PHẦN
ĐẦU
ĐẠI PHƯƠNG
QUÃNG VIÊN GIÁC
TU ĐA LA LIỄU
NGHĨA KINH
Giải
thích đề kinh:
3 chữ
“đại phương quãng” là siêu việt số lượng, Viên Giác
là biệt danh của tự tánh, giác ngộ viên mãn là Phật. Chữ
“Phật” tiếng Aán Độ là Phật Đà, dịch ra giác giả
gồm 3 nghĩa: Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
“Tu
đa la” tiếng An Độ, dịch là kinh.
Phật
thuyết pháp có bất liễu nghĩa và liễu nghĩa:
- Bất
liễu nghĩa là tùy thuận bệnh chấp của chúng sanh mà bất
đắc dĩ nói bất liễu nghĩa.
-
Liễu nghĩa phá chấp thật, bất liễu nghĩa chấp thật.
Dịch
giả Sa môn Phật Đà Đa La ở nước Kế Tân là người không
có văn hóa, giai cấp thấp nhất.
Chánh
văn:
Tôi
nghe như vầy: Một thuở Phật nhập đđịnh Thần Thoâng Đại
Quang Minh Tạng, là nơi trụ trì Thường Tịch Quang Trang Nghieâm
của tất cả Như Lai,
Giảng
giải:
“Như
thị ngã văn”, tất cả kinh của Phật đầu tiên đều có
4 chữ này, 4 chữ này do tôn giả A Nan nói ra, để chứng tỏ
cho người ta được tin.
Như
thị là như vậy, ngã văn là ta nghe, tức là ta nghe như vầy.
Tôn giả A Nan là tổ thứ nhì của Thiền tông. 2 chữ “nhất
thời” là không có chỉ định một thời gian nào, nghĩa là
ngay lúc Phật thuyết pháp, Phật thuyết kinh nào cũng để
2 chữ “nhất thời”.
Bà
Già Bà (tiếng Phạn) là biệt danh của Phật, thuộc về quả
vị Phật từ xưa đến nay không dịch ra, chỉ dịch theo âm.
Tại sao? Vì nghĩa rất nhiều, nếu dịch một nghĩa thì sót
các nghĩa kia, thành ra không dịch.
Có
6 nghĩa: 1 là tự tại, 2 là trí thạnh (thạnh: rộn, trí:lửa
ùn ùn), 3 là đoan nghiêm, 4 là danh xưng (cái danh xứng đáng
để xưng hô), 5 là kiết tường, 6 là tôn quý. 6 nghĩa này
thường lấy tán thán công đức của Phật.
“Phật
nhập định Thần Thông Đại Quang Minh Tạng”, đây là chỗ
thuyết pháp của Phật.
Phật
gồm có 3 thân: Pháp thân, hóa thân, báo thân.
Nói
về Quốc Độ cũng có 3:
-Tịch
Quang Độ là pháp thân y trụ nơi đó.
-Thật
Báo Trang Nghiêm Độ là báo thân Phật y trụ.
-Phương
Tiện Hữu Dư Độ.
Thần
Thông Đại Quang Minh Tạng là thuộc về Tịch Quang Tịnh Độ,
vì lấy quang minh làm trang nghiêm, không phải lấy bảo vật
khác để làm trang nghiêm.
Tam
muội dịch là chánh định, Phật pháp có phá ngã chấp gọi
là chánh định, còn tà ma ngoại đạo cũng có nhập định,
nhưng không phá ngã chấp nên gọi là tà định.
Chánh
thọ là tiếng Hán, Phật nói: “Ở trong chánh định được
thọ dụng gọi là chánh thọ”, tức là tự thọ pháp lạc,
cho nên gọi là tam muội chánh thọ.
“Là
nơi trụ trì Thường Tịch Quang Trang Nghiêm của tất cả Như
Lai”, 2 chữ “quang nghiêm” là tịch quang, tức là lấy quang
làm trang nghiêm, cho nên gọi là quang nghiêm. Vì Tịch Quang
Độ là do pháp thân Phật y trụ nơi đó, mới gọi là trụ
trì, cũng như nhà ở của pháp thân, không phải việc khác
để so sánh được, vì hiện pháp này rất thù thắng.
