TRUNG QUÁN
LUẬN
Vì
sợ người ta chấp văn tự, không hiểu rõ nghĩa “Tất Cánh
Không” kinh Đại thừa do Phật Thích Ca nói ra, nên Bồ Tát
Long Thọ trước tác Trung Quán Luận này, mục đích lấy sự
hiểu biết của người ta chấp thật để chứng tỏ là sai
lầm.
Sự
hiểu biết hiện tượng thế giới này không có pháp nào thật
cả, tất cả đều là Tất Cánh Không. Nhưng người ta hiểu
lầm cho là đoạn diệt không, kỳ thật là để phá chấp
tâm của mình. Ngày xưa tình hình xã hội khác, đến đời
ngài Long Thọ khác nữa, sự hiểu biết cũng theo đó mà khác.
Ngày
nay khoa học tiến bộ thì sự hiểu biết lại khác. Nhưng
lời của Phật không khác biệt, vì Phật đã nói ra nghĩa
rốt ráo. Do mình có sự hiểu sai biệt, nên ngài Long Thọ
lấy sự hiểu của mình để chứng tỏ là không đúng.
Đáng
lẽ, Trung Quán Luận thấp hơn kinh liễu nghĩa của Phật mới
đúng, nhưng người ta không hiểu cho rằng cao hơn. Bởi vậy
giảng theo ở trong này, nhiều chỗ người ta không hiểu. Vì
mục đích để cho người ta hiểu rõ, mà theo đó lại làm
cho người ta càng thêm không hiểu. Bây giờ, khoa học tiến
bộ chứng tỏ sự hiểu biết mình sai và không thật có. Vậy
khỏi cần y văn trong này, từ câu từ chữ mà giảng.
PHẨM
NHÂN DUYÊN
Chánh
văn:
Bất
sanh cũng bất diệt,
Bất
thường cũng bất đoạn,
Bất
nhất cũng bất dị,
Bất
lai cũng bất xuất.
Thường
nói là nhân duyên,
Khéo
diệt các hý luận,
Tôi
kính đảnh lễ Phật,
Trong
các thuyết đệ nhất.
Giảng
giải:
Theo
trong này lấy hạt lúa để giải thích, mình biết người
nào cũng có cái thân. Thân này rõ ràng là do cha mẹ sanh, nhưng
cha mẹ cũng có cha mẹ sanh là ông nội bà nội sanh. Rồi ông
bà nội cũng có cha mẹ sanh nữa, cứ từ đời truy cứu không
hạn chế, cho đến cha mẹ đầu tiên được không?
Giả
thuyết muôn triệu kiếp trước có cha mẹ đầu tiên, vậy
cha mẹ đầu tiên ai sanh ra? Nếu có ai sanh ra thì còn có cha
mẹ, không phải đầu tiên. Nói không có cha mẹ sanh ra thì
ở đâu mà có? Truy cứu cha mẹ đầu tiên không có, tức là
đời thứ nhì không có, đời thứ ba cũng không có, cho đến
đời thứ mười,… đến đời mình cũng không có. Vậy là
bất sanh bất diệt.
Bây
giờ, mình biết có diệt thì phải có sanh, nên sự hiểu biết
của mình chứng tỏ là bất sanh. Mình chấp cái thân là thật,
nhưng truy cứu ra cứu cánh là không thật.
Bất
sanh cũng bất diệt thì cũng bất thường bất đoạn. Nếu
sanh là có thì sự có vĩnh viễn, phải thường. Nhưng sự
thật không thường, cũng như tôi già rồi phải chết, tức
là không phải thường. Từ con nít biến thành người già,
người già rồi sẽ chết.
Nếu
không có thường thì phải có đoạn, có đoạn thì trược
ác sanh khởi. Nhưng cha mẹ sanh con, con lớn lên rồi làm cha
mẹ sanh con nữa, không có đoạn. Sự thật vì đoạn là đối
với thường, diệt đối với sanh.
Thường
không có thì đoạn cũng không có, thường không có thì cái
nhất và cái dị cũng không có. Tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi,
nếu nói là nhất, tại sao mắt không nghe không ngửi được?
Tai không thấy không ngửi được? Mũi không thấy không nghe
được? Nói là nhất thì không đúng, vì sao chung một người
nói là khác? Lục căn đâu có độc lập mà nói khác!
Cha
mẹ đầu tiên không có, vậy mình từ đâu đến đây? Như
thời gian có bắt đầu không? Thời gian không có bắt đầu
thì mình từ đâu đến đây?
Triệu
Luận có bài Vật Bất Thiên thí dụ: Nếu có xưa mà đến
nay, có nay đến xưa thì xưa là trẻ nay là già. Nếu nay là
già, xưa có tướng trẻ thì xưa đến nay. Bây giờ già không
có tướng trẻ, chứng tỏ là xưa không có đến nay. Nếu
mà nay có đến xưa thì xưa phải có tướng già, nhưng xưa
không có tướng già. Sự thật là vậy, tức là không có lai
không có xuất.
Người
ta giảng kinh lấy nhân duyên để giải thích, nhưng ở đây
lại phá nhân duyên, nhân duyên không phải thật. Kinh Lăng
Nghiêm nói phi nhân duyên và phi tự nhiên là phá nhân duyên
và phá tự nhiên.
Mình
thấy thân mình là do cha mẹ sanh ra, nhưng truy cứu không có
cha mẹ đầu tiên. Lý nhân duyên không thành lập được, vì
không có nhân thứ nhất, làm sao có nhân thứ nhì, cho đến
nhân bây giờ. Tất cả cái gì cũng vậy, vì bệnh chấp trước,
như tôi lấy thân để ví dụ thì dễ hiểu dễ tin hơn.
Tự
nhiên trong này cũng có phá, nếu tự nhiên thì không cần nhân
duyên. Nhưng không có cha mẹ, làm sao sanh ra mình được? Lý
tự nhiên cũng không thể thành lập, mà nhà khoa học cho là
tự nhiên.
Nguồn
gốc các pháp và thế giới này từ đâu sanh ra? Được sanh
ra là do 3 thứ không gian, thời gian và số lượng. 3 thứ này
là cái gì? 3 thứ này không có bản thể, chỉ là 3 khái niệm
vọng tâm tạo ra.
Vũ
trụ vạn vật lấy 3 khái niệm này làm cái sườn nhà, vũ
trụ vạn vật là cái nhà. Nếu không có sườn nhà thì không
thể cất lên cái nhà được. Cái sườn nhà rút ra thì cái
nhà sụp đổ. Như 3 khái niệm không gian, thời gian, số lượng,
1 trong 3 cái tiêu mất thì vũ trụ vạn vật cũng tan rã.
Vũ
trụ vạn vật do 3 khái niệm này thành lập, cho nên Phật
nói “tất cả đều do tâm tạo”. Tất cả vật nào cũng
không rời 3 khái niệm này, nếu rời 3 khái niệm này thì
phải tiêu diệt. Như tôi ngồi đây chiếm mất một không
gian, năm nay tôi 61 tuổi, 61 là số lượng, tuổi là 61 năm
là thời gian. Nếu 3 thứ này rút ra vậy tôi ở đâu?
