YẾU CHỈ
TRUNG QUÁN LUẬN
Lời
nói đầu:
Có
người hỏi: “Phật pháp có thể chia nhiều tông, tại sao
không thể chia nhiều phái?” Nên biết Phật pháp là để
hiển bày bản thể tự tánh bất nhị của Diệu Giác nên
chẳng thể chia. Có thể chia là giáo pháp (chẳng phải Phật
pháp). Chư Phật chư Tổ vì muốn thích ứng căn cơ trình độ
của mọi chúng sanh, nên vì khế hợp đương cơ mà chia nhiều
tông, tức là trên phù hợp ý Phật (Phật pháp chẳng thể
chia), dưới khế hợp đương cơ (giáo pháp có thể chia) là
vậy.
Giáo
pháp thích hợp với người phương Đông được chia làm 5
hệ: Thiền, Giáo, Luật, Tịnh và Mật. Thiền, Luật, Tịnh,
mỗi hệ có một tông. Giáo môn lại chia thành bốn tông: Thiên
Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức, cộng chung là tám tông
Đại thừa.
Luận
này vì muốn phá chấp nhị biên tương đối, nên phương tiện
thiết lập Trung Quán. Nguồn gốc của nhị biên là “hữu”
và “vô”. “Hữu” bao gồm hữu vi pháp, “vô” bao gồm
vô vi pháp. Nhị biên đã phá thì “trung” không có chỗ để
an lập. Như thế, đâu có học thuyết cao siêu để cho nghiên
cứu mà dựng lập học phái Trung Quán!
Lục
Tổ nói thuyết pháp chẳng lìa tự tánh, tự tánh là bất
nhị. Kinh Đại thừa liễu nghĩa do Phật thuyết đều là bất
nhị. Chư Tổ căn cứ theo kinh liễu nghĩa lập luận sớ giải
cũng là bất nhị. Bất nhị thì chẳng có tương đối, chẳng
có tương đối thì chẳng dùng bộ não suy nghĩ, chẳng thể
dùng lời nói văn tự diễn đạt, cho nên Đại Thừa Khởi
Tín Luận nói: Lìa “tướng tâm duyên”, lìa “tướng danh
tự”…
Nên
biết, những phương tiện do chư Phật chư Tổ thiết lập
chỉ muốn khiến chúng sanh ngay đó khai ngộ, chứ chẳng phải
muốn chúng sanh nghiên cứu tìm hiểu lý đạo. Do đó chẳng
thể xem như một học thuyết để nghiên cứu mà chia ra nhiều
học phái.
Trung
Quán Luận gồm 27 phẩm, mặc dù có quán có phá, kỳ thật
quán cũng là phá. Bất cứ hữu vi pháp vô vi pháp, tất cả
đều phá. Như các phẩm Quán Như Lai, Quán Niết Bàn là thuộc
về phá pháp vô vi, những phẩm Quán Nhân Duyên, Quán Khứ
Lai thuộc về phá pháp hữu vi. Hữu vô tất cả đều phá.
Phàm có nhị biên tương đối đều phá hết.
Chư
Phật chư Tổ dùng pháp làm phương tiện để phá sự chấp
trước của chúng sanh. Chúng sanh có cái sở chấp nào thì
phá cái sở chấp nấy. Nếu chúng sanh chẳng có chấp trước
thì pháp cũng thành dư thừa. Nay chúng tôi biên tập Yếu Chỉ
Trung quán Luận này, chỉ mỗi phẩm rút ra vài bài kệ chủ
yếu, để sáng tỏ yếu chỉ về pháp phá của tác giả mà
thôi.
Thích
Duy Lực.
Phẩm
thứ nhất
PHÁ
NHÂN DUYÊN
Phẩm
thứ nhất là phá tất cả pháp, bởi vì tất cả pháp đều
từ nhân duyên mà sanh.
Bất
sanh cũng bất diệt
Bất
thường cũng bất đoạn
Bất
nhất cũng bất dị
Bất
lai cũng bất xuất
Thường
nói là nhân duyên
Khéo
diệt các hý luận
Tôi
kính đảnh lễ Phật
Trong
các thuyết đệ nhất
Các
pháp chẳng tự sanh
Cũng
chẳng từ tha sanh
Chẳng
cộng, chẳng vô nhân
(Không
nguyên nhân mà có)
Cho
nên biết vô sanh.
