an định tự tâm, trong
định hiển tuệ, trong tuệ hiển định, giới luật tự nhiên
đầy đủ thì không cần niệm Phật cũng không cần học giới.
Mọi thứ đều qui tâm, chẳng thể từ ngoài mà được. Tiến
hay thối là tự mình. Nhận được chỗ này, mới thấy thiền
là con đường thẳng tắt. Tuy thẳng tắt nhưng không đủ
căn cơ cũng không thấu được chỗ này. Đứng núi này trông
núi nọ, một chút không vừa lòng đành đoạn bỏ ra đi ...
là bởi không đủ tâm nhận cho thấu đáo, không đủ trí
để biện thiệt hơn, không thấy rằng nghịch duyên chính
là chỗ học đạo.
Nhận
được rồi, dù 20 năm chưa sáng đạo, 50 năm chưa nổi danh,
mình vẫn an lòng với những gì mình đã chọn. Mình vẫn xứng
đáng để bậc tôn sư lên tiếng “Ta còn có ông mà!”. Ngày
nào ông còn bên ta, trôi tròn trong từng công việc, chăm chút
từng chút công phu, ngày đó mình vẫn xứng đáng để bậc
tôn sư lên tiếng “Ta còn có ông mà!”.
Thiền
sư Trích Thủy
Một
lần thiền sư Nghi Sơn vào tắm, vì nước nóng quá nên sai
đệ tử mang nước châm thêm. Trích Thủy pha nước xong, thuận
tay hất nước thừa đi. Nghi Sơn không vui liền quở “Nhân
địa tu hành, âm đức là bậc nhất, cớ sao không biết tiếc
phước? Tuy là một giọt nước, tưới cây cây cũng hoản
hỉ, tưới cỏ cỏ cũng hoan hỉ, nước cũng không mất giá
trị của nó, vì sao không biết tiếc vật như thế?”. Cảm
công đức chỉ dạy của thầy, sư mới đổi tên thành Trích
Thủy. Trích Thủy có nghĩa là một giọt nước.
Thiền
sư Trích Thủy do thừa kế gia phong nghiêm khắc của thầy,
nên về sau khi tiếp đãi người học cũng rất nghiêm khắc.
Thậm chí có lúc còn đánh người. Nhiều thiền tăng không
hiểu được cơ phong của ngài, đều rút lui khỏi pháp hội.
Chỉ có thiền sư Nga Sơn không chịu đi mà nói “Tăng có
ba hạng. Bậc hạ lợi dụng tiếng tăm của thầy. Bậc trung
thưởng thức lòng từ của thầy. Bậc thượng, mỗi ngày
mỗi lớn mạnh dưới kiến chùy của thầy.
Thiền
thấy có vẻ phóng khoáng nhưng thực ra giới luật rất nghiêm,
việc làm cần cẩn trọng. Làm việc không cẩn trọng cho thấy
tâm không có chánh niệm. Làm chuyện này mà nghĩ đến chuyện
khác. Tâm không chuyên nhất thì việc sáng tâm khó mà thành
công. Tâm không sáng thì tánh không thể thấy. Song không phải
chỉ có thế, ngay cả việc dùng các vật dụng hằng ngày
cũng phải cẩn thận chu tất. Vì sao phải cẩn thận chu tất?
Thiền sư Sessan nói “Điều này không liên quan đến nghĩa
cần kiệm ở thế gian mà phải nhận ra rằng phước đức
không được phung phí”.
Ngày
còn nhỏ tôi ít khi ăn cơm được ngon nên thấy cơm là tôi
không thích. Thấy nó là tôi buộc miệng “Không còn món gì
khác sao mà cứ cơm hoài zậy?”. Điều ấy vẫn xảy ra thường
xuyên cho đến lúc tôi vượt biên và gặp nạn.
Đói,
cơm trắng thơm ngút ngàn mà không thể mó vào được. Lúc
ấy mới thấy hết giá trị của hạt cơm. Nó nhắc mình nhớ
những lần chán cơm của mình. Cái quả của một ý nghĩ chán
chường là như thế. Phung phí lại còn tồi tệ hơn.
