I.
Phẩm Song Yếu
1.
Nếu Con Mắt Ngươi Làm Hại Ngươi, Hãy Móc Bỏ Nó Ði
Ý
dẫn đầu các pháp,
Ý
làm chủ, ý tạo.
Nếu
với ý ô nhiễm,
Nói
lên hay hành động,
Khổ
não bước theo sau
Như
xe, chân vật kéo.
Phật
dạy Pháp Cú này tại đâu?
-
Tại Xá-vệ.
-
Cho ai?
-
Cho Trưởng lão Cakkhupàla.
Tôi
nghe như vầy: Tại Xá-vệ có một Trưởng giả tên là Ðại
Phú (Mahà Suvanna). Ông
ta rất giàu, có nhiều của cải và đủ trò vui chơi giải
trí, nhưng lại chẳng có con.
Ngày
nọ trên đường đi tắm trở về nhà, ông trông thấy bên
vệ đường một cây rừng thật lớn, tán lá to rộng. Nghĩ
rằng đây chắc là chỗ ở của một vị thần đầy uy lực,
Trưởng giả ra lệnh cho dọn sạch miếng đất dưới gốc
cây, rào tường chung quanh và rải cát bên trong, rồi cho trang
hoàng đủ loại cờ xí và nguyện: "Nếu có một đứa con,
ta sẽ tạ ơn thần xứng đáng".
Chẳng
bao lâu vợ ông mang thai. Bà lập tức báo tin cho chồng. Ông
liền tổ chức lễ Bảo thai cho bà. Sau mười tháng bà hạ
sinh một bé trai, và ông đặt tên con là Pàla,
có nghĩa là người Bảo Trợ, vì nhờ sự bảo vệ và chăm
sóc cội cây mới sinh được đứa bé. Ít lâu sau, ông có
thêm đứa con nữa, bèn đặt tên là Culla
Pàla (Bảo Trợ em), đứa lớn là Mahà
Pàla (Bảo Trợ anh). Ðến tuổi trưởng thành ông
bà cưới vợ cho hai con. Thời gian sau, cả hai ông bà đều
qua đời, để lại cho hai anh em toàn bộ gia sản.
Lúc
bấy giờ đứcPhật đang chuyển
Pháp Luân. Sau khi du hành từ nơi này đến nơi nọ, Ngài trú
tại Tinh Xá Kỳ Viên do Trưởng Giả Cấp Cô Ðộc xây cất,
trị gía năm trăm bốn chục triệu đồng.
Suốt
thời gian ngụ tại Kỳ Viên , đức Phật dạy về pháp sanh
thiên, pháp giải thoát (Ðức Thế Tôn chỉ ở lại một mùa
an cư tại ngôi tịnh xá do hai nhánh thân tộc Ngài xây dựng,
một nhánh gồm tám vạn gia đình bên ngoại và một nhánh
gồm tám vạn gia đình bên nội. Ngài trú tạiKỳ
Viên suốt mười chín hạ, và sáu hạ tại Pubbàràma,
một tịnh xá do bà Tỳ-xá-khư, một nữ cư sĩ lỗi lạc xây
cất, trị giá hai trăm bảy chục triệu đồng. Do công đức
lớn lao của hai gia đình Cấp Cô Ðộc và Tỳ-xá-khư, đức
Phật đã an cư gần Xá-vệ trong suốt hai mươi lăm hạ).
Ông
Cấp Cô Ðộc và bà Tỳ-xá-khư mỗi ngày đều đặn đi đến
Thế Tôn hai lần. Họ không bao giờ đi tay không vì biết rằng
các thầy Sa-di trẻ đang chờ họ để bát. Trước ngọ, họ
dâng thức ăn loại cứng và loại mềm. Sau ngọ, họ cúng
năm thứ dược liệu và tám thức uống. Ngoài ra họ luôn
dành sẵn chỗ tại nhà cho hai ngàn Tỳ kheo. Bất cứ vị nào
cần thức ăn, nước uống hay thuốc men liền được cung cấp
như ý muốn.
Trưởng
gỉa Cấp Cô Ðộc không hề thưa hỏi Phật. Người ta nói
rằng sở dĩ ông không dám thưa hỏi vì Quá kính mến Phật.
Ông nghĩ rằng đức Thế Tôn là một vị Phật cao qúy và
là một thái tử phong nhã. Sở dĩ Thế Tôn thuyết pháp cho
ai vì nghĩ đó là thí chủ của Ngài. Nếu bây giờ phải thuyết
pháp cho ta, Ngài sẽ nhọc mệt thêm. Vì lý do đó, Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc không hề thưa hỏi Phật. Nhưng khi ông
vừa ngồi xuống, đức Phật đã nghĩ: "Trưởng giả này bảo
trợ cho Ta khi Ta không cần bảo trợ. Ta đã trải qua bốn
a-tăng-kỳ và trăm ngàn kiếp để thành tựu đạo quả. Mái
tóc đeo đầy trang sức Ta đã cắt bỏ, đôi mắt Ta đã vứt
đi, máu thịt tim Ta cũng nhổ bỏ tận gốc. Con Ta, vợ Ta thân
thiết như chính mạng sống, Ta cũng từ bỏ, chỉ vì muốn
đem chánh pháp đến cho chúng sanh. Người này bảo trợ cho
Ta khi Ta không cần bảo trợ". Rồi đức Phật thuyết một
bài pháp.
Lúc
ấy có năm mươi triệu trong số bảy mươi triệu cư dân thành
Xá-vệ nghe xong liền xin làm đệ tử tại gia của Phật. Còn
lại hai mươi triệu chưa tin đạo. Các cư sĩ đệ tử của
Phật có hai nhiệm vụ: trước ngọ để bát cho chư Tăng,
sau ngọ cầm hương hoa và cùng với tôi tớ mang y phục, thuốc
men, thức uống đi đến đức Phật nghe pháp.
Một
ngày nọ, Mahà Pàla trông
thấy các cư sĩ đi đến tịnh xá với hương hoa trên tay,
anh ta bèn hỏi:
-
Các vị đi đâu vậy?
Và
được trả lời:
-
Ði nghe pháp.
-
Cho tôi đi với.
Rồi
anh ta đi theo họ đến đảnh lễ đức Phật và ngồi bên
ngoài vòng pháp hội.