Giải
thích:
Các
pháp từ nhân duyên mà sanh, duyên sanh thì chẳng có tự tánh
(duyên hợp mới có, duyên lìa thì không) tức là nghĩa vô
sanh vậy. Các pháp 27 phẩm trong luận này đều là nhân duyên
tương đối, nên đều có thể dùng bài kệ thứ hai để phá
trừ.
Các
pháp từ nhân duyên sanh thì chẳng phải tự sanh (các pháp
chẳng tự sanh). Tha cũng có tự thể của nó, nên tha cũng
đồng như tự (cũng chẳng từ tha sanh). Vậy tự với tha đều
chẳng thể thành lập thì lấy gì để cộng.
Lại
pháp đã từ duyên sanh thì chẳng phải vô nhân (chẳng cộng
chẳng vô nhân), cho nên biết tất cả pháp đều vô sanh. Người
chứng ngộ tức là ngộ cái pháp “vô sanh” này vậy.
Hỏi:
Tự
tánh và ngã khác nhau như thế nào? Trí và huệ khác nhau như
thế nào? Có phải do trí mà ngộ được không?
Đáp:
Do
trí chẳng thể ngộ được, như Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô
trí diệc vô đắc”, tức là đã phá cái trí, mà không có
cái trí để đắc. Trí Bát Nhã tại sao người dịch không
dịch là trí? Vì chữ “trí” chưa đúng, nên mới dịch âm.
Trí là trí của bộ não sanh diệt, sanh diệt thì không ngộ
được không sanh không diệt tồn tại vĩnh viễn. Cho nên,
trí Bát Nhã không qua bộ óc, tự động mà không bao giờ ngưng.
Pháp
Bảo Đàn nói: “Một niệm ngu thì Bát Nhã tuyệt, một niệm
trí thì Bát Nhã sanh”. Vậy một niệm ngu là gì? Là chấp
thật. Một niệm trí là gì? Là phá chấp thật.
Ngũ
ấm là cái thân này (cái ngã), mà tất cả cái gì đều là
cái ngã của nó, cũng là tự tánh. Như trái lê có tự tánh
trái lê, có cái ngã trái lê, trái hồng có cái ngã của trái
hồng, có tự tánh của trái hồng. Nó có thể giống và cũng
có thể khác, như “tự tánh bất nhị” thì khác, vì không
có tương đối, nên không phải ngã hay vô ngã. Cho nên giống
cũng có và khác cũng có.
Trí
huệ bộ óc và trí huệ tự tánh khác nhau, trí huệ tự tánh
không bao giờ ngưng, trí huệ bộ óc có lúc phải ngưng. Như
thân này biến thành tro thì trí huệ bộ óc cũng theo đó tiêu
luôn, vì nó thuộc về sanh diệt, còn trí huệ tự tánh không
sanh diệt.
Phẩm
thứ ba
PHÁ
LỤC TÌNH
Ghi
chú: Lục tình.
Lục
thức đối với lục căn, lục trần, sanh khởi tình chấp,
nên gọi là lục tình (có cảm tình chấp đó là thật).
Nhãn
nhĩ và tỷ thiệt
Cùng
thân ý lục tình
Nhãn
nhĩ… lục tình này
Hành
sắc thanh… lục trần
Kiến
chẳng thể có kiến
Phi
kiến cũng chẳng kiến
Nếu
đã phá nơi kiến
Tức
là phá người kiến
Lìa
“kiến”, chẳng “lìa kiến”
Người
kiến chẳng thể đắc
Vì
chẳng có người kiến
Đâu
có kiến để kiến
Giải
thích:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: Lúc thấy sáng, kiến tinh (tánh thấy) chẳng
phải là sáng; lúc thấy tối, kiến tinh chẳng phải tối;
lúc thấy thông, kiến tinh chẳng phải là thông; lúc thấy
nghẽn, kiến tinh chẳng phải là nghẽn. Bốn nghĩa trên chứng
tỏ kiến tinh chẳng theo cảnh trần sanh diệt. Ngươi còn nên
biết:
Kiến
kiến chi thời (lúc bản kiến tự hiện),
Kiến
phi thị kiến (kiến chẳng phải là kiến),
Kiến
do ly kiến (kiến còn phải lìa kiến),
Kiến
bất năng cập (kiến chẳng thể thấy kiến).
