PHẨM BÁT
NHÃ THỨ HAI
PHÁP BẢO ĐÀN
KINH
Chánh
văn:
Qua
ngày sau, Vi Sử Quân xin giảng nữa, Sư thăng tòa bảo đại
chúng rằng: “Cần phải tĩnh tâm niệm Ma Ha Bát Nhã La Mật
Đa”. Lại nói: “Thiện tri thức, trí bồ đề Bát Nhã của
chúng sanh vốn sẵn có, chỉ vì tâm mê chẳng thể tự ngộ,
phải nhờ thiện tri thức khai thị dẫn dắt để đi đến
kiến tánh. Phải biết Phật tánh của kẻ ngu người trí vốn
chẳng sai biệt, chỉ vì mê ngộ chẳng đồng, nên mới có
kẻ ngu người trí. Nay ta thuyết pháp Bát Nhã Ba La Mật, khiến
cho mọi người đều được trí tuệ, hãy chú tâm nghe.
“Thiện
trí thức, người đời suốt ngày miệng niệm Bát Nhã, chẳng
nhận được Tự Tánh Bát Nhã, cũng như nói ăn mà chẳng no,
miệng chỉ thuyết “Không”, muôn kiếp chẳng được Kiến
Tánh, rốt cuộc vô ích.
Thiện
tri thức, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là tiếng phạn, dịch là
đại trí huệ đến bờ bên kia, đây cần phải tâm hành,
chẳng ở miệng niệm, miệng niệm tâm chẳng hành thì cũng
như huyễn hóa. Miệng niệm tâm hành thì tâm và miệng tương
ưng. Bản tánh là Phật, lìa tánh chẳng có Phật.
Sao
gọi Ma Ha? Ma Ha là đại, tâm lượng như hư không, chẳng có
biên giới, cũng chẳng vuông tròn lớn nhỏ, cũng chẳng phải
xanh vàng đỏ trắng, cũng chẳng trên dưới dài ngắn, cũng
chẳng giận, chẳng vui, chẳng phải chẳng quấy, chẳng thiện
chẳng ác, chẳng đầu chẳng đuôi.
Các
cõi Phật đều đồng như hư không, diệu tánh con người
vốn không, chẳng có một pháp có thể đắc, tự tánh chơn
không cũng như thế.
Thiện
tri thức, chớ nên nghe ta nói “không” mà liền chấp “không”.
Trước nhất chớ chấp “không”, nếu để tâm “không”
tĩnh tọa là lọt vào “vô ký không”.
Thiện
tri thức, thế giới hư không bao hàm sắc tướng vạn vật,
mặt trời, mặt trăng, núi sông, đất đai, cây cối, biển
lớn, kẻ dữ người lành, pháp ác pháp thiện, thiên đàng
địa ngục, tất cả đều ở trong hư không, “Tánh Không”
của con người cũng vậy.
Thiện
tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp là đại, muôn pháp
đều ở trong tự tánh của con người. Nếu thấy điều dữ
điều lành của con người, tất cả đều chẳng lấy chẳng
bỏ, chẳng chấp chẳng nhiễm, tâm như hư không gọi là Đại,
nên nói là Ma ha.
Thiện
tri thức, kẻ mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có
kẻ mê để tâm “không” mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng
nghĩ, tự xưng là đại, với bọn người này không thể nói
gì được, vì họ rơi vào tà kiến.
Thiện
tri thức, tâm lượng quảng đại cùng khắp pháp giới, dùng
thì liễu liễu rõ ràng, ứng dụng liền biết tất cả. Tất
cả tức một, một tức tất cả, tới lui tự do, tâm thể
vô ngại tức là Bát Nhã.
Giảng
giải:
Pháp
Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng, bản dịch Việt văn,
nhiều người đều biết. Nhưng tôi thấy chánh văn không đúng
ý của Lục Tổ. Có người hỏi tôi: Thiền tông cần có nghi
tình, mà trong Pháp Bảo Đàn, không thấy Lục Tổ dạy người
khởi nghi tình?
Tôi
trả lời: Nếu trong Pháp Bảo Đàn dạy người khởi nghi tình,
thì ngài Huệ Năng không có tư cách làm Lục Tổ.
Bởi
vì, trước đời nhà Tống, chư Tổ không có dạy người tham
công án hay tham thoại đầu, mà dùng thủ đoạn. Thủ đoạn
của chư Tổ làm cho người tham thiền mà không biết mình
tham thiền, tức là khởi lên chân nghi mà tự mình không biết
nghi.
Nếu
Lục Tổ nói trắng ra thì ngài không có tư cách làm Lục Tổ.
Như Hoài Nhượng gặp Lục Tổ, Lục Tổ hỏi: Vật gì đến
thế này? Hoài Nhượng thắc mắc 8 năm sau mới ngộ. Nhưng
trong Pháp Bảo Đàn không có nói thắc mắc đến 8 năm, chỉ
nói là ngộ hay trả lời được.
Vi
Sử Quân là quan địa phương (nay gọi là tỉnh trưởng) ở
Tào Khê (nay chùa Nam Hoa) thỉnh Lục Tổ thuyết pháp.
Lục
Tổ thăng tòa thuyết với đại chúng rằng: Hãy tịnh tâm
niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Lục Tổ gọi người nghe
pháp là thiện tri thức, trí huệ của Bát Nhã, người thế
gian người nào cũng có, chỉ vì tâm mê mà không được tự
ngộ, phải nhờ đại thiện tri thức chỉ dẫn mới được
kiến tánh.