Khi
chư Phật thuyết pháp, các Ngài luôn tùy theo căn cơ của thính
chúng từng người một, xem người nào thích hợp để quy
y, để thọ giới hoặc xuất gia. Ngày hôm ấy, đức Phật
để ý đến căn cơ Mahà
Pàla và thuyết pháp cho anh ta. Ngài giải thích rành
rẽ, theo thứ lớp từng vấn đề về trí tuệ, bố thí, giới
luật, sự sanh thiên, nghiệp báo, sự ngu si và uế trược
của dục lạc, và về phước lành của hạnh xuất gia.
Gia
chủ Mahà Pàla chú
tâm lắng nghe. Anh nhận định khi con người từ giã cõi đời
sang bên kia thế giới, chẳng có thể đem theo con cái hay tài
sản; hơn nữa, cả thân này cũng chẳng đi theo được, vậy
sống đời tục gia có lợi gì? Và anh định xuất gia. Vì
thế cuối thời pháp, Mahà
Pàla đến bên đức Phật xin gia nhập Tăng đoàn.
Ðức
Phật hỏi:
-
Con còn thân nhân nào không, để việc xuất gia được đúng
pháp?
-
Bạch Thế Tôn! Con còn một em trai.
-
Vậy thì hãy báo tin cho em con.
Mahà
Pàlahoan
hỷ thưa:
-
Xin vâng.
Rồi
chào Phật trở về nhà, gọi em đến bảo:
-
Này chú! Mọi tài sản trong nhà, động sản và bất động
sản, anh giao hết cho chú, hãy bảo quản.
Người
em ngạc nhiên hỏi:
-
Còn anh thì sao?
-
Anh sẽ theo Phật, gia nhập Tăng đoàn.
-
Anh nói gì vậy, anh thân yêu? Khi mẹ mất anh chăm lo cho em
như mẹ, đến cha mất anh lại thay cha. Nhà anh đầy của cải,
chắc chắn anh sẽ làm được việc thiện dù sống đời tại
gia. Xin anh đừng xuất gia.
-
Này chú, sau khi nghe Phật thuyết pháp, anh không muốn sống
đời tại gia nữa. Ðức Phật đã giảng rất hay trong phần
đầu, phần giữa và phần cuối. Ngài đã nêu lên một cách
chính xác và đúng đắn ba tính chất của các pháp: vô thường,
khổ và vô ngã. Anh không thể hành trì trọn vẹn giáo pháp
nếu còn bận bịu việc nhà. Anh phải xuất gia em à!
-
Anh ơi! Anh còn trẻ lắm, để lúc già hãy đi tu.
-
Ðợi đến già để thành lão khọm à! Tay chân lụm khụm,
không làm gì được theo ý mình, lại thêm con cháu đùm đề.
Không, anh không thể nghe lời chú được. Anh sẽ làm tròn
bổn phận Tỳ-kheo.
Tuổi
già tay yếu run chân
Tu
sao được nữa khi thân mỏi mòn?
Anh
sẽ đi tu, dù chú cản trở cách gì.
Mặc
người em than khóc, Mahà
Pàla đi đến gặp Phật và xin xuất gia vào Tăng
đoàn. Ðược thu nhận và tu học, Mahà
Pàla trải qua năm mùa hạ với thầy Tế độ và
Giáo thọ. Mãn hạ thứ năm và làm lễ giải hạ xong, thấy
đến chỗ Phật, đảnh lễ và thưa hỏi:
-
Bạch Thế Tôn! Nương theo Thế Tôn con có bao nhiêu bổn phận
tu tập phải thọ trì?
-
Này Tỳ-kheo! Chỉ có hai là Pháp học và Pháp thiền.
-
Bạch Thế Tôn! Thế nào là Pháp học? Và thế nào là Pháp
thiền?
-
Pháp học là hiểu biết Phật ngôn tùy theo căn cơ mỗi người,
phải thông suốt một hoặc hai bộ A Hàm, hay toàn bộ Tam Tạng
kinh điển, thuộc lòng, đọc tụng và giảng dạy. Còn Pháp
thiền sẽ dẫn đến quả vị A-la-hán. Thiền định đòi hỏi
một đời sống đạm bạc, ưa thích ở nơi vắng, luôn chuyên
niệm về lão và tử, và khai triển Minh sát tuệ bằng sự
nỗ lực bền bỉ.
-
Bạch Thế Tôn! Vì con đã lớn tuổi mới xuất gia, con không
thể làm tròn bổn phận đối với Pháp học, nhưng con có
thể làm tròn bổn phận đối với Pháp thiền. Xin dạy cho
con thiền định.
Phật
dạy cho thầy pháp tu dẫn đến quả vị A-la-hán. Thầy đảnh
lễ đức Phật và tìm được sáu mươi vị Tỳ-kheo cùng đi
với mình. Thầy đi khoảng hai mươi dặm (tám mươi cây số),
đến một làng rộng lớn gần biên giới, và cả đoàn vào
làng khất thực. Dân làng thấy các vị oai nghi chỉnh tề,
làm tròn bổn phận tăng sĩ và lại dễ thân cận nên sanh
lòng quý kính. Họ mời các thầy ngồi, dâng những thức ăn
ngon.
Rồi
họ hỏi:
-
Thưa chư Tôn giả, các vị đi đâu?
-
Này chư thiên tín, chúng ta đi đến một chỗ ẩn cư thích
hợp.
Dân
làng khôn ngoan tự hiểu rằng những vị Tỳ-kheo đáng kính
đang tìm chỗ an cư trong mùa hạ. Họ thỉnh cầu:
-
Nếu chư Tôn giả bằng lòng ở đây suốt ba tháng hạ, chúng
con xin quy y và thọ giới.
Nghĩ
rằng nhờ những thí chủ này trợ giúp để tu ra khỏi sanh
tử luân hồi, các thầy ưng thuận ở lại. Dân làng dựng
ngay một tịnh xá, xây khu vực ban đêm và khu vực ban ngày,
dâng cúng lên chư Tăng. Các Tỳ-kheo chỉ có việc đều đặn
vào làng khất thực. Có một y sĩ phát tâm đến tịnh xá
chữa bệnh, ông đã trình lên chư Tăng nguyện vọng của mình:
-
Chư Tôn giả! Chỗ nào đông người đều không tránh khỏi
bệnh tật. Nếu có người bệnh, xin nhắn tôi đến chữa
trị.
Ngày
đầu hạ, Trưởng lão Mahà
Pàla đã gọi tất cả Tỳ-kheo lại hỏi:
-
Các huynh đệ, suốt ba tháng hạ các vị sẽ tu trong mấy oai
nghi?
-
Trong bốn oai nghi, bạch Ðại đức.