Chánh
văn:
Cũng
là giác địa vốn trong sạch của tất cả chúng sanh, tất
cả thánh phàm đều tùy thuận bản thể bình đẳng bất nhị
của tự tánh đầy khắp mười phương không gian và thời
gian, thân tâm tịch diệt mà hiện cảnh bất nhị nơi các
cõi tịnh độ,
Giảng
giải:
Kinh
Viên Giác là biệt danh của tự tánh, tức là cảnh giới Phật.
Cảnh giới Phật mà tất cả chúng sanh đều sẵn có, ở đây
chúng sanh và chư Phật là bất nhị, trong thực tế bình đẳng
bất nhị.
“Thân
tâm tịch diệt bình đẳng bản tế, viên mãn thập phương
bất nhị tùy thuận”. Nếu có thân tâm là nhị, khi đạt
đến tịch diệt thì quên hết thân tâm, mới đạt đến bình
đẳng. Bản tế là thực tế cũng là bất nhị. Viên mãn thập
phương là cái dụng, cái dụng của tự tánh khắp mười phương.
Bất nhị tùy thuận là văn Hán, dịch ra là tùy thuận bất
nhị.
Bất
nhị là biệt danh của tự tánh, thuyết pháp phải tùy thuận
bất nhị. Như Lục Tổ nói: “Thuyết pháp không lìa tự tánh”.
Bất nhị thì bao gồm 10 phương không có trong ngoài, không
có thánh phàm, không có chúng sanh chư Phật, tất cả bình
đẳng. Cho nên nói: “Tùy thuận bất nhị”.
“Ư
bất nhị cảnh, hiện chư Tịnh Độ” là ở trong cảnh bất
nhị thì cảnh Tịnh Độ hiện ra, tức là chư Phật đều
thọ dụng pháp lạc. Nếu đạt đến cảnh giới này, không
có tướng thân, không có tướng tâm, không có thuyết pháp,
cũng không có khai thị.
Nói
từ cảnh bất nhị hiện ra cảnh Tịnh Độ là hiện ra tự
thọ dụng và hiện ra tha thọ dụng, việc ấy chỉ là Bồ
Tát Tịnh Địa (từ Sơ Địa đến Thập Địa). Nói về tự
tánh gọi là báo độ của pháp tự tánh, cho nên ở đây có
nói có nghe, có thuyết pháp có người nghe pháp.
Mặc
dầu, có thuyết pháp có người nghe pháp, như Phật cũng còn
ở trong tam muội chánh định, chưa ra ngoài định. Tại sao
có thuyết pháp? Vì ý muốn cho biết kinh này là pháp thân
Phật thuyết, tức là hiển thị pháp này lìa tâm ý thức.
Cảnh
giới lìa tâm ý thức là cao nhất, gọi là Như Lai tối thắng
thanh tịnh thiền, tức là pháp cao nhất, không có pháp nào
so sánh bằng. Bởi vậy, muốn thuyết pháp phải dùng tâm ý
thức, có người thuyết có người nghe, nhưng hiển thị lìa
tâm ý thức cảnh giới cao, không có kinh khác so sánh được.
Chánh
văn:
Cùng
với mười vạn Đại Bồ Tát, bậc thượng thủ là: Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Di
Lặc Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát,
Oai Đức Tự Tại Bồ Tát, Biện Âm Bồ Tát, Tịnh Chư Nghiệp
Chướng Bồ Tát, Phổ Giác Bồ Tát, Viên Giác Bồ Tát, Hiền
Thiện Thủ Bồ Tát, v.v... cùng các môn đồ đều nhập chánh
định, đồng dự pháp hội bình đẳng của Như Lai.
Giảng
giải:
Đại
Bồ Tát ma ha tát gồm 10 vạn người, bậc thượng có 12 vị
Bồ Tát thay mặt cho 12 vấn đề, đại diện đương cơ hỏi
Phật.
12
vị Bồ Tát thượng thủ và quyến thuộc đều nhập tam muội.
Tại sao đều nhập tam muội? Vì Phật thuyết pháp này ở
trong tam muội, nếu người nghe mà tán thán làm sao nghe được?