Nhà
giàu trước đây cũng như bây giờ thường phung phí những
gì mình có. Tiền bạc, thức ăn, thời giờ, điện nước
v.v... Công việc không cho phép họ quan tâm đến những việc
nhỏ nhặt trong nhà. Người làm không có thì giờ để giữ
gìn, bởi những thứ đó không do họ làm ra. Còn trẻ con thì
không ý thức được sự tai hại của việc phung phí. Gà,
chúng ăn nửa con và quăng nửa con vào thùng rác. Chúng vò
chocolat thành từng cục để ném nhau. Chúng mở nước bỏ
đó rồi đi, không bao giờ tắt điện, mặc dù nhiều nơi
đang thiếu điện và nước.
Mẹ
tôi rất giàu nhưng không bao giờ bà phung phí một hạt cơm.
Bà gắng thu dọn thức ăn thừa, ít nhất là cho một người
nào đó. Bởi bà từng chứng kiến quả báo hiện tiền của
một gia đình giàu có. Sự phung phí phước đức đã khiến
gia đình ấy lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, thức ăn
phải xin từng ngày. Ngay cả khi được người cho rồi, thức
ăn vẫn không thể tới tay. Kết quả của sự phung phí phước
đức là như thế.
Người
ngoài đời, ít ai chú ý đến việc giữ lại một chút nước
cặn trong xô cho việc tưới cây. Người nào có thái độ
chú tâm kỹ càng như thế sẽ được nhìn với con mắt khắt
khe khó chịu. Nhưng trong các thiền viện thời xưa, một chút
nước thừa cũng không được phí. Một lần, Trích Thủy dùng
giấy trắng lau nước mũi. Thiền sư Nghi Sơn hét thẳng thừng
“Lỗ mũi ông quí lắm sao mà dùng giấy trắng lau mũi, thứ
đó đâu phải dễ được. Ông thật là pháp tặc tổn đức,
tu hành cái gì?”. Ngày nay mình dễ dàng phí phạm nhiều thứ
vì nó quá thừa mứa với mình. Quên rằng, dùng chưa đúng
chỗ còn bị gọi là pháp tặc tổn đức, huống là phí phạm.
Trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca, thiền sư Sessan nói “Theo quan
điểm hiện thời thì có vẻ khó hiểu, nhưng những điều
như thế có ý nghĩa sâu xa trong sự tu tập của các thiền
sinh. Không chỉ nhìn nó theo mặt công dụng hay nguy hại, có
lợi hay không có lợi theo nghĩa kinh tế, mà phải thâm nhập
vào tận cốt tủy để khám phá ra cái diệu dụng và mật
hạnh, phải tôn kính vì ánh sáng ẩn tàng trong đó”. “Cái
diệu dụng và mật hạnh”, “Cái ánh sáng ẩn tàng trong
đó” là gì, thì phải mỗi người tự tìm thấy trong chính
mình. Nhưng thấy hay không thấy, thì một giọt nước cũng
phải được quí trọng, một chén trà cũng không được bỏ
đi. Thiền sư Đạo Nguyên không bao giờ bỏ phí nửa chén
trà dù có một thác nước ngay bên cạnh. Thức ăn, vật dụng
cũng không được bỏ phí. Đó là những gì mà người tu thiền
cần phải quan tâm khi còn trong giai đoạn tu hành.
Tăng
sinh nào hiểu được sự chăm chút kỹ lưỡng của thầy chỉ
khiến ông nhọc tâm hơn là dửng dưng với mọi thứ, mới
hiểu tâm lão bà tha thiết của bậc thầy. Thiền sư Trích
Thủy đạt được nhiều thành quả to lớn nhờ sự giáo hóa
nghiêm khắc của bậc tôn sư, nên đối với đệ tử, ông
cũng làm như thế. Là mong mang đến cho đệ tử những gì
mình đã từng nhận được của thầy từ sự nghiêm khắc.
Chỉ những tăng sinh cảm nhận và đồng ý với những điều
như thế, tăng sinh ấy mới có thể trưởng thành lớn mạnh
dưới kiến chùy của bậc thầy.