-
Nhưng có thích hợp không, các huynh đệ?
Chúng
ta phải thật chánh niệm, chính vì đức Phật chỉ dạy Pháp
thiền mà chúng ta đến đây hành trì. Sở dĩ chúng ta được
chư Phật gia hộ chẳng do nhờ dối trá hai mặt, mà chính
do hạnh tinh tấn tu tập. Bốn thứ khổ sanh, lão, bệnh, tử
đang chờ người giải đải tán tâm, đó là cảnh giới họ
ra vào quen thuộc như nhà riêng của mình. Vì thế, các huynh
đệ hãy chánh niệm.
-
Còn Ngài, thưa Ðại đức?
-
Tôi chỉ dùng ba oai nghi. Tôi sẽ không đặt lưng nằm.
-
Tốt lắm! Thưa Ðại đức, hãy chánh niệm!
Sau
tháng thứ nhất Trưởng lão Mahà Pàla, người tự nguyện
không ngủ, bắt đầu thấy nhức mắt. Nước mắt chảy ra
từ mắt thầy giống như từ chiếc bình bể. Suốt đêm dài,
thầy dốc hết thân tâm ngồi thiền, và chỉ đến sáng thầy
mới vào liêu ngồi nghỉ. Ðến giờ đi bát, chư Tăng đến
chỗ Trưởng lão thưa:
-
Bạch Trưởng lão! Ðã đến giờ đi khất thực.
-
Tốt lắm, huynh đệ, hãy lấy y và bát.
Bảo
họ lấy y bát rồi, chính thầy cũng lên đường. Các Tỳ-kheo
thấy thầy chảy nước mắt, hỏi:
-
Có việc gì vậy, thưa Ðại đức?
-
Gió làm xốn mắt tôi.
-
Sao ta chẳng mời y sĩ, thưa Ðại đức? Chúng ta sẽ nhắn
ông ta đến.
-
Tốt lắm.
Các
Tỳ-kheo báo tin cho y sĩ. Ông chế một thứ thuốc gởi đến.
Trưởng lão thoa thuốc mỡ vào mũi và vẫn ngồi như thường
lệ. Rồi Ngài vào làng. Y sĩ gặp Ngài hỏi thăm:
-
Thưa Tôn giả, con nghe nói gió làm Ngài bị đau mắt?
-
Ðúng thế, thiện tín ạ.
-
Thưa Tôn giả, Ngài có thoa vào mũi thuốc con đã chế và gởi
đến không?
-
Có, thiện tín ạ.
-
Bây giờ Tôn giả thấy thế nào?
-
Vẫn đau nhức như trước.
Y
sĩ bán tín bán nghi, thuốc mình gởi đến chỉ thoa một lần
là khỏi bệnh, vì sao Tôn giả không hết đau? Ông bèn hỏi
tiếp:
-
Khi thoa thuốc Ngài ngồi hay nằm?
Trưởng
lão im lặng. Mặc cho y sĩ hỏi đôi ba phen, Ngài vẫn không
nói một lời. Y sĩ không biết làm sao để giải quyết, chỉ
còn cách chào Ngài và đến tịnh xá xem xét chỗ ở.
Liêu
của Trưởng lão chỉ có lối kinh hành và một chỗ ngồi,
không có chỗ nằm. Y sĩ thắc mắc:
-
Thưa Tôn giả, khi thoa thuốc Ngài đã ngồi hay nằm?
Trưởng
lão vẫn im lặng.
-
Thưa Tôn giả, xin Ngài đừng làm vậy. Việc tu tập chỉ có
thể tiến hành khi nào thân thể được chăm sóc cẩn thận.
Ngài có nằm khi thoa thuốc không?
Y
sĩ hỏi đôi ba lần, Trưởng lão mới trả lời:
-
Hãy về đi, Y sĩ. Tôi sẽ hội ý lại và quyết định việc
này.
Trưởng
lão không có ai thân thích ở đó cả, vậy thì Ngài hội ý
với ai? Ngài chỉ bàn với chính mình: "Này Pàlita,
thầy quí con mắt hay quí Phật đạo? Trong vòng luân hồi không
manh mối, biết bao lần thầy không được sáng mắt. Trong
vô số muôn ngàn đức Phật đã ra đời, thầy đã không gặp
được một vị nào. Giờ đây trong mùa hạ này, thầy đã
quyết không nằm suốt ba tháng. Vậy cứ để cho đôi mắt
bị hư. Chỉ lo giữ giới luật, đừng giữ con mắt".
Và
để khiển trách thân, Ngài đọc bài kệ sau:
Mắt
tai nay đã hỏng rồi,
Cả
thân này nữa cũng thôi không còn.
Ðó
là chuyện mỏi mòn thân ấy,
Pàlita,
sao vẫn tán tâm?
Mắt
tai này đã hết mong,
Cả
thân này nữa chẳng trông lâu dài.
Ðó
là chuyện hoại hư thân ấy,
Pàlita,
sao vẫn tán tâm?
Mắt
tai nay đã tiêu tan,
Cả
thân này nữa tan hoang còn nào!
Ðó
là chuyện hư hao thân ấy,
Pàlita,
sao vẫn tán tâm?
Tự
khiển trách mình với ba câu kệ xong, Trưởng lão thoa thuốc
lên mũi, lại tiếp tục ngồi như trước, rồi Ngài vào làng
khất thực. Y sĩ trông thấy hỏi:
-
Thưa Tôn giả, Ngài có thoa thuốc vào mũi?
-
Có.
-
Ngài thấy thế nào?
-
Vẫn đau như trước.
-
Thưa Tôn giả, Ngài có ngồi khi thoa thuốc hay nằm xuống?
Trưởng
lão im lặng. Y sĩ hỏi lại mấy lần, Trưởng lão vẫn không
nói một lời. Y sĩ bảo:
-
Ngài không chịu làm điều phải làm để lành bệnh. Vì vậy
Ngài không nên xin thuốc, và tôi cũng sẽ không chế thuốc
cho Ngài. Tôi không còn cách nào hơn.
Bị
y sĩ từ chối chữa bệnh, Trưởng lão trở về tịnh xá,
tự dặn dò: "Tỳ-kheo, dầu cho thầy bị y sĩ từ bỏ, chớ
từ bỏ tư thế ngồi của mình".
Như
con bệnh nan y,
Y
sĩ thôi chữa trị,
Chắc
chắn gặp tử thần,
Pàlita,
sao còn tán tâm?