Phải
biết, Phật tánh của người ngu với người trí không có
sai biệt, chỉ vì mê ngộ không giống nhau, nên có ngu có trí.
Bây giờ, tôi nói pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa này, để cho quý
vị đều được trí tuệ, quý vị để ý nghe.
Thiện
tri thức! Suốt ngày miệng niệm Bát Nhã, nhưng sự thật không
biết Tự Tánh Bát Nhã, cũng như nói ăn mà không ăn thì không
no; miệng nói “không”, nhưng qua muôn kiếp không được
kiến tánh, cuối cùng vô ích.
Thiện
tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật là chữ phạn tiếng Aán Độ,
dịch ra đại trí huệ, tức đến bờ bên kia, mà cái này
thì tâm thực hành, chứ không phải ở miệng niệm. Nếu miệng
niệm mà tâm không thực hành giống như huyễn hóa, như lộ
như điển thì không có ích, chẳng thực tế.
Nếu
miệng niệm mà tâm thực hành thì tâm và miệng được tương
ưng, mới đúng với bổn tánh Phật, vì bổn tánh của mình
là Phật. Lìa tánh chẳng có Phật nào khác! Như nói “Tự
tâm là Phật, ngoài tâm không có Phật”.
Chữ
“đại” là siêu việt số lượng như hư không, chẳng có
số cho mình đếm được, không thể suy nghĩ. Cho nên, không
biên giới, không vuông tròn, không lớn nhỏ, không màu sắc
vàng xanh đỏ trắng, không trên dưới, không dài ngắn, không
sân, không vui, không thị phi, không thiện ác, không đầu đuôi,
tức là không có tất cả tương đối.
Như
tôi giảng Bát Nhã Tâm Kinh, nếu lọt vào tương đối thì
không phải Bát Nhã. Bát Nhã là dụng tự tánh automatic, tất
cả chư Phật đều như hư không. Diệu tánh của người thế
gian vốn KHÔNG, tức là không có pháp nào cho mình được.
Cho
nên, tôi dạy tham thiền là vô sở đắc. Chân tâm tự tánh
cũng như thế, không có một pháp nào cho mình đắc được.
Nếu có pháp nào đắc được thì không gọi là Bát Nhã, không
phải kiến tánh thành Phật. Nhưng Lục Tổ sợ người ta đuổi
theo lời nói, hiểu theo lời nói, ở đây giải thích.
Thiện
tri thức! Đừng nghe tôi nói không mà chấp không. Nếu ngồi
tĩnh tọa để tâm không là lọt vào vô ký không. Vì vậy
tôi dạy tham thiền, chẳng thà có nghi tình có vọng tưởng,
còn tốt hơn không có nghi tình và không có vọng tưởng. Vì
không có nghi tình không có vọng tưởng lọt vào vô ký không
là thiền bệnh.
Thế
giới hư không bao hàm tất cả vạn vật, mặt trời, mặt
trăng, vì sao, sơn hà, đại địa, núi sông, thảo mộc, tòng
lâm, người ác, người thiện, pháp ác, pháp thiện, thiên
đường, địa ngục... tánh Không của người thế gian cũng
như vậy, bao hàm vạn pháp, ấy gọi là đại.
Đại
là siêu việt số lượng, tất cả vạn pháp đều ở trong
tánh Không, chẳng thiếu sót một pháp nào cả. Nếu mình thấy
tất cả pháp ác pháp thiện mà không lấy không bỏ, không
nhiễm trước thì tâm như hư không, nên gọi là Đại, tức
Ma Ha.
Người
mê miệng nói mà tâm không thực hành, người trí miệng nói
thì tâm thực hành. Còn có người chấp theo ý của mình, cho
rằng trong tâm chẳng suy nghĩ gì hết, rồi tự xưng là Đại;
Lục Tổ nói những hạng người này, không thể nói chuyện,
vì họ có tà kiến sâu nặng khó phá được.
Tôi
thường nói, đối với chữ “Không” của Phật pháp là
hiện ra cái dụng, chứ chẳng phải không có gì! Pháp tu của
ngoại đạo hay pháp môn khác Tổ Sư thiền, thường thường
muốn cho tâm không, tức là không có một niệm gì hết. Nhưng
pháp môn Tổ Sư thiền không cho tâm không, tâm nghi phải liên
tục, không để niệm dứt.
Cho
nên, Lục Tổ nói: “Tâm lượng rộng lớn khắp pháp giới,
dụng thì rõ ràng”. Cái không của tự tánh trống rỗng,
như căn nhà chẳng có khoảng không thì chẳng thể ở được.
Cái tách chẳng có khoảng không thì không thể đựng nước
được.
Phàm
muốn dùng thì phải “không”, có “không” mới dùng được,
bất cứ cái gì cũng vậy, chứ không phải là cái “không”
chết! Vì thế, dùng thì rõ ràng, ứng dụng biết tất cả
là một, một là tất cả, đi ở tự do. Tâm thể cùng khắp
pháp giới, không có cái nào làm chướng ngại, ấy là Bát
Nhã.
Chánh
văn:
Thiện
tri thức! Trí Bát Nhã đều từ tự tánh mà sanh, chẳng từ
bên ngoài vào, chớ dùng lầm ý thức, gọi là chơn tánh tự
dụng.
Nhất
chơn nhất thiết chơn, tâm lượng là việc lớn. Chẳng nên
hành đạo nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói “không” mà trong
tâm chẳng tu hạnh này, giống như thường dân tự xưng là
vua thì không được, hạng người này chẳng phải đệ tử
của ta.