Cho nên, cũng phải nhập tam muội, rồi mới cùng trụ trong
bình đẳng pháp hội của Phật.
Tức
là người thuyết cũng phải ở trong tam muội và người nghe
pháp cũng phải ở trong tam muội. Vậy làm sao có thuyết có
nghe? Đây muốn hiển thị pháp này bất khả tư nghì, gọi
là diệu pháp bất khả tư nghì.
Có
một chuyện tích để hình dung pháp cao quý nhất:
Trước
kia Tu Bồ Đề đang tọa thiền ở hang núi, trời Đế Thích
rải hoa tán thán, nói: Tôn giả thuyết Bát Nhã rất hay.
Tu
Bồ Đề nói: Tôi ngồi đây đâu có thuyết Bát Nhã.
Trời
Đế Thích nói: Không thuyết mà thuyết, tôi không nghe mà nghe;
tức là không thuyết mà thuyết là chân thuyết Bát Nhã, không
nghe mà nghe là chân nghe Bát Nhã.
Lấy
chuyện
tích này để hình dung pháp này cao, không thấy không nghe mà
cũng thuyết cũng nghe. Đoạn này là tán thán pháp hội.
Chánh
văn:
Bấy
giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trong đại chúng từ chỗ ngồi
đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật,
chắp tay qùy gối bạch Phật rằng:
-Xin
Đại Bi Thế Tôn vì pháp chúng dự hội này giảng về nhân
địa phát tâm trong sạch của Như Lai phải dựa theo pháp nào,
tu theo hạnh gì mà được thành Phật. Và những Đại Thừa
Bồ Tát đã phát tâm trong sạch nguyện độ chúng sanh thành
Phật, nhưng chẳng biết dụng tâm tu hành như thế nào mới
được chánh tri kiến, xa lìa các thiền bệnh, khiến cho mạt
pháp chúng sanh đời vị lai cầu pháp đại thừa chẳng đọa
tà kiến".
Giảng
giải:
Đầu
tiên Văn Thù Bồ Tát đại diện đương cơ hỏi Phật thuyết
pháp, trong đại chúng đứng dậy, nhiễu quanh Phật 3 vòng,
rồi quỳ gối chấp tay hỏi Phật:
-Nhân
địa của Phật phát tâm y theo pháp nào và theo hạnh nào để
thành Phật?
-Bồ
Tát trong đại thừa phát tâm thanh tịnh, nguyện thành Phật
độ chúng sanh, không biết dụng tâm như thế nào, được
chánh tri kiến, không lọt tà kiến?
Chánh
văn:
Ngài
Văn Thù Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ
thưa thỉnh ba lần như vậy.
Bấy
giờ Phật bảo Văn Thù Bồ Tát rằng:
-Lành
thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tát hỏi
về nhân địa phát tâm của Như Lai dựa theo pháp nào, tu hạnh
gì, lại vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp cầu pháp đại
thừa được trụ nơi chánh pháp, chẳng đọa tà kiến. Nay
ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.
Lúc
ấy Văn Thù Bồ Tát và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật
dạy, im lặng mà nghe.
-Thiện
nam tử! Có pháp môn Tổng trì của Vô Thượng Pháp Vương
gọi là Viên Giác. Từ pháp này kiến lập tất cả thanh tịnh,
Chơn Như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật để dạy Bồ Tát
và chúng sanh về nhân địa phát tâm của tất cả Như Lai,
đều nên y theo giác tướng trong sạch chiếu soi đầy đủ,
dứt hẳn vô minh mới thành Phật đạo.
Giảng
giải:
Phật
thuyết xong Văn Thù Bồ Tát đảnh lễ ngũ thể đầu địa
(2 chân quỳ 2 tay hứng bàn chân Phật và đầu sát đất),
mỗi lần thỉnh đều đảnh lễ cho đến 3 lần; thường thường
người ta thỉnh và đảnh lễ 1 lần. Tại sao thỉnh và đảnh
lễ 3 lần? Là để biểu thị trọng pháp, vì chúng sanh được
pháp đó tu giải thoát.