Nhưng
3 thứ này là hư vô không có bản thể, vì mình chấp thật
nên bị 3 khái niệm này bó buộc, không được tự do tự
tại. Cho nên ở Thiền tông có người kiến tánh gọi là đập
bể hư không, tức là phá khái niệm không gian. Kinh Kim Cang
nói: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả
đắc, vị lai tâm bất khả đắc” là đập tan khái niệm
thời gian.
“Pháp
thân vô vi bất đọa chư số”, nghĩa là vô vi pháp chẳng
đọa nơi số lượng. Đây là phá khái niệm số lượng. Không
gian, thời gian và số lượng không thể rời nhau được. Nếu
đập tan 1 cái thì 2 cái kia cũng tan luôn. Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Một người trờ về tự tánh thì 10 phương hư không đều
tiêu diệt” là đập tan khái niệm không gian.
3 khái
niệm đập tan thì được tự do tự tại, vì mình bị 3 khái
niệm này ràng buộc nên không được tự do. Muốn đập tan
3 khái niệm này là chỉ tham thiền đến kiến tánh. Nếu chưa
kiến tánh, mặc dầu mình hiểu biết, nhưng vẫn bị 3 khái
niệm này bó buộc.
Lập
trường Phật pháp nói kiến thức khoa học là si mê. Tại
sao? Vì họ chấp thật, Phật nói tất cả các pháp không có
sự bắt đầu, tức là vũ trụ vạn vật không có bắt đầu.
Tại sao các pháp không có bắt đầu? Vì thời gian không có
bắt đầu. Thời gian có bắt đầu thì các pháp mới có bắt
đầu, có sự bắt đầu thì phải có thời gian đầu tiên!
Cho nên, các pháp không sanh không diệt.
Ở
trên nói: Đoạn – thường, nhất – dị, lai – xuất làm
sao sanh ra được? Nếu hiểu nguồn gốc như vậy thì mấy
vấn đề đó cũng giải quyết.
Tất
cả có duyên đều thu nhiếp trong 4 duyên này. Do 4 duyên này
nên vũ trụ vạn vật mới sanh khởi. Cho nên, lấy nhân duyên
để nói tất cả hữu vi pháp.
Thứ
Đệ Duyên là từ quá khứ, hiện tại ở trong tâm và tâm
sở. Duyên Duyên, Tăng Thượng Duyên, tất cả các pháp đều
có trong bài kệ thứ nhì. Nếu quá khứ, hiện tại, tâm tâm
sở pháp, làm sao có Thứ Đệ Duyên, có Nhân Duyên, có Tăng
Thượng Duyên và tất cả pháp?
Có
quả phải từ duyên sanh hay phi duyên sanh. Nếu nói có duyên
thì phải có quả hay không có quả. Nhưng sự thật có quả
không đúng và không quả cũng không đúng. Tại sao? Nếu quả
chưa sanh thì lúc đó không được gọi là duyên, nhưng mắt
thấy duyên sanh quả, nên mình gọi là duyên.
Duyên
thành do quả, lấy quả sau duyên trước. Nếu chưa có quả
làm sao gọi là duyên? Duyên trước thì chưa có quả không
được gọi là duyên. Cho nên, duyên đó không thành lập được,
vì có quả mới gọi là duyên.
Ở
đây ví dụ cái bình là do nước và đất hòa hợp làm thành.
Nếu cái bình chưa có, tại sao không gọi đất và nước là
phi duyên? Vì vậy, quả không từ duyên sanh, duyên còn không
sanh huống là phi duyên!
Nếu
quả trước ở trong duyên thì không cần sanh; nói có không
được, nói không cũng không được. Nếu trước không có
thì làm duyên cho ai? Trước có thì không cần duyên. Nếu duyên
được sanh quả thì phải có 3 thứ: Nếu có, nếu không, nếu
có không.
Như
bài kệ nói, nếu ở trong duyên có quả trước thì không được
là sanh, vì trước đã có sanh rồi. Nếu trước không có quả
thì không được gọi là sanh. Nếu duyên cũng vô duyên thì
vẫn vậy.
Có
– không thì chẳng sanh, vì nửa có nửa không là có với
không trái ngược nhau, nên ở trong một pháp không được
2 tướng có – không ở chung. Nếu có trong 3 thứ này, muốn
cầu tướng quả không được, làm sao nói có nhân duyên?
Tất
cả pháp tâm tâm sở ở trong quá khứ, hiện tại, vị lai,
tức là thứ đệ từ lớp sanh ra. Hiện tại pháp tâm tâm
sở đã diệt, vị lai làm duyên cho thứ đệ. Pháp vị lai
chưa sanh làm sao thứ đệ cho ai? Nếu pháp vị lai đã có thì
đã sanh rồi, đâu cần thứ đệ duyên nữa!
Vì
pháp tâm tâm sở không người, không trụ. Nếu không trụ
sao làm thứ đệ duyên? Nếu trụ không phải pháp hữu vi.
Tại sao? Vì pháp hữu vi có tướng diệt, nếu đã diệt sao
làm thứ đệ duyên được!
Pháp
đã diệt, mà nói thường thì cái thường đó không tội phước,
không nhân quả. Nếu pháp làm thứ đệ duyên, lúc nửa diệt
nửa chưa diệt thì không có pháp thứ 3, gọi là lúc diệt.
Như sự đi vừa rồi nói.
Phật
nói: “Tất cả pháp hữu vi niệm niệm diệt, không có một
niệm thời gian trụ”. Vậy làm sao nói có pháp hiện tại
có sự muốn diệt mà chưa diệt? Tức là nửa diệt nửa chưa
diệt làm sao có?
Nếu
nói ở trong một niệm có muốn diệt và chưa diệt thì pháp
tự phá. Có pháp diệt có pháp không diệt thì pháp diệt là
hiện tại pháp sẽ muốn diệt và chưa muốn diệt, trừ hiện
tại sẽ muốn diệt pháp đó, dư pháp hiện tại, quá khứ,
vị lai vô vi pháp gọi là pháp không muốn diệt. Cho nên, không
có thứ đệ duyên. Ở trên phá nhân duyên, tiếp theo phá thứ
đệ duyên.
Nói
đến duyên thì phải có quả mới gọi là duyên, quả chưa
sanh thì không có diệt, nếu có pháp diệt thì không duyên.
Cho nên, không có thứ đệ duyên. Vì pháp trước đã diệt,
làm sao pháp sau làm thứ đệ!
Phá
Duyên Duyên:
Nếu
không nhân duyên, tại sao có duyên? Đây gọi là Thánh Ngôn
Lượng, tức là lấy lời của Phật để chứng tỏ. Hiện
Lượng, Phi Lượng, Tỉ Lượng và Thánh Ngôn Lượng gọi là
Tứ Lượng. Nếu lấy vi diệu chân thật thì không có duyên,
như kinh nói “phi nhân duyên”. Nếu không có duyên làm sao
có nhân duyên?