Thiện
tri thức! Sao gọi là Bát Nhã? Bát Nhã dịch là trí huệ. Bất
cứ nơi nào lúc nào, niệm niệm chẳng ngu muội (chẳng chấp
thật), thường hành đúng trí huệ, tức là hạnh Bát Nhã.
Một niệm ngu muội (chấp thật) thì Bát Nhã tuyệt, một niệm
trí huệ thì Bát Nhã sanh. Con người ngu mê chẳng thấy Bát
Nhã, miệng nói Bát Nhã mà trong tâm thường ngu muội, tự
nói ta tu Bát Nhã, niệm niệm nói “không” mà chẳng biết
“Chơn Không”. Bát Nhã không hình tướng, ấy là tâm trí
huệ, nếu hiểu thấu như thế gọi là Trí Bát Nhã.
Sao
gọi là Ba La Mật? Ba La Mật là tiếng Aán Độ, dịch là đến
bờ bên kia, nghĩa là lìa sanh diệt. Chấp cảnh thì sanh diệt
dấy lên như nước nổi làn sóng, tức gọi là bờ bên này;
lìa cảnh thì chẳng sanh sanh diệt như nước chảy im lìm,
tức là bờ bên kia, nên gọi là Ba La Mật.
Thiện
tri thức! Kẻ mê miệng niệm, đang trong lúc niệm có vọng
có sai, niệm niệm nếu hành, gọi là chơn tánh. Kẻ ngộ pháp
này là pháp Bát Nhã, kẻ tu hạnh này là hạnh Bát Nhã, chẳng
tu tức là phàm phu, một niệm tu hành tự thân bằng Phật.
Thiện
tri thức! Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ Đề, niệm
trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật. Niệm trước
chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ Đề.
Thiện
tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tối cao tối thượng tối
đệ nhất, không trụ không đi cũng không đến, tam thế
chư Phật từ đó ra. Cần phải dùng Đại Trí Huệ phá ngũ
uẩn trần lao, tu hành như thế, nhất định thành Phật, đổi
tam độc thành giới, định, huệ.
Giảng
giải:
Thiện
tri thức! Trí Bát Nhã là do tự tánh sanh, không những Bát
Nhã mà tất cả vạn pháp đều do tự tánh sanh ra, không phải
ở ngoài vào, không dùng ý thức sai lầm, mới gọi là chân
tánh tự dùng. Một chân nên tất cả đều chân, một giả
thì tất cả đều giả.
Tâm
lượng là sự lớn, không hành đường nhỏ. Đừng có suốt
ngày nói “không” mà không tu cái hạnh này, cũng như thường
dân tự xưng là vua thì không được. Nếu thường dân xưng
vua thì ở thời xưa bị chém đầu, nên Lục Tổ nói là “những
người này không phải đệ tử của ta”.
Tại
sao gọi là Bát Nhã? Bát Nhã dịch là trí huệ, tất cả chỗ
và thời gian, niệm không ngu si, thường thực hành niệm trí
huệ, tức là hạnh Bát Nhã. Nếu có một niệm ngu si thì Bát
Nhã dứt, một niệm trí thì Bát Nhã sanh.
Tại
sao một niệm ngu? Nếu mình có chấp trước cái gì là ngu.
Vô sở trụ là không chấp trước cái gì, không lọt vào tương
đối, không lọt vào tứ cú là trí. Cho nên, Tổ sư nói “không
có Bát Nhã không phải Bát Nhã, có Bát Nhã cũng không phải
bát Nhã”. Tại sao? Không có Bát Nhã thì không phải Bát Nhã,
vậy người ta hiểu; nói có Bát Nhã không phải Bát Nhã thì
người ta không hiểu, vì rơi vào tương đối là “có” thì
phải có cái “không” để đối đãi.
Người
thế gian ngu mê không thấy Bát Nhã, miệng hay nói Bát Nhã,
mà trong tâm lại chấp trước, nói rằng “ta tu Bát Nhã”,
nên gọi là thường ngu.
Nói
“không” là Bát Nhã thì sai lầm, vì Bát Nhã đâu phải “không”,
không đối với sắc là tương đối. Nếu ở trong tứ
cú thì Không là cú thứ nhì. Miệng cứ nói không mà chẳng
biết chơn không, chơn không là vô sở trụ, không phải trụ
nơi không.
Bát
Nhã không có hình tướng, tâm trí huệ tức là Bát Nhã, tâm
trí huệ thì vô sở trụ, nếu có sở trụ thì không phải
Bát Nhã. Giải như thế mới gọi là Bát Nhã trí.
Thế
nào là Ba La Mật? Đây là tiếng Aán độ dịch là bờ bên
kia, nghĩa là lìa sanh diệt. Nếu chấp trước cảnh gì thì
sanh diệt khởi lên, như nước vốn yên tịnh, khi gió thổi
thì làn sóng nổi lên, nên gọi là bờ bên này. Nếu lìa cảnh,
tức không chấp trước cảnh thì không có sanh diệt khởi
lên, như dòng nước lưu thông bình thường, nên gọi là bờ
bên kia.
Bờ
bên nay có sanh diệt, có phiền não không được tự do tự
tại; bờ bên kia không có chấp trước, tức là bệnh chấp
đã hết, không có phiền não, không có khổ. Nhưng người
mê, lúc miệng niệm, tâm có vọng có quấy, tức là không
chấp trước cái này thì chấp trước cái kia.
