Phẩm 1: Song Yếu
Phần 2
3.
Chàng Mập Tissa
Nó
mắng tôi, đánh tôi...
Lời
giáo huấn này đức Ðạo sư dạy Trưởng lão Tissa
lúc Ngài trú tại tịnh xá Kỳ Viên.
Hình
như Ðại đức Tissa
là con trai người cô của Phật. Xuất gia khi đã lớn tuổi,
lại thêm dáng người mập mạp, Tissa ưa
thích lợi dưỡng và sự tôn kính riêng cho Phật. Y áo của
Ðại đức lúc nào cũng giặt ủi láng bóng, và ông luôn luôn
ngồi giữa giảng đường tinh xá.
Một
hôm, vài du tăng đến viếng Thế Tôn và tưởng Tissa là
một Ðại Trưởng lão, họ xin được đặc ân hầu hạ, chùi
chân cho Tissa v.v..
Ðại đức im lặng.
Lúc
ấy một thầy tăng trẻ tuổi hỏi:
-
Ngài được mấy hạ?
Tissa
trả lời:
-
Chưa có hạ nào cả. Tôi già rồi mới xin xuất gia.
Thầy
tăng buột miệng:
-
Ông Tỳ-kheo tồi! Ông cứ tưởng mình là quan trọng. Gặp
các vị Ðại Trưởng lão này, ông cư xử chẳng lễ độ
một chút nào. Khi họ xin hầu hạ ông các thứ, ông im lặng
nhận lời. Ông lại không tỏ ra một chút ân hận về tư
cách tồi tệ của mình!
Nói
rồi, vị tăng búng tay cái tách.
Lòng
kiêu hãnh của một người thuộc giai cấp chiến sĩ nổi dậy, Tissa
gắt gỏng:
-
Các ông đến gặp ai?
-
Chúng tôi đến thăm đấng Ðạo sư.
-
Nhưng đối với ta, các ông cũng phải tìm hiểu xem người
này là ai chứ? Ta sẽ giết tiệt dòng họ các ông!
Nói
một mạch cho hả hơi, rồi Tissa
đi đến chỗ Phật buồn rầu khóc lóc. Ðấng Ðạo sư thấy
vậy mới hỏi:
- Tissa,
sao vậy? Sao ông đến đây tèm lem nước mắt, sầu khổ thế
kia?
Các
du tăng trước đây có bàn với nhau không dám để Tissa đi
một mình e gây nhiều chuyện rắc rối, nên đi theo Tissa,
đến đảnh lễ đức Ðạo sư và cung kính ngồi một bên.
Tissa
nghe Phật hỏi liền đáp:
-
Bạch Thế Tôn, những Sa-môn này lăng mạ con.
-
Nhưng ông đang ngồi ở đâu?
-
Ở giữa giảng đường tinh xá, bạch Thế Tôn!
-
Khi những Sa-môn này đến, ông có thấy họ không?
-
Con có thấy họ, bạch Thế Tôn!
-
Ông có đứng dậy chào họ không?
-
Thưa Thế Tôn, không.
-
Ông có đỡ giùm đồ đạc giúp họ không?
-
Bạch Thế Tôn, không. Con không đỡ giùm đồ đạc cho họ.
-
Ông có sẵn lòng phục vụ họ không? Và mời nước uống
không?
-
Không, bạch Thế Tôn! Con không phục vụ cũng chẳng mời nước
uống.
-
Ông có đem tọa cụ đến mời ngồi và chùi chân cho họ không?
-
Thưa không, Thế Tôn!
- Tissa,
ông nên làm các việc trên đối với những Sa-môn lớn tuổi,
vì ai không làm thế sẽ không được quyền ngồi giữa tịnh
xá. Chỉ có ông là đáng bị rầy. Hãy xin lỗi những Sa-môn
này đi!
-
Nhưng họ đã lăng mạ con, Thế Tôn! Con sẽ không xin lỗi
họ.
- Tissa,
chớ làm như vậy. Chỉ có ông mới đáng bị rầy. Xin lỗi
họ đi!
-
Con không xin lỗi họ, Thế Tôn!
Các
Sa-môn bạch Phật:
-
Ông ấy thật là cứng đầu, thưa Thế Tôn!
Ðức
Ðạo sư trả lời:
-
Này các Sa-môn, đây chẳng phải là lần thứ nhất ông ấy
cứng đầu. Kiếp trước ông ấy cũng đã bướng bỉnh như
thế.
-
Chúng con đã rõ tính ương ngạnh của ông ấy trong hiện tại,
bạch Thế Tôn. Nhưng còn kiếp trước ông đã làm gì?
-
Này các Sa-môn hãy lắng nghe!
Và
đức Phật kể câu chuyện.
Chuyện
quá khứ
3A.
Devala và Nàrada
Vào
thuở nọ, dưới triều một vị vua ở Ba-la-nại, có một
nhà tu khổ hạnh tên là Devala
sau tám tháng ở Hy-mã-lạp-sơn về thành kiếm muối và giấm.
Ông cũng muốn về ở gần thành phố trong bốn tháng mùa mưa.
Gặp
hai chú bé nơi cổng thành, ông hỏi:
-
Các Sa-môn đến thành phố thường ngủ đêm tại đâu?
-
Nơi nhà người thợ gốm, thưa Tôn giả.
Thế
là Devala đi đến
nhà người thợ gốm, đứng trước cửa hỏi:
-
Gia chủ! Nếu người bằng lòng, tôi sẽ nghỉ lại một đêm
trong nhà người.
Thợ
gốm mở rộng cửa mời:
-
Ban đêm tôi không làm việc, nhà lại rộng: xin Tôn giả cứ
ngủ tại đây.
Devala
vừa vào nhà và ngồi xuống thì có một ẩn sĩ khác tên Nàrada cũng
từ Hy-mã-lạp-sơn đến xin tá túc. Người thợ gốm, với
lòng tử tế và hiếu khách đối với các Sa-môn, lo lắng
không biết vị ẩn sĩ đến trước có chịu ngủ chung với
vị mới đến hay không, nên khéo léo bảo Nàrada:
-
Nếu vị ẩn sĩ đến trước đồng ý thì xin mời Ngài.
Và Nàrada
Nàradađến gặp Devala nói:
-
Thưa thầy, nếu thầy đồng lòng, tôi xin ngủ lại đây một
đêm.
Devala hoan
hỷ:
-
Nhà còn rộng, xin mời thầy vào và ngủ lại một bên này.
Rồi Nàrada bước
vào, ngồi phía sau Devala.
Họ chào hỏi nhau một cách thân thiện. Ðến giờ ngủ, trước
khi nằm xuống, Nàrada cẩn
thận ghi nhớ chỗ của Devala và
vị trí cửa ra vào. Nhưng Devala,
thay vì ngủ đúng chỗ của mình, lại nằm ngay giữa lối
đi. Hậu quả là khi Nàrada bước
ra ngoài ban đêm, ông đạp nhằm bím tóc của Devala.
