PHẨM PHỔ
MÔN
KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giải
thích đề kinh:
Diệu
pháp, chữ “Diệu” là bất khả tư nghì, pháp này không
có thể dùng ý thức nghĩ ra được. Cho nên, lấy hoa sen để
ví dụ, dù ở trong bùn sình sanh ra, nhưng không bị bùn sình
làm ảnh hưởng ô nhiểm, lấy hoa sen để hình dung quyển
kinh này.
Quán
Thế Aâm, theo âm thinh của thế gian phải lấy tai nghe mới
đúng, nhưng người ngộ triệt để thì lục căn hổ dụng,
mắt nghe tai xem.
Chữ
“Quán” phải dùng mắt để nhìn, mà dùng mắt để nghe
âm thinh chỉ có tự tánh làm được. Ở đây là chỉ tự
tánh của mình (Phật), Phật nghĩa là tự giác, giác ngộ cho
chúng sanh và giác ngộ hoàn toàn đầy đủ. Bồ Tát cũng có
nghĩa giác ngộ chúng sanh. Tự tánh của mình phổ biến cùng
khắp hư không pháp giới, nên gọi là phổ môn hay phổ cập,
phổ biến, chỗ nào cũng đến hết. Phẩm Phổ Môn là phẩm
thứ 25 của kinh Pháp Hoa.
Dao
Tần Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Ở
Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng cũng gọi là Tần. Đến sau, thời
ngũ đại có 16 nước, trong đó 1 nước Tần, vua là Phù Kiên,
lấy quốc hiệu là Phù Tần (tiền Tần).
Vua
Phù Kiên chết, Dao Trành kế vị, nên gọi là Dao Tần, lại
xưng là Hậu Tần.
Vua
Dao Trành chết, con là Dao Hưng kế vị, nhà vua cung nghinh pháp
sư Cưu Ma La Thập về Trường An.
Tại
sao gọi là Tam Tạng Pháp Sư?
Tam
tạng là kinh, luật, luận. Nếu thông suốt kinh gọi là kinh
sư, thông suốt luật gọi là luật sư, thông suốt luận gọi
là luận sư. Cưu Ma La Thập thông suốt 3 tạng, cho nên gọi
là Tam Tạng Pháp Sư. Cưu Ma La Thập ở trong nước Dao Tần,
nhà vua rất kính trọng và ngài dịch nhiều kinh. Quyển kinh
Diệu Pháp Liên Hoa này do ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
dịch rất hay và đúng nghĩa. Ngài nói rằng: “Nếu kinh của
tôi dịch sai, khi tôi chết, đem đi thiêu thì cái lưỡi của
tôi mất, nếu đúng thì lưỡi của tôi còn”.
Sau
này ngài tịch rồi đem đi thiêu tất cả đều cháy hết,
chỉ còn lại cái lưỡi không cháy, chứng tỏ kinh của ngài
dịch không sai bản ý của Phật và hiện nay lưu hành rộng
rãi nhất.
Chánh
văn:
Lúc
ấy, Vô Tận Ý Bồ Tát từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối
chấp tay bạch Phật rằng: Quán Thế âm có nhân duyên gì gọi
là Quán Thế Aâm?
Phật
bảo: Nếu có vô lượng vô biên chúng sinh chịu tất cả khổ,
nghe được Quán Thế âm Bồ Tát, nhất tâm xưng danh. Tức
thời, Quán Thế âm Bồ Tát quán được âm thinh kia đều được
giải thoát.
Nếu
có người trì danh hiệu Quán Thế âm này, dầu vào lửa lớn,
lửa chẳng cháy được, vì do sức oai thần lực của Bồ
Tát vậy.
Nếu
bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này tức thời
liền vào chỗ cạn.
Nếu
có trăm ngàn vạn ức chúng sanh, vì tìm vàng, bạc, lưu ly,
xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, chơn châu các thứ báu, mà
vào trong biển lớn; giả sử gió lớn thổi ghe thuyền kia
trôi tấp nơi nước quỷ La Sát, trong đó nếu có đến một
người xưng danh hiệu Quán Thế âm thì những người ấy đều
giải thoát khỏi nạn La Sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán
Thế âm.
Giảng
giải:
Ở
trên nói Quán Thế âm là tự tánh của mình, không phải thật
có 1 Quán Thế âm nghe người ta xưng danh lại cứu, nếu có
vậy thì cứu không kịp, không những chỉ có thế giới này,
mà có tam thiên đại thiên thế giới, vi trần thế giới,
vô lượng vô biên thế giới, bất cứ có chúng sinh nào cầu
cứu thì cứu được!
Như
đài phát thanh cực mạnh, nếu có radio nhỏ rà được làn
sóng thì muôn triệu máy radio cũng rà được làn sóng đều
thu được. Bởi vì, diệu dụng của tự tánh cùng khắp hư
không pháp giới; nên bất cứ chỗ nào cũng có, tức là tự
tánh mình tự cứu, chứ không phải người khác cứu hay Quán
Thế âm cứu mình.
Nói
đến nhất tâm là sự tu của mình quét sạch tất cả chấp
trước, chỉ còn tâm trống rỗng, như ngũ uẩn giai không thì
không tướng hiện ra gọi là nhất tâm, không có niệm khác
thì diệu dụng của Tự tánh hiện ra.
Phải
biết, Quán Thế âm dùng con mắt để nghe, mới gọi là Quán
Thế âm. Nếu dùng con mắt nghe không được không gọi là
Quán Thế âm. Cho nên đạt đến cảnh giới này thì tất cả
chấp trước đều sạch hết, mới được giải thoát.
Quán
Thế âm là tự tánh của mình, tự tánh mình có thần thông
biến hóa, không kém hơn Phật một chút nào cả, nên gọi
là Phật tánh, người nào cũng sẵn đầy đủ, mà Phật đã
dùng ra hết, còn mình chưa được dùng ra, nếu có dùng ra
chỉ được một chút.
Ví
dụ như dùng hết là một triệu phần, còn mình dùng ra chỉ
một phần triệu hay không đủ một phần triệu nữa. Nếu
không dùng ra nó cũng biến vậy, nó chậm trở thành nghiệp
lực, nhanh gọi là thần thông lực. Hiện giờ, đang biến
hóa rất chậm nên mình không biết được.
Như
tóc của mình dài mỗi giây phút mà không tự biết, hay móng
tay đang ra dài mình không biết, tế bào mỗi giây phút thay
đổi mình cũng không biết. Chính mình biến hóa mà tự không
biết. Nó ngày đêm không ngừng biến nên có nhân quả tam
thế, kiếp trước tạo thành kiếp này, kiếp này tạo thành
kiếp sau.