Nếu
niệm vô sở trụ gọi là chơn tánh, ngộ pháp này gọi là
pháp Bát Nhã, tu hạnh này gọi là hạnh Bát Nhã, không tu là
phàm phu, một niệm tu là tự thân bằng Phật.
Tại
sao một niệm tu là tự thân bằng Phật? Cũng như tham thiền
là đề lên câu thoại đầu, khởi nghi tình; chính nghi tình
không lọt vào tương đối, không lọt vào tứ cú. Niệm niệm
tu hành thì lúc ấy nghi tình liên tục, không có sanh diệt
nổi lên, không có phiền não, không có đau khổ, mà hiện
ra dụng Bát Nhã automatic của tự tánh.
Cho
nên, Lục Tổ nói “phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ
Đề, niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật”,
không có 2 thứ nên gọi là bất nhị, mà ở đây có người
y văn giải nghĩa có thể tưởng lầm.
Vì
lời nói nên mới có trước sau, ở trên nói “phàm phu tức
Phật, phiền não tức Bồ Đề”, tức là không có 2 thứ
để đối đãi. Nếu không có đối đãi thì tại sao nói niệm
trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật? Đã nói phiền
não tức Bồ Đề, phàm phu tức Phật, mà phàm phu là mê, còn
Phật là giác ngộ! Vì bệnh chấp thật của chúng sanh hay
phân biệt mê và ngộ, phàm phu và Phật. Nên Lục Tổ mới
nói như vậy.
Kỳ
thật, niệm không có trước sau, nếu nói có trước sau thì
kinh Kim Cang đâu nói “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện
tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc!” Có
trước sau, mê ngộ là 2.
Đề
câu thoại đầu khởi lên nghi tình, khỏi cần nghĩ đến trước
sau gì hết, khỏi cần chấp trước cảnh hay lìa cảnh. Vì
nghi tình là cây chổi automatic quét sạch tất cả. Cho nên,
nói “phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ Đề”, vì nghi
tình không biết, nên không có phân biệt.
Ma
Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa tối tôn tối thượng, không trụ,
không đi, không lại. Ba đời chư Phật đều trong đó sanh,
vì vậy mình trí huệ Bát Nhã đập tan ngũ uẩn trần lao,
tu hành như thế sẽ nhất định thành Phật. Nhưng nói đập
tan đả phá ngũ uẩn trần lao là không phải mình có nổi
ý đả phá, vì có nghi tình thì tự nhiên được đả phá.
Chánh
văn:
Thiện
tri thức! Pháp môn này từ Bát Nhã mà sanh ra tám mươi bốn
ngàn trí huệ. Tại sao vậy? Vì con người có bốn mươi tám
ngàn trần lao, nếu không có trần lao thì trí huệ luôn luôn
hiển hiện, chẳng lìa tự tánh. Người ngộ pháp này tức
là vô niệm vô ức (không ghi nhớ), vô nhiễm trước, chẳng
khởi cuồng vọng. Đối với tất cả pháp, dùng trí huệ
chơn như tự tánh chiếu soi, chẳng lấy chẳng bỏ, tức là
Kiến Tánh Thành Phật.
Thiện
tri thức! Muốn đi vào pháp giới thâm sâu và Bát Nhã Tam Muội,
phải tu hạnh Bát Nhã, thực hành theo kinh Kim Cang thì sẽ được
Kiến Tánh. Phải biết cái công đức kinh này vô lượng vô
biên, trong kinh rõ ràng tán thán, chẳng thể kể xiết. Pháp
môn này là Tối Thượng thừa, vì người đại trí mà thuyết,
vì người thượng căn mà thuyết, kẻ căn khí nhỏ nghe được
khó tin.
Tại
sao vậy? Ví như trận mưa bão lụt, thành thị nông thôn đều
bị cuốn trôi như cỏ lá, nếu mưa bão trong biển lớn thì
chẳng thêm chẳng bớt; như người thượng thừa, người tối
thượng thừa nghe kinh Kim Cang, tâm liền khai ngộ.
Nên
biết tự tánh vốn có trí Bát Nhã, trí huệ tự tánh thường
chiếu soi nên chẳng nhờ văn tự, ví như nước mưa chẳng
do trời có, mà do khí trời làm nên, khiến cho tất cả chúng
sanh, tất cả cây cối, hữu tình vô tình, đều được thấm
nhuần, tất cả sông ngòi đều chảy về biển lớn, hợp
thành nhất thể. Trí Tự Tánh Bát Nhã của chúng sanh cũng
vậy.
Thiện
tri thức! Kẻ tiểu căn nghe được pháp môn đốn giáo này,
như cây cỏ mà gặp mưa bão, đều tự gãy đổ chẳng sanh
trưởng được, kẻ tiểu căn cũng vậy. Họ vốn có trí Bát
Nhã đồng với người đại trí, chẳng có khác biệt, tại
sao nghe pháp mà chẳng được tự ngộ? Đó là do tà kiến
chướng nặng, phiền não căn sâu, như mây lớn che khuất mặt
trời, chẳng được gió thổi nên chẳng hiện ánh sáng.
Trí
Bát Nhã vốn chẳng lớn nhỏ, chỉ vì tất cả chúng sanh tự
tâm mê ngộ chẳng đồng, tâm mê tu hành hướng ngoại tìm
Phật mà chưa ngộ tự tánh, tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ
đốn giáo, chẳng chấp lấy hình tướng bên ngoài, chỉ ở
trong tự tâm thường khởi chánh kiến, phiền não trần lao
thường chẳng ô nhiễm, tức là kiến tánh.