Theo
cái nhìn của Thiền tông:
Ấy
là Thế Tôn hiển bày đệ nhất nghĩa đế, cũng là diệu
Bồ Đề đạo vậy. Kiến và kiến duyên gồm có 5 nghĩa: Sáng,
tối, thông, nghẽn (trần) là 4 thứ kiến duyên (sở kiến),
còn kiến tinh là một thứ kiến vọng (năng kiến). Thế Tôn
ở đây phân biệt năng kiến (kiến tinh) và kiến duyên (tướng
sáng, tối, thông, nghẽn).
Bản
thể Diệu Giác gọi là chân kiến, dụ như đệ nhất nguyệt,
thường chiếu rõ kiến tinh, mà kiến tinh (đệ nhị nguyệt)
thì chẳng thể thấy được chân kiến. Nên cho kiến tinh là
vọng (do dụi mắt sở hiện tức là vọng). Cái kiến tinh
của năng kiến đã là vọng thì sắc tướng do kiến tinh thấy
được dĩ nhiên cũng là vọng.
Năng
sở đều vọng thì chẳng có “kẻ năng kiến” và sắc tướng
của “sở kiến”. Theo đó suy luận đều biết những cảnh
trần do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cảm nhận được cũng như
thế.
Nên
kinh Bảo Tích nói: “Pháp thân” không thể dùng kiến, văn,
giác, tri để cầu; chẳng phải sở kiến của nhục nhãn,
vì vô sắc; chẳng phải sở kiến của thiên nhãn, vì vô vọng;
chẳng phải kiến của huệ nhãn, vì lìa tướng chẳng phải
sở kiến của pháp nhãn, vì lìa chư hành (vô thường); chẳng
phải sở kiến của Phật nhãn, vì lìa chư thức. Nếu chẳng
do những cái thấy kể trên thì gọi là tri kiến Phật (Diệu
Giác).
Công
án Thiền tông (chứng minh những điều trên).
Tăng
Văn Thùy ở chùa Báo Từ có nghiên cứu kinh Thủ Lăng Nghiêm,
gặp Thiền sư Pháp Nhãn, trình sở học của mình, cho là phù
hợp ý chỉ trong kinh.
Nhãn
hỏi: Lăng Nghiêm há chẳng phải nghĩa bát hoàn ư? (Tám thứ
trả về gốc).
Thùy
đáp: Phải.
Nhãn
hỏi: Sáng hoàn cái gì?
Thùy
đáp: Sáng hoàn nhật luân (mặt trời).
Nhãn
hỏi: Nhật hoàn cái gì?
Văn
Thùy ngơ ngác, chẳng thể trả lời. Từ đó khâm phục thỉnh
pháp. Nguyên có thể biết “chủ trong chủ” thực chẳng
phải ghi chú, giải thích có thể đến được.
Giảng
giải:
Phẩm
thứ ba trong Trung Quán Luận giải thích rất khó hiểu, cho
nên tôi phải nhờ kinh Lăng Nghiêm để giải thích rõ hơn,
vì trong kinh Phật lấy chuyện trước mắt để chứng tỏ
sự hiểu biết của chúng sanh là không đúng thực tế.
Ai
cũng cho kẻ thấy là con mắt, nhưng Phật chứng tỏ không
phải sự thấy là con mắt. Vậy Phật làm sao chứng tỏ? Mỗi
cuốn kinh đều có vị đại diện đương cơ cả triệu người
nghe để hỏi Phật. A Nan là đại diện đương cơ.
Phật
dùng tay thí dụ: Ta có cái tay để làm nắm tay, ngươi có
con mắt thì thấy được Như Lai, vậy hai việc này có giống
nhau không?
A Nan
đáp: Giống nhau.
Phật
nói: Không giống. Tại sao? Ta có cánh tay mới làm ra nắm tay
được. Nếu không có cánh tay thì nắm tay làm sao có? Người
không có con mắt vẫn còn thấy.
A Nan
nói: Người không có con mắt làm sao thấy?