Vì
nhất thiết duy tâm tạo, tạo chậm gọi là nghiệp lực,
ví như tâm lực một triệu độ, mình dùng ra chỉ có 1 độ
nên nó biến chậm. Nếu tham thiền từ tâm lực 1 độ tiến
lên 10 độ 100 độ đến phân nửa là 500.000 độ
thì nó có thể biến nhanh. Như biến cái tách thành cái tách,
biến mất cái tách thì cái tách mất, gọi là thần thông
lực.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Tâm mình như họa sĩ rất hay”, họa ra đủ
thứ ở trên thế gian, họa ra thiên đường thì mình mừng,
họa ra ở địa ngục thì mình thấy sợ, đều do tâm mình
họa ra mà thôi.
Ở
trong này nói: “Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế âm
Bồ Tát”, chữ “trì” có người hiểu sai lầm tưởng là
tụng, cũng như mỗi ngày tụng phẩm Phổ Môn, nói trì Phổ
Môn là sai. Trì là theo kinh thực hành. Cũng như chúng tôi trì
giới, nửa tháng bố tát tụng giới, tụng giới giống như
tụng kinh vậy.
Nếu
tụng là trì thì có phá giới cũng không sao, vì có trì rồi.
Trì giới là theo giới thực hành, như theo kinh thực hành gọi
là trì kinh. Tham thiền khởi lên nghi tình tự động quét tất
cả chấp phàm phu, Tiểu thừa, Trung thừa và Phật thừa.
Tham
thiền là trì kinh, nếu có trì mới đạt đến Quán Thế âm,
đạt đến tự tánh được. Cái dụng của tự tánh không
qua tác ý. Nhiều Phật tử tham thiền có sức dụng phần ít
của tự tánh. Chứng tỏ túc cầu viên làm thủ môn, trong
lúc đang tham thiền không để ý trái banh, nhưng trái banh nào
bay vô cầu môn đều chụp được.
Tháng
6 năm 1979 chùa Từ ân mở thiền thất, Trương Quốc Anh
dự đến cuối thiền thất. Anh là thủ môn hãng bột ngọt,
đối phương là đội tuyển thủ rất mạnh, ai cũng tin chắc
là đội bột ngọt sẽ thua, nhưng kết cuộc ngược lại đội
bột ngọt thắng 4 – 0. Vì anh tham thiền không để ý trái
banh, tức là không qua bộ óc để ý nên tác dụng rất nhanh,
chụp không sót một trái banh nào.
Nếu
để ý banh là trể thì không thể chụp banh được. Theo khoa
học giải thích cho là vô lý, người ta để ý còn khó chụp
được, mà không để ý lại chụp được!
Có
một cô thợ may tên là Trì Hằng Thiền cũng đang tham thiền
vừa cắt vải may quần áo nhưng không lộn, lại có năng suất
nhiều hơn. Chứng tỏ công việc bộ óc không cần qua bộ
óc mà làm xong công việc bằng óc. Như dùng con số để tính
nếu không để ý thì dễ sai, mà tham thiền không để ý con
số tính sổ không sai. Rõ ràng diệu dụng của tự tánh tự
động không cần qua bộ óc.
Trì
kinh là theo kinh thực hành mới đạt đến danh hiệu Quán Thế
âm thì được diệu dụng tự tánh hiện ra. Nếu đạt đến
chỗ này, vào lửa không thể cháy được, vì thần lực tự
tánh hiện ra. Như nhiều người tham thiền chạy xe máy không
để ý xe cộ, nhưng không bị xe đụng; nếu có đụng nhau,
người tham thiền không bị gì.
Một
vị chở vợ bằng xe máy, trong khi người chồng tham thiền,
người vợ không tham thiền, khi xe khác đụng vào xe thì người
vợ la lên, xe người khác hư và ngã, xe người tham thiền
không ngã và không hư.
Lúc
nhất tâm thì diệu dụng tự tánh hiện ra, chứng tỏ lửa
không thể cháy, nước không thể làm chìm, mà muốn cái gì
được cái nấy, tất cả tai nạn ma quỷ đều được giải
thoát. Vì nhân duyên này gọi là Quán Thế âm là cái dụng
tự tánh của mình.
Chánh
văn:
Lại
nữa, có người đang lúc bị hại, mà xưng danh hiệu Quán
Thế âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gãy
từng khúc, liền được thoát khỏi.
Nếu
quỷ Dạ Xoa cùng La Sát đầu trong cõi tam thiên muốn đến
hại người, nghe người xưng danh hiệu Quán Thế âm Bồ Tát
thì các quỷ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ để nhìn,
huống lại làm hại được.
Dầu
lại người có tội hoặc không tội, gông cùm xiềng xích
trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Aâm Bồ Tát,
thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.
Nếu
kẻ oán tặc đầy trong cõi tam thiên đại thiên, có một vị
thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu,
trải qua đường hiểm trở, trong đó có một người xướng
rằng: “Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, nên phải một
lòng xưng danh Quán Thế âm Bồ Tát, vị Bồ Tát này hay đem
pháp vô úy thí cho chúng sanh, các vị nên xưng danh hiệu thì
thoát khỏi oán tặc kia”.
Các
người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: “Nam mô
Quán Thế âm Bồ Tát”, vì xưng danh hiệu này đều được
thoát khỏi.
Giảng
giải:
Nếu
theo kinh thực hành tức là tu theo 1 pháp môn nào, như pháp
môn tu thiền; 1 người trước đó phạm tội tử hình, nếu
được diệu dụng tự tánh hiện ra thì dao kiếm đụng tới
thân, kiếm dao gãy từng đoạn, mà thân không hề gì.
Hồi
trước tôi chưa hiểu nghĩa này, cho rằng chỉ gạt con nít,
ai khó tin được! Nhưng người tham thiền hiện ra cái dụng
tự tánh chút ít có thể tin được. Nếu giải thích ra vô
lý, nhưng sự thật đúng vậy. Nói xưng đúng danh hiệu Quan
Thế âm Bồ Tát chứ không phải tụng cái danh thôi. Tụng
cái danh mà tâm nghỉ cái này nghỉ cái khác thì không có công
hiệu.