Tức thì nhà khổ hạnh la toáng lên:
-
Ối! Ai dẫm lên bím tóc ta?
Nàrada từ
tốn trả lời:
-
Thưa thầy, tôi.
Devala,
giọng nóng nảy tiếp tục la:
-
Ðồ đạo đức giả! Ngươi là đồ rừng rú. Ngươi đã đạp
lên tóc ta!
-
Thưa thầy, tôi không biết thầy nằm ở đây. Xin thứ lỗi
cho tôi!.
Rồi Nàrada bước
ra, để lại Devala một
mình khóc lóc như bị ai bóp vỡ tim.
Chưa
hết. Sau đó, Devala
xoay ngược người lại, nằm xuống, đặt đầu vào chỗ ban
nãy đã để chân, cố ý để Nàrada giẫm
lên mình.
Nàrada
bước vào, lòng dặn lòng hồi nãy mình đã lỡ xúc phạm
vị đạo sĩ, lần này mình sẽ đi mé dưới chân người.
Tất
nhiên là khi vừa bước vào, Nàrada dẫm
ngay lên cổ Devala.
Tức thì Devala hét
ầm lên:
-
Trời! Ai đó?
Nàrada vội
vàng nói:
-
Thưa thầy, tôi.
Devala
lần này càng kêu to:
-
Ðồ đạo đức giả! Lần đầu ngươi dẫm lên tóc ta, lần
này ngươi đạp lên cổ ta. Ta sẽ nguyền rủa ngươi!
-
Thưa thầy, tôi không đáng bị khiển trách. Tôi không biết
thầy nằm ở phía này. Khi bước vào tôi đã hết sức dè
dặt, tự nhắc nhở phải cẩn thận, đi phía dưới chân đạo
sĩ, tránh xúc phạm người. Xin thầy thứ lỗi cho tôi!
Devala
vẫn la oai oái:
-
Ðồ đạo đức giả! Ta sẽ nguyền rủa ngươi.
-
Ðừng làm vậy, thưa thầy!
Mặc
những lời thiết tha xin lỗi của Nàrada,
Devala vẫn rủa tiếp:
-
Mặt trời có ngàn tia sáng, có trăm ánh lửa xua tan bóng tối.
Sáng mai vào lúc mặt trời mọc, đầu ngươi sẽ vỡ làm bảy
mảnh.
Nàrada
đáp:
-
Thầy, tôi đã giải bày hết lời là không phải lỗi tại
tôi, thầy vẫn chẳng chịu nghe. Ðầu kẻ có lỗi sẽ vỡ
làm bảy mảnh chớ không phải đầu người vô tội.
Tức
thì Nàrada đọc
lời nguyền sau:
-
Mặt trời có ngàn tia sáng, có trăm ánh lửa xua ta bóng tối.
Sáng mai vào lúc mặt trời mọc, đầu người sẽ vỡ làm
bảy mảnh.
Ẩn
sĩ Nàradacó đại
thần thông, có thể thấy suốt tám mươi tiểu kiếp: bốn
mươi tiểu kiếp quá khứ và bốn mươi tiểu kiếp tương
lai. Vì vậy ông thấy lời nguyền sẽ rớt trúng ngay ông thầy
khổ hạnh bạn mình. Ông cảm thấy thương xót, và vì vậy
làm phép không cho mặt trời mọc.
Không
thấy mặt trời mọc, dân chúng tụ tập trước cổng cung
vua, rên rỉ:
-
Tâu Ðại vương, mặt trời không mọc nữa! Ngài là vua, làm
sao cho mặt trời mọc giùm chúng tôi với!
Nhà
vua xét lại những hành động, lời nói và ý nghĩ của mình,
thấy chẳng có điều gì sai trái, nên không hiểu nguyên nhân
nào mặt trời không mọc. Nhà vua suy đoán rằng đây có thể
là do tu sĩ cãi cọ bất hòa với nhau nên hỏi thăm, và liền
cầm đuốc đi đến nhà thợ gốm cúi chào Nàrada,
cung kính ngồi xuống một bên và nói:
-
Bạch ngài Nàrada,
dân xứ Diêm-phù-đề không thể sinh hoạt như bình thường.
Tại sao bóng đêm bao trùm thế giới? Xin trả lời câu hỏi
của tôi.
Nàrada kể
lại toàn bộ câu chuyện và hậu quả của lời nguyền.
Vua
hỏi tiếp:
-
Nhưng thưa Tôn giả, làm sao ông ta có thể thoát chết?
-
Ông ấy sẽ thoát chết nếu xin lỗi tôi.
Vua
bắt Devala phải
xin lỗi Nàrada.
Nhưng Devala một
mực ngoan cố:
-
Tâu Ðại vương, ông bạn này đã dẫm lên tóc tôi và đạp
lên cổ tôi. Không đời nào tôi thèm xin lỗi đồ đạo đức
giả đó!
Vua
vẫn khẩn thiết yêu cầu Devala:
-
Xin lỗi đi, Tôn giả! Ðừng làm như vậy!
-
Ðại vương, tôi không thèm xin lỗi.
-
Ðầu Ngài sẽ bể làm bảy mảnh!
-
Mặc kệ! Tôi cũng không xin lỗi.
Lần
này vua gằn giọng:
-
Ông vẫn không chịu xin lỗi phải không?
Thế
rồi nhà vua nắm lấy tay, chân, bụng và cổ nhà ẩn sĩ, bắt
cúi đầu dưới chân Nàrada.
Nàrada lòng cởi mở:
-
Hãy đứng lên thầy! Tôi đã tha lỗi cho thầy!
Rồi Nàrada tâu
với vua:
-
Ðại vương, ẩn sĩ này không chịu xin lỗi tôi. Hãy đem ông
ta đến một cái hồ gần thành, đặt một cục đất sét
trên đầu ông, bắt ông ta đứng dưới nước ngập cổ.
Vua
y lời. Nàrada còn
dặn thêm khi ông làm phép cho mặt trời mọc trở lại, Devala
hãy lặn xuống nước và trồi lên nơi khác rồi đi đi!
Quả
đúng như rằng, ngay khi ánh mặt trời lóe lên thì chạm vào
cục đất sét làm vỡ thành bảy mảnh. Tức thì Devala
lặn xuống nước, trồi lên nơi khác và đi mất.
Thế
Tôn kết thúc câu chuyện:
-
Này các Tỳ-kheo! Nhà vua lúc ấy là Ananda,
Devala là Tissa,
còn Nàrada chính
là Ta. Thuở đó Tissa
cũng cứng đầu như vậy.
Rồi
đức Ðạo sư dạy Trưởng lão Tissa như
sau:
- Tissa!
Nếu một Tỳ-kheo cho phép mình nghĩ rằng người này người
kia mắng tôi, người này người kia đánh đập tôi, người
này người kia đánh bại tôi, cướp giật của tôi, ông ấy
sẽ hận thù không nguôi. Nhưng nếu Ty-kheo ấy không ôm ấp
những ý nghĩ như vậy, thù hận sẽ nguôi ngoai.