Phật
bảo: Ngươi đi hỏi người không có con mắt, trước mắt
có thấy gì không? Người ấy sẽ trả lời: Trước mắt sẽ
thấy đen tối.
A Nan
nói: Thấy trước mắt đen tối, sao gọi là thấy?
Phật
muốn giải thích “thấy đen tối vẫn là thấy” thì phải
thí dụ thêm. Một người không có con mắt ở trong phòng đen
tối không có ánh sáng gì cả, có phải thấy trước mắt
đen tối phải không?
A Nan
đáp: Phải, thấy đen tối.
Phật
nói: Vậy người có con mắt thấy trước mắt đen tối và
người không có con mắt thấy trước mắt đen tối, hai thứ
đen tối này có khác nhau không?
A Nan
đáp: Không khác.
Phật
hỏi tiếp: Vậy người không có con mắt, thình lình được
con mắt sáng thấy đồ vật sắc tướng trước mắt, phải
là con mắt thấy không?
A Nan
đáp: Phải, con mắt thấy.
Phật
hỏi tiếp: Người có con mắt ở trong phòng đen tối, thình
lình đốt đèn lên thấy rõ đồ vật sắc tướng trước
mắt, có phải đèn thấy không?
A Nan
không trả lời được.
Cây
đèn là hiển hiện sắc tướng để chiếu soi như lục căn
vậy. Năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) chỉ tác
dụng như cây đèn, chứ không phải kẻ thấy, kẻ thấy là
tánh thấy. Thấy là nhãn thức mà không phải nhãn căn, nhãn
căn chỉ là chiếu soi như cây đèn.
Sáng
với tối là hai pháp sanh diệt, lúc sáng thì không thấy tối,
lúc tối thì không thấy sáng. Nếu thấy tối là không thấy
thì thấy sáng cũng là không thấy. Vì lúc sáng thì không thấy
tối cho là không thấy, lúc tối thì không thấy sáng cũng
cho là không thấy. Nói thấy thì hai cái đều thấy, thấy
sáng cũng là thấy, thấy tối cũng là thấy. Tại sao thấy
tối mà nói là không thấy? Còn thấy sáng cho là thấy! Đó
là mâu thuẫn.
Do
thí dụ của Phật nên mình biết: Cái thấy không phải con
mắt, mà cái thấy là tánh thấy. Con mắt là tác dụng như
cây đèn để chiếu soi. Căn là vật chất thì chết mất,
thức là thể tinh thần không chết mất. Tại sao? Vì nó không
lay động nên không biến đổi.
Tiếp
theo vua Ba Tư Nặc hỏi Phật: “Ngoại đạo nói khi thân này
chết thì tất cả đều biến mất” phải không?
Phật
nói: Không phải, cái nào có lay động thì biến đổi chết
mất. Cái nào không lay động không biến đổi không chết
mất, tồn tại vĩnh viễn.
Phật
hỏi vua Ba Tư Nặc: Vua biết mình có cái không chết mất không?
Vua
đáp: Không biết.
Phật
nói: Để cho ta nói cho vua biết.
Phật
dùng tay để đối đáp với A Nan, Tay Phật nắm buông rồi
hỏi A Nan: Ngươi có thấy tay ta nắm buông không?
A Nan
đáp: Thấy tay Phật nắm buông.
Phật
nói: Thấy tay ta nắm buông hay tánh thấy của ngươi nắm buông?
A Nan
nói: Tay của Phật nắm buông, còn tánh thấy của con đâu
có lay động mà nói nắm buông!
Tay
của Phật nắm buông, sau khi chết thiêu thành tro, chôn thành
đất. Tánh thấy không lay động làm sao chết mất được?
Vì không lay động thì không biến đổi, không biến đổi
thì không chết mất. Tại vì con mắt lay động thì chết mất.
Tánh thấy không lay động thì không chết mất, tồn tại vĩnh
viễn.
Như
vậy, Phật còn chưa thỏa mãn, cái lay động là thân của
Phật, còn tánh thấy không lay động là thân của A Nan, hai
thân khác nhau. Phật muốn trong một thân có cái lay động
và có cái không lay động. Phật mới phóng hào quang bên vai
mặt của A Nan, A Nan ngó qua vai mặt. Phật phóng hào quang vai
trái của A Nan, A Nan ngó qua vai trái.