Tự
khiển trách mình với bài kệ trên, Trưởng lão lại tiếp
tục thiền định. Vào cuối đêm đôi mắt Ngài mù hẳn, các
lậu đồng thời hết sạch. Ngài chứng A-la-hán an trú trong
an lạc của Minh sát tuệ. Rồi Ngài vào liêu ngồi nghỉ. Ðến
giờ khất thực, các Tỳ-kheo đến bên Trưởng lão thưa:
-
Bạch Tôn giả, đã đến giờ chúng ta đi bát.
-
Ðến giờ rồi ư, chư hiền hữu?
-
Thưa vâng.
-
Thế thì các thầy hãy đi.
-
Còn Ngài, thưa Tôn giả?
-
Mắt tôi đã mù.
Họ
nhìn vào mắt Ngài và mắt họ đẫm lệ:
-
Ðừng lo ngại, chúng con sẽ săn sóc Ngài.
Họ
an ủi Trưởng lão, và sau khi xong bổn phận hành thiền, họ
vào làng khất thực.
Không
thấy Trưởng lão, dân làng hỏi thăm:
-
Bạch quý thầy, Tôn giả Trưởng lão của chúng con đâu?
Khi
rõ sự việc, họ gởi cháo về cúng dường Ngài. Sau đó,
từng người một đem thức ăn đến đảnh lễ Trưởng lão,
lăn mình dưới chân Ngài, không ngớt than khóc. Rồi họ an
ủi Ngài:
-
Thưa Tôn giả, xin đừng lo lắng, chúng con sẽ săn sóc Ngài.
Từ
đó, dân làng đều đặn gởi cháo đến tịnh xá. Trưởng
lão thường răn nhắc sáu mươi Tỳ-kheo, và các Tỳ-kheo đều
tuân hành theo lời Ngài, nghiêm chỉnh đến nỗi vào ngày giải
hạ tất cả đều chứng A-la-hán và đắc thần thông.
Cuối
mùa an cư, vì muốn gặp Phật, các Tỳ-kheo thưa với Trưởng
lão xin đi. Trưởng lão không tránh khỏi đăm chiêu: "Ta nay
sức yếu, trên đường về lại đi qua khu rừng có nhiều
ma quỷ. Nếu ta cùng đi, các thầy sẽ nhọc công và không
thể khất thực. Ta sẽ để họ đi trước".
Và
Ngài bảo:
-
Các thầy hãy đi trước.
Các
Tỳ-kheo thắc mắc:
-
Nhưng còn Tôn giả?
-
Tôi ốm yếu, đường đi phải băng qua khu rừng có nhiều
ma quỷ, nếu tôi cùng đi các thầy sẽ nhọc công. Các thầy
hãy đi trước.
-
Không được, thưa Tôn giả. Chúng con chỉ đi cùng Ngài.
-
Xin các thầy đừng làm thế, tôi chẳng vui lòng. Nếu em tôi
gặp các thầy và hỏi thăm tôi, hãy bảo là tôi mù mắt,
nó sẽ gởi người đến và dẫn tôi về. Hãy nhân danh tôi
chào mừng đấng Thập Lực và tám mươi vị Ðại Trưởng
lão.
Nói
xong, Tôn giả bảo họ ra đi. Bắt buộc phải lên đường,
các Tỳ-kheo đành xin phép Trưởng lão vào làng khất thực
rồi lên đường.
Dân
làng mời ngồi, dâng thức ăn, năn nỉ ở lại; nhưng biết
các Tỳ-kheo phải về gặp Phật, họ đành khóc lóc tiễn
đưa. Du hành một thời gian, các thầy đến Kỳ Viên và nhân
danh Trưởng lão chào mừng Ðạo sư cùng tám mươi vị Ðại
Trưởng lão. Xong các thầy đi khất thực, qua nhà gia chủ
em của Trưởng lão. Gia chủ nhận ra các thầy ngay, thân mật
đón tiếp, mời ngồi và hỏi thăm Trưởng lão.
Các
Tỳ-kheo kể lại những gì đã xảy ra. Người em lăn mình
trên đất, than khóc mếu máo, không biết phải làm sao bây
giờ.
Các
Tỳ-kheo vỗ về:
-
Trưởng lão muốn có ai đến đưa Ngài về.
-
Thưa, đây là Pàlita,
con của chị con. Xin gởi nó đi!.
-
Ðể nó đi không ổn vì đường nhiều nguy hiểm. Nếu cho
nó xuất gia thì an toàn hơn.
Người
em bằng lòng.
Thế
là các thầy làm lễ xuất gia cho chàng trai, dạy anh ta cách
thức đắp y v.v.. trong vòng hai tuần, rồi chỉ đường cho
anh ta đi.
Băng
qua nhiều làng mạc, một hôm thầy Sa-di trẻ gặp một cụ
già tại cổng làng đó và hỏi thăm:
-
Chào cụ, cụ có biết một tu viện ẩn cư nào gần đây không?
-
Thưa Tôn giả, có.
-
Ai sống ở đó?
-
Có một Trưởng lão tên Pàlita.
-
Hãy chỉ cho tôi đường đến đó.
-
Tôn giả là ai?
-
Tôi là con của em gái vị ấy.
Cụ
già liền dẫn thầy đến nơi ẩn cư. Thầy tới đảnh lễ
Trưởng lão, và trong hai tuần làm đủ bổn phận từ việc
lớn đến việc nhỏ đối với Trưởng lão, chăm sóc Ngài
thật tận tụy. Rồi thầy đề nghị với Trưởng lão:
-
Thưa Tôn giả, cậu của con mong được gặp Ngài.
Chúng
ta hãy trở về.
-
Tốt lắm, hãy nắm lấy gậy của ta.
Và
như thế tay không rời gậy, cả hai người một già một trẻ
đi vào làng. Dân làng tìm hết cách thuyết phục Trưởng lão
ở lại nhưng vô hiệu, họ đành khóc lóc đưa đi một đoạn
đường. Họ đi đến ngôi làng kế cận ở ven rừng tên là Katthanagara,
và lần bước ra khỏi làng.
Bỗng
từ xa cất tiếng hát của một cô gái đang gom củi. Thầy
Sa-di chợt cảm thấy yêu mến ngay tiếng hát trong trẻo (Ðức
Thế Tôn đã từng dạy: "Này các Tỳ-kheo! Chưa từng có âm
thanh nào khác thâu nhiếp con tim người nam bằng tiếng người
nữ"). Và quá xao xuyến thầy liền buông đầu gậy ra thưa
với Trưởng lão:
-
Thưa Tôn giả, chờ con một lát. Con bận một chút việc.