Lúc
ấy, Phật nói với Văn Thù Bồ Tát: Tốt lắm! Tốt lắm!
Thiện nam tử (trong đó có thiện nữ nhân). Tại sao nói chỉ
có thiện nam tử? Vì Phật chỉ nói với đại diện đương
cơ, đại diện đương cơ là đại diện cho tất cả người
nghe pháp, ở trong pháp hội này gồm có 10 vạn người; nhưng
Phật chỉ nói Văn Thù Bồ Tát là đại diện đương cơ, nên
nói là thiện nam tử.
Được
vì pháp hạnh của Bồ Tát, để hỏi pháp hạnh nhân địa
của Phật trong đời mạt pháp, chúng sanh muốn cầu đại
thừa được chánh tri kiến chánh trụ trì, không lọt
vào tà kiến. Cầu hỏi như vậy rất tốt.
Lúc
ấy, Văn Thù Bồ Tát nghe lời giáo huấn rất hoan hỷ và đại
chúng im lặng lắng tai nghe.
Phật
nói: Thiện nam tử! Pháp vô thượng có đà la ni môn là Viên
Giác. Tiếng phạn đà la ni dịch là tổng trì, tổng bao gồm
tất cả pháp, trì là vô lượng nghĩa. Tức là không có pháp
nào không đầy đủ ở đó nên nói tổng, nhưng nhân quả
không mất không hoại nên gọi là trì. Tất cả thánh phàm
đều ở trong cửa này mà ra, ở trong cửa này là Viên Giác
tự tánh của mọi chúng sanh.
Chúng
sanh thành Phật được nhờ Viên Giác, ở trong này chảy ra
tất cả. Tuy chúng sanh có tâm ô nhiễm, nhưng nhiễm mà không
nhiễm nên gọi là thanh tịnh chân như. Tại sao gọi là chân
như? Vì từ vô thỉ đến nay không vọng không thay đổi, chỉ
vì vô minh che lấp, không hiện ra cái dụng của Phật. Tất
cả chân như, bồ đề, niết bàn đều là biệt danh và dụng
của tự tánh.
Viên
Giác chảy ra quả Phật, mà tất cả nhân địa Bồ Tát từ
trong đó chảy ra, ba la mật cũng từ trong đó chảy ra. Vì
dạy căn bản của Bồ Tát tu hành là không có pháp khác, nên
gọi là giáo thọ Bồ Tát, mà y theo Viên Giác, cái sáng suốt
tự tánh này để chiếu thanh tịnh tịch diệt của giác thể
gọi là giai y viên chiếu thanh tịnh giác tướng, tức là cách
tu hành. Như kinh Lăng Nghiêm nói: “Phản văn văn tự tánh”,
nghĩa như vậy. Nếu được trở về tự tánh thì vô minh vĩnh
viễn cắt đứt, mới được thành Phật.
Chánh
văn:
Thiện
nam tử! Thế nào là vô minh? Tất cả chúng sanh từ vô thỉ
đến nay đủ thứ điên đảo, ví như kẻ lạc đường nhận
lầm phương nam thành phương bắc, vọng cho tứ đại là thân
tướng thật của mình, cho vọng tâm tạo hình ảnh thành lục
trần là tâm tướng thật của mình, ví như kẻ bị nhặm
thấy hoa đốm trên không và thấy mặt trăng thứ hai.
Thiện
nam tử! Hư không vốn chẳng hoa đốm, vì bệnh nhặm vọng
chấp thành có. Do vọng chấp ấy, chẳng những không biết
tánh hư không, lại còn lầm nhận chỗ sanh ra hoa đốm là
thật. Từ cái vọng này thành có sanh tử luân hồi, nên gọi
là vô minh.
Giảng
giải:
Tại
sao là vô minh? Phật giải thích: Tất cả chúng ta từ vô thỉ
đến nay, tạo ra đủ thứ điên đảo, cũng như người đi
đường không biết đường đi; đáng lẽ chỗ mục đích là
phía đông, mà mình lại đi hướng tây, chỗ mục đích là
phía nam, mà lại đi hướng bắc, chỗ thật cần đi nhưng
không đi.