Giảng
giải:
Thiền
tông rất chú trọng nghi tình, tu hành phải có nghi tình. Trước
đời nhà Tống, chư Tổ dùng thủ đoạn cho người tham học
phát khởi nghi tình mà tự mình không biết. Sau đời nhà Tống
bắt buộc tham công án tham thoại đầu mới khởi được
nghi tình.
Đời
xưa và đời nay có nghi tình mới được ngộ đạo, như Phật
Thích Ca ngồi dưới gốc cây bồ đề cũng khởi nghi tình
mà ngộ. Chính nghi tình này đầy đủ giới, định, huệ.
Cho nên, biến tam độc là tham, sân, si thành giới, định,
huệ.
Tại
sao nghi tình đầy đủ giới, định, huệ? Vì nghi tình là
không biết gì cả, không nghĩ đến thiện ác. Không suy nghĩ
là giới, nghi tình miên mật thì vọng tưởng khởi lên không
được, tâm không tán loạn là định. Chính nghi tình không
lọt vào tương đối, không lọt vào tứ cú thì vô sở trụ
là huệ.
Ở
đây mặc dầu không có pháp môn nào, nhưng thủ đoạn của
Tổ là pháp môn, làm cho người khởi lên nghi tình, mà người
tham thiền tự mình không biết, ấy là pháp môn rồi. Chứ
không phải đời sau này dạy công án hay thoại đầu là pháp
môn!
Pháp
môn của ta tức là môn phái của Tổ Sư thiền là từ Bát
Nhã sanh ra 84.000 trí huệ. Tại sao? Vì người thế gian có
84.000 trần lao. Nếu không có trần lao thì trí huệ thường
hiện ra, tức là cái dụng của tự tánh. Bây giờ trần lao
lấp đầy hết, không có cái trống rỗng thì cái dụng automatic
của tự tánh không được hiện ra.
Cho
nên, quét trống rỗng bao nhiêu thì cái dụng của tự tánh
hiện ra bấy nhiêu, quét trống rỗng tích cực thì dụng tích
cực là Phật. Cái dụng tức là trí huệ, trí huệ của người
thế gian cần phải tác ý. Trí huệ Bát Nhã được dùng thì
automatic, không cần tác ý.
Bây
giờ có nhiều Phật tử tham thiền đã chứng tỏ, như Trương
Quốc Anh, Trì Hằng Thiền và nhiều Phật tử được hiện
ra cái dụng của tự tánh phần nào.
Trí
huệ không lìa tự tánh, Lục Tổ thuyết pháp không lìa tự
tánh, nếu lìa tự tánh thuyết pháp gọi là tướng thuyết,
trong kinh này có nói. Ngộ pháp này tức là vô niệm, vô niệm
vô trước là tôi thường nói, quá khứ đừng ghi nhớ, hiện
tại chẳng trụ, vị lai không sắp đặt, gọi là vô trước,
vô niệm. Vô niệm không phải không có niệm nào hết! Không
khởi lên cuồng vọng thì cái dụng tự tánh automatic hiện
ra, gọi là tánh chân như.
Lấy
trí huệ để quán chiếu tất cả pháp. Nói quán chiếu thì
người ta có thể tưởng lầm là giáo môn quán chiếu. Nghi
tình tự nhiên quán chiếu, tuy lấy tên quán chiếu nhưng không
phải quán chiếu. Như Pháp Bảo Đàn nói: “Tọa thiền lấy
tâm tọa, chứ không phải lấy thân tọa”. Quán chiếu của
nghi tình là không lấy không bỏ thì cuối cùng sẽ kiến tánh
thành Phật.
Mình
muốn nhập thậm thâm pháp giới. 2 chữ “thậm thâm” này
là siêu việt số lượng, nghĩa rộng hơn vũ trụ. Muốn được
chánh định Bát Nhã thì phải tu hạnh Bát Nhã. Tham thiền
là hành thâm Bát Nhã, tức tu hạnh Bát Nhã, cũng gọi trì
kinh Kim Cang.
Thường
thường người ta cho tụng kinh là trì kinh thì sai lầm.
Tụng kinh là đọc tụng, trì là theo ý của kinh thực hành,
trì và tụng có liên quan với nhau. Trong kinh Kim Cang nói: “Đọc
tụng, thọ, trì”, nếu đọc tụng không hiểu nghĩa giống
như không đọc tụng. Đọc tụng hiểu ý nghĩa của Phật,
rồi mới lãnh thọ thực hành.
Cho
nên, cuối cùng của mỗi cuốn kinh đều có “tín, thọ, phụng,
hành”. Trì là phụng hành, tham thiền chính là trì kinh thì
được kiến tánh, nếu tụng suông không bao giờ kiến tánh.
Vì thế công đức kinh này có vô lượng vô biên, trong kinh
Kim Cang tán thán nhiều.
Pháp
môn này là Tối thượng thừa, vì người thượng căn mà nói,
nếu người tiểu căn nghe không tin. Tại sao? Như trời mưa
lớn làm cho cây cỏ bị xối mòn ngả gãy, còn mưa ở nơi
biển thấy nước không tăng thêm.
Như
người thượng căn nghe kinh Kim Cang tâm lực được ngộ được
hiểu, vì bổn tánh của mình có trí Bát Nhã. Nếu mình quyết
tử tham thiền thì trí Bát Nhã hiện ra, do thường quán chiếu
tức là có nghi tình, khỏi cần văn tự. Nên, Thiền tông nói:
“Bất lập văn tự” là vậy.