Nói
xong thầy tất tả đi về hướng cô gái. Trông thấy thầy,
nàng ngừng hát và thầy phạm giới tà hạnh với cô gái.
Trưởng lão đợi thầy Sa-di hồi lâu chưa thấy trở lại,
đoán ngay có điều bất thường, có tiếng hát phụ nữ và
chú Sa-di lại đi lâu quá, chắc đã phạm giới rồi.
Thầy
Sa-di sau đó trở về bên Trưởng lão, hối hả giục Ngài
tiếp tục lên đường:
-
Thôi ta đi, thưa Tôn giả.
Trưởng
lão nghiêm giọng:
-
Này Sa-di, con đã phạm tội phải không?
Thầy
im lặng, và dù được hỏi lần nữa thầy vẫn nín khe. Trưởng
lão răn tiếp:
-
Một kẻ tội lỗi như chú không bao giờ được nắm đầu
gậy của ta.
Thầy
Sa-di quá ăn năn, cởi chiếc y vàng, khoác áo thế tục, cúi
đầu nhận lỗi:
-
Thưa Tôn giả, trước đây con là thầy tu, nay trở lại làm
cư sĩ. Con đi tu chẳng phải do tín tâm, chỉ vì sợ những
bất trắc dọc đường. Giờ thì chúng ta đi thôi.
Trưởng
lão vẫn không đổi ý:
-
Một kẻ xấu ác, dù là bậc xuất gia hay tại gia vẫn là
kẻ xấu ác. Khi là Sa-di chú không giữ được phạm hạnh,
thì liệu chú có là người tốt khi làm cư sĩ không ? Một
kẻ tội lỗi như chú không bao giờ được nắm đầu gậy
của ta.
-Tôn
giả ! Ðường đầy ma qủy, Ngài lại mù, làm sao Ngài lại
ở đây được ?
-
Chú đừng lo việc ấy. Ta có nằm chết ở đây hay đi đâu
chăng nữa, cũng không có gì quan trọng. Ta không đi với chú.
Nói
xong, Trưởng lão ngâm đoạn kệ sau:
Ôi
ánh sáng mắt ta đã mất!
Con
đường dài mệt mỏi xiết chi.
Ði
cùng với kẻ ngu si,
Thà
rằng nằm xuống chẳng đi, không màng.
Ôi
ánh sáng mắt ta đã mất!
Con
đường dài mệt mỏi xiết chi.
Ði
cùng với kẻ ngu si,
Thà
rằng phải chết, chẳng đi, không màng.
Chú
nghe những lời này, hối hận, nghẹn ngào, cất tiếng than:
-
Con đã phạm một tội ghê gớm, một lỗi lầm kinh khủng.
Rồi
khóc lóc vặn vẹo đôi tay, chú lao vào rừng mất dạng.
Ðức
hạnh của Trưởng lão làm cho ngai vàng Ðế Thích dài sáu
mươi dặm, rộng năm mươi dặm, dày mười lăm dặm, rực
rỡ màu hoa hồng đỏ, tự động hạ thấp khi Ðế Thích ngồi,
vương cao khi Ðế Thích đứng, bỗng nhiên nóng bỏng lên.
Ðế Thích giật mình không hiểu ai có thể hắt ngài ra khỏi
ngai như thế này, và quan sát thế gian, với thiên Nhản Ngài
thấy Trưởng lão. Người xưa kể rằng:
Ðế
Thích có ngàn mắt,
Làm
thanh tịnh mắt thần.
Pàla
ghét tội lỗi,
Làm
thanh tịnh tâm thân.
Ðế
Thích có ngàn mắt,
Làm
thanh tịnh mắt thần.
Pàla
sùng giới luật,
An
lạc trong đạo tâm.
Ðế
Thích tự nhủ: "Nếu ta không đến giúp một Trưởng lão ghê
tởm tội lỗi và tôn sùng giới luật như vậy, thì đầu
ta sẽ bể làm bảy mảnh. Ta sẽ đến giúp Ngài".
Vậy
là:
Ðế
Thích có ngàn mắt,
Thống
lãnh hết chư thiên,
Ðến
ngay trong khoảnh khắc,
Bên
Cakkhupàla.
Và
Ðế Thích bay đến Trưởng lão. Khi đến gần, Ngài kéo lê
chân.. Trưởng lão bèn hỏi:
-
Ai đó?
-
Tôi, một bộ hành.
-
Này thiện tín, ngươi đi đâu vậy?
-
Ðến Xá-vệ, thưa Tôn giả.
-
Hãy tiếp tục lộ trình.
-
Nhưng thưa Tôn giả, Ngài đi đâu?
-
Tôi cũng đến đó.
-
Tốt quá, vậy thì chúng ta cùng đi.
-
Này bạn, tôi ốm yếu, đi với tôi bạn sẽ chậm trễ.
-
Tôi không có việc gì gấp. Hơn nữa nếu đi với Ngài, tôi
sẽ được công đức vì đã làm một trong mười điều thiện.
Ta hãy cùng đi, thưa Tôn giả!
Nghĩ
rằng đây là một người ngoan đạo, Trưởng lão bằng lòng:
-
Tốt lắm, hãy nắm lấy đầu gậy của tôi.
Ðế
Thích y lời và làm phép thâu ngắn đoạn đường để họ
đến Kỳ Viên kịp trong chiều ấy. Và rồi tiếng kèn, trống
và những nhạc cụ khác nổi lên bên tai, Trưởng lão ngạc
nhiên:
-
Tiếng ấy ở đâu?
-
Ở Xá-vệ.
-
Này thiện tín, lần trước tôi đi lâu lắm mới đến, sao
kỳ này nhanh vậy?
-
Thưa Tôn giả, tôi biết một lối đi tắt.
Trưởng
lão hiểu ngay đây không phải là người thường mà là một
vị trời.
Phạm
thiên có ngàn mắt,
Thống
lãnh hết chư thiên,
Thâu
ngắn đi khoảng cách,
Ðến
Xá-vệ thật nhanh.
Rồi
Ðế Thích dẫn Trưởng lão đến một túp lều bằng lá và
cỏ, nơi người em của Trưởng lão dựng riêng cho anh mình
ở tạm, để Trưởng lão ngồi trên giường, và hóa thành
anh bạn đến thăm người em. Anh bạn này kêu lên khi đến
nhà:
-
Bạn Pàla!