Hãy
nương tựa chính mình
Thiền
sư Phật Ấn cùng Tô Đông Pha đi dạo, giữa đường thấy
tượng đá Quán Thế Âm. Phật Ấn lập tức chấp tay bái
lễ. Tô Đông Pha hỏi “Quán Thế Âm là người để ta lễ
bái, vì sao trên tay còn cầm xâu chuỗi niệm Phật. Vậy Quán
Thế Âm niệm ai?”. Thiền sư Phật Ấn trả lời “Đó phải
hỏi chính ông”. Tô Đông Pha ngây thơ “Sao con biết niệm
ai”. “Thì niệm Quán Thế Âm chứ ai”. “Vì sao lại phải
niệm mình?”. “Bởi cầu người không bằng cầu mình”.
Cầu
người không bằng cầu mình. Bởi mọi thứ sạch, dơ, hay,
dở ... đều từ mình mà ra, không phải chư Phật có năng
lực ban phát hay hóa giải được mọi thứ cho mình. Niệm
Quán Thế Âm chính là niệm Quán Thế Âm của chính mình. Một
khi vọng niệm của mình tóm qui về một chỗ, lòng từ của
mình được phát huy, mọi công đức huân tập trước đây
sẽ hiển lộ. Nguy nan, tai họa, sông nước bị đẩy lùi.
Tuổi
thơ và trong giai đoạn trưởng thành, câu niệm Phật gắn
liền với từng suy nghĩ của tôi. Tôi đã hướng về ngài
với tất cả lòng thành kính của mình. Không phải chỉ khi
có tai họa mà ngay cả trong những giấc mơ cũng có câu niệm
Phật. Niệm rất chuyên cần và thuần thục.
Từ
lúc tu thiền, câu niệm Phật gần như không đụng đến. Một
phần pháp biết vọng không cho phép tôi nuôi niệm, dù chỉ
là niệm Phật. Một phần gặp ma trong giấc mơ, câu niệm
Phật không còn tác dụng. Tôi càng niệm nó càng rịt chặt
lấy tôi. Chỉ khi tôi ngưng niệm và nhiếp tâm trở về không,
mọi thứ mới được hóa giải. Hành động ấy tác dụng
rất mạnh trong các giấc mơ nên theo thói quen, hễ gặp ma
là tôi lại bình thản sử dụng tâm không. Ma cứ thế mà
lặng lẽ ngang qua như tôi không hề có mặt.
Với
những nghịch cảnh, mình dễ tỉnh trí để đối phó, nhưng
với những cảnh vui vẻ thoải mái, mình chết chìm. Vì thế
cảnh ma trong mơ thì trị được, mà những thứ thuận ý vừa
lòng hiện đời thì đầu hàng, đừng nói là những thứ mơ
mơ màng màng trong giấc ngủ. Cho nên, cái đáng tỉnh là thuận
duyên chứ không phải nghịch duyên. Nghịch duyên, không muốn
tỉnh cũng không được. Không tỉnh thì khổ. Vì thế phải
tỉnh mới thoát khổ. Còn thuận duyên thì không mang lại cái
khổ cho mình, nên mình không muốn tỉnh để thấy ngay trong
cái vui đã sẵn có cái mầm của khổ nạn.
Con
bé dễ thương nói với tôi “Cứ ai nói với con họ hoàn
toàn hài lòng về những gì họ đang có là y như rằng họ
sẽ gặp một chuyện gì đó bất hạnh liền sau. Con luôn cảm
thấy trong sung sướng hạnh phúc, luôn sẵn có cái gì bất
ổn. Nó làm con sợ hãi”. Không có trí tuệ, không thể thấy
được những thứ như thế. Vô thường luôn chi phối mọi
thứ ở thế gian. Song nếu trí ấy được bảo tồn bằng
công phu thiền định trong hiện tại, mình sẽ bình thản được
với mọi thứ. Không phải sợ hãi về những điều mình đã
nhận thấy đó.
Không
phải sự hài lòng nào cũng đưa đến sự bất hạnh liền
sau. Hài lòng mà do tâm thái biết đủ của người biết đạo
thì đó là loại hài lòng rất tốt. Hài lòng chỉ trở thành
bất hạnh khi mình quên đi những việc phước đức trong hiện
tại. Mình bó rọ hạnh phúc của mình trong gia đình và người
thân mà quên đi nỗi khổ đau của người khác. Mình có thái
độ phung phí những gì mình đang có. Nỗi bất hạnh mới
liền sau.
Sự
hài lòng còn biểu hiện cho thái độ chấp thủ. Vui mà chấp
thủ thì khổ sẽ liền kề. Vì sao? Vì tâm mình vốn không.