Nhận
tứ đại thân này làm tướng tự thân, tứ đại là địa,
thủy, hỏa, phong; cơ thể này do tứ đại tổ chức thành,
mà chấp thật cơ thể này là thân của ta. Cơ thể này có
lục căn tiếp xúc lục trần chấp là thật. Giống như người
mắt nhặm thấy hoa đốm trên không và thấy có mặt trăng
thứ 2.
Kỳ
thật, trong hư không đâu có hoa đốm! Tại do con mắt bệnh
mới thấy có hoa đóm, ở trên trời chỉ có một mặt trăng,
vì con mắt bệnh thấy mặt trăng thứ 2. Người bệnh
chấp đó là thật, do chấp thật làm mất đi tự tánh của
hư không.
Bởi
vì, tự tánh hư không thanh tịnh, đâu có hoa đốm! Mà người
mê cho là hư không sanh ra hoa đốm. Do cảm giác sai lầm mới
có việc sanh tử luân hồi do chấp thật nên gọi là vô minh.
Chánh
văn:
Thiện
nam tử! Vô minh này chẳng có thật thể, như người trong mộng
lúc chiêm bao thì có, đến khi thức tỉnh thì chẳng còn gì
cả. Cũng như hoa đốm diệt nơi hư không, chẳng thể nói
nhất định có chỗ diệt. Tại sao? Vì chẳng có chỗ sanh
vậy.
Tất
cả chúng sanh ở nơi pháp vô sanh vọng thấy có sự sanh diệt,
cho nên gọi là sanh tử luân hồi.
Thiện
nam tử! Như Lai nơi nhân địa tu theo tự tánh Viên Giác, chiếu
soi bản thể của tự tánh vốn tịch diệt, biết rõ thân
tâm thế giới như hoa đốm trên không, vậy thì thân tâm vốn
không, lấy gì để thọ sanh tử luân hồi? Cái KHÔNG này là
vì bản tánh vốn không, chẳng phải do tạo tác thành không.
Cái biết đó ví như hư không, kẻ biết như hư không đó
tức là tướng hoa đốm cũng chẳng thể nói không có tánh
tri giác, CÓ với KHÔNG đều lìa, ấy mới gọi là tùy thuận
giác tánh trong sạch.
Tại
sao? Vì tánh hư không thường trụ chẳng động. Trong Như Lai
Tạng vốn chẳng có sự sanh diệt nên chẳng có sự tri kiến
sanh diệt trong đó, cũng như pháp giới tánh, rốt ráo viên
mãn đầy khắp mười phương không gian và thời gian, ấy mới
gọi là nhân địa phát tâm theo chánh pháp, tu hành theo chánh
hạnh.
Bồ
Tát vì thế ở nơi đại thừa phát tâm trong sạch, chúng sanh
trong đời mạt pháp theo đó tu hành chẳng đọa tà kiến.
Giảng
giải:
Vô
minh thật không có bản thể, chỉ là giả danh thôi. Cũng như
mình thấy chiêm bao, thấy người ở trong chiêm bao, khi thức
tỉnh thì người trong chiêm bao mất. Vô minh này cũng vậy,
như hoa đốùm trên hư không, diệt ở trên hư không, tuy thấy
diệt nhưng không có chỗ nhất định diệt.
Tại
sao? Vì nó không có chỗ sanh thì không chỗ diệt. Vô minh cũng
vậy, không có chỗ sanh thì không có diệt, do vọng tâm hoạt
động có cảm giác sai lầm, nên chấp thật có sanh diệt,
có sanh tử luân hồi.
Chư
Phật cũng từ trong nhân địa tu theo Viên Giác này, giác ngộ
biết được không có sanh tử luân hồi, tức là không có
thân tâm này chịu cái khổ sanh tử luân hồi. Việc ấy không
phải do tu rồi nó tiêu diệt, tại bổn tánh nó vốn không
có.
Nếu
mình tiêu diệt thì nó có thật, tức là vô minh không có thật.
Chỉ cần giác ngộ thì thấy vô minh vốn không có. Bát Nhã
Tâm Kinh nói: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” là cái nghĩa
vậy.