Phật
thuyết kinh Đại thừa: “Phàm có sắc hay không có sắc, có
hình hay không có hình, hữu lậu hay vô lậu, hữu vi hay vô
vi, tất cả pháp tướng do pháp tánh đều không”. Nghĩa này
vô tướng vô duyên, cũng như tất cả sông chảy ra biển đều
một vị. Nếu tin pháp Thánh Ngôn Lượng thì không có nhân
duyên. Ở đây chỉ lấy Thánh Ngôn Lượng để chứng tỏ.
Phá
Tăng Thượng Duyên:
Kinh
nói 12 nhân duyên, việc có cho nên nói việc có, ở đây không
phải vậy. Tại sao? Tất cả pháp đều do nhân duyên sanh,
nếu do nhân duyên sanh thì không có tánh nhất định. Không
có tánh nhất định thì không có tướng có. Tướng có không
thành được thì sao có việc có! Cho nên không có Tăng Thượng
Duyên.
Phật
tùy phân biệt của phàm phu mà nói có, nói không, nói nhân
duyên,… nhưng sự thật lời nói của Phật là phương tiện
tạm thời, không được chấp thật.
Ở
trong nhân duyên hòa hợp thì không có quả là duyên, trung là
mỗi mỗi duyên không có quả, thì duyên trung tất cả nhân
duyên đều không có quả. Đã không có quả làm sao nói từ
nhân duyên mà sanh ra?
Nếu
nói ở trong nhân duyên không có quả, mà lại trong nhân duyên
sanh ra quả thì cái quả sao không ở phi duyên mà sanh ra? Cũng
như trong nhân duyên tìm quả không được, tại sao không
ở cái khác (ngoài nhân duyên) mà tìm quả?
Như
cái bình do đất và nước hợp thành nói là duyên, ở trong
đất và nước tìm không có bình thì ở nhân duyên tìm không
có quả. Cho nên, duyên không được và phi duyên cũng không
được.
Quả
từ duyên sanh, mà duyên không có tự tánh; nếu không có tự
tánh thì không có pháp, không có pháp tại sao được sanh?
Cho nên, quả không từ duyên sanh, không từ phi nhân duyên sanh.
Vì duyên phá rồi, nên nói là phi duyên.
Kỳ
thật không có pháp phi duyên, nên không từ phi duyên sanh.
Nếu không từ duyên sanh, không từ phi duyên sanh, vậy thì
không có quả. Nếu không có quả thì duyên và phi duyên cũng
không, nên cuối cùng phá Tăng Thượng Duyên.
Đây
giảng theo Trung Quán Luận, nhưng tôi cảm thấy giảng theo
Trung Quán Luận rất phức tạp làm cho người ta khó hiểu.
Nên tôi giảng cho giản dị để người ta dễ hiểu dễ tin.
Vì vậy tôi không theo từng bài mà giảng.
Đáng
lẽ, Trung Quán Luận là thấp hơn kinh Đại thừa, vì luận
là để diễn bày kinh, người ta không hiểu mà nói Trung Quán
Luận cao, đó là sai lầm. Làm sao nói cao mà giảng cái thấp
được? Tại y theo bài luận mà giảng, vì sự hiểu biết
thời đại ngài Long Thọ có khác. Thời đại hiện nay sự
hiểu biết khác nữa.
Vì
vậy, phải theo tư tưởng hiện tại để giảng cho thích hợp,
dễ hiểu dễ tin. Nếu người ta nghe không hiểu thì không
tin được, nên tác dụng của luận cũng như không. Giới luật
của Phật là hoạt bát, nếu chấp chặt giới luật là nghịch
ý Phật.
Sự
thật tôi không có nghiên cứu giới luật, tôi nói chuyện
các vị luật sư hoằng luật thì người ta tưởng tôi có
nghiên cứu luật. Phải biết, Phật nhân duyên gì chế ra giới
luật? Ban đầu Phật chưa chế ra luật, đến 12 năm sau, có
người phạm giới nên mới chế ra điều luật.
Phải
hiểu nguồn gốc thì ứng dụng giới luật mới hoạt bát.
Phải biết ý Phật, nếu không hiểu ý Phật mà y văn giải
nghĩa, nhớ y theo giới luật thì nghịch ý Phật.
Như
Tu sĩ ở Trung Quốc không làm ruộng là phạm, nên hoằng dương
Phật pháp ở Trung Quốc không được. Tu sĩ ở Aán Độ không
làm ruộng là trì, nên hoằng dương Phật pháp ở Aán Độ
được. Ý của Phật sợ hoằng pháp bị chướng ngại, nên
mới chế ra giới giá.
Ý
Trung Quán Luận không phải muốn giải thích danh từ đó, mà
muốn phá bệnh chấp danh từ đó. Vì tất cả danh tướng
đều là giả danh, luôn cả danh từ Phật cũng giả danh, do
lý nhân duyên không thành lập được.
PHẨM
KHỨ LAI
Chánh
văn:
Đã
đi chẳng phải đi
Chưa
đi cũng chẳng đi
Lìa
đã đi, chưa đi
Đang
đi cũng chẳng đi
Giảng
giải:
Đang
đi mà lấy đã đi để chứng tỏ đang đi chẳng phải đi.
Vì đang đi, trừ ra cái đã và cái chưa thì đâu có cái đang.
Nhưng muốn lấy đã đi để chứng tỏ đang đi không phải
đi, nên phải tin cái đã đi chẳng phải đi trước, mình mới
lấy đó làm chứng được.
Vậy
có tin cái đã đi chẳng phải đi không? Đã đi chẳng phải
đi, nhiều người không thể tin được. Đã đi không phải
đang đi, nhưng có đi. Tại sao nói đã đi chẳng phải đi?
Khoa học bây giờ có chiếu bóng, phim của chiếu bóng từ
mỗi hình nối tiếp theo. Đây là giải sự đang rất dễ dàng.
Muốn
hình cho nó đi, bước 1 bước cần 10 cái hình, bước thêm
1 bước nữa cần 100 cái hình. Vậy 100 cái hình thấy có hình
nào đi không? Không có hình nào đi. Nhìn thấy thì 100 cái
hình nào cũng đang đi. Cho nên, đang đi chẳng phải đi, đã
đi chẳng phải đi.
Ngược
lại, lấy đang đi để chứng tỏ đã đi, đã đi để chứng
tỏ đang đi. Đang đi còn không phải đi, làm sao đã đi cho
là đi! Đây là nghĩa kinh Pháp Hoa: “Pháp đó trụ nơi ngôi
pháp, tướng thế gian thường trụ”. Như hình số 1 thì trụ
hình số 1, hình số 2 thì trụ hình số 2, hình số 3 thì trụ
hình số 3. Ngôi pháp nào trụ nơi ngôi pháp đó, tướng thế
gian thường trụ là như vậy.