Nói
xong Phật đọc Pháp Cú:
(3)
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó
thắng tôi, cướp tôi,
Ai
ôm biềm bận ấy,
Hận
thù không thể nguôi.
(4)
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó
thắng tôi, cướp tôi,
Không
ôm biềm bận ấy,
Hận
thù được tự nguôi.
4.
Không Lấy Oán Trả Oán
Với
hận diệt hận thù...
Phật
dạy Pháp Cú này cho một người hiếm muộn, lúc Ngài ngụ
tại tinh xá Kỳ Viên.
Một
người kia, sau khi cha chết, một mình lo liệu gánh vác tất
cả việc nhà cửa ruộng vườn, lại còn chăm sóc bà mẹ.
Mẹ
bảo anh:
-
Con ạ, mẹ sẽ kiếm cho con một cô vợ trẻ.
Người
con hiếu thảo bèn thưa:
-
Mẹ thân yêu, đừng nói thế. Ước ao duy nhất của con là
được phụng dưỡng mẹ suốt đời.
-
Con ơi, mẹ không muốn một mình con phải gánh vác hết mọi
việc trong nhà ngoài ruộng, hãy để mẹ kiếm vợ cho con.
Anh
ta từ chối đôi ba phen, rồi đành im lặng bằng lòng. Bà
mẹ hớn hở rời khỏi nhà, định đi đến một nhà nọ kiếm
con dâu đem về.
Anh
ta bèn hỏi mẹ:
-
Mẹ định đến nhà ai vậy?
Bà
lão giơ tay chỉ:
-
Ðến nhà kia kìa!
Anh
ta không để mẹ đi đến nhà theo dự định, mà chỉ cho bà
một nhà khác anh thích hơn. Vậy là bà đến nhà con mình thích,
chọn nàng dâu rồi lựa ngày làm lễ cưới. Rủi thay lại
gặp một nàng dâu không sinh đẻ. Bà mẹ nóng lòng bế cháu
nên vội vã bảo anh con trai:
-
Con ạ, con đã bảo mẹ đem về người vợ do con tự chọn,
nhưng cô ấy lại chẳng sinh đẻ. Gia đình không con cái sẽ
lụn bại, giống dòng sẽ tuyệt tự. Con hãy để cho mẹ kiếm
một nàng dâu khác nghe con!
Anh
con trai có vẻ không bằng lòng nên lắc đầu:
-
Xin mẹ đừng nói nữa!
Nhưng
bà mẹ vẫn nhai đi nhai lại điệp khúc cũ nên lọt vào tai
cô vợ hiếm muộn. Lòng cô ngổn ngang trăm mối. Chắc chắn
là con phải vâng lời mẹ thôi, nếu bà già kiếm được một
người dễ sinh nở thì cô sẽ bị nhà chồng xem thường,
coi như đầy tớ. Chi bằng chính cô chọn vợ cho chồng.
Thế
là người đàn bà hiếm muộn đi đến nhà nọ kiếm một
cô gái cho chồng. Nhưng vừa hở môi bà đã gặp sự chống
đối của cha mẹ cô gái. Họ hỏi gặng lại bà:
-
Này, bà nói cái gì thế?
Người
đàn bà không con trả lời:
-
Thú thật ông bà thương, tôi chẳng may xấu số không sinh
đẻ, mà gia đình không con sẽ tuyệt tự. Nếu con gái ông
bà về nhà tôi sinh được con trai, cô ấy sẽ là bà chủ
quán xuyến hết cả gia sản. Xin ông bà hãy cho tôi cưới
cô nhà về cho chồng tôi.
Cuối
cùng người đàn bà đã thuyết phục được cha mẹ cô gái
và rước cô về nhà. Dù đã làm được theo ý mình, người
đàn bà hiếm con vẫn không an tâm, cứ lo sợ đối thủ sinh
con, sẽ là bà chủ trong nhà. Rồi bà đến nói với đối
thủ của mình:
-
Nè em! Hễ em có thai thì cho chị biết nhé!
Cô
kia ngoan ngoãn trả lời:
-
Dạ.
Và
như lời hứa, ngay khi mang thai cô đến báo cho người vợ
cả biết. Hằng ngày vợ cả thường tự tay nấu cháo cho
đối thủ mình ăn. Thế là từ hôm đó bà bỏ vào cháo một
ít thuốc phá thai. Kết quả đối thủ của bà bị sẩy thai.
Lần thứ hai, người vợ sau cũng lại báo tin cho vợ cả khi
mang thai. Vợ cả làm như lần trước và cô này lại sẩy
thai nữa. Các bà hàng xóm thấy cô vợ sau ngây thơ, nên vừa
thương tình vừa tò mò mới hỏi thăm:
-
Có phải đối thủ của chị thọc gậy bánh xe chị không?
Và
khi nghe kể lại sự vụ, họ bảo:
-
Ðồ ngốc, sao chị dại dột như vậy? Bả sợ chị chiếm
ưu thế trong gia đình nên trộn thuốc phá thai cho chị ăn.
Lần sau đừng có nói cho bả biết nữa nghe chưa!
Lần
thứ ba người vợ sau không nói gì cả, nhưng bà hiếm con
thấy bụng người vợ sau ngày càng to liền hỏi:
-
Sao em có thai mà không nói cho chị biết?
Bà
vợ sau thật thà nghĩ sao nói vậy:
-
Chính chị mang tôi về đây, vậy mà hai lần rồi chị làm
tôi hư thai. Tại sao tôi phải nói với chị kia chứ?
Bà
không con thất vọng: "Hỏng, thế là ta thua rồi!". Từ đó
bà theo dõi, chờ cơ hội đối thủ thiếu cảnh giác lại
ra tay, vì bà vẫn chưa chịu thua.
Khi
đứa bé trong bụng mẹ đã thành hình, bà cả thừa một dịp
nọ trộn thuốc cho bà vợ sau ăn, nhưng vì hình thể đã đầy
đủ nên thai nhi không bị hư, mà lại kẹt ngang cổ tử cung.
Ngay sau đó bà mẹ đau bụng dữ dội và cảm thấy giờ chết
đến nơi. Bà la hoảng lên:
-
Mày giết tao! Chính mày mang tao về và cũng chính mày giết
ba đứa con của tao. Giờ tao sắp chết, kiếp sau tao sẽ thành
quỷ dạ xoa ăn thịt con mày!
Nguyền
rủa rồi bà tắt hơi và lại sanh vào nhà ấy thành một con
mèo. Còn ông chồng lúc ấy tóm bà vợ không con, nạt nộ:
-
Chính mày làm tan nát gia đình tao.
Rồi
ông dùng cùi chỏ, đầu gối.. đánh đập bà tàn nhẫn. Sau
trận đòn, người vợ cả ốm nặng rồi chết, lại cũng
sinh vào nhà ấy thành một con gà mái.