Theo
tập quán của thời Lục Tổ cho rằng con rồng làm mưa, làm
cho hữu tình và vô tình đều được lợi ích. Tất cả sông
lớn, sông nhỏ đều chảy vào biển lớn hợp thành một thể.
Trí của chúng sanh và bổn tánh Bát Nhã cũng như thế.
Người
tiểu căn nghe pháp đốn giáo, như cây nhỏ bị mưa lớn xối
xuống, không có lợi ích mà lại bị ngả đổ. Trí Bát Nhã
của người tiểu căn và trí Bát Nhã của người thượng
trí thì không sai biệt.
Tại
sao nghe pháp không khai ngộ? Vì bị tà kiến làm chướng ngại,
tà kiến nhiều chừng nào thì căn phiền não sâu chừng nấy.
Chính tà kiến ấy giống như mây lớn che khuất mặt trời,
nếu không có gió thổi thì ánh sáng mặt trời không thể
hiện ra.
Trí
Bát Nhã không lớn không nhỏ, vì tâm chúng sanh mê ngộ không
giống nhau. Người có tâm mê chỉ thấy Phật ở ngoài, không
tin tự tâm mình là Phật, nên không ngộ được tự tánh,
gọi là tiểu căn.
Phật
giáo đồ phần nhiều hướng ở ngoài mà tìm, chứ không tìm
ở tự tâm. Nếu ngộ pháp đốn giáo, không chấp ở ngoài,
chỉ ở trong tự tâm thường khởi lên chánh kiến.
Chánh
kiến là gì? Có nghi tình là chánh kiến, vì nghi tình không
trụ nơi nào thì phiền não trần lao không thể nhiễm được.
Nghi tình miên mật nên vọng tưởng khởi lên không được,
cuối cùng được kiến tánh.
Chánh
văn:
Thiện
tri thức! Trong ngoài chẳng trụ đi lại tự do, nếu trừ được
chấp tâm thì thông đạt vô ngại. Nếu tu được hạnh này,
với kinh Bát Nhã vốn chẳng sai biệt.
Thiện
tri thức! Tất cả kinh điển và văn tự, đại tiểu nhị
thừa, 12 bộ kinh đều do người đặt ra, vì có tánh trí mới
được kiến lập; nếu chẳng có con người thì vạn pháp
vốn chẳng tự có. Nên biết vạn pháp vốn do tâm người
kiến tạo, tất cả kinh sách là vì con người mà nói. Vì
trong con người có kẻ ngu người trí, ngu là tiểu nhân, trí
là đại nhân, kẻ ngu hỏi pháp với người trí, người trí
thuyết pháp cho kẻ ngu, kẻ ngu đốn ngộ tự tâm thì chẳng
khác với người trí vậy.
Thiẹân
tri thức! Khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm
khai ngộ, chúng sanh tức Phật. Nên biết vạn pháp đều ở
nơi tự tâm, vậy sao chẳng ở nơi tự tâm đốn thấy chơn
như bản tánh? Kinh Phạm Võng nói: “Tự tánh vốn thanh tịnh,
nếu nhận được tự tâm, thấy được bản tánh, tức thành
Phật đạo”. Kinh Duy Ma Cật nói: “Ngay lúc đó hoát nhiên
đốn ngộ, liền được bổn tâm”.
Thiện
tri thức! Ta ở nơi Hòa thượng Hoằng Nhẫn vừa nghe câu nói
liền ngộ, đốn thấy chơn như bổn tánh, cho nên hoằng dương
giáo pháp này, khiến hành giả đốn ngộ Bồ Đề, mọi người
tự thấy bổn tâm, tự kiến bản tánh.
Nếu
chẳng tự ngộ, phải tìm người đã khai ngộ pháp Tối Thượng
thừa, chỉ ngay đường lối chánh pháp, vì thiện tri thức
có nhân duyên lớn giáo hóa dẫn dắt, khiến hành giả được
Kiến Tánh, tất cả thiện pháp đều do thiện tri thức mà
được kiến lập.
Tam
thế chư Phật, 12 bộ kinh ở trong tự tánh vốn đã đầy
đủ, vì tự ngộ chẳng được, nên phải nhờ thiện tri thức
chỉ ra mới thấy, kẻ tự ngộ chẳng phải nhờ đến người
khác. Nếu cố chấp rằng phải luôn luôn ỷ lại thiện tri
thức mới mong được giải thoát thì không bao giờ được.
Tại
sao? Vì ở trong tự tâm sẵn có tri thức tự ngộ, nếu khởi
tà kiến mê chấp vọng tưởng điên đảo, dẫu cho gặp thiện
tri thức dạy bảo cũng chẳng cứu được. Nếu khởi chơn
tánh Bát Nhã tham cứu, trong một sát na vọng tưởng đều
tiêu, nhận được Phật tánh, đốn siêu Phật địa.
Thiện
tri thức! Dùng trí huệ chiếu soi trong ngoài sáng tỏ rõ ràng
thì nhận được bổn tâm. Nếu nhận được bổn tâm tức
vốn là giải thoát, được giải thoát tức là Bát Nhã Tam
Muội, Bát Nhã Tam Muội tức là vô niệm.
Sao
gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp không nhiễm trước
gọi là vô niệm, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc
ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức
ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng
trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại, tức là Bát Nhã
Tam Muội, tự tại giải thoát, gọi là vô niệm. Chứ chẳng
phải như người lầm tưởng cho là “trăm điều chẳng nghĩ,
chỉ cho niệm tuyệt”, ấy là pháp trói buộc, tức là biên
kiến.