Phật
hỏi A Nan: Tại sao cái đầu ngươi ngó qua ngó lại làm cho
đầu ngươi lay động vậy?
A Nan
đáp: Đầu của con lay động, còn tánh thấy của con tịnh
còn không có làm sao có động?
Cho
nên, cái đầu lay động thì sau này sẽ chết mất, thiêu thành
tro, chôn thành đất. Còn tánh thấy không lay động, không
biến đổi thì làm sao chết mất được? Không những tánh
thấy không chết mất, mà tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm,
tánh xúc và tánh biết đều tồn tại vĩnh viễn, không chết
mất.
Vì
tánh thấy là tâm pháp thuộc thể tinh thần, thể vật chất
là lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) sẽ chết mất;
còn lục thức thì tồn tại vĩnh viễn, không thể chết mất,
vì nó không lay động nên không có biến đổi.
Mấy
năm trước tôi đi nước Úc thuyết pháp đến chỗ này, có
một Phật tử hỏi tôi: Thầy nói tánh của con tồn tại vĩnh
viễn, không có chết mất. Vậy sau khi con chết thì tánh thấy
con ở đâu?
Tôi
nói: Bây giờ, tôi chưa chết, ông cũng chưa chết, chuyện
sau khi chết làm sao nói được? Ông ngồi đây cùng nhiều
người và bàn, ghế, bình, tách,… có phải do tánh thấy của
ông thấy không?
Ông
ấy đáp: Phải.
Tôi
hỏi: Vậy ông còn sống hãy tự chỉ ra tánh thấy của ông
ở đâu? Ông ấy ngó qua ngó lại chỉ không ra. Tại sao chỉ
không được? Vì cùng thấy một lượt, cũng như 100 người
cùng thấy một lượt, nếu chỉ tánh thấy ở người này
thì 99 người kia không có tánh thấy. Vậy làm sao chỉ một
lượt? Đâu phải thấy người này, rồi đến người kia,
thấy từng người rồi mới chỉ được?
Nếu
chỉ ra được thì tánh thấy chỉ có tiếp xúc một người,
còn 99 người kia không có tiếp xúc. Vậy làm sao tiếp xúc
thấy một lượt? Cho nên có chỗ thì không cùng khắp, vì
tánh thấy cùng khắp nên không có chỗ để chỉ.
Cùng
khắp không gian thì không có chỗ để chỉ, cùng khắp thời
gian thì không có lúc để chỉ. Nếu có lúc để chỉ thì
không cùng khắp thời gian, có chỗ để chỉ thì không cùng
khắp không gian. Nhưng tất cả tâm pháp của mình (tánh thấy,
tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm, tánh biết) đều
cùng khắp không gian và thời gian.
Phẩm
thứ tư
PHÁ
NGŨ ẤM (NGŨ UẨN)
Nếu
lìa nơi “sắc nhân”
(Nhân
của sắc tướng)
“Sắc”
thì bất khả đắc
Nếu
phải lìa nơi sắc
Sắc
nhân chẳng thể lìa
Nếu
lìa sắc có nhân
Thì
có nhân không quả
Nếu
có nhân không quả
Thì
chẳng có chỗ đúng.
Giải
thích:
Vũ
trụ vạn vật đều chẳng thể truy cứu nhân đầu tiên, nên
Phật nói là vô thỉ (chẳng có bắt đầu) cũng là nghĩa “vô
sanh” (trong phẩm nhân duyên đã phá). Sắc ấm phá như thế,
thì thọ, tưởng, hành, thức bốn ấm kia cũng đều như sắc
ấm.
Giảng
giải:
Bây
giờ mình thấy gì cũng sanh diệt, nhưng Phật nói không sanh.
Vì không có lý do sanh khởi. Lý do sanh khởi là nó tự sanh
hay cái khác sanh nó (tha sanh) hoặc là cộng sanh (tự với tha
cùng sanh ra) đều không thể được, tức là không có nhân
mà tự có.
Những
việc nhà khoa học không biết cho là tự nhiên, nhưng không
đúng. Phật đã phủ nhận tự nhiên và nhân duyên, trong này
cũng có nói đến. Mặc dầu nói nhân duyên, nhưng không nhất
định là phải nhân duyên có thật.