Như
vậy bà vợ sau tái sinh là con mèo, vợ cả là con gà. Khi gà
mái đẻ trứng, mèo đến ăn sạch hết. Ba lần như vậy gà
mái cất tiếng:
-
Ðã ba lần mày ăn trứng con tao, bây giờ mày còn chực ăn
luôn cả tao. Kiếp sau tao sẽ ăn thịt mày và con mày.
Nguyền
như vậy rồi nó chết và sinh làm con beo cái. Còn mèo sinh
làm con nai cái. Ba lần nai cái sinh con, ba lần beo đến nuốt
tươi. Khi sắp chết, nai cái lại nguyền rủa:
-
Ba phen ác thú này nuốt sống con ta và giờ nó định nhai luôn
cả ta nữa. Kiếp sau ta sẽ nhai nuốt nó và con nó!Rồi
nai cái tái sinh là quỷ Dạ-xoa và beo chết đi đầu thai thành
một cô gái dòng tôn quý ở Xá-vệ. Lớn lên, cô gái lập
gia đình sống bên nhà chồng tại một khu xóm nhỏ gần cổng
thành. Một thời gian sau cô có con. Quỷ Dạ-xoa biến thành
một người bạn thân đến thăm cô gái và hỏi người nhà:
-
Bạn tôi đâu?
-
Ở phòng trong, cô ấy vừa sinh hạ một đứa bé.
Da-xoa
hớn hở hỏi tiếp:
-
Con trai hay con gái vậy? Tôi muốn thăm chị ấy.
Rồi
tất tả bước vào trong, giả vờ nhìn ngắm đứa bé và nhanh
tay chộp lấy nhai nuốt xong đi ra. Lần thứ hai, quỷ cũng
nuốt tươi con của người vợ trẻ như vậy. Ðến lần thứ
ba, thấy bụng đã lớn cô vợ trẻ thủ thỉ với chồng:
-
Anh à, tại đây có một con quỷ Dạ-xoa đã nuốt chết hai
đứa con của chúng ta và trốn thoát. Lần này tôi định trở
về nhà để sinh nở.
Lúc
bấy giờ đến phiên quỷ Dạ-xoa đi kéo nước (Da-xoa thay
phiên nhau kéo nước từ hồ Anottatta đổ lên nguồn, mãn hạn
bốn hay năm tháng chúng được thả về, nếu không bị chết
vì kiệt sức). Ngay khi vừa được thả ra, quỷ Da-xoa liền
chạy đến gặp người vợ trẻ hỏi:
-
Bạn tôi đâu rồi?
Người
trong nhà đáp:
-
Chị chẳng gặp cô ấy đâu. Có một con quỷ Dạ-xoa đã ăn
thịt những đứa con cô ấy sinh ra trong nhà này. Vì vậy cô
ấy đi về nhà cha mẹ ruột rồi.
Quỷ
lầm bầm:
-
Dù có chạy đằng trời, nó cũng không thoát khỏi tay ta!
Nôn
nóng vì thù hận, Dạ-xoa tức tốc đi vào thành.
Ðến
ngày lễ đặt tên, bà mẹ tắm rửa và đặt tên cho đứa
bé xong, thưa với chồng:
-
Ông à, bây giờ chúng ta hãy trở về nhà.
Cô
vợ ẵm con đi bên cạnh chồng. Trên con đường băng ngang
tinh xá, khi đến hồ nước của tinh xá, người vợ trẻ giao
con cho chồng và xuống hồ tắm. Cô tắm xong, đến phiên chồng,
và cô ngồi đợi gần đó và cho con bú. Ngày lúc ấy quỷ
Dạ-xoa xuất hiện. Cô vợ trông thấy nhận ra nó, lập tức
la lên:
-
Ông ơi! Ðến đây mau! Con quỷ đây nè!
Sợ
chồng đến không kịp, cô xoay người đâm đầu chạy vào
tinh xá. Lúc ấy đức Ðạo sư đang thuyết pháp giữa chúng
hội. Người vợ trẻ đặt con dưới chân Phật thưa:
-
Con xin cúng dường Ngài đứa bé này. Xin hãy cứu lấy nó!
Quỷ
cũng rượt theo tới nơi. Thiên thần Sumana khi
đó đang trú tại hốc cửa bên trên cổng tinh xá, liền ngăn
quỷ Dạ-xoa lại không cho vào. Ðức Ðạo sư bảo Trưởng
lão A-nan:
-
A-nan, ngươi hãy ra gọi quỷ Dạ-xoa vào đây!
Trưởng
lão y lệnh. Người vợ vừa thấy quỷ lo sợ, kêu lên thất
thanh:
-
Nó đó, thưa Thế Tôn.
Ðức
Ðạo sư dạy:
-
Hãy để nó vào. Ðừng làm ồn!
Dạ-xoa
bước vào, đứng trước Phật. Phật hỏi:
-
Sao ngươi làm như vậy? Nếu không gặp một vị Phật như
Ta, ngươi sẽ ôm ấp mối hận đến ngàn đời, không khác
gì con Rắn và con Cáo run rẩy giận dữ, như Quạ và Cú. Sao
ngươi lấy oán trả oán? Chỉ có tình thương mới dập tắt
được hận thù.
Và
đức Phật đọc Pháp Cú:
(5)
Với hận diệt hận thù,
Ðời
này không có được,
Không
hận diệt hận thù,
Là
định luật ngàn thu.
Nghe
dứt bài kệ, Dạ-xoa liền đắc quả Dự lưu. Phật bảo người
đàn bà đưa đứa bé cho Dạ-xoa. Người đàn bà vẫn còn
sợ, không dám đưa. Nhưng sau khi Phật cho biết là không cần
phải đề phòng, bà ta mới dám trao. Dạ-xoa nhận đứa bé
trong tay, ôm hôn âu yếm rồi trả lại cho mẹ nó, xong bắt
đầu khóc. Nghe Phật hỏi tại sao, Dạ-xoa liền thưa:
-
Thưa Thế Tôn! trước đây con hết sứ xoay sở mà chẳng đủ
ăn. Giờ con không biết sẽ sống ra sao.
Phật
an ủi Dạ-xoa, rồi quay sang người mẹ, Ngài dạy:
-
Hãy cho Dạ-xoa ở trong nhà con và nuôi bằng loại cháo ngon
nhất.
Người
đàn bà vâng lện đưa Dạ-xoa về nhà, cho ở trên cây kèo
giữa và nuôi bằng loại cháo ngon. Khi đến mùa đập lúa,
máy đập vọt lên vọt xuống, Dạ-xoa sợ máy đập vào đầu
nên nói với bạn không thể ở đây thêm, và xin đi nơi khác.
Dạ-xoa lần lượt được cho ở trong chòi để máy đập lúa,
chỗ giếng nước, lò bánh mì, kho phân, đống tro và cổng
làng, nhưng không chịu ở đâu hết, luôn cằn nhằn: chỗ
thì máy đập lúa nâng lên e rằng chẻ đầu ra làm hai, chỗ
thì tụi nhóc tiểu bậy, chỗ thì đàn chó nằm dài, hoặc
bầy trẻ phóng uế, có khi liệng rác, chỗ thì trai làng đến
xem bói. Vì thế cô ta đưa Dạ-xoa về một nơi yên tĩnh ngoài
làng, mỗi ngày đều mang cháo ngon đến cho ăn.