Thiện
tri thức! Kẻ ngộ pháp Vô Niệm thông đạt vạn pháp, ngộ
pháp Vô Niệm thấy được cảnh giới chư Phật, ngộ pháp
Vô Niệm được đến địa vị Phật.
Thiện
tri thức! Nếu người đời sau ngộ được pháp này, đem pháp
môn đốn giáo này với những người đồng một chánh kiến,
chánh hạnh phát nguyện cùng tu, như cúng dường Phật mà suốt
đời chẳng thối lui, người ấy nhất định được vào Thánh
vị. Nhưng phải truyền thọ, từ trước đến nay các Tổ
đều mặc truyền tâm ấn, chẳng được ẩn giấu chánh pháp.
Nếu
chẳng phải đồng môn chánh kiến, chánh hạnh, là người
ở trong pháp khác thì chẳng được truyền thọ. Vì sợ kẻ
ngu chẳng hiểu, lại sanh phỉ báng pháp môn này, phá hoại
truyền thống Chánh Pháp của Cổ đức, làm cho muôn ngàn kiếp
sau đoạn dứt Phật chủng, cuối cùng vô ích.
Thiện
tri thức! Nay ta có một bài Vô Tướng Tụng, mọi người hãy
tự giữ lấy, không kể xuất gia, tại gia, nên y theo bài tụng
mà tu hành. Nếu chẳng tự tu, mà chỉ ghi nhớ lời ta cũng
chẳng ích lợi gì. Bài tụng rằng:
Giảng
giải:
Nội
tâm và ngoại cảnh là tương đối, Lục Tổ sợ mình chấp
vào lời nói của Tổ, nên ngài nói: “Nội ngoại đều không
trụ”. Vì bản tánh của mình hoạt bát khứ lai tự do. Nghi
tình quét sạch hết chấp tâm thì thông đạt, không có chướng
ngại. Nếu tu hành này với kinh Bát Nhã không có sai biệt.
Tham
thiền là trì đúng kinh Bát Nhã. Tất cả kinh Đại thừa,
Tiểu thừa, 12 bộ kinh đều do người làm ra. Do tánh trí huệ
mới kiến lập được, nếu không có người thế gian thì
muôn pháp cũng không có. Phải biết muôn pháp của pháp giới
vốn từ người làm ra. Tất cả kinh sách đều từ người
mới có.
Nhưng
có người ngu người trí, ngu là tiểu nhân, trí là đại nhân.
Người ngu hỏi người trí, người trí thuyết pháp cho người
ngu nghe. Người ngu thình lình được ngộ, với người trí
không có khác biệt. Cho nên không ngộ, Phật tức là chúng
sanh; nếu một niệm ngộ rồi, chúng sanh là Phật. Vì Phật
và chúng sanh là tương đối. Vạn pháp đều ở trong tự tâm,
không phải từ bên ngoài mà có. Tại sao không ở trong tự
tâm mà kiến tánh? Vậy muốn kiến tánh thì phải tham thiền.
Đã
tin pháp môn, mà không tin tự tâm mình là Phật thì tu không
thể kiến tánh. Lục Tổ dẫn chứng kinh Phạm Võng: “Tự
tánh vốn thanh tịnh, nếu nhận được tự tâm, thấy được
bản tánh, tức thành Phật đạo”. Lục Tổ lại dẫn chứng
kinh Tịnh Danh tức là kinh Ma Cật ý nghĩa cũng như vậy.
Nếu
tham thiền, công phu đến thành khối, khi gặp cơ duyên nào,
như bị vấp té cũng ngộ, bị đánh bạt tai cũng ngộ, nghe
một tiếng hát cũng ngộ,… lúc ngộ thình lình hoát nhiên
được bổn tâm (Phật).
Lục
Tổ không những lấy kinh nghiệm để dẫn chứng, mà còn lấy
kinh nghiệm của mình, nói rằng: “Tôi lúc ở Tổ Hoằng Nhẫn,
nghe Tổ giảng câu ‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’ của
kinh Kim Cang, thình lình hoát nhiên ngộ. Nên tôi mới lấy pháp
đốn giáo này để hoằng dương lưu hành, làm cho người được
giác ngộ”.
Mình
phải nhất tâm tham thiền sẽ được thấy bổn tánh. Nếu
không tự ngộ, cần phải tìm thiện tri thức hiểu pháp Tối
thượng thừa để chỉ đường lối chánh pháp. Vì thiện
tri thức có nhân duyên lớn giáo hóa chỉ đạo, làm cho mình
được mau kiến tánh.
Ba
đời chư Phật, 12 bộ kinh, ở trong tánh mình đầy đủ, chứ
không phải mình học từ cuốn kinh này qua cuốn kia mới biết
được. Lục Tổ không biết chữ, khi ngộ rồi, nói ra thành
Pháp Bảo Đàn Kinh. Cái học không phải của mình, nếu tự
ngộ nên không cần cầu ở ngoài. Cứ chấp rằng phải nhờ
thiện tri thức mới được kiến tánh thì không đúng.
Tại
sao? Vì ở nơi tự tâm mình có thiện trí thức, tự tánh có
đầy đủ thiện tri thức làm cho mình tự ngộ. Nếu tự mình
khởi lên tà kiến mê muội, vọng tưởng điên đảo thì thiện
tri thức ở ngoài không thể cứu được.