Như
nhà khoa học danh tiếng khắp thế giới ở nước Anh có 2
vấn đề không giải quyết được, nên ông hỏi: Vũ trụ
có bắt đầu chăng? Và con gà có trước hay trứng gà có trước?
Sự thật không thể cái nào có trước được. Nếu nói con
gà có trước được không? Không được. Vì không có trứng
gà làm sao ấp ra con gà! Trứng gà có trước được không?
Không được. Vì không có con gà làm sao đẻ ra trứng gà!
Vậy 2 cái đều không có trước, tức là 2 cái không có bắt
đầu.
Cho
là tự nhiên thì không được, vì trứng gà do con gà đẻ;
con gà do trứng gà ấp. Nhân duyên cũng không được, vì không
nhân đầu tiên; nếu không có nhân đầu tiên thì đâu có
nhân bây giờ.
Như
thân tôi rõ ràng là do cha mẹ sanh ra, nhưng cha mẹ cũng có
cha mẹ sanh ra, như vậy từ đời từ đời truy cứu không
hạn chế, truy cứu có cha mẹ đầu tiên không? Truy cứu không
ra, không có cha mẹ đầu tiên được.
Giả
thiết có cha mẹ đầu tiên, vậy cha mẹ đầu tiên có cha
mẹ không? Nếu có cha mẹ thì không có đầu tiên. Có cha mẹ
thì từ đâu ra? Có người nói con khỉ tiến hóa thành con
người. Con khỉ thì con gì tiến hóa? Có thể trả lời là
con chó, con chó do con mèo,… nói hết động vật trên thế
giới thì con cuối cùng do con nào tiến hóa? Không trả lời
được.
Có
người nói con người là do từ điện tử, phân tử biến
dần thành. Dùng bào thai con người để thí dụ: Đàn bà
có thai 1 tháng thì phải có hình 1 tháng, 2 tháng có hình 2
tháng,… đến 10 tháng đầy đủ ngũ tạng lục phủ sanh ra.
Nếu
từ điện tử, phân tử không thể là 10 tháng sanh ra, giả
thiết là 1 triệu năm, cho 1 năm là 1 cấp thì 1 triệu năm
mới thành con người. Nhưng mình chỉ thấy cấp 1 là điện
tử và cấp 1 triệu là con người, còn những cấp kia đâu
có ai thấy?
Người
ta nói mình chỉ sống mấy chục năm, làm sao thấy 1 triệu
năm? Tôi nói khỏi cần 1 triệu năm, chỉ vài năm cũng được.
Tại sao? Vì gần thành con người, như 2 năm gần thành con
người có thể thấy được chứ! Đâu cần phải đến 1 triệu
năm mới thấy! Nhưng không có ai thấy, rõ ràng không đúng.
Nên
nhà khoa học nói ra không có lý, vì sự thật chứng tỏ không
được. Do tình chấp của mình cho là vậy thôi, chứ sự thật
không phải.
Phẩm
thứ sáu
PHÁ
NHIỄM VÀ KẺ NHIỄM
Nếu
lìa nơi pháp nhiễm
Trước
tự có kẻ nhiễm
Thì
kẻ bị nhiễm này
Phải
sanh ra pháp nhiễm
Nếu
chẳng có pháp nhiễm
Tại
sao phải có nhiễm
Có
nhiễm hoặc chẳng nhiễm
Kẻ
nhiễm cũng như thế.
Giải
thích:
Lục
trần thuộc về pháp nhiễm. Chúng sanh ham thích lục trần
thuộc về kẻ nhiễm. Nếu cho rằng lìa pháp nhiễm, mà kẻ
nhiễm có trước thì giả thuyết này chẳng thể lập. Nếu
chúng sanh chẳng ham thích lục trần thì chẳng thành kẻ nhiễm.
Nếu chẳng có kẻ nhiễm thì làm sao có pháp nhiễm?