Một
hôm Dạ-xoa nói với bạn mình:
-
Năm nay trời sẽ mưa nhiều, nên trồng lúa ở nơi khô ráo.
Có
khi Dạ-xoa cho biết:
-
Năm nay hạn hán, nên trồng lúa nơi ẩm thấp.
Lúa
của người khác bị hư vì lúc úng lúc hạn, nhưng lúa của
người đàn bà trẻ thì bội thu. Dân làng ngạc nhiên đến
hỏi cô:
-
Này chị, lúa của chị chẳng bị úng, chẳng bị hạn. Chị
làm mùa dường như biết trước thời tiết. Phải vậy không?
Cô
ta đáp:
-
Tôi có người bạn là Dạ-xoa cho tôi biết trước sự thay
đổi thời tiết, và tôi trồng lúa trên đất cao hay đất
thấp tùy theo sự chỉ dẫn của chị ấy. Các bạn không thấy
sao, ngày nào tôi cũng mang cháo ngon và các loại thức ăn đến
cho chị ấy. Nếu các bạn làm như tôi cũng sẽ được trúng
mùa.
Dân
làng lập tức tôn vinh Dạ-xoa. Và từ đó Dạ-xoa chăm sóc
mùa màng cho mọi người, nhận được nhiều quà biếu và
được nhiều người tôn kính. Dạ-xoa tạo nên thông lệ bữa
ăn tám món, còn được duy trì mãi đến nay.
5.
Những Vị Tỳ Kheo Hay Cãi Cọ Ở Xứ Câu Thâm (Kosambi)
Và
người khác không biết...
Ðức
Phật thuyết bài pháp này cho các Tỳ-kheo ở Kosambi khi
Ngài ngụ tại Kỳ Viên.
5A.
Các Tỳ Kheo Cãi Nhau
Tại Kosambi,
trong tinh xá Ghosita
có hai Tỳ-kheo trú ngụ, một vị là luật sư, vị kia là pháp
sư, mỗi vị dẫn đầu năm trăm tăng. Một hôm, vị pháp sư
sau khi tắm xong đã chừa lại một ít nước trong bồn tắm
và đi ra. Kế đó, vị luật sư đi vào thấy nước dư, lúc
trở ra ngoài ông hỏi bạn:
-
Này huynh, có phải huynh đã chừa nước lại không?
Vị
pháp sư đáp:
-
Vâng, huynh ạ!
-
Nhưng huynh không biết là đã phạm lỗi sao?
-
Thật ra tôi không biết.
-Này
huynh, đó là một lỗi.
-
Như thế, tôi sẽ sám hối về lỗi ấy.
-
Dĩ nhiên, này huynh! Nếu huynh không cố ý làm, vô tâm thì
không gọi là lỗi.
Nghe
vị luật sư bảo thế, vị pháp sư yên trí xem như không có
lỗi. Ấy thế mà vị luật sư lại nói với học chúng của
mình:
-
Vị pháp sư dù đã phạm lỗi vẫn không thấy lỗi.
Và
nhóm học chúng này khi gặp nhóm học chúng của vị pháp sư
liền kháo nhau:
-
Thầy của các anh đã phạm lỗi mà không nhận lỗi.
Học
chúng của vị pháp sư về kể lại với thầy mình. Vị pháp
sư nghe qua liền đáp:
-
Vị luật sư này trước đó đã nói là không lỗi, bây giờ
nói có lỗi. Ông ta là người dối trá.
Học
chúng của hai bên gặp nhau, rồi lời qua tiếng lại:
-
Thầy của các huynh là người dối trá!
Họ
tranh cãi nhau. Và vị luật sư thừa cơ hội tuyên án tẩn
xuất vị pháp sư vì đã không nhận lỗi. Từ đó, ngay đến
những thí chủ cúng dường cho họ cũng chia làm hai phe, ngay
cả những cô ni được họ dạy, cả thiện thần hộ pháp,
bạn bè và những người thân tín, chư thiên trên trời, lan
đến Phạm thiên đều như thế. Mọi người, ngay cả những
người chưa quy y cũng chia làm hai phe. Sự tranh cãi lan rộng
từ trời Tứ thiên vương cho đến trời Ðế Thích.
Ðến
mức độ thì có một Tỳ-Kheo tới gần thế Tôn thưa kể
tự sự: "Những người tuyên án tẩn xuất thì giữ quan điểm
rằng pháp sư bị tẩn xuất là đúng luật, ngược lại những
người bênh vực thì cho rằng trái luật, và tụ họp lại
để ủng hộ pháp sư mặc dù những người tuyên bố tẩn
xuất cấm họ làm như vậy". Ðã hai lần Thế Tôn nhắn hai
bên Tỳ-Kheo hãy đoàn kết, và đều nhận được câu trả
lời:
-
Bạch Thế Tôn! Họ không chịu đoàn kết.
Lần
thứ ba, Thế Tôn bảo:
-
Tăng đoàn đã bị chia rẽ!
Nói
xong, Phật đến chỗ các Tỳ-kheo và chỉ cho nhóm vị Tỳ-kheo
luật sư, người tuyên bố tẩn xuất, sự sai lầm trong quyết
định ấy, và đối với nhóm vị Tỳ-kheo pháp sư, người
không nhận lỗi, Ngài cũng chỉ sự sai lầm trong hành động
ấy. Một lần nữa, Phật bắt các Tỳ-kheo kiết trai và khiến
họ hành sám ngay tại chỗ, trong khu vực giới hạn. Ngài đặt
luật cho các Tỳ-kheo, nếu gây gỗ trong phòng ăn hoặc các
nơi khác, họ bắt buộc phải ngồi chỗ riêng biệt trong trai
đường.
Nhưng
các Tỳ-kheo vẫn không ngừng gây nhau, đức Phật lại đi
đến nơi và khuyên răn:
-
Ðủ rồi, các Tỳ-kheo! Ðừng gây gỗ nữa! Gây gỗ, đấu
tranh, tranh chấp, tranh cãi, mọi thứ này đều nguy hại. Bởi
lẽ vì tranh cãi một con chim bé bỏng cũng làm một con voi
quý phải chết.
Và
đức Phật kể chuyện Bổn Sanh "Con Chim Nhỏ". Ngài dạy tiếp:
-
Các Tỳ-kheo, hãy đoàn kết! Hãy dừng tranh cãi, vì sự tranh
cãi mà hàng ngàn con chim nhỏ đã mất mạng.
Và
Ngài kể chuyện Bổn Sanh "Những Con Chim". Nhưng dù vậy họ
vẫn không nghe lời Phật, và một ngoại đạo muốn Phật
bớt phiền nhiễu, thưa rằng:
-
Bạch Ngài, đấng Thế Tôn, đấng Pháp Vương! Hãy ở nhà!