Sở
tri và năng tri cũng như hư không, giác hư không tức là tướng
hoa đốm trong hư không chẳng thật có. Không thể nói là chẳng
có tánh tri giác, có và không đều phải quét sạch, mới gọi
là tùy thuận thanh tịnh giác tánh. Như trên nói là tùy thuận
bất nhị.
Tịnh
giác là biệt danh của tự tánh. Tại sao? Vì tánh nó là hư
không, hư không là trống rỗng không có bản thể. Hư không
chẳng lay động thì không sanh diệt. Như Lai Tạng như hư không
chẳng khởi chẳng diệt, cũng không có tri kiến.
Vì
thế, tôi giảng Bát Nhã Tâm Kinh, quét từ tri kiến phàm phu,
tri kiến Tiểu thừa, tri kiến Trung thừa, tri kiến Đại thừa
và tri kiến Phật thừa đều sạch hết, thì chứng quả Phật.
Bởi
vì, vốn không có tri giác, nói quét tri kiến là không đúng
rồi. Pháp giới tánh viên mãn khắp 10 phương, không thêm bớt,
như hư không vậy. Nên gọi là pháp hạnh trong nhân địa,
mà Bồ Tát vì việc này trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh
tu hành và giáo hóa chúng sanh đời mạt pháp theo pháp này
tu hành khỏi đọa vào tà kiến.
Tham
thiền là pháp hạnh nhân địa thành Phật. Tham thiền phải
phá ngã chấp bằng 9 chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô
sở sợ” thì không lọt vào tà kiến, mà thẳng đến thành
Phật.
Chánh
văn:
Lúc
ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:
Văn
Thù ngươi nên biết,
Tất
cả các Như Lai,
Từ
nơi bản nhân địa,
Đều
nhờ trí huệ giác.
Thông
đạt nơi vô minh,
Cũng
như hoa đốm kia.
Thì
khỏi bị luân hồi.
Cũng
như người trong mộng,
Thức
tỉnh cảnh mộng mất.
Giác
ngộ như hư không,
Bình
đẳng chẳng lay động.
Bản
giác khắp mười phương,
Liền
được thành Phật đạo.
Huyễn
chẳng chỗ sanh diệt,
Thành
đạo cũng vô đắc,
Vì
bản tánh viên mãn.
Bồ
Tát ở trong đó,
Khéo
phát tâm Bồ Đề.
Chúng
sanh đời mạt pháp,
Tu
theo lìa tà kiến
Giảng
giải:
Phật
giảng xong chỗ này, lại muốn giảng lần nữa, rồi nói ra
một bài kệ mỗi câu 5 chữ, bài kệ ý nghĩa trên đã nói.
Từ
nhân địa của mình lấy trí tuệ để liễu đạt vô minh,
biết rằng vô minh vốn không có bản thể, giống như hoa đốm
trong hư không. Nếu giác ngộ thì ra khỏi sanh tử luân hồi,
như người chiêm bao được thức tỉnh thì việc trong chiêm
bao chứng tỏ không thật.
Người
giác ngộ giống như hư không chẳng có bản thể (“người
giác ngộ” từ chữ “Phật Đà” dịch ra) thì mới bình
đẳng không có lay động, cái dụng của giác ngộ khắp 10
phương thế giới, tức là 10 phương thế giới đều là cái
dụng của tự tánh.
Ngộ
được vậy gọi là thành Phật đạo, tuy nói thành Phật nhưng
biết không có Phật đạo để thành, lúc ấy tất cả huyễn
đều tiêu diệt nhưng không có chỗ tiêu diệt. Vì không có
chỗ sanh thì không có chỗ diệt, tức là không có bản thể.
Kinh
nói vô minh không có bản thể, vì vô minh không có chỗ sanh
thì không có chỗ diệt. Nhưng muốn nói thì phải nói là diệt,
nói là thành Phật thành đạo. Thành Phật đạo cũng là nghĩa
vô sở đắc, tức là đến lúc chứng ngộ thì thấy không
có đạo để thành và không có Phật để thành. Vì bổn tánh
viên mãn như thế! Việc ấy giác ngộ mới biết.