Nếu
pháp nhiễm và kẻ nhiễm cùng một lúc thì chẳng có nhân
duyên tương đối, tức là chẳng vì kẻ nhiễm mà có pháp
nhiễm, cũng chẳng vì có pháp nhiễm mà có kẻ nhiễm. Thế
thì hai thứ “kẻ nhiễm” và “pháp nhiễm” phải là “thường”
(không đoạn). Nếu thế thì chúng sanh vĩnh viễn chẳng có
ngày giải thoát. Nhưng sự thật thì đời đời đều có chúng
sanh giải thoát.
Hỏi:
Ngài
Long Thọ nói: “Hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật”,
sao lại nói phá hư không?
Đáp:
Vì
nghĩa này là vô sở trụ, nếu trụ thì không đúng. Tất cả
là do lời nói mà đặt tên gọi, sự thật không có tên gọi,
thật thì không có tên, không có chỗ nào để cho mình trụ
được.
Lời
của Phật là vô trụ, nên cho lời của Phật là đúng thì
không được, cho lời của Phật không đúng cũng không được.
Vì đúng và không đúng là tương đối, vì vậy Phật và Tổ
có nói điều gì, mình không thể chấp thật được.
Cho
nên, ngài Long Thọ phá hết, không cho người ta chấp thật,
mới đúng nghĩa vô sở trụ.
Phẩm
thứ bẩy
QUÁN
TAM TƯỚNG (SANH, TRỤ, DIỆT)
Nếu
sanh là hữu vi
Thì
phải có tam tướng
Nếu
sanh là vô vi
Đâu
có tướng hữu vi
Tam
tướng nếu hợp lìa
Chẳng
thể có sở tướng
Tại
sao ở một chỗ
Đồng
thời có tam tướng.
Giải
thích:
Sanh,
trụ, diệt thuộc về 3 pháp hữu vi. Nếu hợp thì tam pháp
trái ngược nhau, chẳng thể cùng ở một lúc, nghĩa lúc sanh
thì chẳng có tướng trụ diệt, lúc trụ thì chẳng có tướng
sanh diệt, lúc diệt thì chẳng có tướng sanh trụ.
Nếu
lìa thì chẳng có “sở tướng”, tức là sanh chẳng có tướng
“sở sanh”, trụ chẳng có tướng “sở trụ”, diệt chẳng
có tướng “sở diệt”. Nếu thuộc về pháp vô vi thì chẳng
có tam tướng.
Giảng
giải:
Hiện
tượng thế giới này theo sự hiểu biết của mình thấy có
sanh, trụ, diệt. Nhưng thật tế muốn thành lập nghĩa sanh,
trụ, diệt thì không thể được. Tức là sanh, trụ, diệt
hợp lại không được; sanh, trụ, diệt lìa nhau cũng không
được.
Nếu
hợp lại thì lúc sanh không có trụ diệt, lúc trụ không có
sanh diệt, lúc diệt không có sanh trụ. Hay chia ra cũng không
được, nếu chia thì không có tướng sở sanh, trụ thì không
có tướng sở trụ, vậy trụ chỗ nào? Diệt thì không tướng
sở diệt thì diệt cái gì? Cho nên chia ra không thể được,
hợp lại cũng không thể được. Vì thế không có sanh, trụ,
diệt.
Hỏi:
Thế
nào là tham Tổ Sư thiền?
Đáp:
Hỏi
câu thoại là kích thích niệm không biết, khán là nhìn chỗ
không biết, muốn xem chỗ không biết là gì; nhưng chỗ không
biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục tiêu
để nhìn, không có mục tiêu để nhìn nên nhìn mãi không
thấy gì vẫn còn không biết. Chính cái vẫn còn không biết,
Thiền tông rất chú trọng gọi là nghi tình, cứ hỏi và nhìn
đi song song để giữ nghi tình, rồi sẽ đưa hành giả đến
chỗ kiến tánh.
Những
người đang tập tham thiền, chưa dẹp được cái biết nên
không có nghi tình. Trái lại dùng cái biết tìm hiểu nghi tình
là sai lầm. Vì nghi tình không phải là không có, chỉ cần
dẹp cái biết, trong đó có nghi tình sẵn. Tại sao? Vì tánh
con người hay ham biết lâu đời, chứ không phải chỉ kiếp
này. Tánh ham biết, biết không nổi tự mình thắc mắc, thắc
mắc không hiện ra do bị cái biết che khuất.