Ðấng Thế Tôn! Ngài hãy sống một đời vô sự và tự tại
ở cõi này. Chúng con có gây gỗ, đấu tranh, tranh chấp, tranh
cãi nhau mới làm sáng tỏ ai phải ai trái.
Liền
đó, đức Phật kể chuyện Bổn Sanh như sau: "Có một lần,
này các Tỳ-kheo, Phạm-ma-đạt trị vì Ba-la-nại, là vua xứ Kàsi.
Phạm-ma-đạt gây chiến với vua Dìghati
Kosala, đánh chiếm vương quốc và giết vua khi đang
cãi trang. Con trai của Dìghati là
hoàng tử Dìghàvu,
mặc dù biết rằng Phạm-ma-đạt là kẻ giết cha mình, vẫn
tha mạng kẻ thù. Do đó họ sống hòa bình với nhau".
Và
Ngài huấn thị các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, lòng kiên nhẫn và tư cách phong nhã của
những ông vua hay sử dụng dao gậy cao đẹp thế đó. Tỳ-kheo,
các ông là những kẻ xuất gia được giáo huấn bằng Pháp
và Luật chu đáo như thế, phải làm sao chiếu sáng thế gian
hơn với lòng kiên nhẫn và tư cách cao nhã của các ông chứ.
Dù
đã được khuyên nhủ như thế, các Tỳ-kheo vẫn không đoàn
kết theo lời Phật. Không vui vì phải sống trong cảnh ồn
náo, không thoải mái vì bị quấy rầy, hơn nữa các Tỳ-kheo
này không đếm xỉa đến lời Phật dạy, nên Thế Tôn quyết
định sống độc cư tránh xa đám người chộn rộn. Sau khi
đi khất thực ở Câu-thâm, không từ giã Tăng đoàn, đức
Phật đắc y, ôm bát, một mình đi đến Bàlaka,
chỗ bán muối, tại đây Ngài thuyết pháp cho Trưởng lão Bhagu
về đời sống độc cư. Rồi Ngài đến Ðông Trúc Lộc Giã,
và thuyết pháp cho ba chàng trai gia thế về hạnh phúc an lành
của sự hòa hợp. Và từ đó, Ngài đến Pàrileyyaka.
Ở đó, dưới gốc cây Sala đẹp
đẽ, trong rừng Bảo Hộ, đức Thế Tôn đã trải qua một
mùa hạ an vui, có voi Pàrileyyaka phục
vụ.
Khi
nhóm cư sĩ ở Câu-thâm đến tinh xá và không gặp đấng Ðạo
sư, họ hỏi các Tỳ-kheo:
-
Thưa chư Tôn giả, đấng Ðạo sư đi đâu?
Các
Tỳ-kheo đáp:
-
Vào rừng Pàrileyyaka.
-
Tại sao thế?
-
Ngài cố gắng hòa hợp chúng tôi, nhưng chúng tôi không hòa
hợp được.
-
Này chư Tôn giả, có phải các vị, sau khi được chấp nhận
là Tỳ-kheo dưới sự lãnh đạo của Ðạo sư, lại cãi lời
Ngài lúc Ngài yêu cầu các vị hòa hợp?
-
Ðúng thế, đạo hữu.
Rồi
có người nói tiếp:
-
Những vị Tỳ-kheo này, sau khi được thu nhận làm Tỳ-kheo
dưới sự lãnh đạo của Ðạo sư, lại không muốn hàn gắn
những rạn nứt theo lời yêu cần của Ngài. Ðây hoàn toàn
do lỗi của họ mà chúng ta không được gặp Phật. Ðối
với những Tỳ-kheo này, chúng ta nhất quyết sẽ không mời
ngồi và cũng không bao giờ kính lễ hoặc cúng dường nữa.
Và
từ đó họ không thèm cúng kính các Tỳ-kheo nữa. Hậu quả
là các Tỳ-kheo bị thiếu vật thực và gần chết đói, nên
chỉ sau vài ngày các Tỳ-kheo đã biết phục thiện. Rồi họ
sám hối nhau, xin được tha thứ. Họ bảo các cư sĩ:
-
Ðạo hữu! Chúng tôi đã hòa hợp. Xin đối với chúng tôi
như xưa.
-
Thưa chư Tôn giả, các vị xin sám hối với đức Thế Tôn
chưa?
-
Chưa, đạo hữu.
-
Vậy thì hãy xin sám hối Thế Tôn. Và ngay khi được Phật
tha lỗi, chúng tôi sẽ trở lại với các vị như trước.
Nhưng
vì đang giữa mùa an cư, các Tỳ-kheo không thể đến gặp
Phật, và họ kiết hạ trong sự thiếu thốn, trong khi Phật
thì an vui, được voi hầu hạ. Con voi này là voi đầu đàn
đã rời bầy và vào rừng với lý do độc nhất là muốn
được an vui. Nó nói:
5B.
Ðức Phật, Voi và Khỉ.
-
Tôi sống ở đây bị voi cái, voi con, voi trẻ làm phiền nhiễu.
Ðầu ngọn cỏ tôi thường ăn bị chúng nhai nát, chúng ăn
hết nhánh cây này đến nhánh nọ khi tôi vừa bẻ xuống,
chúng quấy đục nước tôi uống. Khi tôi xuống nước và
lên bờ, voi cái đến cọ xát vào thân tôi. Có lẽ tôi nên
rời đàn và sống một mình.
Rồi
con voi đầu đàn bỏ bầy, đến gần Pàerileyyaka,
vào rừng Bảo Hộ, dưới gốc cây Sala
đẹp đẽ, ngay nơi Thế Tôn ngụ, thân cận với Ngài. Ðến
trước Thế Tôn, nó đảnh lễ Ngài, rồi nhìn quanh quất tìm
chổi, không thấy chổi, nó bèn đạp cây Sala phía
dưới và dùng vòi quật phía trên cho ngã xuống rồi lấy
một nhánh cây quét đất. Sau đó, nó lấy vòi quấn bình nước
mang đi lấy nước. Vài khi cần đến nước nóng, nó nấu
nước nóng (Sao có thể được chứ?). Ðầu tiên nó dùng vòi
kéo dùi lửa cho bật lửa ra và nhen củi chà vào. Nó nhóm
lửa như thế và nung những hòn đá nhỏ rồi dùng một cây
gậy lăn vào một lõm đá (có nước). Xong nó hạ vòi xem nước
đủ nóng chưa, rồi đến cúi đầu trước Phật. Thấy voi
đến, đức Phật hỏi:
-
Nước nóng chưa, Pàrileyyaka?
Và
phật đến đó tắm. Sau đó voi dâng Phật những loại trái
cây rừng.
Ðến
giờ Phật vào làng khất thực, voi lấy y bát của Phật đặt
lên đỉnh đầu và đi theo Ngài. Ðến ven làng, Phật bảo
voi đưa trả y bát:
- Pàrileyyaka!
Chú không đi xa hơn được! Hãy giao y bát cho Ta.