Như
tôi là Tăng thì trụ ngôi pháp Tăng, nếu tôi hoàn tục thì
trụ ngôi pháp tục. Nếu ngôi pháp tục còn sống thì trụ
nơi ngôi pháp sống, nếu chết thì trụ nơi ngôi pháp chết.
Thường thường người ta thắc mắc chỗ này, tại sao tướng
thế gian thường trụ?
Vì
tướng thế gian sanh diệt, do có câu trên là “pháp đó trụ
nơi ngôi pháp”, tức là ngôi pháp nào trụ nơi ngôi pháp
đó. Ngôi pháp sanh trụ nơi ngôi pháp sanh, ngôi pháp diệt
trụ nơi ngôi pháp diệt. Tướng thế gian thường trụ, cũng
như nghĩa 3 câu kinh Kim Cang.
Đi,
tức phi đi, thị danh đi. Câu thứ nhất chấp đi là thật
có đi, câu thứ nhì là chấp chẳng phải đi, câu thứ 3 thì
đi là giả danh, phi đi cũng giả danh, thị danh đi cũng giả
danh; tức là câu thứ 3 phá câu thứ nhất, phá câu thứ nhì,
phá luôn câu thứ 3.
Tất
cả đều là nghĩa 3 câu, như phẩm Tác và Tác Giả, Nhiễm
và Nhiễm Giả,… của Trung Quán Luận đều là nghĩa
3 câu phá hết.
Ở
trong luận cũng có tứ cú kệ để lìa, nghĩa tứ cú và nghĩa
3 câu không khác. Nếu thông suốt nghĩa này thì kinh Đại thừa
liễu nghĩa và luận chư Tổ cũng thông suốt, khỏi cần nghiên
cứu từng câu từng chữ, từng bài hay từng cuốn kinh. Cho
nên mình phải biết nguồn gốc.
Nguồn
gốc là do 3 khái niệm không gian, thời gian, số lượng sanh
ra vũ trụ vạn vật này, tức là nghĩa “tất cả do tâm tạo”.
Nếu không có 3 khái niệm này, làm sao vũ trụ vạn vật sanh
ra được? Chính 3 khái niệm này là hư vô. Nếu đã biết
thì còn chấp thật chi nữa!
Vừa
rồi giảng xong phẩm Nhân Duyên và phẩm Khứ Lai. Các vị
có thắc gì đề ra hỏi, tôi sẽ giải đáp.
Hỏi:
Ý
Trung Quán Luận không phải 1 cũng không phải 2, vậy ở
chính giữa phải không?
Đáp:
Nếu
có 2 đầu mới có chính giữa, 2 bên chẳng có thì chính giữa
ở đâu? Trung đạo này cũng nghĩa 3 câu và tứ cú. 3 câu ấy
là: Trung, tức phi trung, thị danh trung. Trung là đối với biên,
trung là cú thứ nhất, biên là cú thứ nhì, chẳng trung chẳng
biên là cú thứ ba, cũng trung cũng biên là cú thứ tư.
Trung
đạo không phải thật, chỉ là giả danh. Nghĩa trung đạo
là lìa tứ cú và nghĩa 3 câu. Nếu cho trung đạo ở chính
giữa là sai lầm. Vì tròn ở giữa là trung, trên vòng tròn
là biên hay trung có 2 đầu biên. Không có biên làm sao có trung?
Không có 2 bên làm sao có chính giữa? Nói đến biên gồm có
1 thứ trong 5 thứ ác kiến: Biên kiến, thân kiến, tà kiến,
kiến thủ, giới cấm thủ.
Hỏi:
Có
phải xa lìa điên đảo chứng Niết Bàn không?
Đáp:
Như
vậy là chấp cứu cánh Niết Bàn, kỳ thật đâu có điên
đảo để xa lìa. Trung Quán Luạân đã phá hết, tất cả
chẳng có thật, làm sao điên đảo lại có thật? Kinh Viên
Giác nói: “Vô minh không phải thật”, mà ở trong vô minh
sanh ra điên đảo mộng tưởng làm sao thật được? Vì tất
cả đều do vô minh sanh ra là tại bệnh chúng sanh chấp thật
mới thành có vô minh và minh làm đối đãi.
Nếu
không chấp thật thì đi đâu tìm vô minh? Vô minh là do vọng
tâm tạo ra. Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô minh diệc vô vô minh
tận”, nghĩa là vô minh đã không có, làm sao hết vô minh?
Cũng như cái tách này có nước, tôi uống hết mới nói tôi
uống hết nước. Nếu cái tách này vốn không có nước, làm
sao nói uống hết nước được?
Kỳ
thật, có thì mới có sanh, hết mới nói là diệt; vừa
rồi nói sanh còn không có, làm sao nói diệt? Nếu có là thật
thì có phải vĩnh viễn. Cũng như thân tôi, nếu nói có thì
quá khứ phải có và vị lai cũng phải có; mà thân tôi quá
khứ không có, vì cha mẹ chưa sanh ra tôi. Vị lai là thân chết
đem thiêu thành tro cũng không có, hay là chôn dưới đất rồi
biến thành đất cũng không có.
Quá
khứ không có, vị lai không có sao thật có được? Nói không
có làm sao tôi ngồi đây nói chuyện? Cho nên, cái có không
thành lập và cái không có cũng không thành lập. Nhưng bệnh
chấp thật của chúng sanh chấp có rồi lại chấp không.
Ngài
Lai Quả nói: “Bệnh chấp thật làm cho mình phải bị sanh
tử luân hồi, muốn trị bệnh sanh tử chỉ có thuốc thoại
đầu mới trị được, nếu không dùng thuốc thoại đầu
thì không thể trị bệnh sanh tử”.
Đã
biết thân này không phải thật, tại sao ham tìm những cái
ở bên ngoài để hưởng thụ và tranh giành làm cho mình tạo
nghiệp khổ? Chấp nặng là chấp thân này, nếu không chấp
thân này thì dễ giải quyết. Cho nên tôi không theo Trung Quán
Luận để giải, mà theo cái thân để thí dụ.
Hỏi:
Nghiệp
bất tùng duyên sanh
Bất
tùng phi duyên sanh
Thị
cố tắc vô hữu
Năng
khởi ư nghiệp dã
Vô
nghiệp vô tác giả
Hà
hữu nghiệp sanh quả
Nhược
kỳ vô hữu quả
Hà
hữu thọ quả giả.
Tạm
dịch:
Nghiệp
chẳng từ duyên sanh,
Chẳng
từ phi duyên sanh,
Cho
nên không thật có.
Thường
khởi ở nơi nghiệp,
Không
nghiệp không tác giả,
Làm
sao nghiệp sanh quả?
Nếu
không có quả đó,
Sao
có người thọ quả?
Xin
thầy giảng bài kệ nói về nghiệp?
Đáp:
Truy
cứu thân này là vô sanh, làm sao nói tạo nghiệp? Đây là
căn bản. Nếu thân này không phải thật thì tạo ra nghiệp
này cũng không phải thật. Theo nghĩa 3 câu kinh Kim Cang thì
nghiệp, tức phi nghiệp, thị danh nghiệp.