Tức
là lúc ấy không có niệm gì khác, mới hiện ra cái dụng
của tự tánh, mà tất cả ma quỷ đầy tam thiên đại thiên
thế giới muốn ăn thịt người hay muốn hút tinh khí người
thì không thể được. Nếu dụng tự tánh Quan Thế âm Bồ
Tát hiện ra thì những tai nạn đó không thể hại được,
huống là lấy mắt ngó! Việc ấy trong Thiền tông có nhiều.
Như
Hộ pháp thần muốn nhìn mặt vị trụ trì 30 năm của 1 ngôi
chùa đã kiến tánh, nhưng không thấy được, vì vị trụ
trì có hào quang. Hộ pháp thần không biết làm cách nào, rồi
hỏi chủ sự chùa: Tôi muốn thấy mặt trụ trì phải làm
thế nào?
Chủ
sự nói: Dễ mà! Ngày mai, đại chúng đang ăn cơm ông lấy
thùng cơm lật ngược lại.
Hộ
pháp thần làm theo lời nói, khi thùng cơm bị lật ngược,
vị trụ trì rầy: Cơm của thí chủ sao làm đổ như
vậy!
Lúc
đó, vị trụ trì không nhất tâm, thành ra hào quang hạ xuống,
Hộ pháp thần thấy được rồi lại trước mặt đảnh lễ.
Được một lúc, hào quang phục hồi thì Hộ pháp thần không
thấy nữa.
Tất
cả mọi người đều có hào quang, ai tu nhiều tâm lực mạnh
thì có hào quang mạnh. Hộ pháp thần còn thấy không được,
huống chi phàm phu làm sao thấy được! Thiền tông có chuyện
tích khác.
Tổ
Luật tông là Đạo Tuyên luật sư trì giới rất nghiêm chỉnh
cảm ứng được thiên thần ở cõi trời, mỗi buổi trưa
đem đồ ăn cúng dường trải qua thời gian tiếng tăm đồn
khắp nơi. Thiền sư muốn gặp người cõi trời ra sao? Một
hôm Thiền sư đến Đạo Tuyên, để chờ gặp người cõi
trời, chờ đến qua giờ ngọ, Thiền sư thấy người cõi
trời không đến, liền từ giả Đạo Tuyên về.
Vừa
ra khỏi nhà thì Thiên thần vào, Đạo Tuyên nói: Tại sao hôm
nay ông đến trể vậy? Biết tôi quá giờ ngọ không ăn!
Thiên
thần đáp: Không phải đi trể, tôi vẫn đi như mỗi ngày
vậy; nhưng có hào quang tỏa sáng khắp tòa nhà, nên tôi vào
không được, bây giờ hào quang tan, tôi mới vào được.
Đạo
Tuyên mới biết Thiền sư có hào quang, không phải như lúc
đầu coi thường Thiền sư không có oai nghi. Nhưng Thiền sư
trì giới siêu việt mà Đạo Tuyên không biết, không ngờ
Luật sư trì giới không bằng.
Diệu
dụng của tự tánh hiện ra không thể nghĩ bàn. Nếu có tội
hay không có tội, xưng danh đúng Quán Thế Âm thì tất cả
gông cùm xiềng xích được tan rã. Như đoàn người thương
buôn gặp cướp tặc chỉ trong đó có người xưng đúng danh
hiệu Quán Thế Âm thì cướp tặc không hại được.
Cho
nên, gọi Quán Thế Âm ban cho cái không sợ. Tất cả khủng
bố, khiếp sợ đều được thoát khỏi. Tức là nhất Tâm
thì diệu dụng tự tánh được hiện ra, chứ không phải niệm
suông một câu “Quán Thế Âm Bồ Tát” mà cứu được. Nếu
như vậy thì người nào niệm cũng đều được cả! Nhưng
lúc niệm phải niệm nhất tâm, muốn được nhất tâm nên
ngày thường phải có sự tu tập.
Như
tham thiền chỉ có nghi tình, không có niệm khác thì cái dụng
tự tánh hiện ra; như có tài xế xe hơi đang tham thiền, không
để ý xe, mà không đụng xe. Lúc chưa tham thiền bị cảnh
sát giao thông thổi phạt, tham thiền rồi không còn bị thổi
phạt.
Việc
ấy chứng tỏ sức dụng của tự tánh tự động, không cần
qua bộ óc. Nếu qua bộ óc thì không phải dụng tự tánh,
đó đều là vọng. Cho nên, nói xưng đúng danh Quán Thế Âm,
nghĩa là con mắt nghe được âm thanh, tức là không có phân
biệt. Nếu có phân biệt thì chỉ mắt thấy tai nghe.
Chánh
Văn:
Vô
Tận Ý! Quán thế âm Đại Bồ Tát sức oai thần cao lớn như
thế.
Nếu
có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm
Quán Thế âm Bồ Tát, liền được lìa dục.
Nếu
người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế
âm Bồ Tát, liền được lìa lòng giận.
Nếu
người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế âm Bồ
Tát, liền được lìa ngu si.
Vô
Tận Ý! Quán thế âm Đại Bồ Tát sức oai thần lớn, nhiều
lợi ích như thế. Cho nên, chúng sanh phải thường tưởng
nhớ.
Nếu
có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường
Quán Thế âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức trí huệ;
giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh
đẹp, vì trước đã trồng cội phước đức, mọi người
đều kính mến.
Giảng
giải:
Vô
Tận Ý là đại diện đương cơ phẩm kinh này, thần lực
tự tánh Quán Thế âm của mọi người rất oai thần. Nếu
người ham dâm dục, ngu si, sân hận, mà niệm đúng danh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát thì ngu si, sân hận sẽ hết.
Có
sự thật chứng tỏ, những người tham thiền, trước kia thích
coi hát, mặc áo đẹp hay ăn uống, tham thiền một thời
gian thì hết thích coi hát, mặc áo đẹp hay ăn uống. Tự
nhiên hạ căn chuyển thành thượng căn, như ban đầu nghe tôi
giảng không hiểu gì cả, có thể gọi ngu si, chỉ tin lời
nói của tôi mà tham thiền vài tháng sau thình lình phát huệ;
trước kia coi kinh không hiểu, bây giờ coi kinh thì hiểu.
Tự
tánh mình đầy đủ, không kém hơn Phật. Không được dùng
ra là do bị tham sân si che khuất, nên không hiện ra cái dụng.
Như bụi che lấp mặt gương, nên gương không chiếu ra được.
Nếu quét sạch bụi trên gương thì ánh sáng gương hiện ra.