Phật
vào làng và voi đứng đó đợi Ngài trở lại, tiến tới
đón Ngài, để y bát lên đầu như lúc trước và đem về
chỗ Phật ngụ, hầu hạ Ngài như thường lệ rồi quạt hầu
Phật với một nhánh cây. Ban đêm, để ngừa thú dữ, nó
dùng vòi nắm một cây gậy lớn tự nhủ: "Ta sẽ bảo hộ
Phật". Và đi tới lui trong khu rừng cho tới khi mặt trời
mọc. (Từ đó khu rừng được gọi là rừng Bảo Hộ). Buổi
sáng, mặt trời lên, voi lấy nước cho Phật rửa mặt, và
theo cách như đã nói trên, nó làm tròn mọi bổn phận khác.
Bấy
giờ, một con khỉ thấy cử chỉ và hành động mỗi ngày
của voi, làm những bổn phận nhỏ nhặt hầu Phật, bèn phát
tâm sẽ làm giống như vậy. Một hôm, trong lúc chạy nhảy
tình cờ nó gặp một tổ mật trên cây không có ong. Nó bẻ
cành cây xuống, cầm tổ mật còn nguyên trên cành cây, hái
một lá chuối, đặt tổ ong trên lá và mang dâng Phật. Ðức
Phật nhận lấy. Khỉ trố mắt xem Phật có dùng không và
ngạc nhiên thấy Phật không ăn. Khỉ thắc mắc không biết
có chuyện gì đây, bèn lật qua lật lại tổ ong, vừa xem
xét cẩn thận, và khám phá có vài trứng sâu. Nhẹ nhàng lấy
trứng sâu ra, khỉ lại dâng tổ mật lên Phật và Ngài hoan
hỷ độ. Khỉ vui sướng chuyền từ cành này sang cành khác
và nhảy nhót hân hoan vô kể. Nhưng đâu ngờ những nhánh
cây khỉ vừa nắm và đạp lên bỗng gẫy lìa. Khỉ rơi xuống
một cọc cây, bị đâm xuyên người và chết tức khắc. Vì
đặt niềm tin trọn vẹn vào Phật, nó được tái sinh vào
cõi trời Ba mươi ba, trong một cung điện bằng vàng cao ba
mươi dặm với một đoàn gồm một ngàn thiên nữ hầu cận.
Cả
vùng Diêm-phù-đề đều biết rằng đức Phật đang ngụ trong
rừng Bảo Hộ, được voi đầu đàn phụng sự. Từ thành
Xá-vệ, ông Cấp Cô Ðộc và bà Tỳ-xá-khư - một tín nữ
lỗi lạc - cùng một số nhân vật tiếng tăm khác đã gởi
lời thỉnh nguyện đến ngài A-nan xin được đặc ân gặp
đức Thế Tôn. Năm trăm Tỳ-kheo ngụ ở ngoài thành mãn mùa
an cư cũng thỉnh cầu được nghe pháp từ kim khẩu Thế Tôn
lâu nay vắng tiếng.
Trưởng
lão A-nan bèn hướng dẫn các Tỳ-kheo đến rừng Bảo Hộ.
Với đức tính chu đáo của một thị giả, Ngài không dám
đến gặp Phật với đám đông Tỳ-kheo vì biết Như Lai đã
độc cư suốt ba tháng. Vì thế, Ngài để các Tỳ-kheo chờ
ở bên ngoài và một mình đi đến gặp Phật. Khi voi Pàrileyyaka
thấy Trưởng lão, nó quấn gậy xông tới. Ðức Phật quay
nhìn và bảo voi:
-
Trở lại! Pàrileyyaka!
Ðừng rượt ông ta. Ðó là thị giả của Như Lai.
Voi
lập tức ném gậy đi và thỉnh Trưởng lão đưa y bát, Trưởng
lão từ chối. Voi thầm nghĩ nếu ông ta biết luật sẽ không
đặt pháp cụ của mình trên tảng đá Phật thường ngồi.
Voi đã quá lo xa vì Trưởng lão A-nan đã đặt y bát trên đất
(những người biết luật không bao giờ đặt pháp cụ cá
nhân lên chỗ ngồi hoặc giường của bậc tôn túc). Rồi
Trưởng lão đảnh lễ Phật, ngồi xuống một bên. Phật hỏi:
-
Ông đến một mình thôi sao?
-
Bạch Thế Tôn, con đến với năm trăm Tỳ-kheo.
-
Họ ở đâu?
-
Con chưa hiểu ý Phật thế nào, nên để họ đứng ngoài và
vào đây một mình.
-
Bảo họ vào!
Trưởng
lão y lời. Ðức Phật đáp lại lời chào hỏi của các Tỳ-kheo
một cách thân tình. Các Tỳ-kheo thưa:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài là một vị Phật quý phái, một ông hoàng
mảnh mai. Chắc Ngài đã chịu đựng nhiều gian khổ, đứng
và ngồi ở đây một mình suốt ba tháng trời. Dĩ nhiên không
có ai hầu Phật những việc chánh và phụ, không có ai dâng
nước rửa mặt hay làm mọi việc khác cho Ngài.
Ðức
Phật trả lời:
-
Này các Tỳ-kheo! Voi Pàrileyyaka đã
làm hết những việc ấy cho Ta. Nếu ai có được bạn đồng
hành như nó thì cuộc sống độc cư tốt đẹp. Nếu như không
có được, thì cuộc sống độc cư vẫn tốt đẹp hơn.
Nói
xong, Thế Tôn đọc ba câu Pháp Cú sau trong phẩm Voi:
Nếu
được bạn hiền trí
Ðáng
sống chung, hạnh lành,
Nhiếp
phục mọi hiểm nguy,
Hoan
hỷ sống chánh niệm.
Không
gặp bạn hiền trí,
Ðáng
sống chung, hạnh lành,
Như
vua bỏ nước bại,
Hãy
sống riêng cô độc,
Như
voi sống rừng voi.
Tốt
hơn sống một mình,
Không
người ngu kết bạn,
Ðộc
thân, không ác hạnh,
Sống
vô tư, vô lự,
Như
voi sống rừng voi.
Ngay
khi Thế Tôn kết thúc bài kệ, năm trăm Tỳ-kheo đắc quả
A-la-hán.
Trưởng
lão A-nan bèn đưa lời thỉnh cầu của ông Cấp Cô Ðộc và
những người khác.
-
Bạch Phật, năm mươi triệu thánh đệ tử do Cấp Cô Ðộc
dẫn đầu mong mỏi Phật trở về.
Phật
chuẩn y:
-
Tốt lắm! Hãy mang y bát.
Và
Phật đi ra khỏi rừng. Voi thấy thế liền đến và đứng
chéo chân giữa đường. Các Tỳ-kheo thấy lạ nên hỏi, và
được Phật đáp:
-
Này các Tỳ-kheo, nó muốn cúng dường các ông. Lâu nay nó
đã phục vụ Ta, không nên làm tổn thương tình cảm của
nó, hãy trở lại các Tỳ-kheo!