Trong
này nói nghiệp chẳng từ nhân duyên sanh, cũng không phải
từ phi duyên sanh. Cho nên, nghiệp không thật có, vì nghiệp
không tự sanh, phải người tạo mới có. Nếu nghiệp đó
là thật thì không cần người tạo, tức là nó đã có hay
người làm nghiệp trước. Nếu người làm nghiệp có trước,
chưa có làm nghiệp sao nói là tác giả? Trung Quán Luận nói:
Nếu không nghiệp, không làm nghiệp, vậy từ đâu sanh?
Bây
giờ nghiệp sanh ra quả báo, cũng như ở trong trái cây, quả
thì không cần nhân duyên (nó đã có rồi). Nếu nói không
có thì sao sanh ra cái quả? Kỳ thật, biết không phải thật
là do cái không thật tạo ra, nên tất cả đều không thật
có.
Nghiệp
từ đâu sanh ra? Tất cả nghiệp không có sự bắt đầu. Nếu
nói người tạo nghiệp sanh, còn cái nghiệp không sanh, làm
sao có cái nghiệp đây? Nói không cần tạo nghiệp, tức là
không có duyên (phi duyên), phi duyên làm sao sanh? Không sanh được
thì cái nghiệp là hư vô, không có thật.
Bài
sau cũng có ý này, Phật có thần thông biến ra người, người
biến hóa được làm ra gọi là nghiệp. Người biến hóa không
phải thật tạo ra nghiệp, làm sao thật được? Truy cứu thân
mình không có sự bắt đầu, giống như người biến hóa.
Theo
thời đại của ngài Long Thọ thì sự hiểu biết theo thời
ấy. Hiểu biết thời nay tiến bộ nên có tầm nhìn khác hơn.
Vậy tôi không y cứ trong Trung Quán Luận để giải thích từng
bài, vì mục đích của ngài Long Thọ lấy kiến giải phá
kiến giải.
Trung
Quán Luận giải thường lấy trước sau để chứng tỏ. Như
lấy con gà và trứng gà để ví dụ: Nếu có trứng gà thì
trước phải có con gà, sự thật con gà có trước không được.
Vì không có trứng gà làm sao ấp ra con gà? Nếu trứng gà
có trước cũng không được, vì không có con gà làm sao có
trứng gà?
Theo
sự hiểu biết của mình thì con gà do trứng gà ấp ra, trứng
gà do con gà sanh ra. Nhưng 2 thứ đó không thể đầu tiên được!
Nếu 2 thứ đó là 1 thì trứng gà là trứng gà, con gà là
con gà. Nếu 2 thứ là khác thì lìa con gà không có trứng gà,
lìa trứng gà không có con gà, độc lập không được, cũng
là nghĩa bất nhất bất dị trong tám thứ bất.
Vì
con gà cũng do tâm tạo, trứng gà cũng do tâm tạo, làm sao
kết hợp được?
Bài
kệ kinh Hoa Nghiêm:
Nếu
người muốn biết rõ,
Tất
cả Phật ba đời,
Đều
thấy tánh pháp giới,
Hết
thảy do tâm tạo.
Nếu
còn 1 pháp không phải do tâm tạo thì Phật vọng ngữ, không
có pháp nào không phải do tâm tạo, nên gọi là “hết thảy
do tâm tạo”, luôn Phật ba đời cũng vậy.
Nói
tánh pháp giới là danh từ của đạo Phật, vũ trụ là danh
từ khoa học. Khoa học nói vũ trụ vạn hữu, còn pháp giới
bao gồm cả vạn hữu và vạn vô. Vạn hữu cũng ở trong pháp
giới, vạn vô cũng ở trong pháp giới; tức là nghĩa pháp
giới rộng hơn nghĩa vũ trụ. Hữu do tâm tạo và vô cũng
do tâm tạo. Cho nên, hữu không phải thật, vô cũng không phải
thật.
Tất
cả nói trong Trung Quán Luận đều là vô. Nếu chấp vô là
thật thì nghịch ý Trung Quán Luận. Vô là do hữu sanh ra, hữu
diệt rồi mới nói là vô. Hữu không phải thật thì vô làm
sao thật? Hữu với vô đối đãi, tất cả 62 kiến chấp đều
do hữu với vô sanh ra. Ngài Long Thọ mượn chữ “vô” để
phá bệnh chấp thật của chúng sanh, cũng là tùy theo thế
lưu bố tưởng.
Ca
Diếp đại diện đương cơ hỏi Phật: Phàm phu có điên đảo
tưởng sanh ra phiền não, bậc Thánh có điên đảo tưởng
sao không sanh ra phiền não?
Phật
nói: Sao ông nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?
Ca
Diếp đáp: Bậc Thánh thấy trâu cũng gọi là trâu, thấy ngựa
vẫn gọi là ngựa thì không phải điên đảo tưởng sao?
Phật
nói: Tưởng có 2 thứ, thế lưu bố tưởng và trước tưởng.
Phàm phu ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng,
còn bậc Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng không có trước
tưởng. Có trước tưởng mới có điên đảo tưởng, không
có trước tưởng thì không có điên đảo tưởng.
Tại
sao gọi là trước tưởng? Vì phàm phu thấy trâu chấp trâu
là thật, nên dính mắc vào trâu; thấy ngựa cho ngựa là thật,
nên dính mắc vào ngựa. Còn bậc Thánh thấy trâu không chấp
thật trâu, nên không dính mắc vào trâu; thấy ngựa không
chấp thật ngựa, nên không dính mắc vào ngựa. Bậc Thánh
chỉ tùy theo danh từ thế gian lưu hành mà gọi trâu gọi ngựa.
Aáy là thế lưu bố tưởng. Nếu không theo danh từ thế gian
thì lấy gì để nói!
Ngài
Long Thọ nói hữu nhưng không chấp thật hữu, nói vô nhưng
không chấp thật vô. Trong Trung Quán Luận từ đầu đến cuối
đều là “vô”, nếu mình chấp cho là “vô” thì bệnh
chấp càng nặng, không hiểu ý ngài Long Thọ.
Vì
chữ “vô” là thế lưu bố tưởng, cũng để phá chấp thật
chúng sanh, không phải nói vô là thật vô. Bát Nhã Tâm Kinh
nói: “Vô lục căn, vô lục trần, vô lục thức”, chữ “vô”
này là tác dụng như cây chổi để quét bệnh chấp thật
của chúng sanh, không phải vô là không có gì!
Hỏi:
Vừa
rồi thầy nói thời gian không có thật thể, chỉ là khái
niệm. Phẩm Quán Thời của Trung Quán Luận có 6 bài kệ.
Phẩm
Quán Thời.