Nếu
mình chân chánh khởi lên Bát Nhã (nghi tình) ở trong một sát
na thì vọng niệm đều tiêu diệt. Có nhiều Tổ ngộ một
lần thấu qua 3 quan, tức là từ địa vị phàm phu chứng lên
quả Phật. Trí huệ Bát Nhã được dùng ra trong ngoài sáng
tỏ, biết được tự tâm vốn là giải thoát, chứ không phải
trước có bó buộc.
Được
giải thoát là chánh định, cũng gọi là Bát Nhã tam muội
và gọi là vô niệm. Lục Tổ sợ mình hiểu lầm 2 chữ “vô
niệm”, ở đây ngài giải thích thêm. Tại sao gọi là vô
niệm? Mình thấy tất cả pháp, tâm không nhiễm trước là
vô niệm, tức là cái dụng của tự tánh cùng khắp pháp giới.
Nếu không chấp trước ở mọi nơi thì bổn tánh thanh tịnh.
Như lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức không bị
nhiễm trước.
Bát
Nhã Tâm Kinh nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý và vô
sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp”, tức là không có nhiễm
trước. Vì được tự do, không bị chướng ngại, đó gọi
là Bát Nhã tam muội. Tất cả các pháp mình không suy nghĩ,
làm cho niệm tuyệt, làm cho pháp bị bó buộc, gọi là biên
kiến. Vì lọt vào chấp không, biên kiến là 1 trong 5 thứ
ác kiến.
Cho
nên, Lục Tổ nói đời sau được pháp của ta phải lấy pháp
môn đốn giáo này, nói với người đồng kiến đồng hành.
Nhưng người đồng kiến đồng hành phải phát nguyện thọ
trì như phụng sự Phật mới được, suốt đời không lui
sụt, nhất định sẽ nhập vào Thánh vị.
Sự
truyền thọ là từ ở trên xuống đây là nói “truyền”
không giấu chánh pháp, nếu người không phải đồng kiến
đồng hành, ở trong pháp khác thì không được truyền thọ.
Vì truyền thọ sẽ hại người đó, rốt cuộc vô ích. Tại
sao? Vì người ngu không hiểu, nên phỉ báng pháp môn này,
làm cho muôn ngàn kiếp chấm dứt hạt giống Phật.
Lục
Tổ có bài Tụng Vô Tướng khuyên những người tham thiền,
bất cứ tại gia hay xuất gia đều phải theo đó mà tu hành.
Nếu không tự tu, chỉ nhớ lời nói là vô ích.
Chánh
văn:
Thuyết
thông lại tâm thông,
Như
mặt trời giữa không,
Chỉ
truyền pháp kiến tánh,
Hoằng
pháp phá tà tông.
Pháp
vốn chẳng đốn tiệm,
Mê
ngộ có nhanh chậm,
Pháp
môn kiến tánh này,
Kẻ
ngu chẳng thể tri,
Thuyết
tuy muôn ngàn lối,
Đúng
lý chỉ là một,
Nhà
phiền não đen tối,
Thường
nên sanh huệ nhựt,
Tà
khởi phiền não tới,
Chánh
đến phiền não trừ,
Tà
chánh đều chẳng chấp,
Thanh
tịnh đến cùng tột.
Tự
tánh vốn Bồ Đề,
Khởi
tâm tức là vọng,
Tịnh
tâm ở trong vọng,
Niệm
chánh chẳng tam chướng,
Người
đời muốn tu đạo,
Tất
cả đều chẳng ngại,
Thường
tự thấy lỗi mình,
Với
đạo tức tương ưng.
Muôn
loài tự có đạo,
Mỗi
mỗi chẳng ngại nhau,
Ngoài
tâm đi tìm đạo,
Suốt
đời chẳng thấy đạo,
Sau
cùng tự áo não.
Muốn
thấy được chơn đạo,
Hạnh
chánh tức là đạo,
Nếu
tự chẳng đạo tâm,
Đen
tối chẳng thấy đạo.
Nếu
là người chơn tu,
Chẳng
thấy lỗi thế gian,
Nếu
thấy lỗi của người,
Trái
lại thành tự quấy,
Thấy
quấy thành tự lỗi.
Hễ
bỏ tâm chấp quấy,
Phiền
não tự tan rã.
Thương
ghét chẳng quan tâm,
Duỗi
thẳng hai chân nằm.
Muốn
hóa độ chúng sanh,
Tự
phải có phương tiện,
Khiến
họ hết nghi ngờ,
Tức
là tự tánh hiện.
Phật
pháp tại thế gian,
Chẳng
rời thế gian giác,
Lìa
thế tìm Bồ Đề,
Cũng
như tìm sừng thỏ.
Chánh
kiến gọi xuất thế,
Tà
kiến gọi thế gian,
Tà
chánh đều quét sạch,
Tánh
Bồ Đề rõ ràng.
Tụng
này là đốn giáo,
Cũng
gọi đại pháp thuyền.
Lúc
mê tu nhiều kiếp.
Ngộ
chỉ một sát na.
Sư
lại nói: “Nay ta ở chùa Đại Phạn thuyết pháp đốn giáo
này, nguyện cho pháp giới chúng sanh nghe được pháp này liền
kiến tánh thành Phật”. Lúc ấy Vi Sử Quân và tất cả quan
chức, đạo tục, nghe Sư thuyết pháp đều được tỉnh ngộ.
Đảnh lễ tán thán rằng: “Lành thay, đâu ngờ xứ Lãnh Nam
lại có Phật ra đời”.
Xem
Tiếp Trang Kế