Phật
và các Tỳ-kheo trở lại. Voi vào rừng hái lượm chuối và
những trái cây khác gom lại, và ngày hôm sau dâng lên các
Tỳ-kheo. Năm trăm Tỳ-kheo không thể nào dùng hết. Thọ thực
xong đức Phật ôm y bát đi ra khỏi rừng. Voi lại xen vào
giữa các Tỳ-kheo và đứng chéo chân trước Phật. Các Tỳ-kheo
không thể đoán được ý nghĩa, liền hỏi Phật và được
trả lời: - Các Tỳ-kheo!
Sau khi chào từ giã các ông nó muốn Ta trở lại.
Và
hướng về voi, Phật bảo:
-
Này Pàrileyyaka!
Ta sẽ đi bây giờ, không trở lại nữa! Trong kiếp này, ngươi
không có hy vọng vào được các tầng thiền, hay đạt đến
trí tuệ, hay chứng Thánh quả. Hãy dừng lại!
Voi
nghe Thế Tôn nói rút vòi vào miệng, từ từ lùi ra sau, vừa
đi vừa khóc (nếu nó thỉnh được Phật ở lại, nó sẽ
săn sóc Phật như trước đây cho đến hết đời). Ðức Thế
Tôn tiếp tục đi, đến ven làng Ngài dừng lại bảo voi:
- Pàrileyyaka!
Ði xa hơn nữa ngươi sẽ không được an thân. Dân cư rất
nguy hiểm cho ngươi. Hãy dừng lại!
Voi
dừng lại nơi đó và khóc. Ðức Phật bước đi, và khi vừa
khuất tầm mắt, voi vỡ tim và chết. Vì đặt hết niềm tin
vào Như Lai, voi được tái sinh vào cõi trời ba mươi ba, trong
một cung điện bằng vàng lớn ba mươi dặm, có ngàn thiên
nữ hầu cận. Voi tên là trời Pàrileyyaka.
Dọc
đường, Phật ghé vào Kỳ Viên. Các Tỳ-kheo xứ Câu-thâm
nghe Phật về Xá-vệ liền đến sám hối. Vua Kosala nghe
tin cũng đến chỗ Phật và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con sẽ không cho các Tỳ-kheo này vào nước
con.
Phật
khuyên ngăn vua:
-
Ðại vương, những Tỳ-kheo này là người tốt, chỉ vì họ
tranh cãi lẫn nhau nên không vâng lời Ta. Giờ đây họ đến
để sám hối. Hãy cho họ vào, đại vương!.
Ông
Cấp Cô Ðộc cũng bạch với Phật là không cho các Tỳ-kheo
xứ Câu-thâm vào tinh xá. Nhưng Phật không đồng ý và ông
ta đành im lặng. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ấy đến Xá-vệ.
Thế Tôn ra lệnh chuẩn bị chỗ ở riêng biệt cho họ. Những
Tỳ-kheo khác không đứng hay ngồi chung với họ, lần lượt
từng người đến hỏi Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn! Những Tỳ-kheo xứ Câu-thâm hay tranh cãi đang
ở đâu?
Thế
Tôn chỉ họ và nói:
-
Họ đó! Họ đó!
Những
Tỳ-kheo từng người chỉ về phía họ và bàn tán với nhau
đến nỗi họ xấu hổ không dám ngẩng đầu lên. Rồi họ
gieo mình dưới chân Phật xin sám hối. Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo! Tội lỗi các ông đã phạm nặng nề biết
bao! Sau khi được nhận làm Tỳ-kheo dưới sự lãnh đạo của
một vị Phật, lại cãi lời mặc dù Ta đã cố khuyên giải
đủ điều. Ngay cả bậc trí giả vẫn nghe kỹ lời dạy bảo
của cha mẹ trước khi chết. Họ không dám cãi lời khi cha
mẹ từ giã cuộc đời, và sau đó họ được giao quyền lãnh
đạo cả hai vương quốc.
Rồi
đức Phật lặp lại chuyện Bổn Sanh Kosambika một
lần nữa, và kết luận:
-
Này các Tỳ-kheo! Hoàng tử Dìghavu,
ngay khi cha mẹ mất mạng, ông vẫn không dám cãi lời dạy
bảo, sau đó ông cưới con gái của vua Phạm-ma-đạt rồi
trị vì cả hai vương quốc Kàsi và Kosala.
Còn các ông vì không vâng lời Ta nên đã phạm lỗi nặng.
Và
đức Phật nói câu Pháp Cú:
(6)
Và người khác không biết,
Chúng
ta đây bị bại.
Chỗ
ấy ai hiểu được,
Tranh
luận được lắng êm.
Nghe
xong Pháp Cú này, các Tỳ-kheo ở đó liền đắc quả Dự lưu.
6. Kala
Anh và Kala Em
Ai
sống nhìn tịnh tướng...
Câu
Pháp Cú này được đức Phật nói khi ngụ gần thành phố Setavya,
dành cho Kàla em
và Kàla anh, tức
Tiểu Hắc (Culla Kàla)
và Ðại Hắc (Mahà Kàla).
Tiểu
Hắc, Trung Hắc (Majjihima
Kàla) và Ðại Hắc là ba gia chủ anh em sống ở Setavya.
Tiểu Hắc và Ðại Hắc, tức người em út và người anh cả,
thường đi qua xứ khác với một đoàn năm trăm xe bò chở
đầy đồ gia dụng để bán, còn Trung Hắc thì ở nhà bán
hàng hóa do họ mang về.
Có
một dịp, hai anh em mang đủ loại hàng hóa trên năm trăm xe
bò rời khỏi Vệ-xá. Giữa đường Xá-vệ và Kỳ Viên họ
dừng lại, tháo yên cương các xe. Chiều xuống, Ðại Hắc
thấy các Phật tử ở Xá-vệ cầm hoa hương lũ lượt đi
về hướng tinh xá. Ông tò mò bèn chận một người lại để
hỏi thăm. Ðược biết họ đi nghe pháp, ông cũng đồng tình
muốn đi. Dặn dò cậu em để ý coi chừng đoàn xe, ông ra
đi.
Ðến
tinh xá, ông đảnh lễ Như Lai rồi ngồi xuống bên vòng ngoài
hội chúng. Hôm ấy, Phật thuyết nhiều bài pháp tuần tự
theo căn cơ của Ðại Hắc; Ngài nhấn mạnh về khổ uẩn
với những kinh nói về tội lỗi, sự điên đảo cùng sự
nguy hiểm của dục lạc.
Ðại
Hắc nghe pháp xong, trong lòng băn khoăn: "Ai cũng phải rời
bỏ mọi vật sở hữu khi qua đời, sang bên kia thế giới
sẽ không có tài sản hay thân quyến nào đi theo được, vậy
tại sao ta lại sống đời thế tục?". Và ông phát tâm xuất
gia.
Ông
xin Phật gia nhập Tăng đoàn. Phật hỏi:
-
Ông có còn thân quyến phải xin phép không?
-
Con có một đứa em, bạch Thế Tôn!
-
Hãy hỏi ý hắn!
-
Vâng, bạch Thế Tôn!