Những
người tham thiền sai lầm nhiều là không dùng cái không biết
bộ óc để dẹp cái biết bộ óc, mà ngược lại tìm hiểu
có nghi tình hay không, nghi lớn nghi nhỏ! Đó là sai lầm
lớn, nếu tham thiền như vậy mà tham 2 ngàn năm, 2 triệu năm,…
cũng vô ích.
Mục
đích Phật Thích Ca dạy dùng cái không biết để dẹp cái
biết (tìm hiểu biết, ghi nhớ biết, suy nghĩ biết), 3 cái
biết này sạch hết thì đến thoại đầu. Bây giờ nói tham
thoại đầu, nhưng chưa đến thoại đầu, đang đi ở giữa
đường. Lấy cây viết để ví dụ, dưới là thoại vỉ,
trên là thoại đầu, đang đi ở giữa đường là giữa đường
ý thức.
Nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân gọi là 5 thức trước đối với tiền
trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Thức thứ 6 đối pháp
trần, không phải trước mắt, tức là biết những chuyện
ở xa quá khứ, vị lai. Trần là bụi phải sanh diệt, còn
thức không sanh diệt.
Bất
cứ có một niệm ý thức gọi là nhất niệm vô minh, cuộc
sống hiện nay đều dùng nhất niệm vô minh để ứng phó.
Phàm ý thức nhận biết phải có tương đối, như có không,
sáng tối,… Phật dạy dẹp cái tương đối để hiện cái
biết tuyệt đối, gọi là vô duyên tri (không có nhân duyên
đối đãi), cũng gọi là chánh biến tri (phổ biến khắp không
gian thời gian), mục đích cuối cùng hiện ra cái biết đó.
Nhưng
hiện giờ đang đi giữa đường, có một ngày sẽ đến thoại
đầu rồi sắp kiến tánh, đến chỗ này thì tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết đều chấm dứt, nhưng vẫn còn
cái không biết của bộ não che khuất. Từ thoại đầu tiến
lên một bước nữa, biết và không biết của bộ não đều
sạch thì cái biết của tự tánh hiện lên khắp không gian
và thời gian, tức là không chỗ nào không biết và không lúc
nào không biết.
Cái
biết bộ não thì ngủ mê chẳng biết, thật chết không biết,
vì không cùng khắp thời gian. Cái biết vô duyên tri không
có đối đãi cùng khắp thời gian, nên ngủ mê vẫn biết,
thật chết cũng biết, nếu thật chết và ngủ mê đều không
biết thì không cùng khắp thời gian.
Mặc
dầu, mình chưa kiến tánh nhưng cái biết tự tánh cũng không
ngưng. Có người hỏi: Tham thiền đến thoại đầu sắp kiến
tánh thì sắp biết phải không?
Tôi
nói: Không phải, không được nói là sắp biết.
Người
ấy nói: Như vậy vĩnh viễn không biết như gỗ đá sao?
Tôi
nói: Không phải. Vì cái biết tự tánh không bao giờ ngưng,
nếu ngưng rồi biết lại thì nói sắp biết được.
Người
hỏi còn chưa hiểu, nên đổi lại câu hỏi: “Trời gần
sáng, mặt trời sắp chiếu được không? Không được. Mặt
trời không thể nói là sắp chiếu. Tại sao? Vì mặt trời
không bao giờ ngưng chiếu. Mặt trời đâu phải sáng ra mới
chiếu! Không thấy mặt trời là bị mây đen và trái đất
che khuất, không phải có ngưng chiếu.
Biết
của tự tánh không bao giờ ngưng biết, vì không hiện ra là
do biết và không biết của bộ não che khuất; mặt trời dụ
cái biết của tự tánh chiếu khắp không gian thời gian. Tôi
dùng nhất niệm vô minh để giảng cho các vị nghe, tham thiền
dùng niệm không biết cũng là nhất niệm vô minh.
Hỏi:
Mới
tham thiền, vô thường đến thì thế nào?
Đáp:
Khi
chánh nhân đã gieo thì chánh quả sẽ đến, gieo tà nhân thì
tà quả đến, vì nhân quả rõ ràng. Nếu kiếp này chưa kiến
tánh, rồi kiếp sau tiếp tục tham.