Không
phải do mình tu mà thành Phật, như không phải quét bụi
mới thành gương, vì gương đã thành sẵn. Lúc quét trống
ra được bao nhiêu thì cái dụng hiện ra bấy nhiêu. Bởi vì
Phật pháp nói đến chữ không là hiện ra cái dụng tích cực,
chứ không phải tiêu cực.
Như
nhà này, chẳng có cái không thì chúng ta chẳng thể ngồi
đây được. Cho nên, tất cả dùng đều phải nhờ cái không.
Có cái không mới dùng được, chẳng có cái không chẳng dùng
được. Vì vậy, Phật pháp nói đến cái không là hiện ra
cái dùng.
Ví
dụ cái tay là cái dụng của tự tánh, nó là hoạt bát vạn
năng, muốn lấy cái khăn, cái dĩa,… đều được. Nếu cầm
chặt cây bút thì không thể lấy thứ khác được nữa. Nếu
cần lấy thứ khác thì phải buông cây viết ra mới lấy được
mọi thứ.
Mà
cây bút là pháp có, nếu chấp không tức là trong nắm tay
không có gì hết, cũng làm mất cái dụng của cái tay. Như
nắm tay “không” cần phải buông ra thì cái dùng của tay
mới có. Như không còn chấp không thì cái dụng tự tánh được
hiện ra.
Tự
tánh luôn luôn hiện ra cái dụng hoạt bát vạn năng, nếu
chấp nơi có thì trụ nơi có, chấp nơi không thì trụ nơi
không đều có sở trụ, nên mất cái dụng hoạt bát vạn
năng tự tánh. Cho nên, không trụ chỗ nào thì cái dụng hoạt
bát vạn năng tự tánh có vô lượng vô biên.
Dụng
của tự tánh có oai thần lực như thế, có lợi ích cho chúng
sanh, nên tất cả chúng sinh đều hướng vào tự tánh mà ngộ.
Phải theo kinh thực hành, quét sạch bệnh chấp thật. Lúc
ấy, dụng Phật tánh hiện ra, mình không cần cầu nó vẫn
được.
Phật
tánh hiện ra thì được tự do tự tại, như muốn cầu nam
được nam, muốn cầu nữ được nữ, muốn cái gì được
cái nấy. Nếu còn một chút chướng ngại thì không được
tự do tự tại hay còn một chút khổ cũng gọi là không tự
do tự tại.
Vì
vậy chúng sinh đều phải thọ trì. Thọ trì là lãnh thọ
thực hành, chứ không phải chỉ có miệng nói, không thực
hành. Nếu như thế ai làm chẳng được! Vậy đâu có công
hiệu, tự tánh không hiện ra cái dụng để dùng. Cho nên,
tin tự tánh mình là Phật, rồi mới lãnh thọ thực hành theo,
được hiện ra cái dụng tự tánh, mới đúng danh Quán Thế
Âm có lục căn hổ dụng.
Chánh
văn:
Vô
Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức thần như thế.
Nếu
có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, thời
phước đức chẳng luống mất. Cho nên, chúng sanh đều phải
thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.
Vô
Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của 62 hằng hà sa
ức Bồ Tát, lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống, y
phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức
của người thiện nam tín nữ có nhiều chăng?
Vô
Tận Ý thưa: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.
Phật
nói: Nếu người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát,
nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước của
hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức
kiếp không thể cùng tận.
Vô
Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát đặng vô
lượng vô biên lợi ích như thế.
Ngài
Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Quán Thế Âm
Bồ Tát dạo đi trong cõi Ta Bà như thế nào? Nói pháp cho chúng
sanh như thế nào? Sức phương tiện việc đó như thế nào?
Phật
bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong
quốc độ nào đáng dùng thân Phật đặng độ thoát, thời
Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói
pháp.
Người
đáng dùng thân Duyên Giác đặng độ thoát, liền hiện thân
Duyên Giác mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Thanh Văn đặng độ thoát, liền hiện thân
Thanh Văn mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Phạm Vương đặng độ thoát, liền hiện thân
Phạm Vương mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Đế Thích đặng độ thoát, liền hiện thân
Đế Thích mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Tự Tại Thiên đặng độ thoát, liền hiện
thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên đặng độ thoát, liền
hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Thiên Đại Tướng Quân đặng độ thoát, liền
hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Tỳ Sa Môn đặng độ thoát, liền hiện thân
Tỳ Sa Môn mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Tiểu Vương đặng độ thoát, liền hiện thân
Tiểu Vương mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Trưởng Giả đặng độ thoát, liền hiện
thân Trưởng Giả mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Cư Sĩ đặng độ thoát, liền hiện thân Cư
Sĩ mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Tể Quan đặng độ thoát, liền hiện thân
Tể Quan mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Bà La Môn đặng độ thoát, liền hiện thân
Bà La Môn mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đặng
độ thoát, liền hiện thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc,
Ưu Bà Di mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng Giả, Cư Sĩ, Tể Quan,
Bà La Môn đặng độ thoát, liền hiện thân phụ nữ của
Trưởng Giả, Cư Sĩ, Tể Quan, Bà La Môn mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân đồng nam, đồng nữ đặng độ thoát, liền
hiện thân đồng nam, đồng nữ mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca
Lâu La, Ma Hầu La Dà, nhơn cùng phi nhơn đặng độ thoát, liền
đều hiện ra mà vì đó nói pháp.
Người
đáng dùng thân Chấp Kim Cang thần đăïng độ thoát, liền
hiện thân Chấp Kim Cang thần mà vì đó nói pháp.
Vô
Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát thành tựu công đức như
thế, dùng mỗi thân hình dạo đi trong các cõi nước để
độ thoát chúng sanh, cho nên các vị phải một lòng cúng dường
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Quán
Thế Âm Đại Bồ Tát ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban
sự vô úy, cho nên cõi Ta Bà này đều gọi là vị Thí Vô
Úy.
Giảng
giải:
Phật
nói: “Có người thọ trì 62 ức, hằng hà sa Bồ Tát”. Tại
sao nói 62 ức? Không nói 60 hay 61? Vì kiến chấp của
chúng simh có 62 thứ, cho nên có số 62 để đối trị kiến
chấp. 62 thứ là gì? Gồm có tứ cú: Cú thứ nhất là “có”,
cú thứ nhì là “không”, cú thứ 3 là”chẳng có chẳng
không”, cú thứ tư là “cũng có cũng không”. Nếu chấp
có lọt vào cú thứ nhất, chấp không lọt vào cú thứ nhì,
chấp chẳng có chẳng không lọt vào cú thứ 3, chấp cũng
có cũng không lọt vào cú thứ tư. Nhân cùng với ngũ uẩn
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thành 20, rồi nhân với tam
thế (quá khứ, hiện tại, vị lai) thành 60 và cộng nguồn
gốc Có và Không thành 62:
(Tứ
cú x ngũ uẩn x tam thế ) + Có & Không.