Nó như quả lắc đồng hồ đứng ngay vị trí của nó. Một
khi bạn vui, tức bạn đẩy quả lắc ấy về một phía. Đương
nhiên theo quán tính, bạn sẽ nhận được một thứ theo chiều
ngược lại. Vui và buồn, sanh và tử là những thứ thường
tình ở cuộc đời này. Nó đến có đôi và đi cũng có đôi.
May mắn đến mà bình thản, bất hạnh đến mới bình yên.
May mắn đến mà vui thì bất hạnh đến nhất định thấy
khổ. Đã sanh thì biết có ngày phải chết. Nếu muốn sanh
mà còn hoài thì chết đương nhiên thấy khổ. Chữ MUỐN đó,
tức muốn trong hoàn cảnh đó, là đầu mối của nguy nan.
Chỉ khi “Sanh như đắp chăn bông, tử như cởi áo hạ”
thì sanh sanh tử tử mới không là gì. Mọi thứ đều tự
nơi mình.
Đời
người là một chuỗi nhân quả nhân quả nối tiếp nhau. Gây
một nhân thiện, gặt một quả tốt. Gây một nhân ác, gặt
cái quả chẳng lành. Nhân nào đủ duyên sẽ cho ra cái quả
của nhân đó. Quả này gặt đủ thì quả khác trổ ra. Cứ
vậy mà thành toàn bộ đời sống một con người. Vì thế
Phật Tổ chỉ tập trung dạy người làm lành tránh ác. Tùy
căn cơ mà cái thiện này có cạn sâu. Bạch Cư Dị hỏi thiền
sư Ô Sào “Thế nào là căn bản của Phật pháp?”. Thiền
sư trả lời “Các ác chớ làm, vâng làm điều thiện”.
Bạch Cư Dị nói “Câu này con nít 3 tuổi cũng thuộc”. Ô
Sào nói “Con nít 3 tuổi cũng thuộc nhưng ông lão 80 làm chưa
rồi”. Quan trọng là ở một chữ LÀM. Làm một việc thiện
chính là gieo một nhân thiện, đủ duyên sẽ gặt một quả
thiện. Một hành động thiện cho ra một hoàn cảnh thiện.
Mình nghe pháp, sướng lỗ tai với những lý thuyết cao siêu
mà làm toàn chuyện động trời, không bằng nghe những điều
thiện tầm thường rồi áp dụng nó vào đời sống của mình.
Bởi đó chính là cái nhân để mình có một hoàn cảnh tốt
đẹp trong tương lai. Mình là kẻ gieo nhân và thừa hưởng
cái quả của những nghiệp nhân đó. Không ai có thể quyết
định thay cho mình. Vì thế, thiền sư Phật Ấn nói “Cầu
người không bằng cầu mình”.
Phải
vượt qua chính mình
Bạch
Vân Thủ Đoan lúc ở chỗ thiền sư Dương Kỳ, tham thiền
đã lâu mà không ngộ. Dương Kỳ rất quan tâm, muốn dùng
phương tiện khai đạo cho Đoan bèn hỏi “Ta nghe nói thầy
ông trước đây là Trà Lăng Úc do té mà đại ngộ, có làm
một bài kệ, ông biết không?”. Thủ Đoan gật đầu và đọc
bài kệ. Bài kệ vừa dứt, Dương Kỳ cười lên quái lạ.
Nghe
tiếng cười, Thủ Đoan không ăn cơm, cả đêm ngủ không được.
Hôm sau liền đến pháp đường hỏi Dương Kỳ “Vì sao nghe
bài kệ xong thầy liền cười?”. Dương Kỳ không trả lời
mà hỏi “Hôm qua ông có thấy tên hề trước tự viện chăng?”.
“Dạ thấy”. Dương Kỳ gật đầu “Thật tình ông không
bằng tên hề ấy chút nào. Tên hề mong sao được người
khác cười mình, còn ông lại sợ người khác cười”.
Kệ
không phải của mình, người phát ra tiếng cười cũng không
phải kẻ thấp hơn mình, chính là thầy dạy của mình, vậy
mà Thủ Đoan ăn không được, ngủ không yên. Chỉ vì một
chút “Còn ông lại sợ người khác cười”.