Nhược
nhơn quá khứ thời
Hưởng
vị lai hiện tại
Vị
lai cập hiện tại
Ưng
tại quá khứ thời
Nhược
quá khứ thời trung
Vô
vị lai hiện tại
Vị
lai hiện tại thời
Vân
hà nhân quá khứ
Bất
nhân quán khứ thời
Tắc
vô vị lai thời
Diệc
vô hiện tại thời
Thị
cố vô nhi thời
Dĩ
y thị nghĩa cố
Tắc
chi dư nhị thời
Thượng
trung hạ nhất di
Thị
đản giai phát ngôn
Vân
hà thuyết thời tướng
Nhân
vật cố hữu thời
Ly
vật lìa hữu thời
Vật
thượng vô hữu thời
Hà
huống đương hữu thời
Xin
thầy giảng bài kệ cho đại chúng được rõ?
Đáp:
Ngài
Tăng Triệu nói: “Xưa không có đến nay thì nay không có đến
xưa”. Nếu nay không có đến xưa thì có quá khứ, xưa không
có đến nay thì có hiện tại. Ở đây nói, nếu do quá khứ
thì có vị lai có hiện tại. Như vậy vị lai và hiện tại
thì ở trong quá khứ.
Thí
dụ cái đèn có ánh sáng gọi là đèn, tùy theo chỗ có đèn
mới có sáng. Vì quá khứ nên có vị lai và hiện tại, trong
quá khứ phải có vị lai và hiện tại. Nếu ở trong thời
quá khứ có thời hiện tại và vị lai, tức 3 thời đều
là quá khứ rồi!
Tại
sao còn nói vị lai, hiện tại? Nếu không có vị lai, hiện
tại thì thời đó không có quá khứ. Vì tương đối sanh ra,
như gà sanh trứng, trứng sanh gà, không thể lìa nhau được.
Vậy do có quá khứ nên mới có vị lai, hiện tại. Vì có
vị lai, hiện tại nên mới có quá khứ.
Nếu
không có quá khứ chỉ có vị lai, hiện tại thì không được.
Nếu không có vị lai, hiện tại chỉ có quá khứ cũng không
được, tức là 3 thời đó đều không có thật. Cho nên, kinh
Kim Cang nói 3 thời không thể được, chỉ là do tâm tạo.
Như
không có con gà thì không thể có trứng gà, không có trứng
gà thì không thể có con gà, chỉ vì tương đối mà ra. Con
gà và trứng gà không có thật, nếu có thật thì phải có
bắt đầu mới sanh ra được. Bởi không có bắt đầu thì
không có sanh, nên không có thật.
Vì
vậy, 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai không sanh, tức là
không thật có.
Hỏi:
Không
sanh là không có lời nói, có nhân đầu tiên nên có sanh. Trong
hiện tại của thế gian thì có trụ, có trụ nên nói có diệt.
vậy như thế nào?
Đáp:
Trong
này có bài phá cái trụ, lấy thân này để thí dụ. Thân
này có trụ không? Thân này có quá khứ, rồi từ nhỏ đến
lớn; nếu thật có trụ thì thân con nít đâu thể lớn? Đâu
thể già? Nếu có trụ là thường làm sao diệt được?
Hay có trụ là thật thì không thể diệt, sự thật không trụ.
Phải biết tế bào mình thay đổi luôn luôn, 7 năm thay đổi
tức là 7 năm hoàn toàn khác.
Phật
lấy ngọn đèn để ví dụ, đốt ngọn đèn lên, thấy ngọn
lửa có trụ, không thay đổi. Sự thật ngọn lửa giây thứ
nhất khác ngọn lửa giây thứ nhì, ngọn lửa giây thứ ba
không phải ngọn lửa giây thứ nhất. Con mắt mình không thấy
biến đổi, tưởng nó trụ. Nhưng nó luôn luôn thay đổi liên
tục.
Như
mình cho cái ghế là trụ, nhà khoa học phát hiện cái ghế
đang hoạt động thường xuyên, nó gồm có 2 thứ động: Một
thứ động là do trái đất xoay, hai là do nguyên tử tổ chức
thành, mỗi hạt nguyên tử ở chính giữa có một trung tử,
xung quanh có nhiều điện tử, điện tử đó ngày đêm xoay
chuyển không ngừng.
Vì
con mắt mình không thấy cho là trụ, ấy sai lầm. Vậy tất
cả không có cái nào trụ, nếu trụ thì không thể biến đổi,
khắp thế gian này đều chết và làm sao có sanh diệt? Trung
Quán Luận có phá vấn đề này.
Ở
trong xã hội khoa học tiến bộ, nên lấy khoa học để giải
thích thì người ta dễ tin. Vì thế tôi không theo trong Trung
Quán Luận giải thích, nếu giải thích làm người ta khó hiểu
khó tin. Ngài Long Thọ lấy sự hiểu biết trước mắt để
chứng tỏ sự hiểu biết của mình không đúng.
Hỏi:
Phẩm
Quán Chúng Sanh: 20.
Nếu
chúng duyên hòa hợp
Mà
có cái “quả” sanh
Trong
hòa hợp đã có
Đâu
cần hòa hợp sanh
Nếu
chúng duyên hòa hợp
Trong
đó chẳng có quả
Tại
sao từ chúng duyên?
Hòa
hợp mà sanh quả.
Đáp:
Nhân
quả đó nếu hòa hợp sanh ra quả thì ở trong hòa hợp đã
có, làm sao cần hòa hợp mà sanh? Nếu chúng duyên hòa hợp,
ở trong đó có quả thì ở trong hòa hợp phải có, nhưng sự
thật thì không có. Nếu chúng duyên hòa hợp, ở trong đó
không có quả thì ở trong chúng duyên và không phải nhân duyên
giống nhau.
Như
hạt lúa làm nhân thứ nhất, nói trong hạt lúa có quả, khi
hạt lúa thấm nước thì nó lên mộng. Nếu đập hạt lúa
tan nát, thấy hạt lúa có mộng không? Tìm mộng lúa không
có. Mộng lúa không có thì sao nói hạt lúa sanh mộng?
Nếu
nói trong hạt lúa có quả sẵn thì khỏi cần sanh, vì đã
sanh rồi. Nếu trong hạt lúa không có quả thì sao sanh được?
Cho nên, sự thật nhân quả do tâm tạo.
Nếu
nói nhân quả đồng thời nên mình không thấy được, đồng
thời là một, sự thật không phải vậy. Mộng lúa và hạt
lúa thì khác nhau, nếu nói trong nhân duyên phải chịu phi nhân
duyên. Nếu là phi nhân duyên ở trong cái khác, làm sao nó không
sanh ra mộng lúa?
Cho
nên, chấp thật có không đúng, chấp thật không có cũng không
đúng. Ở trong này phá nhân quả, nhưng mình không phải không
ở trong nhân quả! Nếu chấp “không” mình cũng chịu cái
khổ, tuy cái khổ không phải thật. Giống như lúc khổ ở
trong chiêm bao, mình vẫn đau khổ vậy.
Hỏi:
Tất
cả lời giảng đều không thật, vì do tâm tạo. Vậy ý niệm
không thật đó có không thật không? Và nếu không thật thì
lấy gì tu để đến chỗ nhất như?
Đáp:
Nếu
tất cả đều không thật thì ý niệm đó làm sao thật được!