Cho
nên, kiến chấp gồm 62 thứ, tất cả các pháp đều do kiến
chấp này sanh ra. Vì thế, muốn trị bệnh của chúng sinh,
mới nói có 62 ức số để trị bệnh chấp chúng sinh.
Thọ
trì 62 ức hằng hà sa số Bồ Tát để đối trị 62 kiến
chấp này, mình chỉ xưng đúng Quán Thế Âm là đầy đủ.
Bởi vì, tự tánh của mình đầy đủ tất cả, tất cả không
ngoài tự tánh.
Như
hư không pháp giới không ở ngoài tự tánh. Nói tâm bao gồm
hư không pháp giới thì tâm là tâm, hư không pháp giới là
hư không pháp giới là 2 rồi. Vì tự tánh bất nhị, nên hư
không pháp giới là tâm, tâm là hư không pháp giới, hư không
pháp giới là tự tánh, chứ không phải là 2 cái, nếu là
2 thì không phải tự tánh.
Nói
ra có 62 ức thì nhiều, nhưng gom lại là bất nhị, cũng là
Quán Thế Âm. Vì vậy công đức bằng nhau không khác, tất
cả dụng tự tánh hiện ra dùng không hết. Phước đức của
thế gian tuy nhiều, nhưng dùng có ngày phải hết; còn công
đức của tự tánh dùng không bao giờ hết, vì tự tánh không
sanh thì không diệt.
Chư
Phật muốn mình tu để tự tánh hiện ra cái dùng rốt ráo,
như quét trống bao nhiêu thì cái dụng hiện ra bấy nhiêu.
“Không” tích cực thì dụng tích cực. Thọ trì là quét
chấp trước cho sạch, nếu quét chưa sạch thì còn năng lực
gọi là tiềm năng, tiềm năng ẩn nơi tự tánh của mình.
Nếu
quét sạch chấp trước hoàn toàn thì cái dụng bằng Phật.
Lúc ấy được tự do tự tại, muốn dùng như thế nào đều
được cả. Ở đây nói có 32 ứng thân của Quán Thế Aâm
là chúng sanh nào cần thân Phân độ thì hiện thân Phật để
độ, cần thân gì thì hiện thân ấy để độ. 32 thứ là
tùy theo trình độ căn cơ của chúng sanh mà độ.
Như
Lục Tổ nói: “Tự tánh tự độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát
cũng là tự tánh tự độ, mỗi mỗi chúng sanh cũng là tự
tánh tự độ. Vì tự tánh là Quán Thế Âm Bồ Tát, tự tánh
là Phật, chứ không phải người khác độ mình được. Nếu
có người khác độ mình được, vậy Phật đại từ đại
bi độ chúng sanh hết thì chúng sanh bây giờ không còn khổ!
Không
thể kể ra chi tiết 32 thứ ứng thân, vì những thứ kia cũng
như vậy.
Chánh
văn:
Vô
Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: “Thế Tôn! Con nay cúng dường
Quán Thế Âm Bồ Tát”. Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu
báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lượng vàng, đem trao cho ngài
Quán Thế Aâm mà nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo
pháp thí này”.
Khi
ấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô
Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Xin Ngài
vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này”.
Bấy
giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên thương Vô
Tận Ý Bồ Tát và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ Xoa,
Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, nhơn
và phi nhơn, … mà nhận chuỗi ngọc đó”.
Tức
thời Quán Thế Âm Bồ Tát thương hàng tứ chúng và Trời,
Rồng, nhơn và phi nhơn,… mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm
hai phần: Một phần dưng Phật Thích Ca Mâu Ni, một phần dưng
tháp của Phật Đa Bảo.
Vô
Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức thần tự tại như thế,
dạo đi nơi cõi Ta Bà.
Giảng
giải:
Đến
đây, Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Con muốn cúng
dường xâu chuỗi ngọc cho Quán Thế Âm Bồ Tát”. Đây
là hình dung trân trọng cung kính pháp. Nếu mình không được
nghe pháp thì không biết cách tu hành, nên không được giải
thoát và không hiện ra cái dụng Phật tánh.
Vô
Tận Ý Bồ Tát muốn biểu thị cung kính Tam Bảo, mới lấy
xâu chuỗi ngọc rất giá trị cúng dường. Ban đầu Quán Thế
Âm Bồ Tát không chịu nhận. Vô Tận Ý Bồ Tát thưa cùng
với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Xin Ngài vì thương chúng
tôi mà nhận chuỗi ngọc này”.
Khi
ấy, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Phải thương xót Vô
Tận Ý Bồ Tát”. Vì Vô Tận Ý Bồ Tát là đại diện cho
đương cơ, thương Vô Tận Ý Bồ Tát là thương xót tất cả
người đang nghe pháp gồm có: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, nam cư sĩ,
nữ cư sĩ, Thiên Long bát bộ,…
Quán
Thế Âm Bồ Tát chịu nhận chuỗi ngọc anh lạc, rồi chia
ra làm 2 phần: Một phần cúng dường Phật Thích Ca và còn
một phần cúng dường tháp Phật Đa Bảo.
Phật
nói với những người nghe pháp: Tự tánh Quán Thế Âm của
mình có thần lực tự do tự tại, không những cùng khắp
thế giới Ta Bà, mà cùng khắp vô lượng vô biên thế giới.
Chánh
văn:
Lúc
đó, Ngài Vô Tận Ý nói kệ hỏi Phật:
Thế
Tôn đủ tướng tốt!
Con
nay lại hỏi kia
Phât
tử nhơn duyên gì
Tên
là Quán Thế âm?
Đấng
đầy đủ diệu tướng.
Giảng
giải:
Nói
đến chữ “diệu” thì bất khả tư nghì, nếu có tướng
để thấy là suy nghĩ được, vậy không phải “diệu tướng”.
Diệu tướng này có sẵn đầy đủ cái dụng của tự tánh,
tất cả chúng sanh cũng đầy đủ diệu tướng.