Mình
học đạo mà tâm không thể sáng vì không phá được loại
tâm chấp ngã này. Không phải chỉ học đạo, mà học thứ
gì cũng vậy. Một khi không thắng được cái sợ người cười
đó, mọi việc đều đình trệ. Không biết mà không dám hỏi
thì học không tiến. Chướng mà không dám hỏi, có khi là
tu sai. Vậy mà thứ gì mình cũng che đậy. Một cảm giác che
đậy lạ lùng. Rất sợ người khác cười mình. Rất sợ
người khác thấy những khiếm khuyết của mình, sợ người
cho mình sai. Chỉ thích trình những thứ mình cho là tốt ...
Sợ rất nhiều thứ vô cớ mà không một lần nhìn lại tìm
xem cái gì khiến mình như thế, cái gì khiến mình rơi vào
tình trạng vo tròn trong một cái vỏ ốc, không hề tìm cách
chui ra.
Chính
cái TÔI. Phật Tổ gọi là NGÃ TƯỚNG. Cái tôi ấy không có
gốc, chỉ là một thứ được nhóm họp và huân tập từ
bao đời. Vì huân tập đã lâu nên nó có lực khiến mình
như thế. Nó có khuynh hướng bọc chặt những thứ mà nó
cảm thấy thua thiệt với người đối diện. Mình rất sợ
người ta thấy mình trong một cái đầu thiếu thông minh hay
trong một bộ dạng không tốt. Khi buồn, tôi đóng chặt cửa
phòng, không muốn nhìn thấy ai cũng không muốn ai nhìn thấy
mình. Có thể trong trạng thái một mình yên lắng, tôi tìm
thấy sự bình an và nỗi buồn qua đi nhanh chóng. Nhưng sâu
xa hơn, tôi không muốn người ta thấy tôi buồn. Tôi không
muốn người ta nhìn thấy bộ dạng thỉu não của tôi. Tôi
phải cười để mọi người thấy tôi vui, dù cái không vui
đã lộ hẳn ra ngoài, chỉ mỗi mình mình là không biết. Mình
không biết thành mình cứ tìm cách che đậy. Mình không thể
tự nhiên như thiền sư Bá Trượng “Vừa rồi khóc, bây giờ
cười”.
Không
phải chỉ mình tôi mà hình như với rất nhiều người, ở
nhiều lãnh vực khác nhau, đều như thế. Mặc một chiếc
áo vượt quá túi tiền, xây một căn nhà dù phải đổ nợ,
biết một nói hai, được ít nói nhiều, không biết nói biết,
trở thành kẻ huênh hoang sáo rỗng chỉ vì không muốn phô
bày một sự thật không muốn phô bày.
Những
năm đầu mới đến Thường Chiếu, tôi có rất nhiều thắc
mắc muốn hỏi Thầy. Song câu hỏi được chuẩn bị luôn
đi kèm với một mớ gì khác không rõ ràng. Câu này chằng
chịt câu kia. Xuất hiện thêm những thứ đi kèm đó vì mình
hỏi mà mình sợ người thấy mình ngu. Chuẩn bị đâu đó
rồi, thầy đến sát mặt rồi, mình cũng nín thinh cho qua chuyện.
Bởi mình sợ. Một cái sợ không có nguyên do, không trình
tin tức.