Nếu thật là không phải do tâm tạo thì nghịch với ý Phật.
Hay có nhất như để cho mình đạt đến cũng ở ngoài tâm
tạo. Vừa rồi nói 8 thứ bất, trong đó có bất nhất, bất
dị. Như vậy làm sao có nhất như!
Hỏi:
Trước
khi nhân quả chưa tạo, vậy nó là cái gì?
Đáp:
Theo
nhân quả làm thiện được quả thiện, làm ác thị chịu
quả ác. Nếu nói trước khi chưa có nhân quả, tức là không
có làm thiện làm ác thì ai lên thiên đường, ai xuống địa
ngục? Không lẽ không có tội lại bị đọa địa ngục và
không có phước mà lên thiên đường!
Phật
đã nói rõ, tất cả các pháp không có sự bắt đầu. Đã
không có sự bắt đầu, sao còn nói trước chưa có nhân quả!
Nói đến chưa có nhân quả thì phải có trước thời gian.
Vậy thời gian có trước khi có thời gian không?
Nếu
trước khi chưa có nhân quả, mà thình lình sanh ra nhân quả
thì có sanh. Tất cả pháp đều vô sanh, chứng quả là chứng
vô sanh pháp nhẫn, tức là nhẫn khả, không phải nhẫn nhục.
Như mình không biết ngọt thế nào, chỉ cần nếm một chút
đường, lúc đó cảm thấy ngọt của đường thì nhẫn khả
là hình dung như vậy.
Bây
giờ, mình chưa biết vô sanh, khi nào chứng được pháp vô
sanh thì mới rõ hết.
Hỏi:
Thế
nào bất liễu nghĩa và liễu nghĩa?
Đáp:
Bất
liễu nghĩa của Phật và bất liễu nghĩa của ngoại đạo
khác nhau. Bất liễu nghĩa của ngoại đạo thật là bất liễu
nghĩa, bất liễu nghĩa của đạo Phật thì còn con đường
thông vào liễu nghĩa, chỉ tạm thời làm cái cầu cho người
ta đi lên vào liễu nghĩa.
Liễu
nghĩa là phá chấp thật, bất liễu nghĩa là chất thật. Có
kinh phá chấp phàm phu, có kinh phá chấp ngoại đạo, có kinh
phá chấp của Tiểu thừa và có kinh phá chấp Đại thừa.
Kỳ thật đều phá kiến chấp mà thôi! Như Trung Quán Luận
phá 62 kiến chấp, vì sợ người ta hiểu lầm Tất Cánh Không
của Đại thừa.
Tiểu
thừa tu phá được nhân ngã chấp, được ra khỏi sanh tử
luân hồi. Nếu cho mình tu Đại thừa, không phá nhân ngã chấp
mà lại chấp thêm pháp ngã thì không thể được! Người
thế gian có nhân ngã chấp, chứ không có pháp ngã chấp, vì
họ không biết Phật pháp thì không lấy gì để chấp.
Còn
cho mình tu Đại thừa đã học hết Sơ Đẳng, Trung Đẳng,
Cao Đẳng. Nếu không phá chấp, mà học Sơ Đẳng thì pháp
ngã còn nhỏ, đến Trung Đẳng thì pháp ngã lớn thêm, đến
Cao Đẳng thì pháp ngã càng lớn hơn. Chấp pháp là chỉ mình
học biết thì còn thấp, đến tu rồi chấp sự tu là thật,
đến chứng thì chấp sự chứng là thật.
Tiểu
thừa chứng quả A La Hán và Bích Chi Phật đã ra khỏi sanh
tử luân hồi, còn bị Phật quở là “hạt giống bị cháy”,
vì quả A La Hán và Bích Chi Phật không chịu tiến lên Đại
thừa.
Bát
Nhã Tâm Kinh quét tri kiến phàm phu, quét tri kiến Tiểu thừa,
quét tri kiến Đại thừa và quét luôn tri kiến Phật.
“Viễn
ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn” là quét tri
kiến Phật. Phật nói trong kinh Kim Cang: “Nếu ta chứng quả
Vô Thượng Chánh Giác (cứu kính Niết Bàn) thì Nhiên Đăng
Phật không thọ ký cho ta hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni”.
Bởi vì còn chấp pháp.
Nếu
chứng Sơ Quả còn chấp thì không lên được Nhị Quả, chứng
Nhị Quả còn chấp thì không lên được Tam Quả, cho đến
chứng Đẳng Giác còn chấp thì không lên đến Diệu Giác.
Nếu chấp Diệu Giác chưa phải thành Phật.
Cho
nên, Tổ Sư thiền nói: “Ngộ rồi đồng như chưa ngộ”.
Vì đối với mê nên mới có ngộ. Nếu hết mê làm sao có
ngộ? Đối với sanh tử nên mới nói Niết Bàn. Sanh tử không
có thì Niết Bàn sao có?
Kỳ
thật, chư Phật chư Tổ dạy mình cách thực hành, có lý luận
cũng để cho mình thực hành, không phải lý luận cho mình
hiểu biết giáo lý cao siêu để dạy cho người khác hiểu
biết.
Bây
giờ người học Phật ngày càng nhiều cho là Tăng tài, nhưng
Tăng tài đó trong thế gian không dùng được, vì công thương
kỹ nghệ đều không dùng cái đó. Còn ở trong Phật pháp
cần sự giải thoát, nếu chấp vào giáo lý thì không thể
giải thoát, mà lại chướng ngại cho sự giải thoát.
Vì
không theo ý Phật để thực hành, cho đó là thật, cho đó
là cao nhất, kinh nào cũng biết, ta dạy các ngươi biết. Nhưng
cái biết ấy đối với việc sanh tử không liên quan gì. Mặc
dù tu và chứng cũng không được chấp, huống là thuyết suông!
Nếu thuyết suông không có sự tu chứng thì sự tu hành có
thể không biết.
Trí
Giả đại sư là Tổ thứ 3 của tông Thiên Thai nói 3 thứ
ngoại đạo:
-Ngoại
đạo thứ nhất: Là treo bảng hiệu ngoại đạo, không có
liên quan đến Phật Giáo. Những ngoại đạo này tu lên cõi
trời, vì họ cũng làm việc thiện.
-Ngoại
đạo thứ nhì: Là lấy bảng hiệu Phật Giáo, mà hành pháp
ngoại đạo, để cho người hiểu lầm cho đó là Phật pháp.
Nên những người đó phải bị đọa địa ngục, vì làm hại
người ta đi sai lầm. Hiện nay thứ này rất nhiều.
-Ngoại
đạo thứ ba: Là học Phật pháp thành ngoại đạo, vì người
ấy lấy ý mình thay cho ý Phật, tưởng là mình đã hiểu
rồi. Hiểu lầm ý của Phật thành ngoại đạo, nhưng tự
mình không biết rồi cũng giảng kinh thuyết pháp, sự thật
không đúng chánh pháp. Cho nên, Phật nói: “Những người
này giống như con trùng ở trong thân sư tử, tiêu diệt Phật
pháp”.