“Nhân
duyên gì tên là Quán Thế âm?” Ở trên nói Quán Thế Âm
Bồ Tát là cái dụng của tự tánh được hiện ra, mới có
lục căn hổ dụng, nên con mắt nghe âm thanh, vì vậy có tên
là Quán Thế âm. Việc ấy không thể suy nghĩ được, gọi
là đầy đủ diệu tướng. Cho nên, tất cả người thế gian
tôn kính trân trọng.
Chánh
văn:
Nói
kệ đáp Vô Tận Ý:
Ông
nghe hạnh Quan âm
Khéo
ứng các nơi chỗ
Thệ
rộng sâu như biển
Nhiều
kiếp chẳng nghĩ bàn
Hầu
nhiều nghìn ức Phật
Phát
nguyện thanh tịnh lớn.
Ta
vì ông lược nói
Nghe
tên cùng thấy thân
Tâm
niệm chẳng luống qua
Hay
diệt khổ các cõi.
Giả
sử sanh lòng hại
Xô
rớt hầm lửa lớn
Do
sức niệm Quán âm
Hầm
lửa biến thành ao.
Hoặc
trôi dạt biển lớn
Các
nạn quỷ, cá, rồng
Do
sức niệm Quan âm
Sóng
mòi chẳng chìm đặng.
Hoặc
ở chót Tu Di
Bị
người xô rớt xuống
Do
sức niệm Quan âm
Như
mặt trời trên không.
Hoặc
bị người dữ rượt
Rớt
xuống núi Kim Cang
Do
sức niệm Quan âm
Chẳng
tổn đến mảy lông.
Hoặc
gặp oán tặc vây
Đều
cầm dao làm hại
Do
sức niệm Quan Âm
Đều
liền sanh lòng lành.
Hoặc
bị khổ nạn vua
Khi
hành hình sắp chết
Do
sức niệm Quan âm
Dao
liền gãy từng đọan.
Hoặc
tù cấm xiềng xích
Tay
chân bị gông cùm
Do
sức niệm Quan âm
Tháo
rã được giải thoát
Nguyền
rủa các thuốc độc
Muốn
hại đến thân đó
Do
sức niệm Quan âm
Trở
hại nơi bổn nhơn.
Hoặc
gặp La Sát dữ
Rồng
độc các loài quỷ
Do
sức niệm Quan âm
Liền
đều không dám hại.
Hoặc
thú dữ vây quanh
Nanh
vút nhọn đáng sợ
Do
sức niệm Quan âm
Vội
vàng bỏ chạy thẳng.
Rắn
độc cùng bò cạp
Hơi
độc khói lửa đốt
Do
sức niệm Quan âm
Theo
tiếng tự bỏ đi.
Mây
sấm nổ sét đánh
Tuông
giá xối mưa lớn
Do
sức niệm Quan âm
Liền
đặng tiêu tan cả.
Chúng
sanh bị khổ ách
Vô
lượng khổ bức thân
Quán
âm sức trí diệu
Hay
cứu khổ thế gian
Đầy
đủ sức thần thông
Rộng
tu trí phương tiện
Các
cõi nước mười phương
Không
cõi nào chẳng hiện.
Các
loài trong đường dữ:
Địa
ngục quỷ, súc sanh
Sanh,
già, bệnh, chết, khổ
Lần
đều khiến dứt hết.
Chơn
quán thanh tịnh quán
Trí
huệ quán rộng lớn
Bi
quán và từ quán,
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng
Sáng
thanh tịnh không nhơ
Huệ
nhật phá các tối
Hay
tiêu tai khói lửa
Khắp
soi sáng thế gian.
Lòng
bi răn như sấm
Ý
từ diệu dường mây
Xối
mưa pháp cam lồ
Dứt
trừ lửa phiền não
Cãi
kiện qua chỗ quan
Trong
quân trận sợ sệt
Do
sức niệm Quan âm
Cừu
oán đều lui tan.
Diệu
âm, Quán thế âm
Phạm
âm, hải triều âm
Tiếng
hơn thế gian kia,
Cho
nên thường phải niệm.
Niệm
niệm chớ sanh nghi
Quán
âm bực Tịnh Thánh
Nơi
khổ não nạn chết
Hay
vì làm nương cậy.
Đủ
tất cả công đức
Mắt
lành trông chúng sanh
Biển
phước lớn không lường
Cho
nên phải đảnh lễ.
Giảng
giải:
Phật
nói: “Nay nghe hạnh Quán Thế âm”, tức là cái dụng của
tự tánh khắp mười phương. Tất cả Phật và Bồ Tát đều
có thệ nguyện rộng sâu như biển, không bị thời gian, số
lượng hạn chế nên gọi là nhiều kiếp không nghĩ bàn.
Đại
thanh tịnh là không sạch và không dơ. Chữ “đại” là siêu
việt số lượng, siêu việt hiện tướng, lìa tương đối.
Nếu có sạch có dơ thì chẳng phải là “đại”. Cho nên,
phải quét luôn cả thanh tịnh, mới được đại thanh tịnh.
“Ta
vì ông lược nói, nghe tên cùng thấy thân, tâm không bỏ qua
trống rỗng”. Như tham thiền không để lọt vào vô ký không,
phải có nghi tình; nếu không có vọng tưởng không có nghi
tình thì lọt vào vô ký không, đối với việc tu hành kiến
tánh là vô ích.
Nhưng
đây “nghe danh thấy thân” không phải thật mình nghe danh
thấy thân. Như Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nghe là phản văn (nghe)”
là nghe tự tánh của mình. Tự tánh không có hình tướng,
không có thân. Kinh Kim Cang nói: “Không có thân mới là đại
thân”. Nếu có thân thì không phải đại thân, có hình tướng
cũng không phải là đại thân.
Lúc
tự tánh hiện ra thì tất cả khổ đều tiêu mất, giả sử
có người muốn hại mình, muốn xô xuống hầm lửa, niệm
đúng danh Quán Thế Aâm thì sức dụng tự tánh biến hầm
lửa thành ao mát trong xanh cho mình tắm. Đoạn dưới nói nạn
rồng, cá, quỷ,… nếu niệm được đúng danh Quán Thế Aâm
thì tất cả nạn kia không thể hại được.
Ở
đây nói nhiều thứ, nhưng ý nghĩa giống nhau, chỉ cần hiểu
một ý nghĩa là đủ.
“Quán
âm diệu trí lực” cũng là cái dụng của tự tánh cứu tất
cả khổ thế gian. “Đầy đủ sức thần thông”, vì thần
thông biến hóa tự tánh mình không kém thua Phật một chút
nào; Phật hiện ra dùng hết, còn mình hiện ra một phần nào
thôi.