Võ
Tắc Thiên đời Đường nói “Ta chỉ thực sự là ta khi ta
tắm”. Việc tu hành cũng như thế. chỉ khi ta cởi bỏ được
những thứ che đậy bên ngoài, ta mới nhận được cái thân
chân thật của chính ta. Thiền sư Suzuki nói “Ta cất nhà
qui mô đồ sộ vượt hẳn mức cần dùng là cốt khoe của,
khoe địa vị xã hội và uy quyền chính trị, Nhưng đó toàn
là những món thêm thắc rởm, thật sự không làm cho cốt
người của ta cao lớn thêm tí nào”. Thứ gì không phải
là mình, nó không thể làm mình khá hơn, có khi còn khiến
mình trở thành tên ngốc trước mặt mọi người. Ngốc vì
mình cứ cố che đậy những thứ mà mình tưởng che đậy
được. Ngốc vì mình đã đặt lên vai một gánh nặng không
cần thiết. Thử một lần thành thật với chính mình và với
mọi người, vô tư trình hiện xấu tốt, mình sẽ thấy khỏe
khoắn biết bao. Vì sao cứ phải là một con người giỏi giang
mà không là một kẻ tầm thường và ngu tối? Vượt được
một lần, mình mới có thể vượt qua lần hai, lần ba và
còn vô số lần để vượt qua nữa. Không thì mọi thứ cứ
bị bọc chặt trong một cái vỏ. Nó quấn lấy mình, ngày
một cứng. Mình sẽ ra sao trong tương lai khi tâm mang tính huân
tập và lưu giữ rất mạnh? Chiếc vỏ càng cứng, đập vỡ
càng khó. Tu càng lâu, đạo càng xa. Vì thế, cố gắng vượt
qua những thói hư tật xấu, nhưng không nên dính mắc vào
xấu hay tốt. Không dính mắc thì mình mới có thể phá bỏ
nó hoàn toàn.
Học
thiền mà bị sư phụ chê một câu “Không bằng một tên
hề” thì thật là tối tăm mày mặt. Song vì thủng tai được
với những câu nói như thế nên sau này Thủ Đoan là chủ
của núi Bạch Vân, là thầy của thiền sư Pháp Diễn nổi
tiếng lúc bấy giờ.
Hoàng
đế Goyozei
Hoàng
đế Goyozei theo học thiền với thiền sư Gudo. Ông hỏi “Bạch
thầy, thiền nói tâm này chính là Phật. Có đúng không?”.
Gudo đáp “Nếu tôi bảo đúng thì ngài sẽ nghĩ rằng ngài
hiểu mà không hiểu. Nếu tôi nói không thì tôi phản lại
một sự thật mà nhiều người đã biết hoàn toàn”. Một
ngày khác, hoàng đế lại hỏi “Người giác ngộ đi đâu
khi chết?” Gudo trả lời “Tôi không biết”. Hoàng đế
hỏi tiếp “Vì sao Thầy không biết”. “Vì tôi chưa chết’.
Hoàng đế còn phân vân nhiều thứ mà ông chưa thể nào một
lần hiểu hết. Gudo đập tay lên bàn và hoàng đế giác ngộ.
Sau
khi giác ngộ, hoàng đế kính trọng thiền và ông già Gudo
hơn nữa. Khi hơn 80 tuổi, Gudo thường ngủ gục trong lúc dạy,
và hoàng đế im lặng rút lui để người thầy kính yêu của
ông có thể hưởng được những gì còn lại mà tấm thân
già của Gudo đòi hỏi.
Thời
gian đầu tôi không hiểu lắm về những gì thiền sư Gudo
đã nói với đệ tử. Tôi không biết THIỀN là thứ để
chiêm nghiệm không phải để giải thích. Một sự giải thích
quá rõ ràng thường biến đệ tử thành những con vẹt biết
nói hơn là truyền thiền cho họ. Tôi không biết sự thoái
thác của ông là phương tiện giáo hóa tuyệt vời của một
bậc thầy : Đẩy hết mọi thứ về phía người học, là
để họ tự tìm và bật ra cái trí của chính mình, không
hẳn chỉ vì ông không trí. Ngày ấy tôi không hiểu được
những điều như thế. Song tôi rất thích câu chuyện vì tôi
yêu quí Gudo.
Ông
không có phong cách dữ tợn hùng hồn như Vân Môn hay Đặng
Ẩn Phong. Ông nhẹ nhàng và thành thật. “Tôi không biết,
vì tôi chưa chết”. Ông không huênh hoang về những gì mình
chưa trải qua. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đơn giản như thế. Ông
thành thật với chính mình và với đệ tử. Ông ít quan tâm
đến hình thái bên ngoài. Khi cần ông đập tay xuống bàn.
Muốn ngủ ông gục đầu xuống ngủ. Không có hình thức “thánh
nhân” nào hiện diện nơi ông. Cũng không cần tạo cho mình
một hình thái thánh nhân. Ông đích thực là một con người
bằng xương bằng thịt. Có thể chính cái chất người đó
là thứ khiến tôi cảm thấy gần gũi và yêu thích.