Pàla
chào bạn:
-
Gì vậy bạn?
-
Anh có biết Trưởng lão đã về chưa?
-
Chưa! Ngài về thật sao?
-
Quả vậy, tôi vừa từ nơi ẩn cư về, thấy Trưởng lão
đang ngồi trong lều của anh.
Nói
xong anh bạn ra đi.
Vị
gia chủ bèn đi đến lều cỏ. Vừa trông thấy Trưởng lão,
anh gieo mình xuống chân Ngài, lăn trên đất khóc lóc:
-
Con biết mà, Trưởng lão! Vì thế con không muốn để người
đi tu.
Hàn
huyên thăm hỏi xong, gia chủ bèn trả tự do cho hai nô lệ,
cho chúng xuất gia làm đệ tử Trưởng lão để trông nom Ngài.
Anh dặn dò:
-
Nhớ về làng lấy cháo và thức ăn, chăm lo săn sóc Trưởng
lão.
Hai
tân Sa-di chăm sóc Trưởng lão hết sức tận tụy, làm đủ
các bổn phận từ việc lớn đến việc nhỏ.
Ngày
nọ, một nhóm thầy Tỳ-kheo ở xứ khác đến kính viếng
Phật. Sau khi lễ Phật và thăm tám mươi Ðại Trưởng lão,
họ đi tham quan tịnh xá. Ðến thất của Trưởng lão Cakkhupàla họ
bàn nhau đến vấn an Ngài. Chiều hôm đó họ định vào thăm,
nhưng một cơn bão dữ dội nổi lên, họ đành quay về và
hẹn sáng hôm sau trở lại. Cơn mưa lớn kéo dài suốt canh
một, đến canh hai thì dứt. Trưởng lão, một con người giàu
nghị lực đã quen kinh hành, lần xuống hàng hiên vào canh
năm, và vô tình giẫm chết rất nhiều côn trùng bò lổn ngổn
trên nền đất ẩm. Các thầy Tỳ-kheo ngụ tại đó không
quét dọn sớm, nên khi các thầy Tỳ-kheo ở xa đến thăm Trưởng
lão, thấy đủ loại côn trùng nằm chết rải rác ngoài hàng
hiên. Họ kinh ngạc lên tiếng:
-
Ai đã bước đi trên lối này?
Và
được trả lời:
-
Thưa Tôn giả, Thầy chúng tôi.
Họ
bực bội nói:
-
Xem một Tỳ-kheo kìa! Khi ông ấy sáng mắt thì nằm ngủ và
không tạo tội. Còn bây giờ mù mắt lại nghĩ: "Tôi sẽ kinh
hành". Và đã giết chừng ấy côn trùng. Ông ấy nghĩ mình
làm đúng, nhưng thật chẳng đúng tí nào.
Rồi
họ bỏ đi và bạch với Phật:
-
Bạch Thế Tôn! Trưởng lão Cakkhupàla nghĩ
"Tôi sẽ kinh hành", và đã giết hại nhiều côn trùng.
Thế
Tôn gạn hỏi lại:
-
Nhưng các ông có thấy ông ấy giết không?
-
Thưa không thấy.
-
Thực sự các ông không thấy ông ấy giết, cũng vậy, ông
ấy không thấy côn trùng. Này Tỳ-kheo! Người giải thoát
các lậu hoặc, không còn ý sát sanh.
-
Bạch Thế Tôn, vị ấy chắc chứng A-la-hán, vậy do đâu mà
bị mù?
-
Này các Tỳ-kheo, đó là vì lỗi lầm trong một kiếp quá khứ.
-
Sao thế, bạch Thế Tôn, vị ấy đã làm gì?
-
Các ông hãy lắng nghe!
Chuyện
quá khứ
1-A.
Người Ðàn Bà Và Ông Thầy Thuốc Ðộc Ác.
Thuở
xưa, khi vua Kàsi lên
ngôi ở Ba-la-nại, có một thầy thuốc đi dạo xóm làng chữa
bệnh. Gặp một người đàn bà đau mắt, ông hỏi:
-
Bà sao vậy?
-
Tôi không thấy rõ.
-
Tôi sẽ chữa cho bà.
-
Xin thầy làm ơn chữa giùm.
-
Bà sẽ trả công cho tôi thế nào?
-
Nếu thầy chữa được cho tôi mắt sáng và khỏe mạnh lại
như xưa, tôi và luôn cả con trai con gái tôi sẽ hầu hạ thầy.
-
Tốt lắm.
Rồi
ông kê toa cho thuốc. Chỉ sau một lần dùng thuốc, đôi mắt
của người đàn bà sáng lại. Hạnh phúc vừa đến nhưng
lại kèm theo nỗi lo âu mãi lởn vởn trong đầu: "Mình hứa
làm nô lệ cho ông thầy, cả các con mình cũng phải làm. Nhưng
xem ra lão ấy chẳng tử tế đâu. Chà! Làm sao bây giờ đây?
Phải tìm cách để gạt lão mới được". Kịp đến lúc thầy
thuốc trở lại hỏi thăm bệnh tình, bà làm ra vẻ khổ sở:
-
Trước đây mắt tôi đau ít, nay lại đau dữ dội hơn bao
giờ.
Ông
thầy đoán ngay là bà ta muốn lừa mình để quỵt tiền công
chữa bệnh. Ông tức giận lầm bầm: "Ðược rồi, ta chẳng
cần mụ trả công, ta sẽ cho mụ mù luôn". Và ông bỏ đi
ngay không nói một lời, trước cặp mắt ngơ ngác của người
đàn bà thất hứa.
Ông
thầy thuốc về nhà, kể lại cho bà vợ nghe cho hả tức.
Vợ ông lặng thinh, còn ông thì tức tốc bào chế một thứ
thuốc mỡ khác, mang đến cho người đàn bà và dặn thoa vào
mắt. Người đàn bà làm theo chẳng chút nghi ngờ và ánh sáng
đôi mắt vụt tắt.
Ông
thầy thuốc đó chính là Cakkhupàla.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
-
Này các Tỳ-kheo! Ðệ tử ta làm ác nên bị ác nghiệp theo
đuổi mãi mãi, vì việc ác đi theo người làm ác như bánh
xe lăn theo chân con bò kéo xe.
Kể
chuyện xong, đấng Pháp Vương, như một vị vua đóng dấu
ấn bằng con triện hoàng gia lên sắc dụ đã được niêm
phong, tuyên đọc bài kệ sau:
(1)
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý
làm chủ, ý tạo.