Lúc
mình thọ trì theo lời Phật dạy, cuối cùng cũng hiện ra
hết cái dụng như Phật, gọi là kiến tánh thành Phật. Sức
dụng tự tánh được dùng ra hết gọi là Quan Thế Aâm diệu
trí lực thì tất cả khổ đều hết, nên đầy đủ tất
cả thần thông.
Vậy
10 phương quốc độ đều có thần thông lực. Nếu có thần
túc thông (biết bay) cũng không được tự do tự tại. Ngoại
đạo tà ma đều có 5 thứ thần thông, trong đó có thần túc
thông. Nếu muốn bay qua Pháp phải có không gian thời gian thì
bị không gian thời gian hạn chế, nên không được tự do
tự tại.
Nếu
thật tự do tự tại thì không cần bay, chỉ nổi niệm thì
đã qua Pháp rồi hay nuốn hiện thân ở cõi nào, chỉ khởi
niệm là thân ở cõi đó. Cho nên khỏi cần bay, cần bay thì
không được tự do tự tại.
Nếu
được tự do tự tại thì các khổ ác thú, địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, sanh lão bệnh tử đều tiêu diệt. Sau khi tiêu
diệt thì cái quán đó gọi là chơn quán. Ở đây có 5 thứ
quán là cái dụng của tự tánh:
Chơn
quán là quán sát không hư vọng, không dính líu gì cả, nó
rất trong sạch, luôn cả thanh tịnh cũng không có, mới là
thanh tịnh quán. Lúc ấy không phải trí huệ của thế gian
qua tác ý, nếu có tác ý thì không được quãng đại. Trí
huệ này là Bát Nhã mới được quãng đại, không bị số
lượng hạn chế, vì khắp 10 phương thế giới gọi là quãng
đại trí huệ.
Bi
quán và từ quán: Bi là cứu khổ chúng sanh, từ là ban vui.
Tự tánh sẵn có từ bi.
Từ
là vô duyên từ, tức là không thấy ta ban vui cho chúng sanh,
cũng không thấy chúng sanh thọ vui của ta, không có đối đãi
ta và người.
Bi
là đồng thể bi, tức là ta và chúng sanh đồng một bản
thể không khác, cho nên gọi là bất nhị.
Người
ta thường cho từ bi và bác ái giống nhau, nhưng khác nhau như
trời với đất.
Bác
ái là chấp ngã, tức là tất cả của ta được, rồi ta yêu
đại chúng, ta cho đại chúng. Còn từ bi thì không có ngã,
không có ta cho đại chúng, không có đại chúng thọ cái từ
bi của ta.
Từ
bi là cái dụng của tự tánh, không có ngã, không có tự,
không có tha, không có tương đối.
Nếu
chúng ta chưa đạt đến từ bi thì phải thường nguyện thường
chiêm ngưỡng, tức là tu tập ngày đêm không gián đọan.
Tu tập theo Giáo môn thì tu thiền quán, tu Tổ Sư thiền thì
hỏi câu thoại đầu, khởi nghi tình lên liên tục thì đúng
“thường nguyện thường chiêm ngưỡng”. Quét sạch tâm
chấp thì ánh sáng thanh tịnh hiện ra.
Ánh
sáng thanh tịnh tự tánh hiện ra cũng như trí huệ mặt chiếu
soi thì mây mù đen tối tiêu tan. Aùnh sáng tự tánh hiện ra
thì gió, lửa, tai nạn đều tiêu hết, thế gian được sáng
tỏ, các khổ không còn.
Dụng
tự tánh hiện ra thì không thể suy nghĩ được, phổ biến
khắp nơi, cho nên tất cả chúng sanh đều thọ nhận cam lồ.
Như trời mưa xuống chỗ nào thì chỗ ấy được thắm ướt.
Nay
tôi giảng phẩm Phổ Môn này các vị đều nghe hiểu, như
trời mưa mà các vị thọ nhận được cam lồ. Trước kia
có lửa phiền não thì nay được dập tắt. Nếu sức dụng
tự tánh hiện ra thì những oán ghét tranh chấp với nhau đều
tan rã hết.
Phạm
âm và hải triều âm là sức dụng của tự tánh. Chữ “phạm”
là thanh tịnh, hải triều âm là tiếng kêu của biển ngày
đêm liên tiếp không gián đọan. Cũng như sức dụng của
tự tánh không gián đoạn, mặc dầu thân này vào thai trâu
bụng ngựa,…
Nếu
tự tánh hiện ra thì âm thanh cùng khắp nơi hơn các âm thanh
thế gian, cho nên mình phải luôn luôn nhớ quán tự tánh của
mình. Tham thiền là hỏi câu thoại đầu khởi lên nghi tình,
để tự tánh của mình được hiện ra, dùng hết cái dụng
tiềm ẩn bằng như dụng tự tánh của Phật.
Các
vị nghe tôi giảng rồi không còn nghi ngờ nữa. Tự tánh của
mình là Quán Thế Aâm, cũng là Phật, có sức lực bằng Phật,
không kém hơn Phật. Tự tánh của mình thanh tịnh, vì thế
tất cả khổ nạn,… chỉ cần tự tánh được hiện ra thì
được yên ổn.
Chỉ
nhờ tự tánh của mình, chứ không nhờ ngoài tự tánh. Cho
nên, Phật và Tổ nói: “Tin tự tâm là Phật gọi là chánh
tín, tin ngoài tâm có Phật gọi là tà tín”. Nhờ chính mình
chứ không nhờ người khác, nếu nhờ người khác là ỷ lại
thì không được tự do tự tại.
Mình
phải làm chủ cho mình, mà hiện nay không biết mình là cái
gì! Vì vậy, không làm chủ mình thì không được tự do tự
tại, nếu được tự do tự tại thì hết các khổ. Chư Phật
chư Tổ muốn mình giác ngộ, chữ “Phật” nghĩa là giác
ngộ.
Giác
ngộ cái gì? Giác ngộ là biết là cái gì, chưa giác ngộ
nên không làm chủ được. Vì vậy, mình không muốn già nhưng
nó vẫn già, không muốn bệnh mà nó cũng bệnh, không muốn
chết thì nó lại chết. Giác ngộ biết mình là cái gì thì
làm chủ mình mới được tự do tự tại, tiềm năng của
mình dùng ra bằng Phật.