Có
thể sự nhẹ nhàng của ông là chỗ bù đắp sự yếu đuối
của tôi. Song một người có thể làm cho người khác giác
ngộ, nhất định không phải kẻ tầm thường. Chính vì vậy,
tôi yêu quí Gudo.
Tôi
kính trọng sự tử tế chân thành của hoàng đế Goyozei đối
với bậc thầy của mình. Ngày nay tinh thần tôn sư trọng
đạo không được như xưa. Ngoài đời, trò mắng thầy, phụ
huynh đánh cô giáo. Trong đạo, mình soi rọi lỗi của thầy
nhiều hơn là soi chiếu lại bản thân. Một chút không vừa
lòng, liền thành kẻ đối đầu. Ít ai quan tâm mình đã nhận
được gì ở bậc tôn sư, mà thường tìm cho được một
ông thánh ở trần gian để nương tựa. Điều đó hoàn toàn
tốt. Nhưng quá đà một chút, mình dễ trở thành kẻ lang
thang không thầy. Không như Goyozei, quí trọng cả những việc
được cho là tầm thường dưới mắt người đời. Gudo thường
ngủ gục trong lúc dạy, và hoàng đế im lặng rút lui để
người thầy kính yêu của mình có thể hưởng được những
gì còn sót lại của tấm thân già. Có lẽ, vì Goyozei đã
giác ngộ. Sự giác ngộ do chính Gudo mang đến.
Cuối cùng ...
Sinh
và chết, chuyện thường tình của con người. Nhưng sinh, ít
ai không khóc. Chết, ít người thanh thản ra đi. Bởi khoảng
giữa của sinh và tử, chết rồi sống, có khối điều mặn,
ngọt, nồng, cay. Kẻ sấn bước trong đêm trường. Kẻ trầm
mình nơi biển khổ. Kẻ thênh thang nơi gác Tổ chùa Tây. Ta,
không khỏi là một người trong đó
…
Suối
ở nguồn chỉ đồng một vị, nhưng theo dòng sao lắm vị
ngọt cay? Chỉ bởi một chữ tỉnh hay không tỉnh, một chữ
mê hay không mê. Mê thì ba cõi sáu đường mở. Tỉnh thì tam
giới hóa thành không. Dừng chân thì suối nguồn ngay trước
mắt. Theo dòng thì mãi miết với ngọt cay ...
Thôi,
thử một lần ngẩng nhìn lại cuộc lữ xoay vần, để thấy
màu phong trần đọng lại từ nghiệp dĩ xa xăm. Thấy để
giật mình thảng thốt ... Và nhận ra rằng, mình giống như
chú tằm ăn no rồi nhả tơ. Tự nhả, tự trói, tơ vương
thành khối và chết ngạt trong khối tơ ấy.
Ừ!
Thử một lần nhìn lại, để giật mình thảng thốt, để
thoát kiếp tằm tơ, để thênh thang nơi đường mộng ...
Viết
xong ngày 31.5.2006
Chân
Hiền Tâm
1 Nam
Lôïi laø ñeä töû cuûa thieàn sö Maëc Loâi. Haèng ngaøy thaáy
caùc sö huynh tham thieàn, chuù cuõng noùng loøng muoán tham, beøn
xin sö phuï moät coâng aùn. Thieàn sö Maëc Loâi daïy chuù laéng
nghe tieáng cuûa moät baøn tay. Laàn ñaàu, chuù vaøo trình thaày
“AÂm thanh dieãn taáu cuûa nhaïc khí ñang vang voïng ngoaøi
kia laø tieáng voã cuûa moät baøn tay”. Thaày chuù laéc ñaàu.
Laàn hai, chuù trình “Tieáng suoái chaûy laø aâm thanh tieáng
voã moät baøn tay”. Thieàn sö laéc ñaàu. Taát caû moïi
aâm thanh maø chuù nghe ñöôïc ñeàu bò töø choái. Cuoái cuøng
chuù böôùc vaøo thieàn ñònh thaät söï vaø sieâu vieät taát
caû moïi aâm thanh. Chuù khoâng coøn tìm kieám nöõa, vì ñaõ
ñaït ñöôïc aâm thanh khoâng aâm thanh.
2
Lôøi cuûa Phaät. Ñoù laø tính chaát cuûa phaùp Duyeân Khôûi
ôû theá gian.
3
Thieàn sö Voâ Truù.