Nếu
với ý ô nhiễm,
Nói
lên hay hành động,
Khổ
não bước theo sau
Như
xe, chân vật kéo.
2.
Khóc Ðòi Những Chuyện Trên Trời
Pháp
cú thứ hai cũng bắt đầu bằng câu:
Ý
dẫn đầu các pháp,
Ý
làm chủ, ý tạo.
Nếu
với ý thanh tịnh,
Nói
lên hay hành động,
An
lạc bước theo sau,
Như
bóng không rời hình.
Do
Phật dạy tại thành Xá-vệ, từ câu chuyện Matthakunddali.
Tôi
nghe như vầy: Tại Xá-vệ có một Bà-la-môn tên là Adinnapubbaka,
có nghĩa là "không cho", vì ông ta không hề cho ai vật gì.
Ông có một đứa con trai duy nhất hết sức cưng quí. Ông
muốn cho con một món đồ trang sức, nhưng biết rằng hễ
giao thợ bạc chạm trổ thì phải trả tiền công, nên ông
tự tay đập mỏng miếng vàng, gò thành một đôi hoa tai sáng
bóng đeo cho con. Do đây mà con ông có tên là Matthakundali,
nghĩa là Hoa Tai Sáng Bóng.
Lên
mười sáu tuổi, con ông bị bệnh vàng da. Bà mẹ trông thấy
nóng ruột, hối ông mời thầy thuốc đến chữa bệnh. Tuy
thương con ông vẫn lừng khừng, không muốn đi, nên tìm cách
thối thác với bà vợ:
-
Bà à! Nếu gọi thầy thuốc đến, tôi phải trả công bằng
lúa gạo, kho lẫm sẽ hao hụt. Bà sao không để ý đến việc
bảo quản tài sản cho tôi chút nào!
Bà
mẹ vẫn một mực lo lắng cho con:
-
Vậy thì phải làm sao? Ông phải tính sao cho con tôi chớ?
-
Yên chí! Tôi sẽ sắp xếp sao cho chẳng tốn xu nào.
Thế
là ông đi đến từng thầy thuốc, tìm cách hỏi đon hỏi
ren cho ra phương thuốc trị bệnh cho con ông:
-
Này ông anh, nếu gặp một người bị bệnh như vầy.. như
vầy..., thường thì ông trị liệu ra sao, cho uống thuốc gì?
Họ
liền kể ra các thứ vỏ cây, tên cây, tên khác.. Thế là
ông đi kiếm đủ thứ vỏ cây, lá rừng.. mang về sao chế
thuốc cho con. Nhưng dầu làm hết cách, bệnh trạng đứa con
càng ngày càng tệ. Cuối cùng hết phương cứu chữa, ông
mời hẳn một thầy thuốc đến. Nhìn thấy chàng trai quá
yếu, thầy thuốc khéo léo từ chối:
-
Tôi đang bận một việc quan trọng, xin mời một vị khác
đến chữa trị. Tôi rất tiếc.
Và
ông vội vàng rời khỏi nhà.
Thấy
con mình gần chết, tuy có đau buồn nhưng vẫn không quên tính
keo kiệt, bo bo giữ của, ông ra lệnh mang con ra khỏi nhà,
đặt nằm trên thềm, vì sợ những người đến thăm con mình
sẽ dòm ngó luôn tài sản trong nhà.
Hôm
ấy, từ sáng sớm, đức Thế Tôn đã xuất định Ðại Bi,
và để tìm xem những ai có lập nguyện trong đời chư Phật
trước, những người căn lành tròn đầy, những đạo hữu
có thể xuất gia, Ngài quán sát với Phật nhãn mở rộng đến
mười phương thế giới, và thấy Matthakundali đang
nằm hấp hối ngoài thềm nhà. Ðấng Ðạo sư biết ngay là
anh ta vừa từ trong nhà được khiêng ra đặt nằm đó, và
cũng biết rằng anh ta có nhân duyên với Phật, đặt niềm
tin nơi Phật, sẽ chết và sẽ tái sinh lên cõi trời thứ
ba mươi ba, sống trong lâu đài bằng vàng, có một ngàn thiên
nữ theo hầu. Bà-la-môn sẽ thiêu xác con, rồi đi quanh bãi
thiêu khóc lóc. Vị trời sẽ tự ngắm mình thân cao ba dặm,
được trang điểm với sáu mươi xe đầy ắp đồ trang sức,
có ngàn thiên nữ vây quanh. Vị ấy thắc mắc không biết
do công đức gì mà được quả báo thù thắng như thế, và
rồi vị ấy biết là do tín tâm. Rồi vị ấy thấy cha mình
trước đây không chịu lo thuốc thang cho mình, nay đang đi
trong bãi thiêu than khóc. Vị ấy liền quyết định sẽ làm
cho cha thay đổi tâm tánh.
Vị
trời xúc động vì cha, sẽ hóa hình thành Matthakundali
đi đến bãi thiêu, gieo mình xuống đất khóc lóc. Ông Bà-la-môn
sẽ hỏi:
-
Người là ai?
Vị
trời sẽ trả lời:
-
Là Matthakundali,
con của cha.
-
Con tái sinh ở đâu?
-
Ở tầng trời thứ ba mươi ba.
Ông
Bà-la-môn sẽ hỏi tiếp:
-
Con làm công đức gì mà được?
-
Nhờ tin Phật.
Người
Bà-la-môn chưa tin hẳn, sẽ hỏi lại Thế Tôn:
-
Có ai do tin Phật mà được sanh thiên không?
Thế
Tôn sẽ đáp:
-
Chẳng phải có hằng trăm, hằng ngàn hay hằng trăm ngàn mà
vô số người đều được.
Rồi
Thế Tôn sẽ đọc một đoạn Pháp Cú. Cuối đoạn Pháp Cú
sẽ có tám vạn bốn ngàn người được Pháp nhãn thanh tịnh. Matthakundali sẽ
chứng quả Dự lưu, cả Bà-la-môn Adinnapubbaka cũng
chứng quả ấy. Như vậy nhờ chàng trai ưu tú này mà nhiều
người được Pháp nhãn thanh tịnh.