Tự
tánh của mình đầy đủ tất cả công đức, không phải do
mình làm ra. Cho nên, lấy “từ nhãn” mà xem chúng sanh thì
thấy phước đức của chúng sanh có vô lượng vô biên.
Đảnh
lễ Phật không phải đảnh lễ tượng Phật gỗ hay tượng
Phật đất, mà đảnh lễ tự tánh của mình và hướng vào
tự tánh của mình mà ngộ. Nếu có đảnh lễ thì không nên
quên tự tánh, vì vậy đảnh lễ là như thế!
Chánh
văn:
Lúc
ấy, Trì Địa Bồ Tát từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước
Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm
Quán Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại, phổ môn thị
hiện sức thần thông, nên biết công đức người đó chẳng
ít”.
Khi
Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám muôn bốn ngàn
chúng sanh đều phát tâm vô đẳng vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Giảng
giải:
Phật
thuyết phẩm Phổ Môn đến đây có Trì Địa Bồ Tát bạch
Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán
Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại, Phổ Môn thị hiện
sức thần thông, nên biết công đức người đó chẳng ít”.
Nghĩa là tự tánh mình hiện ra cùng khắp, thần thông lực
cũng hiện ra cùng khắp thì công đức không chỗ nào thiếu
sót.
Lúc
ấy, Phật thuyết phẩm Phổ Môn này, trong chúng hội có 84000
người đều phát tâm vô thượng bồ đề, tức là phát tâm
giác ngộ. Tâm giác ngộ ở trong Thiền tông gọi là phát tâm
vô sở đắc.
Phát
tâm vô sở đắc là phát tâm cao nhất, nếu còn có sở đắc
thì còn chấp ngã thì không phải tâm giác ngộ cao nhất. Cho
nên, tôi dạy các vị tham thiền, căn bản là vô sở đắc,
vô sở cầu, vô sở sợ.
Nếu
giữ được vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ thì tâm
bồ đề luôn luôn được giữ, luôn luôn được phát. Nếu
có sở đắc thì không phải tâm bồ đề, nên không được
giác ngộ, vì còn có ngã chấp.
Hỏi:
Các
vị kiến tánh rồi như những trường hợp quả báo của Sư
Tử tôn giả, Tổ Huệ Khả, Tổ Nam Đầu,… mà thầy đã
giảng có sức dụng tự tánh hiện ra thì những đao trượng
gãy từng khúc. Nhưng đao trượng đến các vị đó không gãy
từng khúc, mà ngược lại làm cho thân thể các vị phải
bị tan nát rất thê thảm, tại sao?
Đáp:
Câu
hỏi này rất hay, chư Phật chư Tổ độ chúng sanh có thuận
độ và có nghịch độ. Có việc Bồ Tát làm ra hiện tượng
ác rồi đọa địa ngục, để cho chúng sanh thấy sợ mà không
dám làm. Chứng Đạo Ca nói: “liễu tức nghiệp chướng bổn
lai không”, liễu là ngộ triệt để thì nghiệp chướng sẽ
tiêu hết.
Như
trong chiêm bao có người tạo tội, bị chính phủ chiêm bắt
khảo đánh, ở tù; lúc ấy rất khổ sở, nhưng khi tỉnh thức
thì thấy chiêm bao ở đâu? Luôn cả thân chiêm bao cũng không
có. Vậy ai phải chịu khổ, bị bắt khảo ở tù! Nhưng vì
độ chúng sanh, nên chư Tổ thị hiện cho chúng sanh sợ.
Thấy
rằng nhân quả không sai, như Phật nói: Dân tộc Phật Thích
Ca bị Lưu Ly Vương đem quân bao vây đều giết hết lớn nhỏ.
Lúc ấy, Tôn giả Mục Kiền Liên có thần thông thấy vậy
chịu không nổi, rồi lấy bát cứu 500 người đem lên hư
không để khỏi bị giết.
Khi
quân Lưu Ly Vương giết xong rồi kéo quân về, Tôn giả Mục
Kiền Liên đem bát xuống thấy trong bát toàn là máu. Rồi
Tôn giả Mục Kiền Liên hỏi Phật: Con đã cứu 500 người,
mà tại sao vậy?
Phật
nói: Đó là nhân quả.
Tôn
giả Mục Kiền Liên hỏi: Nhân quả như thế nào?
Phật
nói: Dân tộc Thích Ca sống nghề bắt cá, Lưu Ly Vương cùng
quân lính là cá ở trong một cái ao. Dân tộc này lấy hết
nước rồi bắt hết cá để ăn. Nhưng chỉ có một con nít
không bắt và không ăn cá. Con nít đó là ai? Là ta. Bây giờ
thành Phật rồi còn nhức đầu 3 ngày.
Vì
độ chúng sanh nên nói nhức đầu 3 ngày, nhưng ở trong kinh
khác nói: “Phật vì chúng sanh nên nói nhức đầu 3 ngày,
chứ Phật đâu có nhức đầu”. Bởi thế, Phật từ bi phải
nói như vậy, chỗ này nói như thế này thì chúng sanh mới
tin, chỗ khác nói khác thì chúng sanh mới tin. Nếu không biết
ý của Phật thì thấy rất mâu thuẫn, nhưng sự thật không
mâu thuẫn.
Phật
vì chúng sanh muốn thoát khổ, mà tùy theo căn cơ để thuyết
pháp, chứ không phải Phật có ý gạt chúng sanh. Chư Phật
chư Tổ nói: “Chư Phật chư Tổ không có ý gạt chúng sanh,
vì chúng sanh không thấu qua ý của chư Phật chư Tổ, nên
bị Phật, Tổ gạt”.
Như
nước sông, nước biển không có ý làm chướng ngại người,
tại người đi qua không được, nên bị sông biển làm chướng
ngại. Cho nên, trong Thiền tông nói: “Về sau tôi không bị
Phật, Tổ gạt nữa”. Có nhiều người theo mặt chữ giải
thích phẩm Phổ Môn thì nghịch ý Phật. Vì kinh Pháp Hoa là
kinh liễu nghĩa phá chấp thật.
Phật
thuyết 2 thứ kinh: Kinh liễu nghĩa là phá chấp thật và tùy
theo căn cơ chấp thật nên nói kinh bất liễu nghĩa.
Trong
kinh Duy Ma Cật, Phật dạy: “Phải y kinh liễu nghĩa, chứ
không y kinh bất liễu nghĩa”. Câu này ở trong pháp tứ y:
1-
Y pháp bất y nhân.
2-
Y nghĩa bất y ngữ.
3-
Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa.
4-
Y trí bất y thức.