Bồ
Tát phát tâm giác ngộ là phát tâm vô sở đắc, nếu có sở
đắc thì không thể giác ngộ. Cho nên, tôi thường dạy người
tham thiền phải vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ. Nếu
chúng sanh theo lời dạy trong kinh này tu hành thì khỏi lọt
vào tà kiến, tức là được chánh kiến, tu được đắc quả
thành Phật.
Tham
Tổ Sư thiền là theo chánh kiến, cũng là pháp hạnh nhân địa
để thành Phật, khi đến giác ngộ thì biết được vô minh
không phải thật, Phật cũng không phải thật. Nếu còn chấp
thật cái gì thì chưa giác ngộ, chưa phải thành Phật.
Hỏi:
Con
có chỗ không hiểu, thầy nói “muốn có Viên Giác thì phải
nhập tam muội”, trước đó thầy nói “nhập tam muội không
có tà định, phải có chánh định, tức là có sự thọ dụng
pháp lạc”. Kính xin thầy khai thị?
Đáp:
Tôi
nói Phật thuyết kinh Viên Giác là ở trong chánh định chánh
thọ mà thuyết, nhưng Bồ Tát cũng ở trong chánh định mà
nghe.
Vừa
rồi ông hỏi vấn đề này, kỳ thật chánh định của Phật
không có nhập định và xuất định, lúc nào cũng ở trong
định, ấy là nói pháp hội Viên Giác.
Còn
mình bây giờ thì khác, tôi không có nhập định để giảng
kinh Viên Giác, các vị nghe cũng không có nhập định để
nghe.
Hỏi:
Thế
nào là tam muội?
Đáp:
Tam
muội là chánh định, chánh định là để phân biệt tà định.
Tà định không được giải thoát, vì còn chấp ngã. Chánh
định là phá ngã chấp nên được ra khỏi sanh tử luân hồi.
Hỏi:
Thế
nào là ba la mật?
Đáp:
“Ba
la mật” là tiếng phạn, dịch là bờ sông bên kia. Bờ sông
bên nay có khổ có phiền não, không được tự do tự tại;
đến bờ sông bên kia hết phiền não, hết khổ, được tự
do tự tại. Cho nên, kinh Phật thường nói đến ba la mật
là đến được cảnh giới Phật được tự do tự tại, không
có phiền não, lìa được cái khổ sanh tử luân hồi.
Hỏi:
Xin
xác định lại, chánh định có nghĩa là chánh thọ, có chỗ
giảng chánh thọ có 3 nghĩa là vô thọ chư thọ. Ở đây chư
thọ là gì? Là khổ thọ, lạc thọ, vô khổ vô lạc thọ.
Nếu có cảm giác khổ là khổ thọ, có cảm giác sung sướng
là lạc thọ, có cảm giác không khổ và không sung sướng
là vô khổ vô lạc. Nếu lìa được 3 thọ này là chánh niệm
tam muội. Nếu nghe giảng chánh thọ được lạc thọ thì khó
hiểu, xin sư phụ giảng lại cho xác thực thêm?
Đáp:
Tôi
ở đây dạy Tổ Sư thiền không có thọ và chẳng thọ, thọ
và chẳng thọ đều phải quét sạch, vì thọ và chẳng thọ
là tương đối. Theo nghĩa tứ cú thì thọ là cú thứ nhất,
chẳng thọ là cú thứ hai, không thọ không chẳng thọ là
cú thứ ba, cũng thọ cũng chẳng thọ là cú thứ tư.
Trong
Tổ Sư thiền chỉ tự mình tham thiền đến kiến tánh, nếu
lấy lời nói cao siêu cũng là vô dụng, cho nên không xác định
danh từ nào đúng được. Tất cả danh từ đều giả danh,
gọi là danh tướng.
Hỏi:
Đức
Phật nhập chánh định thuyết kinh Viên Giác, đại chúng nghe
pháp cũng nhập chánh định nghe thuyết kinh Viên Giác. Vậy
hành giả tham thiền phải thế nào?
Đáp:
Tôi
giảng cũng phải có câu thoại đầu có nghi tình, các vị
đang nghe cũng phải có câu thoại đầu có nghi tình, như vậy
rất tốt, chứ không phải định.