Ðức
Phật biết rõ như đã kể trên, nên hôm sau vệ sinh xong, Ngài
đi giữa một đoàn Tỳ-kheo vào thành Xa-vệ khất thực, và
trên đường đi Phật ghé nhà người Bà-la-môn. Lúc ấy Matthakundali đang
nằm quay mặt vào nhà. Phật biết anh ta không trông thấy Ngài,
bèn phóng một luồng hào quang. Chàng trai ngạc nhiên không
biết là ánh sáng gì, quay mặt ra định hỏi thì nhìn thấy
đức Phật, liền thưa thỉnh:
-
Vì ông cha ngu xuẩn nên con không được ân huệ đến với
đức Phật tôn quí, cũng không được hầu hạ Ngài, để
bát hoặc nghe pháp. Giờ đây tay con cũng không nhúc nhích được,
con chẳng làm gì được nữa!.
Nói
vậy rồi anh ta đặt trọn lòng tin nơi Phật.
Ðức
Ðạo sư hoan hỷ bảo:
-
Vậy là đủ!
Và
Ngài bước đi.
Khi
đức Phật xa dần khỏi tầm mắt, chàng trai tắt thở trong
tín tâm. Và như vừa ngủ dậy, chàng tái sinh vào cõi trời,
y như Phật đã thấy biết trước. Và khi người Bà-la-môn
gặp lại chàng đứng khóc tại bãi thiêu, đã đọc kệ hỏi
lý do:
Trang
sức sang trọng, bông tai đeo vàng chói,
Mang
vòng hoa có khảm gỗ đàn hương,
Vặn
bàn tay và khóc lóc thảm thương,
Sao
anh khổ giữa rừng sâu như thế?
Chàng
trai đáp:
Chiếc
xe ngựa quý - thân tôi
Sáng
chói bằng vàng nguyên khối,
Bánh
xe tìm không ra nổi,
Ðau
buồn tôi sẽ chết thôi!
Người
Bà-la-môn:
Bánh
xe ấy bằng vàng hay bạc?
Bánh
đồng hay ngọc quý kim cương?
Nói
cho ta nghe thật rõ ràng,
Ta
sẽ kiếm cho chàng đầy đủ.
Chàng
trai lạ lùng vì thái độ của ông Bà-la-môn, lúc trước con
đau thì bỏn xẻn không dám mời thầy thuốc đến chữa trị,
nay thấy mình giống con ông ấy thì không ngại tốn kém, hứa
kiếm bánh xe cho mình dù bằng vàng, kim cương hay bạc đồng;
do đó vì muốn trên chọc ông ta, anh hỏi:
-
Cặp bánh ông làm cho xe tôi lớn chừng nào?
-
Lớn như ngươi muốn.
-
Tôi muốn được mặt trời và mặt trăng làm bánh xe, hãy
cho tôi đi!
Chàng
bảo Ba-la-môn:
Ôi!
Trăng
trời là cặp sinh đôi giữa ngàn.
Xe
tôi nguyên khối bằng vàng,
Có
thêm đôi cánh rỡ ràng biết bao!
Người
Bà-la-môn trả lời:
Ngươi
thật là một kẻ ngu
Ði
kiếm thứ ở xa mù
Ta
e rằng ngươi sẽ chết
Trời
trăng há dễ được ru?
Nhưng
chàng trai vặn lại:
-
Nhưng ai ngu hơn? Người khóc đòi thứ hiện hữu hay người
khóc đòi thứ không hiện hữu?
Trời
trăng rạng rỡ đến đi,
Ðây
kia đều thấy chẳng khi nào lầm.
Con
ông chết chẳng còn trông,
Ai
người ngu ngốc khóc mong suốt ngày?
Nghe
xong, người Bà-la-môn như bừng tỉnh, thấy chàng trai có lý,
ông kết luận:
Trong
hai kẻ khóc than thảm thiết
Ta,
người ngu khôn xiết chẳng sai
Trăng
kia, trẻ mãi khóc đòi
Như
ta mong gặp con trai chết rồi.
Hết
cả đau buồn nhờ chàng trai giải thích nên người Bà-la-môn
khen ngợi:
Tôi
như ngọn lửa cháy hừng
Tưới
thêm dầu mỡ có ngưng được nào
Người
như một trận mưa rào
Tiêu
tan sầu khổ lòng nào vui hơn?
Mũi
tên đau đáu sầu thương
Nhờ
người nhổ bỏ hết vương lụy phiền
Tôi
nay vui vẻ an nhiên
Không
còn buồn khóc, lời khuyên ghi lòng.
Rồi
người Bà-la-môn hỏi:
-
Anh là ai?
Là
trời, Càn-thát-bà,
Hay
Ðế Thích thù thắng?
Là
ai? Con của ai?
Làm
sao tôi biết đặng?
Chàng
trai đáp:
Tôi
là người ông khóc than,
Là
con ông, đã cháy tan nơi này.
Nhờ
làm việc phước, quý thay!
Dứt
hơi liền đã sanh ngay cõi trời.
Bây
giờ người Bà-la-môn hiểu hết tự sự, nhưng vẫn còn một
điểm thắc mắc:
Lúc
con còng ở tại nhà
Tí
ti cũng chẳng bỏ ra cúng dường
Ăn
chay cũng chẳng có luôn
Công
đức nào được khiến con lên trời?
Chàng
trai trả lời:
Khi
tôi nằm ở tại nhà
Ðau
nhức vì bệnh trầm kha
May
mắn được trông thấy Phật
Người
không dục vọng, nghi ngờ
An
vui, trí tuệ cao tột.
Lòng
tin trong tôi phát ra
Cúi
đầu chắp tay quỵ ngưỡng.
Sanh
ngay cõi trời ba mươi ba.
Nghe
chàng nói, người Bà-la-môn thân tâm tràn ngập vui sướng,
nên cất tiếng tán thán:
Kỳ
diệu thay! Mầu nhiệm thay!
Kính
lễ được quả báo này
Hoan
hỷ và đầy tin tưởng
Tôi
quy y Phật hôm nay.
Chàng
trai đáp từ:
-
Hôm nay quy y Phật, Pháp, Tăng với tín tâm, ông hãy lãnh thọ
năm giới, giữ gìn nguyên vẹn không sai sót:
*
Không được giết sinh mạng kể từ phút này.
*
Không lấy của không cho
*
Không uống rượu
*
Không nói dối
*
Chung thủy với vợ mình
Người
Bà-la-môn ưng thuận và nói bài kệ:
Này
Phạm thiên cao quý,
Người
mong tôi an vui,
Người
mong tôi hạnh phúc,
Tôi
xin vâng lời người.
Người
là thầy của tôi,
Tôi
xin quy y Phật,
Quy
y Pháp và Tăng.
Từ
nay thôi giết hại,
Không
lấy của không cho,
Không
uống rượu, nói dối,
<