Những
người lấy bảng hiệu Phật Giáo mà hành theo ngoại đạo,
họ có thể quay lại chánh pháp, vì họ còn biết mình là
ngoại đạo.
Người
học Phật pháp thành ngoại đạo thì không biết mình ngoại
đạo, nên không thể trở về chánh pháp, vì cho mình là chánh
pháp. Người nghe pháp tưởng đúng, vì thấy Pháp sư cũng
lấy kinh luận để giảng. Nhưng họ dạy sai lầm, không đúng
ý Phật, lấy ý mình thay cho ý Phật.
Ngài
Bá Trượng nói: “Nếu Pháp sư chỉ giảng được 2 câu thì
Pháp sư đó phải bị đọa địa ngục, Pháp sư giảng được
nghĩa 3 câu, người nghe không thấu hiểu là lỗi của người
nghe, chứ không do Pháp sư”.
“Chúng
sanh, tức phi chúng sanh” là nghĩa 2 câu và câu thứ 3 là “thị
danh chúng sanh (giả danh chúng sanh)”. Nếu chỉ quét được
câu thứ nhất, quét câu thứ nhì, còn chấp câu thứ ba; tức
là chấp giả danh, nên chỉ giảng được 2 câu. Họ giảng
được tương đối lại chấp trung đạo, trung đạo là câu
thứ 3. Vậy câu thứ ba tự quét bản thân, quét câu thứ nhất
và quét luôn câu thứ nhì.
Hỏi:
Khi
làm việc gì đều giữ chánh niệm vào việc đó, vậy làm
phương pháp để tu giải thoát được không?
Đáp:
Lúc
hiện tại thì đã qua quá khứ, làm sao lấy hiện tại để
làm chánh niệm? Như nói uống nước giữ chánh niệm trong
lúc uống nước, nhưng uống nước chấp uống nước là thật;
tức là tùy duyên nào chấp thật duyên đó thì bệnh chấp
thật đâu bớt để giải thoát! Nếu có chánh niệm thì không
thể thưởng thức được mùi vị.
Phật
dạy 84.000 pháp môn làm phương tiện cho mình tu được giải
thoát. Kỳ thật, 84.000 pháp môn quy nạp có 4 loại: Tham thiền,
niệm Phật, trì chú, quán tưởng. Loại nào cũng lấy phá
ngã chấp làm gốc, nếu không lấy phá ngã chấp làm gốc
thì thành ngoại đạo, không được giải thoát.
Cho
nên, chánh pháp luôn phá ngã chấp, tức là không chấp thật.
Như chấp thật thưởng thức mùi vị của quít thì không thể
phá chấp được. Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý và vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp”.
Nếu
còn muốn thưởng thức miếng quít, tức là còn muốn hưởng
vị trần (chấp vị trần), vậy làm sao giải thoát được?
Nếu lấy cái ấy dạy người là tội địa ngục, vì dạy
người chấp ngã.
Hỏi:
Mình
ăn phải biết ngon chứ! Nếu không biết ngon đâu khác gì
vô tri vô giác ư?
Đáp:
Ăn
ngon cho là ngon thì còn chấp vị trần, tức là còn chấp thiệt
căn thì bệnh chấp thật vẫn còn nguyên. Mình đề câu thoại
đầu, khởi lên nghi tình được thuần thục, đi không biết
đi, ngồi không biết ngồi. Như người ta hỏi ngài Lai Quả:
Ở trên chánh điện thờ Phật gì?
Ngài
Lai Quả đáp: Không biết.
Người
ấy lại hỏi: Ngài tên gì?
Ngài
Lai Quả đáp: Không biết.
Trạng
thái này là ngài Lai Quả đạt đến chân tham, nếu người
ấy được cảnh giới này thì sao biết mùi vị ngon hay không
ngon!
Người
ta thấy người tham thiền đạt đến thoại đầu thì giống
như khờ ngốc, nhưng cảnh giới đó là đại trí huệ, tức
là hiện ra cái dụng Bát Nhã Tự Tánh.
Hỏi:
Tâm
con hay rối loạn suy nghĩ lung tung làm khổ sở, xin thầy có
phương pháp nào để cho con được hết khổ?
Đáp:
Đề
câu thoại đầu lên phát khởi nghi tình liên tục thì cái
dụng automatic tự tánh hiện ra. Nếu mình không có nghi
tình, mà để ý chuyện khác thì tâm sẽ loạn.
Như
Trương Quốc Anh là thủ môn, đang tham thiền không để ý
trái banh, bất cứ trái banh nào đến thì y đều chụp được
hết. Nếu y để ý trái banh mà khó chụp được hết.
Cô
Hằng Thiền đang tham thiền và tay đang cắt vải để may,
không biết mình đang cắt, nhưng công việc cắt may không sai.
Nhiều Phật tử đang tham thiền đi xe không để ý xe, nhưng
không bị xe đụng.
Vì
dụng tự tánh hiện ra trong lúc nghi tình có liên tục. Nếu
mình có chỗ sợ thì nghi tình không được liên tục, nên
cái dụng tự tánh không hiện ra được.
Cho
nên, tôi dạy tham thiền luôn luôn nhắc đến “vô sở đắc,
vô sở cầu, vô sở sợ”, ấy là cho mình phá ngã chấp.
Có sở đắc thì còn chấp ngã, có sở cầu thì còn chấp
ngã, có sở sợ thì còn chấp ngã.
Hỏi:
Ai
có tư cách lập ra pháp môn tu giải thoát?
Đáp:
Chỉ
có Phật và Tổ kiến tánh triệt để mới có tư cách lập
ra pháp môn tu giải thoát. Vì Phật và Tổ đã kiến tánh triệt
để đã đi qua con đường đến chỗ giải thoát, nên mới
dạy người ta tu được. Nếu chưa có đi qua con đường đó,
mà dạy người ta tu thì phải có tội. Vì mình chưa đến
đó làm sao dạy người ta được!
Hỏi:
Ngoại
đạo hỏi Phật: Ngài tu pháp môn gì?
Phật
trả lời: Tôi chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, ăn chỉ biết ăn,
ngồi chỉ biết ngồi.
Vậy
đó có phải là pháp môn để tu không?
Đáp:
Có
một công án: Quan hỏi Thiền sư kiến tánh: Ngài có tu hay
không có tu?
Thiền
sư đáp: Có tu chứ!
Quan
hỏi: Tu như thế nào?
Thiền
sư nói: Tôi đói bụng thì ăn cơm, buồn ngủ thì đi ngủ.
Quan
nói: Nếu vậy, người nào cũng đều tu! Người nào đói bụng
thì ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ đâu có khác?
Thiền
sư nói: Khác chứ!
Quan
hỏi: Khác thế nào?
Thiền
sư nói: Tôi ăn cơm chỉ ăn cơm, các người ăn cơm thì phân
biệt đủ thứ; tôi ngủ chỉ là ngủ, các người ngủ thì
suy nghĩ đủ thứ.