Hỏi:
Tham
thiền được kiến tánh có đồng với bậc A La Hán không?
Đáp:
A La
Hán chưa phải kiến tánh, A La Hán dứt được tập khí tam
giới, tức là dứt hết tư hoặc và kiến hoặc, nhưng chưa
thấy bản tánh. Dứt hết kiến hoặc và tư hoặc thì không
tái sanh ở tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới),
tức là ra khỏi phần đoạn sanh tử, nhưng còn biến dịch
sanh tử, nên cần phải tiến lên vì còn chấp pháp.
Kiến
tánh thì không có ngã chấp và pháp chấp nên cao hơn A La Hán
rất nhiều, phá sơ quan là hơn A La Hán, chứ không phải bằng
A La Hán!
Hỏi:
Thế
nào phá trùng quan còn chút ghi nhớ?
Đáp:
Phàm
phu phá trùng quan, tập khí thế gian và xuất thế gian vẫn
còn nguyên. Nhưng phá trùng quan thì tự tánh rõ ràng hiện
ra, cũng như vũ trụ vạn vật rõ ràng không còn cái gì nghi
hoặc nữa. Cảnh giới đó ghi nhớ rõ ràng không có tan rã
được.
Cho
nên, không được chánh biến tri của Phật, đến sau này tiến
lên thì ghi nhớ cảnh giới đó không còn nữa, tức là phá
được trùng quan thì mới đạt đến cuối cùng. Nhưng người
muốn ghi nhớ đó, nên Tổ gọi là “chảo dầu sôi, lò lửa
than”.
Cảnh
giới phá trùng quan là thành thánh rất tốt, không cho ghi nhớ
mà còn phải cho tan rã hết mới đạt đến cảnh giới cuối
cùng. Mà bây giờ mình chưa có gì hết, lại ghi nhớ cho nhiều
thì bị hại biết bao nhiêu!
Hỏi:
Nguyên
do đâu A Nan trong vòng một đêm nhập định chứng A La Hán?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Tôn giả A Nan chứng quả Tư Đà Hàm, bị
Phật quở nên cố gắng tu sau này chứng A La Hán, nhưng chưa
kiến tánh. Rồi phát tâm tham thiền do tổ Ca Diếp truyền
cho cái nghi, có nghi nên mới được ngộ kế thừa nhị tổ
Thiền tông. Nếu không tu chỉ học rộng nghe nhiều thì không
thể nào chứng quả.
Hỏi:
Các
vị A La Hán có diệu dụng thần thông, còn phàm phu kiến tánh
có diệu dụng thần thông không?
Đáp:
Có
người kiến tánh rồi cũng không có thần thông, có người
không chứng A La Hán, tà ma ngoại đạo có thần thông. Thần
thông tà ma ngoại đạo trong kinh Lăng Nghiêm rất cao, như ở
Chợ Lớn đi Mỹ trong vòng 5 phút để lấy một món đồ là
có sự thật. Nhưng đó không phải sự giải thoát, cho nên
có thần thông không phải chứng quả.
Chứng
quả giải thoát thì khác, thần thông tự tánh có diệu dụng
vô lượng vô biên, không phải thần thông của A La hán và
thần thông của ngoại đạo có sự hạn chế.
Tự
tánh cùng khắp không gian thời gian, không phải ở chỗ này
đi đến chỗ khác. Như thần thông biết bay từ đây qua Mỹ
chỉ có 5 phút thì không phải thần thông của tự tánh. Tại
sao? Vì còn có thời gian và không gian hạn chế, có khoảng
không gian để bay, có thời gian là 5 phút.
Thần
thông của tự tánh khỏi cần bay, muốn hiện ở đâu thì
hiện. Nếu cần bay thì không phải thần thông của tự tánh.
Người chú trọng thần thông thì rất có hại, như nhiều
người có thần thông lại học Tổ Sư thiền, tôi bảo họ
bỏ thần thông nhưng họ không chịu bỏ.
Nếu
giữ lại thần thông là chướng ngại cho sự kiến tánh. Dù
phàm phu không có thần thông nhưng tu được kiến tánh, sau
này cũng hiện được thần thông tự tánh siêu việt tất
cả thần thông khác.
